2 Hệ thống truyền lực: Hệ thống truyền lực của xe chuyên dụng có tác dụng truyền mômen quay từ động cơ cho bộ phận di chuyển gồm có: ly hợp, hộp số, truyền động các đăng, truyền động ch
TỔNG QUAN VỀ XE CHUYÊN DỤNG
Định nghĩa và yêu cầu chung
Xe chuyên dụng bao gồm ôtô và máy móc được thiết kế riêng để thực hiện các công việc đặc thù trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, khai thác mỏ, và vận chuyển Chúng có bộ phận công tác chuyên dụng, phục vụ cho các nhiệm vụ như đào mương, xúc đất đá, và san ủi mặt bằng, góp phần quan trọng trong nông lâm nghiệp và thủy lợi.
Xe chuyên dụng là loại phương tiện bao gồm đầu xe kéo hoặc xe cơ sở kết hợp với bộ phận công tác đặc thù, phục vụ cho các công việc trong ngành công nghiệp, giao thông vận tải, nông lâm nghiệp, nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế.
* Xe chuyên dụng bao gồm 2 thành phần:
Xe cơ sở, hay còn gọi là đầu kéo, là loại xe chuyên dụng hoặc ôtô được trang bị để kéo hoặc lắp đặt các máy công tác chuyên dụng nhằm thực hiện các công việc cụ thể Xe cơ sở có thể di chuyển bằng bánh hơi hoặc bánh xích, bao gồm các loại như ôtô tải, xe kéo và xe xích.
Bộ phận công tác chuyên dụng là thành phần đặc biệt được lắp đặt trên xe cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, tạo thành xe chuyên dụng Các bộ phận này có thể bao gồm téc nước, téc xăng, thùng chở hàng, cơ cấu quét gom rác, moóc kéo, cần cẩu hàng, và nhiều thiết bị khác, phục vụ cho các nhu cầu đa dạng trong công việc.
1.1.2 Yêu cầu chung Để đáp ứng quá trình công nghệ trong các ngành xây dựng, giao thông vận tải, thủy lợi, nông lâm nghiệp v.v… xe chuyên dụng cần bảo đảm các yêu cầu chung sau đây:
- Yêu cầu về năng lượng: Chọn nguồn động lực với công suất động cơ hợp lý, cơ
- Không làm ảnh hưởng tới môi trường xung quanh;
- Yêu cầu kinh tế: Giá thành đơn vị sản phẩm thấp.
Các tiêu chuẩn pháp lý Việt Nam liên quan đến xe chuyên dụng
- Nghị định 36 CP ngày 29-5-1995 về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
- Quyết định 1260 QĐ/KHKT-PCVT ngày 4-6-1996 về tái tạo phương tiện cơ giới đường bộ
- Thông tư 112/1998/TT-BGTVT ngày 29-4-1998 hướng dẫn cấp phép xe quá tải, quá khổ, bánh xích
Nội dung của thông tư:
+ Quy định chung: Xe quá tải, quá khổ, xe xích lưu hành trên đường giao thông công cộng phải có giấy phép lưu hành đặc biệt,
+ Khái niệm xe quá tải:
Vượt quá tải trọng thiết kế của nhà sản xuất,
Vượt quá tải trọng phân bố lên các cầu,
Vượt mức chịu tải của cầu và đường,
+ Khái niệm xe quá khổ:
Vượt quá kích thước của nhà sản xuất,
Kích thước bao quá qui định cho phép của cầu và đường,
+ Điều kiện cấp giấy phép lưu hành đặc biệt:
Hàng hóa không thể tách rời, bao gồm container, cần tuân thủ các giới hạn cho phép của cầu và đường Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn có thể tham khảo trang web của Cục Đăng kiểm Việt Nam tại [vr.org.vn](http://www.vr.org.vn/).
Cấu tạo chung và phân loại
Xe chuyên dụng là tổ hợp của một loạt các hệ thống, gồm những bộ phận chính sau:
Động cơ là phần quan trọng trong xe chuyên dụng, bao gồm nhiều loại như động cơ đốt trong và động cơ điện Trong đó, động cơ đốt trong (gồm động cơ xăng và động cơ diesel) thường được sử dụng để chuyển đổi nhiệt năng từ việc đốt cháy nhiên liệu thành cơ năng.
Lắp động cơ ở phía trước và ngoài buồng lái sẽ làm giảm thể tích chứa hàng và số ghế hành khách trong ôtô có chiều dài chung tương đương Mặc dù việc quan sát mặt đường khi lái xe có thể không thuận lợi, nhưng việc chăm sóc và sửa chữa động cơ sẽ dễ dàng hơn.
Khi lắp đặt động cơ phía trước xe và trong buồng lái, hệ số sử dụng chiều dài xe tăng lên, mang lại thể tích chứa hàng và hành khách lớn hơn Tuy nhiên, việc chăm sóc và sửa chữa động cơ trở nên khó khăn hơn Do đó, đối với các loại xe có động cơ bố trí phía trước và trong buồng lái, thường được thiết kế dưới dạng lật, dẫn đến cấu trúc buồng lái phức tạp hơn.
Lắp động cơ phía sau xe mang lại nhiều lợi ích như đơn giản hóa hệ thống truyền lực, cải thiện tầm nhìn cho người lái và tăng hệ số sử dụng chiều dài xe, đồng thời giúp hành khách được cách nhiệt tốt hơn với động cơ Phương án này thường được áp dụng cho xe du lịch và xe ôtô buýt Tuy nhiên, nhược điểm chính là hệ thống điều khiển côn, số và ga trở nên phức tạp hơn do vị trí động cơ xa người lái.
Khi lắp động cơ ở giữa xe, giữa buồng lái và thùng xe, thường thấy trên các xe vận tải, kiểu bố trí này giúp phân bố tải trọng đều giữa hai cầu chủ động khi xe không có tải trọng hữu ích.
Hệ thống truyền lực của xe chuyên dụng có vai trò quan trọng trong việc truyền mômen quay từ động cơ đến các bộ phận di chuyển Nó bao gồm các thành phần như ly hợp, hộp số, truyền động các đăng, truyền động chính, cơ cấu vi sai và truyền lực cuối cùng, giúp bánh xe hoặc bánh sao chủ động hoạt động hiệu quả.
Để cách nhiệt cho hành khách và giảm tiếng ồn trong ôtô du lịch hoặc ôtô buýt, đồng thời cải thiện tầm nhìn cho người lái, thường bố trí cầu sau chủ động và lắp động cơ ở phía sau, truyền động cho cầu sau chủ động.
Trong sơ đồ 4X2, cầu trước vừa là cầu chủ động vừa là cầu dẫn hướng, thường gặp động cơ lắp dọc hoặc lắp ngang ở phía trước Khi động cơ lắp ngang, truyền động trực tiếp cho hai bánh chủ động ở cầu trước, thường thấy trên các xe du lịch Sử dụng truyền lực bằng các cặp bánh răng trụ giúp hệ thống truyền lực trở nên đơn giản và gọn nhẹ hơn.
P Hộp số phụ hay hộp phân phối; K Khớp ma sát Đối với ôtô ba cầu với công thức bánh 6X6 (6 bánh đều là chủ động) truyền động ra các cầu chủ động phía sau có thể thực hiện bằng một trục truyền (hình 1.2a) hoặc hai trục truyền động (hình 1.2b) nhờ truyền động cácđăng Ở ôtô bốn cầu chủ động (8X8) lại có các đặc điểm riêng biệt Truyền động theo một trục (hình 1.2c) có ưu điểm là đơn giản về kết cấu, nhưng nhược điểm là sinh ra tải trọng phụ lên hệ thống truyền lực bởi hiện tượng tuần hoàn công suất, do đó làm giảm hiệu suất, tăng độ hao mòn các chi tiết máy, giảm tuổi thọ của xe nói chung
Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống truyền lực ôtô nhiều cầu với các bánh đều là chủ động Đ Động cơ; L Ly hợp; H Hộp số; C Cầu chủ động;
CĐ Trục cácđăng; P Hộp số phụ hay hộp phân phối
Hệ thống truyền lực của ôtô vận tải hạng trung, như thể hiện trong hình 1.3, sử dụng ly hợp thủy lực hoặc bộ biến đổi mômen quay 1 cùng lúc với ly hợp ma sát Điều này giúp tối ưu hóa hiệu suất hoạt động của xe.
2 Hộp số được bố trí ngay phía dưới buồng lái để thuận tiện cho điều khiển
Hình 1.3 Hệ thống truyền lực ôtô tải hạng nặng
1 Ly hợp thủy lực hoặc bộ biến mô;
Trong moayơ của bánh chủ động, bộ truyền lực cuối cùng kiểu hành tinh 3 được lắp đặt, giúp gầm máy không bị nâng quá cao Trên ôtô nhiều cầu chủ động hạng nặng, hộp phân phối dạng vi sai giữa các cầu thường được sử dụng để giảm thiểu tác hại của tuần hoàn công suất Sơ đồ bố trí hệ thống truyền lực của ôtô ba cầu chủ động được giới thiệu, với đặc điểm nổi bật là có hộp số phụ.
Hộp số phụ nhận mômen từ trục thứ cấp của hộp số chính và truyền đến hộp phân phối chính 2, nơi có vi sai bánh răng trụ không đối xứng Tại đây, mômen được chia thành hai mạch: một mạch dẫn đến cầu chủ động trước và một mạch đến hộp phân phối phụ 3 Hộp phân phối phụ 3 sử dụng vi sai nón đối xứng, giúp phân bổ mômen đều giữa cầu giữa và cầu sau.
Hình 1.4 Sơ đồ bố trí hệ thống truyền lực ôtô ba cầu chủ động
1 Hộp số phụ; 2 Hộp phân phối chính; 3 Hộp phân phối phụ;
4 Truyền lực chính và vi sai giữa các bánh trên cầu trước, cầu giữa và cầu sau
Trên các cầu chủ động, bánh xe được trang bị truyền lực chính qua bánh răng nón hoặc bánh răng trụ, cho phép các bánh xe quay với tốc độ khác nhau khi vào vòng hoặc khi di chuyển trên bề mặt không bằng phẳng Để đảm bảo điều này, vi sai bánh răng nón được bố trí giữa các bánh xe Hầu hết các ôtô và xe chuyên dụng có nhiều cầu chủ động đều trang bị bộ phận khóa vi sai, giúp xe vượt qua những vùng thiếu bám cục bộ của một bánh hoặc một cầu chủ động.
Hệ thống truyền lực của xe chuyên dụng xích kiểu một dòng công suất có cấu trúc khác biệt so với xe chuyên dụng bánh Sau truyền lực trung tâm 4, mômen được truyền từ trục bị động của bộ phận chuyển hướng 14 đến truyền lực cuối cùng 6 Tiếp theo, mômen này được chuyển đến bánh sao chủ động 15, giúp bánh sao chủ động ăn khớp với mắt xích của dải xích, từ đó đẩy xe chuyên dụng di chuyển trên đường ray vô tận do dải xích tạo ra.
Hiện nay, nhiều xe chuyên dụng xích công suất lớn trong ngành công nghiệp sử dụng hệ thống truyền lực hai dòng, truyền công suất từ động cơ đến hai bánh sao chủ động của hai dải xích riêng biệt Hệ thống này giúp giảm kích thước của các chi tiết trong hộp số do chịu tải trọng thấp hơn Đặc điểm nổi bật của hệ thống truyền lực hai dòng là có hai trục thứ cấp trong hộp số, mỗi trục truyền mômen cho một truyền lực chính ở cầu chủ động và một bánh sao chủ động của một bên dải xích.
CÁC HỆ THỐNG VÀ CƠ CẤU ĐẶC TRƢNG TRÊN XE CHUYÊN DỤNG 10 2.1 Truyền động cơ khí
Công dụng, phân loại và ưu nhược điểm của truyền động cơ khí
Truyền động cơ khí là phương pháp truyền động cơ học, cho phép chuyển giao chuyển động và công suất từ động cơ đến các bộ phận làm việc của máy hoặc giữa các trục thông qua cơ năng.
Truyền động cơ khí hiện nay được ứng dụng phổ biến trong nhiều ngành công nghiệp và chế tạo máy, đặc biệt nổi bật trong lĩnh vực sản xuất ôtô, xe chuyên dụng và máy xây dựng.
2/ Phân loại truyền động cơ khí:
Có 2 loại chuyển động cơ bản trong cơ khí :
- Chuyển động quay quanh một trục,
- Chuyển động tịnh tiến theo một phương
Các chuyển động cơ bản rất dễ thực hiện và là nền tảng cho các chuyển động phức tạp hơn Tất cả các chuyển động phức tạp đều dựa vào sự phối hợp của hai chuyển động cơ bản Theo hình thức cấu tạo, các loại chuyển động này được phân loại thành truyền động ăn khớp, truyền động ma sát, truyền động dây cáp và truyền động thanh trục.
Truyền động ma sát Thanh trục Dây cáp Truyền động ăn khớp
Truyền động Truyền động Bánh vít
Trôc vÝtTruyÒn Ở đây n 1 , n 2 là số vòng quay ở trục dẫn và trực bị dẫn c/ Theo dạng truyền chuyển động:
- Truyền chuyển động quay: Truyền chuyển động quay từ trục này sang trục khác; yêu cầu tỷ số truyền cố định
Hình 2.2a Một số dạng truyền động quay
- Biến chuyển động quay thành chuyển động tịnh tiến:
Hình 2.2b Một số dạng truyền chuyển động quay thành tịnh tiến d/ Theo chi tiết chuyển động:
Ổ quay: Nhiệm vụ tạo khớp quay cho trục Gồm hai loại ổ lăn và ổ trượt
- Gồm 4 bộ phận chính: vòng ngoài, vòng trong, con lăn và vòng cách Ổ bi (ball bearing) Ổ đũa (roller bearing)
- Ổ trượt dùng để đỡ hoặc chặn các trục quay,
- Ma sát trên ổ trượt lớn hơn nhiều so với ổ lăn,
+ Ổ đỡ chịu lực hướng tâm,
+ Ổ chặn chịu lực dọc trục,
+ Ổ đỡ chặn vừa chịu lực hướng tâm vừa chịu lực dọc trục
- Nhiệm vụ tạo phương chuyển động tịnh tiến cho một chi tiết hoặc cụm chi tiết,
- Phân loại theo dạng ma sát trượt hay lăn,
Hình 2.2e Một số ví dụ sống trượt ma sát trượt
3/ Ƣu nhƣợc điểm của truyền động cơ khí :
+ Ƣu điểm cơ bản của truyền động cơ khí là:
- Có khả năng truyền lực lớn và xa;
- Kích thước một số cơ cấu còn cồng kềnh (ví dụ như bộ truyền động đai, dây cáp và truyền động xích );
Thông số cơ bản của truyền động cơ khí
Trong cơ cấu truyền động, thường có hai trục chính: trục đầu vào (trục dẫn) và trục đầu ra (trục bị dẫn) Đối với cơ cấu truyền động nhiều cấp tốc độ, giữa hai trục này còn có thêm trục trung gian.
Ta qui ước như sau:
- Gọi công suất ở trục đầu vào là N 1 và ở trục đầu ra là N 2 (kW)
- Gọi số vòng quay ở trục đầu vào là n 1 và ở trục đầu ra là n 2 (v/ph)
+ Hiệu suất truyền động của cơ cấu
N m - Công suất tiêu hao trong bộ truyền
Phạm vi sử dụng của truyền động cơ khí
Truyền động cơ khí được dùng rất nhiều trên các cơ cấu của xe chuyên dụng: Trong động cơ đốt trong: cơ cấu trục khuỷu thanh truyền
Hệ thống truyền lực trên xe bao gồm các thành phần quan trọng như hộp số, truyền động hành tinh, trục các đăng, cơ cấu vi sai và bộ phận di chuyển, đặc biệt là ở xe di chuyển bánh xích.
Trong truyền động cáp (ví dụ như bộ tời máy) được dùng nhiều trên các cần trục bánh lốp hay cần trục bánh xích.
Truyền động thuỷ lực
Truyền động thủy lực là hệ thống sử dụng các cơ cấu và máy thủy lực để truyền cơ năng qua chất lỏng, cho phép biến đổi vận tốc, lực và mômen theo quy luật chuyển động Hệ thống này đặc biệt phù hợp cho việc truyền công suất lớn, mang lại sự êm dịu, ổn định và dễ dàng tự động hóa, điều mà các phương pháp truyền động khác không thể đạt được.
1/ Ƣu điểm của hệ thống truyền động thuỷ lực:
Hệ thống truyền động mạnh mẽ với công suất cao và lực lớn, sử dụng các cơ cấu đơn giản, đảm bảo độ tin cậy cao và yêu cầu bảo trì, chăm sóc tối thiểu.
+ Điều chỉnh được vận tốc làm việc tinh và vô cấp (dễ thực hiện tự động hóa theo điều kiện làm việc hay theo chương trình có sẵn)
Kết cấu gọn nhẹ với vị trí các phần tử dẫn và bị dẫn không phụ thuộc lẫn nhau, giúp giảm khối lượng và kích thước nhờ vào việc lựa chọn áp suất thủy lực cao.
Nhờ vào quán tính nhỏ của bơm và động cơ thủy lực, cùng với khả năng chịu nén của dầu, hệ thống này có thể hoạt động ở vận tốc cao mà không lo ngại về va đập mạnh.
+ Dễ biến đổi chuyển động quay của động cơ thành chuyển động tịnh tiến của cơ cấu chấp hành
+ Dễ đề phòng quá tải nhờ van an toàn
+ Dễ theo dõi và quan sát bằng áp kế, kể cả các hệ phức tạp, nhiều mạch
+ Tự động hóa đơn giản, kể cả các thiết bị phức tạp, bằng cách dùng các phần tử tiêu chuẩn
+ Mất mát trong đường ống dẫn và rò rỉ bên trong các phần tử, làm giảm hiệu suất và hạn chế phạm vi sử dụng
+ Khó giữ được vận tốc không đổi khi phụ tải thay đổi do tính nén được của chất lỏng và tính đàn hồi của đường ống dẫn
+ Khi mới khởi động, nhiệt độ của hệ thống chưa ổn định, vận tốc làm việc thay đổi do độ nhớt của chất lỏng thay đổi
Theo nguyên lý làm việc, truyền động thuỷ lực được chia làm hai loại:
Truyền động thuỷ tĩnh là phương pháp truyền năng lượng giữa các bộ phận thông qua áp năng của dòng chất lỏng, thường sử dụng máy thể tích, vì vậy còn được gọi là truyền động thể tích Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành kỹ thuật.
+ Truyền động thuỷ động: truyền cơ năng giữa các bộ phận máy được thực hiện bằng động năng của dòng chất lỏng
Hình 2.3 minh họa hai dạng truyền động cơ bản của truyền động thủy lực: a) Thủy động và b) Thủy tĩnh Để bôi trơn các bộ phận làm việc hiệu quả, cần cân nhắc giữa việc chọn chất lỏng có độ nhớt lớn để giảm rò rỉ và chất lỏng có độ nhớt nhỏ để giảm ma sát và tổn thất năng lượng.
Các yêu cầu cơ bản của chất lỏng làm việc :
1 Tính chống rỉ và ít bị phân hủy trong quá trình làm việc
2 Tính chịu nhiệt tốt và độ nhớt tương đối nhỏ để tăng độ nhạy và độ chính xác các bộ phận điều khiển
3 Tính đồng chất và tính khiết; hàm lượng không khí ít
4 Không ăn mòn không làm biến dạng đệm lót kín
5 Tính ổn định môđun đàn hồi và khối lượng riêng, không được bốc hơi và tiêu hao nhiều trong phạm vi nhiệt độ làm việc
6 Có khả năng tạo màng dầu bền vững cho bề mặt kim loại (yếu tố này giảm độ nhạy của các thiết bị)
7 Áp suất bay hơi bão hòa thấp, nhiệt độ sôi cao; có tính dẫn nhiệt tố, hệ số dãn nở nhiệt thấp
8 Không hút ẩm và không hòa tan trong nước, dễ dàng tách nước khi bị lẫn vào, (hàm lượng nước thường nhỏ hơn 1%)
9 Có tính cách nhiệt tốt, không có mùi, không độc hại, không dễ cháy, dễ sản xuất, giá thành rẻ
2.2.2 Truyền động thủy lực thủy tĩnh: a/ Phân loại truyền động thủy tĩnh:
- Dựa vào loại bơm thủy tĩnh và môtơ người ta chia TLTT thành các loại:
+ Bơm bánh răng ăn khớp trong hay ăn khớp ngoài;
+ Bơm và môtô dạng piston;
+ Bơm và môtơ dạng mấu cam;
Trong HTTL của ôtô xe chuyên dụng, TLTT được dùng phổ biến nhất là loại bơm và môtơ dạng pittông hướng trục
Hình 2.4 Sơ đồ cấu tạo bộ truyền thủy tĩnh bơm, môtơ dạng piston
- Dựa vào dạng liên kết giữa bơm và môtơ người ta chia TLTT ra làm bốn loại cơ bản sau:
+ Bơm chuyển đổi cố định truyền dầu áp suất cao cho môtơ chuyển đổi cố định;
+ Bơm chuyển đổi biến đổi truyền động cho môtơ chuyển đổi cố định;
+ Bơm chuyển đổi cố định truyền động cho môtơ chuyển đổi biến đổi;
+ Bơm chuyển đổi biến đổi truyền động cho môtơ chuyển đổi biến đổi
Hình 2.5 Cấu tạo bộ truyền thủy tĩnh với bơm chuyển đổi biến đổi và môtơ chuyển đổi cố định b/ Cấu tạo chung :
Truyền động thủy tĩnh gồm 3 bộ phận chính:
- Bơm: Nguồn cung cấp năng lượng cho chất lỏng (biến cơ năng thành áp năng) thông thường dùng bơm thể tích
- Động cơ thủy lực: Biến đổi áp năng dòng chảy thành cơ năng bằng cách thực hiện các chuyển động của nó (thẳng, quay, kết hợp)
- Phần tử trung gian (phần tử thủy lực): Điều khiển hệ thống (đường ống, van một chiều, van an toàn cơ cấu phân phối)
Hình 2.7 - Sơ đồ cấu trúc TĐTT mạch kín
1 Máy lai; 2 Bơm chính; 3 Đường ống dẫn dầu; 4 Van một chiều;5 Động cơ thuỷ lực; 6 Bơm phụ; 7 Van an toàn; 8 Bộ truyền động xích; 9 Thùng dầu
+ Ưu điểm: Hệ thống kín không có can thiệp bên ngoài
Muốn đạt được công suất lớn trong truyền động người ta lắp tăng áp suất bơm phụ, lắp bình ở nơi có áp suất thấp
Nhược điểm của hệ thống là nhiệt độ chất lỏng làm việc cao, do chất lỏng không được làm lạnh sau khi sử dụng Khi nhiệt độ tăng, độ nhớt giảm, dẫn đến việc tăng nguy cơ rò rỉ.
Hình 2.8 Bố trí bình dầu bổ sung
Truyền động thủy tĩnh mạch hở là hệ thống trong đó chất lỏng từ xilanh công tác hoặc động cơ thủy lực sau khi làm việc sẽ được chuyển trở lại thùng chứa mà không cần quay về bơm.
Khi bơm 2 hoạt động, nó cung cấp dầu hoặc chất lỏng từ thùng chứa qua van phân phối 8 vào xilanh 5, khiến piston 6 chuyển động tịnh tiến Van phân phối 8 có chức năng điều khiển dòng chất lỏng, giúp đảo chiều chuyển động của piston.
Trong hệ thống truyền động này, năng lượng cơ học từ bơm được chuyển đổi thành năng lượng áp suất của chất lỏng, và sau đó, trong xilanh, năng lượng áp suất lại được chuyển đổi thành năng lượng cơ học để di chuyển piston Đối với hệ thống truyền động quay, bơm cung cấp dầu hoặc chất lỏng từ thùng qua van phân phối vào động cơ thủy lực, làm cho rôto quay Để thay đổi chiều quay của rôto, chúng ta điều khiển van phân phối để thay đổi hướng dòng thủy lực cung cấp cho động cơ.
Trong hệ thống truyền động thủy lực, cơ năng của bơm được chuyển đổi thành áp năng của chất lỏng Tiếp theo, tại động cơ thủy lực, áp năng này lại được biến đổi thành cơ năng, tạo ra chuyển động quay của rôto.
Hình 2.9 Sơ đồ cấu trúc mạch hở
1 Máy lai; 2 Bơm thuỷ lực; 3 Đồng hồ áp lực; 4 Đường dầu cao áp;
5,6 Xilanh piston;7 Van an toàn; 8,8* Van phân phối; 9 Động cơ thuỷ lực;
10 Bộ truyền động xích; 11 Thùng dầu; 12 Bầu lọc
Các thông số lý thuyết của hệ thống truyền động thuỷ tĩnh có chuyển động quay, không tính đến tổn hao công suất do ma sát hoặc rò rỉ dầu, được xác định với lưu lượng bơm là Q B = q B n B (l/ph).
+ Công suất tiêu thụ của động cơ thuỷ lực: N D =P.Q D =P.n D q D
+ Mô men quay do rôto của động cơ thuỷ lực tạo ra:
Vận tốc của động cơ thủy lực không chỉ phụ thuộc vào lưu lượng bơm Q B mà còn bị ảnh hưởng bởi áp suất làm việc của hệ thống Khi áp suất trong hệ thống tăng, vận tốc của động cơ sẽ giảm, ngay cả khi Q B không đổi Nếu áp suất tăng đến mức lưu lượng rò rỉ bằng lưu lượng bơm, vận tốc của động cơ sẽ trở về 0 Trong trường hợp này, chất lỏng trong hệ thống sẽ được xả hoàn toàn qua van an toàn và khe hở, dẫn đến hiện tượng quá tải.
Lực và mômen của động cơ phụ thuộc vào áp suất và các thông số hình học của nó Khi các thông số hình học và áp suất giữ nguyên, lưu lượng và mômen quay cũng sẽ ổn định.
Trong quá trình điều chỉnh vận tốc, lực và mômen quay của động cơ, ngoài việc sử dụng bơm, các phần tử thủy lực cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các thông số này về trị số, phương và chiều mong muốn.
Hình 2.10 Sơ đồ truyền động thủy tĩnh mạch hở chuyển động tịnh tiến
Hình 2.11 Sơ đồ truyền động thủy tĩnh mạch hở nâng hạ lưỡi ủi
+ Truyền động thủy tĩnh sơ đồ vi sai:
Truyền động khí nén
2.3.1 Ƣu nhƣợc điểm của hệ thống truyền động khí nén a/ Ƣu điểm:
+ Có khả năng truyền năng lượng đi xa, bởi vì độ nhớt động học của khí nén nhỏ và tổn thất áp suất trên đường dẫn nhỏ
Không khí có khả năng chịu nén lớn, cho phép tạo ra các trạm tích chứa khí nén hiệu quả Với nguồn cung dồi dào và khả năng thải ra trở lại bầu khí quyển, việc sử dụng không khí để nén mang lại nhiều lợi ích trong ứng dụng công nghiệp.
Hệ thống khí nén được thiết kế sạch sẽ, đảm bảo rằng ngay cả khi có sự rò rỉ không khí nén trong hệ thống ống dẫn, vẫn không xảy ra nguy cơ nhiễm bẩn.
Thiết lập một hệ thống truyền động bằng khí nén có chi phí thấp, vì hầu hết các xí nghiệp và nhà máy đã trang bị sẵn đường dẫn khí nén.
+ Hệ thống phòng ngừa quá áp suất giới hạn được đảm bảo, nên tính nguy hiểm của quá trình sử dụng hệ thống truyền động bằng khí nén thấp
+ Các thành phần vận hành trong hệ thống (cơ cấu dẫn động, van, ) có cấu tạo đơn giản và giá thành không đắt
Các van khí nén là lựa chọn lý tưởng cho các chức năng vận hành logic, cho phép điều khiển trình tự phức tạp Tuy nhiên, chúng cũng tồn tại một số nhược điểm cần lưu ý.
+ Lực để truyền tải trọng đến cơ cấu chấp hành thấp
Khi tải trọng của hệ thống thay đổi, vận tốc truyền cũng sẽ thay đổi do khả năng đàn hồi lớn của khí nén, dẫn đến việc không thể thực hiện các chuyển động thẳng hoặc quay đều.
+ Dòng khí thoát ra ở đường dẫn ra gây nên tiếng ồn;
+ Phải có biện pháp an toàn đặc biệt để phòng nổ, khó phát hiện rò rỉ hơi;
+ Kém chính xác, nhất là khi không đủ áp lực;
+ Công nghệ chế tạo phải chính xác và đắt tiền
2.3.2 Phạm vi sử dụng của hệ thống
Trong các loại xe chuyên dụng, hệ thống phanh hơi và cơ cấu đóng mở ly hợp là những ứng dụng quan trọng của truyền động khí nén, giúp nâng cao hiệu suất và độ an toàn trong quá trình vận hành.
Hình 2.19 Lắp ráp mạng đường ống trực tiếp từ máy nén khí
Hình 2.20 Hệ thống khí nén công nghiệp
2.3.3 Cấu tạo chung của hệ thống bao gồm
+ Bộ sản xuất ra khí nén gọi là máy nén khí
Hình 2.21a Sơ đồ cấu tạo chung hệ thống phanh khí nén
1 Máy nén khí; 2 Bộ điều áp; 3 Bình khí nén;
4 Tổng van phanh; 5 Bộ trợ lực; 6 Cơ cấu phanh
Khi động cơ ôtô hoạt động, nó dẫn động máy nén khí thông qua đai truyền động, cung cấp khí vào bình chứa Khi áp suất khí đạt khoảng 0,75 Mpa, máy nén ngừng cấp khí nhờ thiết bị triệt áp được điều khiển bởi bộ điều chỉnh áp suất Bình chứa cũng được trang bị van an toàn Khí nén trong bình được chia thành bốn đường: hai đường dẫn đến tổng van điều khiển nhưng bị chặn lại, và hai đường còn lại đến bầu van cũng bị chặn.
Khi người điều khiển nhấn bàn đạp phanh, van khí nén mở ra, cho phép khí nén đi vào bầu van và kích hoạt van điều khiển Khí nén từ bình chứa sau đó đi vào xilanh lực, đẩy piston lực và làm nén dầu, tạo ra áp lực cao Áp lực này được truyền qua ống dẫn đến cơ cấu phanh, nơi các xilanh con tác động vào guốc phanh, ép má phanh vào tang trống để thực hiện quá trình phanh.
Khi người điều khiển nhả chân phanh, tống van sẽ đóng lại, làm cho khí nén bị chặn lại trước tổng van và bầu van nhờ cơ cấu lò xo hồi vị Khí nén trong ống dẫn từ bầu van và tổng van sẽ thoát ra ngoài qua van xả ở tổng van, trong khi khí từ bầu van đến xilanh lực sẽ thoát ra qua van xả ở bầu van Cơ cấu lò xo hồi vị tại xilanh lực và cơ cấu phanh sẽ tác động đàn hồi, đưa guốc phanh về vị trí ban đầu và kết thúc quá trình phanh.
3/ Các cơ cấu chính trong hệ thống truyền động khí nén a/ Máy nén khí
Máy nén khí là thiết bị chuyên dụng để hút không khí, hơi ẩm và khí đốt với áp suất nhất định, từ đó tạo ra nguồn lưu chất có áp suất cao hơn.
Máy nén khí được phân loại theo áp suất hoặc theo nguyên lý hoạt động Đối với nguyên lý hoạt động ta có:
- Máy nén khí theo nguyên lý thể tích: Máy nén piston, máy nén cánh gạt
Máy nén tuốc bin thường được sử dụng cho các ứng dụng có công suất lớn, nhưng không hiệu quả khi lưu lượng dưới 600 m³/phút Do đó, thiết bị này không tạo ra áp suất cần thiết cho việc điều khiển khí nén và hiếm khi được áp dụng trong thực tế.
Máy nén piston là loại máy nén phổ biến nhất, với khả năng cung cấp năng suất lên đến 500m³/phút Máy nén 1 piston có thể nén khí đạt áp suất khoảng 6 bar, với một số ngoại lệ có thể lên đến 10 bar Trong khi đó, máy nén kiểu piston 2 cấp có khả năng nén đến 15 bar, và máy nén 3 – 4 cấp có thể đạt áp suất lên đến 250 bar.
Hình 2.21b Sơ đồ cấu tạo máy nén khí
* Máy nén khí kiểu piston:
1 Xi lanh; 2 Piston; 3 ống dẫn khí nén; 4 Lò xo van xả; 5 Van xả; 6 Van hút;
7 Piston điều chỉnh; 8 Van điều chỉnh áp suất; 9 Van an toàn; 10.Bình chứa khí nén
- Khi piston của máy nén khí đi xuống, áp suất trong xi lanh giảm, không khí từ ngoài qua van hút kiểu tấm vào xi lanh
- Khi piston đi lên không khí trong xi lanh bị nén áp suất tăng lên, van xả mở, van hút đóng, khí nén theo ống dẫn vào bình chứa
Khi áp suất trong bình đạt mức quy định, viên bi của van điều chỉnh áp suất sẽ ngăn không cho khí nén từ khoang A chảy sang khoang B Đồng thời, khí nén sẽ đẩy piston điều chỉnh lên, mở van hút và cho phép khí nén từ bình chứa quay trở lại xi lanh.
Máy nén khí làm việc ở chế độ không tải, giảm tiêu hao năng lượng của động cơ
Khi áp suất trong bình chứa giảm, lò xo của con điều chỉnh áp suất sẽ đẩy viên bi đóng lại, mở thông khoang A với khoang B, cho phép khí nén thoát ra ngoài Đồng thời, piston điều chỉnh hạ xuống và van hút đóng lại, giúp máy nén khí hoạt động trở lại bình thường.
Khi áp suất trong bình chứa vượt quá mức quy định, van an toàn sẽ mở ra, cho phép một phần khí nén thoát ra ngoài Điều này giúp giảm áp suất và đảm bảo an toàn cho hệ thống.
Hình 2.23 Máy nén khí cánh gạt
Lưu lượng của máy nén piston:
V – Thể tích của khsi nén tải đi trong một vòng quay [cm 3 ]; n – Số vòng quay của động cơ máy nén [vòng/phút]; ηv – Hiệu suất nén [%]
Truyền động điện, điện từ
2.4.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và phạm vi ứng dụng
Hệ thống truyền động điện là tập hợp các thiết bị chuyển đổi điện năng thành cơ năng, cùng với các thiết bị điều khiển các bộ phận làm việc trong hệ thống này.
+ Truyền được xa và rất xa nhưng kích thước vẫn nhỏ gọn, trọng lượng nhẹ; + Có khả năng tự động hoá cao, truyền động nhanh và chính xác;
+ Đảm bảo vệ sinh môi trường;
+ Hoạt động tương đối êm, không gây tiếng ồn lớn;
+ Chăm sóc kỹ thuật dễ dàng
+ Đòi hỏi chặt chẽ các biện pháp và thiết bị bảo vệ an toàn cho người và thiết bị; + Yêu cầu trình độ sử dụng cao;
Trong hầu hết các xe chuyên dụng, hệ thống truyền động điện thường phải phối hợp với các hệ thống truyền động khác và hiếm khi hoạt động độc lập Thêm vào đó, công suất truyền động thường không vượt quá 100KW; đối với công suất lớn hơn, động cơ thường rất hiếm và có giá thành cao.
Do đặc thù công việc, đa số các xe chuyên dụng được trang bị hệ thống truyền động điện phối hợp
- Phân loại hệ thống truyền động điện:
Truyền động điện rất đa dạng số ta có thể phân ra thành các dạng theo nguyên tắc sau:
Dựa trên dòng điện phân thành, có thể phân loại các hệ thống truyền động điện thành các loại như truyền động điện xoay chiều với tần số công nghiệp và tần số cao, truyền động điện một chiều, và truyền động điện xoay chiều-một chiều.
Truyền động điện được phân loại dựa trên số lượng động cơ, bao gồm: truyền động điện với một động cơ đơn chiếc, truyền động điện với một động cơ theo nhóm (nơi một động cơ điện dẫn động cho nhiều cơ cấu máy), và truyền động điện với nhiều động cơ (nhiều động cơ điện dẫn động cho một cơ cấu).
+ Theo cấu tạo của động cơ điện phân thành truyền động điện dòng một chiều (kích thích song song, kích thích nối tiếp, kích thích hỗn hợp)
Truyền động điện dòng xoay chiều (loại một pha, loại ba pha, loại đồng bộ, loại không đồng bộ rôto lồng sóc, loại không đồng bộ rôto dây quấn)
Truyền động điện là công nghệ phổ biến trong các máy xây dựng hoạt động tĩnh tại hoặc theo tuyến, thường được áp dụng cho các thiết bị như máy trục-vận chuyển, máy xếp dỡ tại các nhà ga bến cảng, cần trục, cổng trục, và trạm trộn bê tông át phan Công nghệ này cũng được sử dụng rộng rãi trong các máy sản xuất vật liệu xây dựng.
2.4.2 Cấu tạo chung hệ thống truyền động điện a/ Mạch điện và các phần tử của mạch:
Mạch điện là một hệ thống bao gồm các thiết bị và linh kiện điện được kết nối với nhau qua các dây dẫn, hình thành nên những vòng kín cho phép dòng điện lưu thông.
Trong phạm vi truyền động điện trên máy, chúng ta lại xét sâu hơn về hai khái niệm: mạch động lực và mạch điều khiển,
Mạch động lực là sơ đồ điện thể hiện sự kết nối giữa các thiết bị động lực và nguồn điện thông qua hệ thống dây dẫn cùng các linh kiện hỗ trợ.
Mạch điều khiển là sơ đồ điện thể hiện sự kết nối giữa mạch điện động lực và các thiết bị, linh kiện Chức năng chính của nó là điều hành và điều chỉnh hoạt động của các thiết bị động lực trong quá trình máy hoạt động.
Áttômát thường ngắt hoặc đóng đồng thời cả ba pha của bộ khởi động từ, nhằm bảo vệ mạch điện chính khỏi các sự cố như quá tải, ngắn mạch và sụt áp.
* Khi động cơ có công suất nhỏ N 5 kW thì chỉ cần trang bị một áttômát bảo vệ chung cả mạch động lực và mạch điều khiển
Hình 2.31 Sơ đồ truyền động điện dùng động cơ không đồng bộ rôto lồng sóc N5kW
B 1 ,B 2 átômát; p 1 Khởi động từ; p 2 Rơle nhiệt;
KH 2 Nút bấm khởi động
Sơ đồ điện hình 2.32 hoạt động tương tự như sơ đồ hình 2.31 Nó cho phép điều khiển động cơ không đồng bộ rôto dây quấn, bao gồm các chức năng mở máy, điều chỉnh tốc độ n và đảo chiều Bộ khống chế hình trống có thể được điều khiển bằng tay hoặc tự động.
M bằng bộ khống chế chỉ huy (rơle thời gian) đối với các động cơ cần điều khiển từ xa hoặc N > 50 kW
Hình 2.33 Sơ đồ điều khiển động cơ không đồng bộ rôto dây quấn N>50kW có bộ khống chế hình trống
B 1 áptômát của mạch động lực; p 1 Khởi động từ; p 2 Rơle nhiệt;
KK Bộ khống chế điện lực;
Mạch điện được bảo vệ bởi hai áttômát B1 và B2 Khi áttômát được đóng và nhấn khóa khởi động KH2, điện trở p1 sẽ kích hoạt các tiếp điểm P1 trong mạch động lực và mạch điều khiển Rơle nhiệt p2 sẽ ngắt công tắc p2 trên mạch điều khiển khi nhiệt độ vượt quá mức cho phép, đảm bảo an toàn cho mạch Các công tắc trong bộ khống chế sẽ lần lượt đóng các tiếp điểm KK để ngắt các phần của điện trở R khỏi mạch động lực, giúp giảm tải cho động cơ Sơ đồ dẫn động điện cho các máy di chuyển được thiết kế để tối ưu hóa hiệu suất hoạt động.
Nguyên tắc xây dựng sơ đồ dẫn động tương tự như đối với máy hoạt động tĩnh tại, tuy nhiên cần chú ý đến độ ổn định cao của các thiết bị và linh kiện trong quá trình điều khiển và bảo vệ Điều này đặc biệt quan trọng khi máy hoạt động trong điều kiện di chuyển, rung lắc Hơn nữa, các thiết bị và linh kiện trong hệ thống cần phải thích ứng tốt với các điều kiện khắc nghiệt ngoài công trường như nhiệt độ thay đổi, bụi bẩn và độ ẩm.
Hình 2.34 Sơ đồ nguyên lý truyền động điện của một máy thi công bề mặt bê tông
P Máy phát đồng bộ; B 1 Áp tô mát; M 1 Động cơ cơ cấu di chuyển;
Động cơ của đầm rung bao gồm các loại M2 và M3, với biến tốc ba pha 220V/36 Hệ thống điều khiển bao gồm các bộ khởi động từ (p1, p2, p3, p4) và các rơ le nhiệt (p5, p6, p7) Ngoài ra, p8 là rơ le điều khiển phanh điện từ, cùng với cụm nam châm điện phanh (PH) để đảm bảo hoạt động hiệu quả và an toàn.
KH 1 , KH 4 , KH 6 , KH 8 Các nút dừng; KH 2 , KH 3 , KH 5 , KH 7 , KH 9 Các nút khởi động Điều khiển hoạt động:
Các loại cơ cấu công tác điển hình của xe chuyên dụng
Cơ cấu nâng là một bộ phận quan trọng trong quá trình nâng hạ vật liệu, cho phép di chuyển hàng hóa theo phương thẳng đứng, và trong một số trường hợp, cũng có thể sử dụng để kéo vật theo phương ngang hoặc nghiêng.
Tải trọng chính tác động lên cơ cấu nâng bao gồm trọng lực và lực quán tính của vật nâng Cơ cấu nâng có thể là một bộ phận của máy hoặc hoạt động như một máy độc lập Theo cách phân tích lực tác động lên phần chuyển động, có thể chia ra thành các thành phần khác nhau.
Cơ cấu nâng với truyền động sử dụng cáp thông thường bao gồm các bộ phận chính như động cơ dẫn động (điện, thủy lực hoặc đốt trong), hộp giảm tốc (có thể là dạng bánh răng trụ, trục vít bánh vít hoặc hành tinh), tang quấn cáp (tang đơn, tang kép, tang hình trụ hoặc hình côn), puli, cụm móc treo để kết nối vật nâng và cơ cấu nâng, cùng với phanh để đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc.
- Cơ cấu nâng với truyền động thanh răng, truyền động vít;
- Cơ cấu nâng hạ nhờ xilanh thuỷ lực;
1/ Cơ cấu nâng dẫn động cơ khí:
Hình 2.39b Cơ cấu nâng dẫn động bằng cơ khí
1 Động cơ; 2 Khớp nối;3 Phanh dải;
4 Hộp giảm tốc; 5 Tang; 6 móc cẩu
Khi muốn nâng hàng, động cơ 1 hoạt động, phanh 3 được mở, qua khớp nối 2
Hình 2.40 Sơ đồ cấu tạo chung cơ cấu nâng với tời cáp
4 - Nối trục và phanh hãm;
Động cơ điện 3 hoạt động bằng cách truyền động qua khớp nối trục 4 và hộp giảm tốc 2, làm quay tang số 1 Quá trình này cho phép quán cáp thông qua hệ palăng di chuyển móc câu 6 Để đảo chiều chuyển động của móc câu 6, chỉ cần đảo chiều quay của động cơ điện 3 bằng cách thay đổi hai pha trong hệ điều khiển của động cơ điện 3 pha.
Hình 2.41 Sơ đồ mắc cáp cơ cấu nâng hạ hàng trên cần trục tháp
1 Động cơ dẫn động; 2 Cáp thép; 3,4 Puly dẫn hướng cáp; 5 Cụm puly trên xe con;
6 Cụm puly móc câu; 7 Vị trí neo cáp đầu cần; 8 Tang quấn cáp; 9 Hộp giảm tốc
Phương pháp này mang lại nhiều lợi ích, bao gồm việc bố trí cơ cấu nâng dễ dàng, cáp ngắn hơn, thời gian nâng hạ cáp nhanh hơn và mức độ mòn cáp thấp Ngoài ra, cụm động cơ và hộp giảm tốc hoạt động như đối trọng, giúp đảm bảo sự ổn định cho cần trục.
- Nhược điểm là đường kính cáp lớn hơn, nên các bộ phận khác cũng lớn hơn, cần có biện pháp để chống xoắn cáp
Cơ cấu quay được trang bị trên một số dòng xe chuyên dụng như cần trục và máy xúc, cho phép thực hiện quay vòng tại chỗ Những xe này thường có hai phần: phần quay và phần không quay, trong đó phần quay chứa các thiết bị công tác Giữa hai phần này, thiết bị tựa quay đảm nhận vai trò liên kết.
Thiết bị tựa quay cho phép phần quay xoay quanh trục đứng một cách nhẹ nhàng Qua thiết bị này, tải trọng được truyền từ phần quay xuống phần không quay và tiếp tục xuống nền Cơ cấu dẫn động tạo ra chuyển động quay được gọi là cơ cấu quay.
1/ Cấu tạo chung cơ cấu quay toa
Căn cứ vào khâu truyền lực cuối cùng đến phần quay, cơ cấu quay được chia ra
Có ba loại cơ cấu quay chính: cơ cấu quay với truyền động bánh răng, cơ cấu quay với truyền động cáp và cơ cấu quay kiểu bánh xe dẫn Cơ cấu quay với truyền động bánh răng rất phổ biến trong máy xây dựng, với động cơ và hệ thống truyền lực thường được đặt trên phần quay của máy Bánh răng dẫn cuối cùng của xích động học ăn khớp với vành răng lớn cố định trên phần không quay, giúp phần quay di chuyển khi bánh răng chủ động quay Tốc độ quay n q của máy xúc và cần trục hiện nay dao động từ 0,8 đến 3,5 vòng/phút, và để duy trì tốc độ này, hệ thống truyền động cần có tỷ số truyền lớn, khoảng 200 đến 1000 Thường sử dụng hộp giảm tốc có tỷ số truyền 50 đến 250 kết hợp với cặp bánh răng ăn khớp có tỷ số truyền 9 đến 12 Hộp giảm tốc bánh vít, mặc dù có hiệu suất thấp, nhưng nhỏ gọn và có tỷ số truyền cao, trong khi hộp giảm tốc hành tinh mặc dù yêu cầu cao về độ chính xác, lại được ưa chuộng hơn nhờ tỷ số truyền cao và kích thước nhỏ gọn.
Cơ cấu quay có thể được bố trí với hộp giảm tốc bánh vít trục vít hoặc hộp giảm tốc bánh răng trụ và bánh răng nón, tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng Động cơ có thể được lắp đặt nằm hoặc đứng; trong đó, bố trí đứng giúp tiết kiệm không gian hơn Động cơ đứng được kết nối với hộp giảm tốc qua mặt bích, và phanh cơ khí hai má trong cấu trúc này được thiết kế điều chỉnh để thuận tiện cho việc lắp đặt và bảo trì.
Hình 2.43 Cơ cấu với hộp giảm tốc hành tinh, động cơ đặt đứng a, Cấu tạo chung; b) Sơ đồ truyền động
1,4,7 Các bánh răng trung tâm; 2,5,8 Các bánh răng vệ tinh; 3,6,9 Các vành răng cố định; H1,H2,H3 Cần; 10 Bánh răng dẫn trong bộ truyền cuối cùng
Các cơ cấu có công suất lớn có thể được chia thành nhiều cơ cấu dẫn động nhỏ Mỗi cơ cấu nhỏ này đều sử dụng một bánh răng dẫn để ăn khớp với vành răng lớn.
Hình 2.44a Cơ cấu quay với hộp giảm tốc bánh răng thường trụ, động cơ đặt đứng
2/ Cơ cấu quay bàn quay dẫn động bằng cơ khí
Sơ đồ nguyên lý của hệ thống bao gồm các thành phần như răng trụ lắp quay trơn trên trục, ly hợp vấu, phanh dải, ly hợp 2 mặt côn, bánh răng côn và bánh răng trụ dẫn động cơ cấu nâng Các bộ phận này phối hợp với nhau để đảm bảo hoạt động hiệu quả của cơ cấu nâng.
23 Truyền động đai; 24 Ly hợp chính; 25 Động cơ chính
Để quay bàn quay, cần đóng ly hợp vấu và mở phanh dải Nhóm truyền lực sẽ được truyền qua các trục và bánh răng, trong đó ly hợp vấu sẽ truyền động cho bánh răng hành tinh Quá trình này giúp bánh răng hành tinh vừa quay vừa lăn trên vành răng cố định, từ đó làm cho bàn quay xoay trên ổ đỡ con lăn.
Khi cần dừng bàn quay, hãy cắt truyền lực và đóng phanh dải, sau đó mở ly hợp vấu Để thay đổi chiều quay của bàn quay, sử dụng bộ đảo chiều trung tâm để điều chỉnh lực truyền đến.
3/ Cơ cấu quay bàn quay dẫn động bằng thủy lực
Hình 2.44c Cơ cấu quay bàn quay dẫn động bằng thủy lực
1 Bình tích áp 6 Bơm truyền thủy lực 11 Môtơ quay
2 Van điều khiển 7 Bầu lọc 12 Phanh đĩa
3 Van phân ly 8 Van phân phối 13 Khớp nối
15 Bánh răng lăn di động(bánh răng hành tinh)
Khi thực hiện quá trình quay bàn quay, tay điều khiển tác động mở van điều khiển, cho phép dòng dầu điều khiển từ bình tích áp hoặc bơm thủy lực phụ đi qua van điều khiển Dòng dầu này chia thành hai phần: một phần tới xi lanh mở phanh và phần còn lại tới đuôi van phân phối Tại đây, van trượt dịch chuyển mở cửa dầu từ bơm chính qua van phân phối tới mô tơ bàn quay Quá trình này được hỗ trợ bởi hộp giảm tốc, giúp bánh răng lăn di động quay và lăn trên vành răng, cho phép bàn quay hoạt động trên ổ đĩa con lăn.
- Khi muốn đảo chiều quay của bàn quay, tác động vào tay điều khiển theo chiều ngược lại, cấp dầu tới môtơ theo chiều ngược lại
Khi tay điều khiển không được tác động, dầu sẽ không được cung cấp đến xi lanh mở phanh và đuôi van phân phối Van trượt hồi vị sẽ đóng kín kênh dẫn từ bơm chính đến mô tơ phanh, dẫn đến việc cơ cấu bàn quay bị phanh hãm.
- Van an toàn và van một chiều có nhiệm vụ bảo vệ khi dòng dầu trong mạch vượt quá giới hạn quy định
4/ Một số cơ cấu quay toa khác