trang Mục lục.....................................................................................................................2 lời nói đầu ..............................................................................................................7 Chương I ...................................................................................................................8 thi pháp, thi pháp học vàcác trường phái nghiên cứu thi pháp8 I Thi pháp học trong khoa nghiên cứu văn học ...................................8 II lịch sử thi pháp học. Các trường phái, khuynh hướng hiện đại ............................................................................................................................................12 Chương II................................................................................................................23 đối tượng, phạm trù và phương pháp nghiên cứu thi pháp.........23 I Hình thức nghệ thuật đối tượng chủ yếu của thi pháp học..23 1. Thi pháp học và hình thức nghệ thuật ..................................................23 2. Khái niệm hình thức trong thực tế, trong triết học và trong nghệ thuật..................................................................................................................24 3. Hai quan niệm về hình thức nghệ thuật như là đối tượng của thi pháp học................................................................................................................28 II Hình thức bên trong, mang tính quan niệm là đối tượng của thi pháp học................................................................................................................28 1. Sự khác biệt giữa khái niệm hình thức trong triết học và hình thức trong văn học, nghệ thuật ................................................28 2. Hình thức bên ngoài và hình thức bên trong....................................30 3. Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học.........33 4. Các yếu tố của thế giới bên trong của tác phẩm văn học ........34 5. Tính quan niệm của hình thức nghệ thuật..........................................35 III Các chỉnh thể văn học và các phạm trù thi pháp học..............38 1. Các chỉnh thể văn học .....................................................................................38 2. Các phạm trù thi pháp......................................................................................39 IV Phương pháp nghiên cứu thi pháp học................................................39 Chương III ..............................................................................................................42 Quan niệm nghệ thuật về con người.......................................................42 I Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người................................42 1. Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lý giải, cảm thụ của chủ thể sáng tác… …… ……………………………………… 42 2. Cơ sở x∙ hội, lịch sử, văn hoá của quan niệm nghệ thuật về con người...............................................................................................................43 3. ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người ............................44 II Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học...........................................................................................................46 1. Tương quan nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật về con người...............................................................................................................46 2. Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người .........46 III Sự vận động và phát triển của quan niệm nghệ thuật về con người...............................................................................................................................47 1. Con người trong thần thoại........................................................................47 2. Con người trong sử thi....................................................................................49 3. Con người trong cổ tích ................................................................................50 4. Con người trong văn học viết trung đại .............................................51 5. Con người trong văn học cận, hiện đại .................................................54 Chương IV...............................................................................................................57 Thời gian nghệ thuật......................................................................................57 I khái niệm thời gian nghệ thuật................................................................57 1. Thời gian nghệ thuật là một phạm trù của nghệ thuật ............57 2. Lược sử khái niệm................................................................................................58 II Cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật ..........................59 1. Thời gian trần thuật........................................................................................59 2. Thời gian được trần thuật............................................................................60 3. Mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật ..............................................................................................................................62 4. Các bình diện thời gian....................................................................................65 5. Độ đo thời gian .....................................................................................................66 6. Thời gian khép kín và thời gian mở..........................................................67 III CáC HìNH THứC THờI GIAN TRONG VĂN HọC ...........................................67 1. Thời gian trong thần thoại..........................................................................67 2. Thời gian trong sử thi......................................................................................69 3. Thời gian trong truyện cổ tích.................................................................70 4. Thời gian trong văn học viết trung đại...............................................71 5. Thời gian trong văn học cận, hiện đại...................................................74 Chương V ................................................................................................................78 Không gian nghệ thuật.................................................................................78 I khái niệm không gian nghệ thuật...........................................................78 1. Không gian trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật......78 2. Mô hình không gian và ngôn ngữ không gian nghệ thuật........79 3. Tính tượng trưng, quan niệm của không gian nghệ thuật .......81 II CáC HìNH THứC KHÔNG GIAN NGHệ THUậT TRONG VĂN HọC.............82 1. Không gian thần thoại....................................................................................82 2. Không gian sử thi................................................................................................83 3. Không gian cổ tích ............................................................................................84 4. Không gian trong văn học viết trung đại..........................................84 5. Không gian trong văn học cận đại, hiện đại......................................86 IiI PHÂN TíCH KHÔNG GIAN NGhệ THUậT Cụ THể ........................................86 1. Không gian trong Ôblômốp của nhà văn Nga I. Gôncharốp .....87 2. Không gian trong truyện Tarát Bunba của Gôgôn.......................87 3. Không gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu..........................................88 Chương VI...............................................................................................................90 TáC GIả Và KIểU TáC GIả ..................................................................................90 I KHáI NIệm TáC giả NHƯ MộT PHạM TRù CủA thi pháp.........................90 II Kiểu tác giả như một phạm trù của thi pháp học lịch sử .......97 Chương VII ...........................................................................................................101 tính quan niệm Và CấU TRúC CủA THể LOạI..........................................101 I KHáI NIệM THể LOạI, Từ PHÂN LOạI ĐếN nghiên Cứu LOại HìNH và tính quan niệm của thể loại...........................................................................101 1. Khái niệm thể loại ............................................................................................101 2. Từ phân loại đến nghiên cứu loại hình ................................................102 II TíNH NộI DUNG LOạI HìNH CủA THể LOạI VăN HọC..............................103 1. Thể loại lịch sử dân tộc (sử thi)...............................................................104 2. Thể loại đạo đức thế sự.................................................................................104 3. Thể loại đời tư ....................................................................................................105 III cấu trúc thể loại văn học ......................................................................106 1. Chủ thể thể loại của thế giới nghệ thuật ........................................107 2. Hình thức ngôn ngữ biểu hiện....................................................................107 3. Về cấu tạo hình tượng nhân vật và sự kiện ......................................108 4. Chức năng x∙ hội và phương thức tiếp nhận....................................108 IV Về một số thể loại văn học .....................................................................108 1. Tiểu thuyết tài tử giai nhân................................................................108 2. Siêu tiểu thuyết .................................................................................................109 3. Về bi kịch xưa và nay.......................................................................................110 Chương VIII..........................................................................................................112 Cấu trúc và tính quan niệm của truyện ............................................112 I Khái niệm truyện trong thi pháp học hiện đại..............................112 1. Cốt truyện và truyện ....................................................................................112 2. Cấu trúc sự kiện của truyện......................................................................113 3. Từ lý thuyết mô típ đến đơn vị chức năng của truyện..............114 5. Mô típ và chức năng nghệ thuật của sự kiện...................................117 II Tính quan niệm của truyện văn học....................................................119 1. Sự kiện và quan niệm nghệ thuật ............................................................119 2. Tương quan giữa truyện nhân quả và truyện kể ..........................122 III Hệ thống mô típ trong văn học nghệ thuật phương đông..123 1. Các mô típ mang nội dung tô tem, tôn giáo, kỳ ảo........................123 2. Các mô típ, nguyên mẫu trong sinh hoạt thế tục.........................124 3. Các mô típ trong văn học hiện đại.........................................................124 Chương IX.............................................................................................................126 Cấu trúc của văn bản trần thuật..........................................................126 I Khái niệm của văn bản trần thuật.........................................................126 1. Trần thuật miệng và trần thuật viết..................................................126 2. Khái niệm văn bản nghệ thuật ..................................................................126 3. Văn bản trần thuật..........................................................................................127 4. Người trần thuật và chủ thể trần thuật..........................................128 II Điểm nhìn trong văn bản ............................................................................129 1. Vấn đề điểm nhìn trong văn bản...............................................................129 2. Phân loại điểm nhìn trong văn bản........................................................130 3. Điểm nhìn nghệ thuật như một phạm trù của thi pháp học lịch sử ..................................................................................................................................... 132 III Mô hình tự sự....................................................................................................136 1. Vấn đề mô hình tự sự........................................................................................136 2. Một số kiểu người trần thuật trong văn xuôi tự sự của Trung Quốc Việt Nam .......................................................................................................137 Chương X ..............................................................................................................142 NGÔN từ NGHệ THUậT.......................................................................................142 I Ngôn từ TRONG VĂN HọC Là MộT HIệN Tượng NGHệ THUậT...........142 II Nh∙n quan và loại hình ngôn từ văn học.........................................147 1. Sử thi và các thể loại cùng loại..............................................................147 2. Tiểu thuyết thể loại tiêu biểu của văn học hiện đại................148 III Thi pháp ngôn từ trên cấp độ ngôn ngữ...........................................148 1. Thi pháp trong các hình thức tổ chức từ và cụm từ...................148 2. Thi pháp trong cú pháp..................................................................................150 IV Thi pháp ngôn từ trên cấp độ hình thức nghệ thuật ..............151 1. Lời trực tiếp của nhân vật..........................................................................152 2. Lời gián tiếp..........................................................................................................154 kết luận ...............................................................................................................159
Thi pháp học và hình thức nghệ thuật
Thi pháp học, với lịch sử hơn hai ngàn năm, khẳng định vai trò quan trọng của hình thức nghệ thuật trong việc khám phá cái đẹp Từ các triết gia cổ đại như Platon và Aristote đến các nhà nghiên cứu hiện đại như Kant và Hegel, đều không thể bỏ qua vấn đề hình thức khi bàn về nghệ thuật Sự quan tâm này xuất phát từ các trường phái triết học khác nhau, từ duy tâm đến duy vật, cho thấy hình thức là yếu tố cốt lõi trong việc hiểu và đánh giá nghệ thuật.
Hình thức là một khái niệm đa nghĩa, thể hiện phương thức tồn tại của sự vật, bao gồm cấu trúc và hình thái bề ngoài Trong nghệ thuật, hình thức không chỉ là yếu tố của cái đẹp mà còn là các kỹ thuật và thủ pháp Nó có thể được hiểu là nguyên tắc tổ chức của sự vật, nhưng đôi khi chỉ là bao bì cho nội dung bên trong Hình thức có thể tách biệt với nội dung, tạo thành "hình thức thuần tuý", nhưng cũng có thể được xem là không thể tách rời khỏi nội dung.
Nhiều người tin rằng hình thức chỉ là bề ngoài và không quan trọng, vì vậy khi ai đó chú tâm nghiên cứu hình thức, họ thường bị gán mác là theo chủ nghĩa hình thức.
Hình thức có vai trò quan trọng trong triết học, được coi là phương thức tồn tại của sự vật trong không gian và thời gian, đồng thời là cấu tạo bản thân sự vật Hình thức không chỉ là sản phẩm của tư duy, nhận thức và sáng tạo của con người mà còn là kết quả của quá trình tiến hóa xã hội và lịch sử Theo triết gia Hegel, hình thức chính là bản thể của nghệ thuật; khi nội dung phá vỡ hình thức, nghệ thuật cũng sẽ bị giải thể Điều này cho thấy hình thức là yếu tố thiết yếu, nếu không có hình thức, nghệ thuật sẽ không tồn tại L Vưgốtxki cũng nhấn mạnh rằng nghệ thuật bắt đầu từ hình thức, vì vậy nghiên cứu nghệ thuật không thể thiếu việc phân tích hình thức.
Các thi pháp học truyền thống chủ yếu tập trung vào việc xác lập nguyên tắc nghiên cứu hình thức nghệ thuật, phân loại và mô tả các hình thức nghệ thuật ở các cấp độ khác nhau.
Khái niệm hình thức trong thực tế, trong triết học và trong nghệ thuật
thuật a) Hình thức trong thực tế
Hình thức là hình thể và trạng thái của sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ vũ trụ đến các hạt nhỏ như nơtơrông và fôton Mỗi sự vật đều có một cái "thể" và do đó, phải có cái "hình" như tròn, vuông, to nhỏ, nhẵn, xù xì, và màu sắc Hình thức không chỉ giúp con người cảm nhận và nhận thức mà còn thể hiện mối quan hệ của sự vật với môi trường xung quanh Nó là dấu hiệu phân biệt giữa các sự vật, tạo ra sự khác biệt về đẹp, xấu, hài hòa, và hấp dẫn Vì vậy, hình thức trở thành tín hiệu nhận thức thế giới, là phương tiện giao tiếp giữa con người và môi trường.
Con người không chỉ là động vật sáng tạo công cụ, mà còn là sinh vật biết sử dụng ký hiệu và ngôn ngữ, theo E Cassirer Chúng ta sống không chỉ trong thế giới vật lý mà còn trong thế giới ký hiệu, nơi ngôn ngữ được coi là ngôi nhà của hữu thể (Heidegger) Các yếu tố như ngôn ngữ, thần thoại và nghệ thuật tạo thành một mạng lưới ký hiệu, kết nối con người với nhau và với thế giới Những phương tiện văn hóa như lời nói, trang phục và nghi lễ là cầu nối giao tiếp giữa con người Để hiểu thế giới và lẫn nhau, con người cần giải mã các biểu tượng văn hóa xung quanh.
Trong triết học phương Tây cổ đại, Platon đề xuất triết lý duy tâm khách quan với khái niệm eidos (hay idea), là hình thức tiên nghiệm nguyên sơ, đóng vai trò là khuôn thức sinh ra mọi vật Nghệ thuật, theo Platon, chỉ là sự mô phỏng hình thức, do đó thiếu tính sáng tạo nguyên sơ Ngược lại, Aristote phát triển lý thuyết về "bốn nhân tố của sự vật," trong đó hình thức được hiểu là bản chất và phương thức tồn tại của sự vật Qua đó, có hai quan niệm về hình thức: hình thức tinh thần thuộc phái duy tâm và hình thức vật chất thuộc phái duy vật.
I Kant là người đầu tiên nêu ra các phạm trù hình thức cảm tính tiên nghiệm của chủ thể người, nhờ có chúng, con người mới có khả năng nhận thức thế giới Hình thức tiên nghiệm này kết hợp khái niệm lý tính tiên nghiệm với chủ nghĩa kinh nghiệm, đã vạch ra cội nguồn chủ quan của hình thức trong sáng tạo thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật
Hegel phát triển quan niệm về sự thống nhất biện chứng giữa hình thức và nội dung, nhấn mạnh quá trình phát triển và chuyển hóa của chúng thông qua tự ý thức của ý niệm tuyệt đối, dẫn đến quan niệm về sự giải thể của nghệ thuật.
Chủ nghĩa Marx, dựa trên triết học duy vật biện chứng và lịch sử, đã xác định lại mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, trong đó nội dung quyết định hình thức Điều này tạo ra một phương pháp luận quan trọng để phân tích hình thức trong văn học và nghệ thuật Tuy nhiên, có nguy cơ xem nhẹ hình thức tinh thần của chủ thể Từ quan điểm "tồn tại quyết định ý thức", nhiều người hiểu đơn giản rằng hình thức nghệ thuật chỉ là sự phản ánh của hình thức hiện thực, dẫn đến việc coi nhẹ vai trò sáng tạo của chủ thể F Engels từng thừa nhận sự "bỏ quên hình thức" trong tác phẩm của mình, nhấn mạnh rằng ông và Marx đã tập trung quá nhiều vào sự thật kinh tế mà quên đi cách thức và phương pháp mà các quan niệm được hình thành.
Từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, nhiều trường phái triết học như triết học sự sống, triết học hiện tượng luận, triết học hiện sinh, và phân tâm học đã đóng góp vào việc làm sáng tỏ các khía cạnh chủ quan và văn hóa của sự tồn tại con người Những triết lý này đã mở ra những con đường mới để lý giải sâu hơn về hình thức nghệ thuật, đặc biệt là các yếu tố như tính chủ quan cảm tính, tính ký hiệu và tính cấu trúc của nó.
Khái niệm hình thức nghệ thuật đã được nhận thức từ sớm, nhưng trong lịch sử nghiên cứu văn học, nghệ thuật, hình thức thường được xem xét tách rời từng yếu tố thay vì như một chỉnh thể Aristote đã phân tích các thể loại, cốt truyện và ngôn từ như những yếu tố riêng biệt, và quan niệm này đã tồn tại suốt hàng ngàn năm Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, A.Vêxêlốpxki trong tác phẩm Thi pháp học lịch sử của ông, mặc dù có những ý tưởng sâu sắc về sự vận động của hình thức, nhưng chỉ nghiên cứu được một số yếu tố riêng lẻ Nhiều trường phái thi pháp học thế kỷ XX vẫn tiếp tục xem xét hình thức theo từng bình diện, mặc dù đã có nhiều sáng tạo trong các phân tích đó.
(1) Theo Tuyển tập K Marx - F Engels, tập 40, tr 500, (tiếng Trung)
Thi pháp học, theo V Girmunxki, là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật, và ông nhấn mạnh rằng nội dung cần phải kết hợp với hình thức để tạo nên giá trị trong tác phẩm Do đó, việc nghiên cứu hình thức, được cấu thành từ ngôn từ, là bước khởi đầu cho thi pháp học Các thủ pháp tổ chức ngôn từ và tính thống nhất của hình thức được gọi là phong cách Trong khi đó, các tác giả như Scơlốpxki và Eikhenbaum lại tiếp cận thi pháp từ những yếu tố hình thức riêng lẻ như "thủ pháp", "bố cục", "âm hưởng", "giọng điệu", và "chủ đề", mà chưa xem xét đến tính chỉnh thể nội tại của tác phẩm.
Thi pháp học cấu trúc chủ nghĩa áp dụng nguyên tắc đối lập "ngôn ngữ" và "lời nói" của F de Saussure vào văn học, coi mỗi tác phẩm là biểu hiện cá biệt của diễn ngôn văn học, tức là ngôn từ Tương tự như ngôn ngữ học cấu trúc không nghiên cứu lời nói cụ thể, thi pháp học cấu trúc cũng chỉ tập trung vào cấu trúc của diễn ngôn văn học trừu tượng Kể từ năm 1921, R Jakobson đã xác định rõ ràng điều này.
Thơ là một ngôn ngữ mang tính thẩm mỹ và biểu đạt, nhưng cách tiếp cận thi pháp của M Bakhtin và Jakobson có những hạn chế Bakhtin chỉ ra rằng quan điểm mỹ học của Jakobson là hẹp hòi, coi thơ chỉ là chất liệu được tổ chức theo nguyên tắc biến đổi tự thân mà không xem xét nguyên tắc nhận thức của chủ thể Hơn nữa, Jakobson đã bỏ qua ngữ cảnh hư cấu và tính hình tượng trong phát ngôn, dẫn đến một quan niệm thi pháp không đầy đủ Tôđôrốp cũng theo đuổi hướng cấu trúc nhưng chỉ tập trung vào các thuộc tính trừu tượng mà không nghiên cứu tác phẩm cụ thể, khiến thi pháp học của ông vẫn nằm trong phạm vi ngôn ngữ học Lý thuyết trần thuật học hiện đại cũng chỉ nghiên cứu cấu trúc và ngữ pháp của trần thuật mà không xem xét các thể loại tự sự cụ thể.
(1) V Girmunxki, Nhiệm vụ của thi pháp học, Sđd
M Bakhtin trong tác phẩm "Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học" (1928) đã đưa ra những nhận định sâu sắc về phương pháp nghiên cứu văn học Tác phẩm này được ký tên bởi P Métvêđép và được xuất bản trong "Bakhtin toàn tập", tập 2, bởi NXB Giáo dục Hà Bắc, Trung Quốc, vào năm 1998.
(1) R Jakobson, Thơ ca đương đại Nga trong sách Tác phẩm về thi pháp học, Mátxcơva, 1987, tr 275
(2) Ngôn ngữ học và thi pháp học trong sách Chủ nghĩa cấu trúc : tán thành và phản đối, Mátxcơva, 1975, tr
(3) M Bakhtin, Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tác nghệ thuật ngôn từ trong sách Những vấn đề văn học và mỹ học, Mátxcơva, 1975, tr 12
J Stuart Mill trong tác phẩm "Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học" của Robert Scholes (1988) đã nêu rõ rằng nghiên cứu diễn ngôn tự sự có ý nghĩa riêng, nhưng không phải là giải pháp toàn diện cho thi pháp học hiện đại.
Một hướng nghiên cứu thi pháp mới đang khám phá nghệ thuật từ khái niệm hình tượng, một khía cạnh cơ bản của nghệ thuật, được định nghĩa bởi L I Timôphêép là "bức tranh về đời sống con người vừa cụ thể, vừa khái quát, được sáng tạo bằng hư cấu và có ý nghĩa thẩm mỹ" Hình tượng này tồn tại ngoài văn bản và ngôn từ, mà ngôn từ chỉ là phương tiện biểu hiện bề ngoài Nghiên cứu nghệ thuật bắt đầu từ chi tiết, vì hình tượng được hình thành từ các chi tiết đó Khi phân tích ngôn từ, ông cũng xem xét nó tách rời khỏi hình tượng và tư tưởng.
Hiểu thi pháp học là học thuyết về các yếu tố hình thức tổ chức tác phẩm nghệ thuật, trong đó G Pôxpêlốp đã khắc phục quan niệm xem hình tượng vừa là nội dung so với ngôn từ, vừa là hình thức so với tư tưởng Ông đưa ra khái niệm hình thức văn học với ba yếu tố: ngôn từ, kết cấu và chi tiết tạo hình khách thể Tuy nhiên, đây chỉ là hệ thống các phương tiện vật chất để biểu hiện nội dung tinh thần của tác phẩm, chứ chưa phải bản thân hình thức Hình thức vẫn chỉ là những yếu tố vật chất, thiếu mối liên hệ nội tại để kết nối chúng, chưa cho phép khám phá hình thức chỉnh thể.
Hai quan niệm về hình thức nghệ thuật như là đối tượng của
Nghiên cứu thi pháp nghệ thuật hiện nay có hai xu hướng chính: một là phân tích các yếu tố riêng lẻ tạo nên hình thức nghệ thuật, hai là nghiên cứu các phương diện trong mối quan hệ chỉnh thể của chúng Tiền đề đầu tiên dựa trên lý thuyết hệ thống, cho rằng thuộc tính của hệ thống vượt xa tổng hợp các yếu tố cấu thành Các nhà hình thức Nga và phê bình mới tìm kiếm tính văn học bên ngoài ngôn ngữ thông thường, trong khi các nhà cấu trúc tìm kiếm cấu trúc siêu nghiệm ẩn sau các hiện tượng Tiền đề thứ hai thuộc về tâm lý học, nhấn mạnh mối liên hệ thống nhất giữa các thể văn và tâm lý cộng đồng Các nhà tâm lý học hoàn hình phân biệt giữa hình dáng và hình thức, cho rằng hình thức mang ý nghĩa toàn vẹn, cần thiết để nhận ra bản chất của sự vật Tiền đề thứ ba là lý thuyết ký hiệu, nhấn mạnh rằng ý nghĩa của siêu ký hiệu không phải là tổng hợp của các ký hiệu đơn vị Cuối cùng, lý thuyết về vai trò sáng tạo của tác giả cho thấy rằng tác giả, từ vị trí bên ngoài, có khả năng phát hiện và cấu tạo hình thức cho ý nghĩa độc đáo của thực tại Tất cả những tiền đề này chỉ ra rằng việc nghiên cứu hình thức nghệ thuật trên cấp độ chỉnh thể là cách duy nhất để hiểu sâu sắc về hình thức, trong khi các phân tích ở cấp độ bộ phận chỉ là bước chuẩn bị cho việc khám phá toàn diện hơn.
II - Hình thức bên trong, mang tính quan niệm là đối tượng của thi pháp học
1 Sự khác biệt giữa khái niệm hình thức trong triết học và hình thức trong văn học, nghệ thuật
Nội dung và hình thức là hai khía cạnh mâu thuẫn nhưng thống nhất trong mọi sự vật, hiện tượng Nội dung bao gồm các yếu tố và quá trình tạo nên sự vật, trong khi hình thức thể hiện sự tổ chức và phương thức tồn tại của nội dung Hai khái niệm này không thể tách rời; sự thay đổi của nội dung kéo theo sự thay đổi của hình thức và ngược lại Các triết gia như Aristote, Lenin và Hegel đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hình thức trong việc xác định bản chất của sự vật Hegel phân chia hình thức thành hình thức bên trong và bên ngoài, cho rằng hình thức đồng thời chứa đựng nội dung và nằm ngoài nội dung Trong lý luận văn học, việc áp dụng trực tiếp khái niệm triết học cần phải cân nhắc, vì nghệ thuật là lĩnh vực sáng tạo có hình thức do con người tạo ra, khác với sản phẩm tự nhiên Hình thức nghệ thuật mang tư tưởng, thể hiện sự khác biệt giữa sáng tạo của con người và bản năng tự nhiên.
Hegel giải thích rằng nghệ thuật, với tư cách là sự thực hiện của cái đẹp, bắt nguồn từ tư tưởng, nơi tư tưởng được thể hiện qua hình thức Dù tư tưởng có tính xác định trừu tượng hay cụ thể, nó vẫn hiện hình qua các hình thức biểu hiện cụ thể Hai mặt này có mối liên hệ chặt chẽ, với sự hoàn thiện của tư tưởng đồng nghĩa với sự hoàn thiện của hình thức Các khuyết điểm trong hình thức nghệ thuật phản ánh sự thiếu hoàn thiện của tư tưởng, vì tư tưởng tạo ra ý nghĩa nội tại cho các hiện tượng bề ngoài và trở thành thực tại trong chính nó Hegel nhấn mạnh sự tương tác giữa hình thức và tư tưởng, cũng như vai trò chủ đạo của tư tưởng trong việc biểu hiện thực tại và sự gắn bó giữa nội dung và hình thức.
Nghệ thuật là sự kết hợp giữa nội dung tinh thần và hình thức biểu đạt, trong đó nội dung được sáng tạo từ tưởng tượng và hư cấu Hình thức nghệ thuật không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn mang tính ký hiệu, giúp truyền tải ý nghĩa sâu sắc Để đạt được sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, nội dung cần phải hòa quyện vào hình thức, tạo nên những tác phẩm văn học có giá trị biểu hiện rõ ràng.
(1) V Lênin, Toàn tập, tập 29, NXB Văn học chính trị, tr 129, (tiếng Nga).
(2) Hegel, Lô gích học - Tác phẩm, tập 1, 1930, tr 223 - 224, trích theo sách Lý luận văn học của G N
Pôxpêlốp (1978) cho rằng hình thức không chỉ là phương thức tồn tại mà còn là biểu hiện của nội dung Hình thức chứa đựng mọi quy tắc biểu đạt và phản ánh sự phong phú của nội dung Để hiểu rõ nội dung, cần phải khám phá sâu về hình thức Mối quan hệ đặc thù giữa nội dung và hình thức trong văn học và nghệ thuật quyết định cách tiếp cận của thi pháp học, đó là tìm hiểu hình thức nghệ thuật để nắm bắt nội dung mà nó thể hiện.
L Vưgốtxki nói "nghệ thuật bắt đầu từ nơi mà hình thức bắt đầu"(1), nhưng hình thức không phải giản đơn là tấm gương phản chiếu, không phải là thủ pháp riêng lẻ, không phải "dây dẫn" hay "máy tăng âm" để truyền tình cảm từ tác giả đến người tiếp nhận Hình thức là một sáng tác nghệ thuật để thức dậy kinh nghiệm sống và tình cảm, suy nghĩ nơi người thưởng thức Vậy thi pháp học phải khám phá hình thức nghệ thuật đó.
Hình thức bên ngoài và hình thức bên trong
Mỗi tác phẩm văn học đều có hình thức cụ thể, bao gồm thơ, văn xuôi hay kịch Thơ có thể được cấu trúc từ các loại câu khác nhau như bốn, năm, sáu, bảy, tám chữ hoặc dài ngắn xen kẽ Bài thơ có thể chia khổ hoặc không, có vần ôm, vần gián cách, vần lưng, và sử dụng từ ngữ Hán Việt hoặc ngôn ngữ dân gian Ngoài ra, việc sử dụng tục ngữ, khẩu ngữ, ngôn ngữ phân tích hay ý tượng, cũng như các hình thức ẩn dụ, ví von và hình ảnh có thể dễ hiểu hoặc khó hiểu, đều góp phần tạo nên hình thức bên ngoài của tác phẩm Hình thức này không chỉ là yếu tố vật chất, mà còn là cơ sở khách quan cho sự tồn tại của tác phẩm, bao gồm số trang giấy, thời gian đọc, âm thanh và nhịp điệu.
Hình thức bên ngoài trong văn học bao gồm các quy phạm cố định của thể loại, có thể lặp lại và áp dụng cho nhiều tác phẩm khác nhau, chẳng hạn như các thể thơ Ngoài ra, nó còn bao gồm các thủ pháp như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, kể xen, và kể ngược Tuy nhiên, những yếu tố này một mình không đủ để hình thành nên hình thức văn học hoàn chỉnh.
Các kỹ thuật văn chương như việc sử dụng từ ngữ đẹp và hình ảnh bóng bẩy chỉ là yếu tố hình thức trong nghệ thuật văn học Nhà nghiên cứu Đ Zatônxki đã chỉ ra rằng việc đồng nhất hình thức nghệ thuật với kỹ thuật văn học là một sai lầm nghiêm trọng Trong thời kỳ của mình, nhiều người đã chỉ trích văn phong của H Balzac là thiếu phong cách, trong khi Balzac lại phê phán Stendhal vì câu văn thiếu sự trau chuốt Những nhận xét này chỉ là sự đánh giá theo tiêu chuẩn tu từ học mà thôi Tuy nhiên, điều quan trọng là nghệ thuật không thể bị ràng buộc bởi những quy tắc bất biến.
Hình thức bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong văn học, vì nó không chỉ là bộ khung và giá đỡ mà còn là diện mạo tối thiểu cần thiết của tác phẩm Tuy nhiên, hình thức này một mình chưa thể hiện đầy đủ giá trị của tác phẩm.
(1) L.Vưgốtxki, Tâm lý học nghệ thuật, NXB Nghệ thuật, Mátxcơva, 1986, xuất bản lần thứ 3, tr 52 (tiếng Nga)
(1) Đ Zatônxki, Những định hướng nghệ thuật của thế kỷ XX, Mátxcơva,
Năm 1988, tr 25, nghệ thuật của văn học không chỉ đơn thuần là nghiên cứu và hệ thống hóa các yếu tố hình thức bên ngoài, mà điều này chưa phải là yếu tố quan trọng nhất trong thi pháp học.
Hình thức nghệ thuật đặc trưng của văn học là hình thức bên trong, phản ánh cảm xúc và nhận thức Khái niệm này được Plotin, nhà triết học Hy Lạp thế kỷ III, đề xuất, đối lập với hình thức bên ngoài, mà ông gọi là "hình thức được làm ra" Hình thức bên trong được xem là chủ thể của hành động, không phải là hình thức khách thể Các nhà tư tưởng như Goethe, Hegel, và Oscar Valsel cũng đã áp dụng khái niệm này Humboldt và Pôtépnhia dùng nó để chỉ hình ảnh ẩn dụ trong ngôn ngữ, tuy nhiên, cách tiếp cận này khá hạn hẹp Nhà mỹ học Nga P Phlôrenxki cho rằng hình thức bên ngoài của từ ngữ là phần bất biến, tương tự như cơ thể con người, trong khi hình thức bên trong tương tự như tâm hồn, cho phép ngôn từ tiếp nhận dấu ấn cá nhân và lịch sử.
Cách nhìn hình thức văn học là ngôn từ theo cấu trúc hai lớp đã được nhiều nhà khoa học xác nhận, trong đó nhà ngữ học Đan Mạch L Hjelmslev đã phân biệt hai thành phần của ký hiệu: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt tạo thành bình diện biểu hiện, còn cái được biểu đạt tạo thành bình diện nội dung Mỗi bình diện có hai lớp: hình thức và thực thể Hình thức có thể được miêu tả một cách triệt để và không mâu thuẫn trong ngôn ngữ học, trong khi thực thể chỉ được mô tả dựa vào các tiền đề siêu ngôn ngữ học Các lớp này bao gồm thực thể biểu hiện (âm thanh, phát âm), hình thức biểu hiện (quy tắc lựa chọn và kết hợp), thực thể nội dung (cảm xúc, tư tưởng), và hình thức của nội dung (cách tổ chức quan hệ giữa các yếu tố) Sự phân biệt này làm nổi bật "chức năng thơ" trong văn học.
R Jakobson nêu ra chỉ nằm trong phạm vi hình thức của biểu hiện (hình thức của hình thức) mà chưa đề cập tới hình thức của nội dung Còn hình thức của nội dung ở đây lại chỉ mới nói đến phương diện có tính khách thể của cái được biểu đạt
Hình thức nghệ thuật không chỉ đơn thuần là văn bản mà là cảm nhận thẩm mỹ mà tác phẩm mang lại cho người đọc Theo các nhà phê bình mỹ học như Jakobson và M Bakhtin, phân tích thẩm mỹ cần tập trung vào cách mà tác phẩm tác động đến hoạt động thẩm mỹ của nghệ sĩ và người xem, thay vì chỉ xem tác phẩm như một dữ kiện cảm tính đơn thuần.
(1) A Ph Lôxép, Lịch sử mỹ học cổ đại, tập 6 : Thời kỳ Hy Lạp hoá muộn, Mátxcơva, 1980
Tác phẩm nghệ thuật không đồng nhất với văn bản ngôn từ, mà thể hiện hình thức nghệ thuật nội tại của khách thể thẩm mỹ Hình thức này mang tính chất tinh thần, phi cá nhân, không phản ánh các tính chất tâm lý cụ thể của tác giả và người đọc Việc thừa nhận hình thức này là cơ sở để L Vưgốtxki nghiên cứu tâm lý học nghệ thuật, với luận đề rằng hình thức nghệ thuật có chức năng tạo ra một tình cảm mới mang tính xã hội Hình thức này có thể được hiểu theo quan điểm của Marx, rằng "cái tinh thần chính là cái vật chất đã được chuyển vào đầu óc con người và được cải tạo lại." Đây là hình thức liên quan đến các phạm trù cảm nhận thế giới.
Hình thức bên trong, được xem như là hình thức tạo hình thức, không chỉ thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật mà còn là cách mà chủ thể cảm nhận và tri giác thế giới Nghệ sĩ có khả năng cắt rời chuỗi sự kiện, tạo ra sự liên kết mới mẻ để hình thành sự toàn vẹn nghệ thuật Bakhtin gọi đây là hình thức kiến tạo, phân biệt với hình thức kết cấu kỹ thuật bề ngoài, nhấn mạnh bản chất cụ thể của nó Chẳng hạn, trong kịch, đối thoại và chia hồi là hình thức bề ngoài, trong khi kết thúc của tác phẩm lại phản ánh hình thức bên trong, hình thức kiến tạo Nhịp điệu âm thanh là hình thức bề ngoài, nhưng khi nó gợi lên cảm xúc và căng thẳng, đó chính là hình thức bên trong Hình thức bên trong thực chất là sự thể hiện tính cá thể thẩm mỹ, cho phép nghệ sĩ cảm nhận sự sáng tạo của mình không chỉ trong quá trình sáng tác mà còn trong việc tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.
Hình thức bên trong là yếu tố quyết định cách tạo hình cho tác phẩm nghệ thuật, thể hiện cái nhìn độc đáo của nghệ sĩ Bakhtin trong tác phẩm "Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki" nhấn mạnh rằng việc hiểu hình thức mới của cái nhìn là cần thiết để nhận thức đúng đắn về những điều trong cuộc sống mà hình thức đó đã phát hiện Hình thức nghệ thuật không chỉ đơn thuần là khung tạo hình cho nội dung đã có, mà còn là phương tiện để phát hiện và giới thiệu lần đầu tiên những nội dung mới.
Hình thức bên trong thể hiện sự vận động và phát triển đa dạng của ý thức nghệ thuật và tư duy nghệ thuật Ngay từ thời xa xưa, các hình thức tu từ như so sánh và ẩn dụ đã xuất hiện, phản ánh sự phong phú trong cách biểu đạt nghệ thuật.
(1) Bakhtin, Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tác nghệ thuật ngôn từ, Sđd, tr 17
(2) L Vưgốtxki, Tâm lý học nghệ thuật, Mátxcơva, 1986, tr 17 (tiếngNga)
(3) K Marx và F Engels, Tác phẩm, tập 23, tr 21 (tiếng Nga)
(1) M Bakhtin, Vấn đề hình thức, nội dung chất liệu., Sđd, tr 76
M Bakhtin trong tác phẩm "Những vấn đề thi pháp Đốxtôiépxki" nhấn mạnh rằng nghệ thuật ngôn ngữ là những hình thức vĩnh cửu của nhân loại Tuy nhiên, trong sáng tác của các tác giả, các hình thức này lại được thể hiện một cách đa dạng và phong phú Ví dụ, thơ luật, lục bát, và song thất lục bát đã tồn tại từ lâu nhưng qua tài năng của các nhà thơ, chúng xuất hiện với nhiều hình thức độc đáo và không trùng lặp Rõ ràng, để hiểu được quy luật của tác phẩm nghệ thuật và quá trình sáng tạo, cần phải nghiên cứu sâu sắc các hình thức bên trong của chúng.
Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học
Văn bản ngôn từ chỉ là biểu hiện bề ngoài của tác phẩm, trong khi tác phẩm toàn vẹn tạo nên một thế giới nghệ thuật và là một khách thể thẩm mỹ Người Trung Quốc từ xưa đã gọi tác phẩm thơ là "cõi ý" hay "cõi thơ", thể hiện sự sâu sắc trong cách nhìn nhận nghệ thuật V Bêlinxki nhận xét rằng mọi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới riêng, nơi người ta phải sống theo quy luật của nó, còn nhà văn Sêđrin ví tác phẩm văn học như một vũ trụ thu nhỏ, với mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín Những nhận xét này phản ánh sự sâu sắc trong việc hiểu và cảm nhận giá trị của nghệ thuật.
Việc sử dụng từ "thế giới" trong văn học có nền tảng khoa học, với các ý nghĩa như sự thống nhất vật chất của những biểu hiện đa dạng, giới hạn về không gian và thời gian, phạm vi tác động của các quy luật chung, và tính tự đầy đủ của các quy luật nội tại "Thế giới" còn được hiểu như một kiểu tồn tại, thực tại, thường được nhắc đến trong các khái niệm như thế giới vĩ mô, vi mô, động vật và thực vật.
Nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo độc đáo của con người, phản ánh sự thích nghi với thế giới khách thể bốn chiều, bao gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian Tâm lý học cho thấy rằng mọi cảm xúc và tri giác của con người đều gắn liền với thế giới xung quanh, vì vậy không thể miêu tả sự sống mà không nhắc đến thế giới của con người Do đó, việc sáng tạo ra thế giới tinh thần trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người.
A Einstein nói : "Con người muốn sáng tạo cho mình một bức tranh thế giới giản đơn và rõ ràng theo một cách thức giống thật nhất để có thể tách mình khỏi thế giới của cảm giác, để trong chừng mực nào đó thay thế nó bằng bức tranh được sáng tạo,… Con người sẽ chuyển trọng tâm đời sống tinh thần của nó vào bức tranh đó để có thể đạt được sự yên tĩnh và niềm tin, điều mà nó không tìm thấy trong cuộc đời riêng chật hẹp và quay cuồng đến chóng mặt"(3).
Xác định thế giới nghệ thuật vẫn chưa có sự đồng thuận trong lý luận Một số người cho rằng đây là thế giới thống nhất giữa chủ quan và khách quan, hiện thực và lý tưởng Trong khi đó, một số khác lại nhấn mạnh mối liên hệ giữa hình thức và nội dung Một quan điểm khác cho rằng thế giới nghệ thuật mang tính mục đích, có trật tự, hoàn thành và đầy ý nghĩa.
(1) X Krưmxki, V Kudơnexốp, Các phạm trù thế giới quan trong khoa học tự nhiên hiện đại, Kiép, 1983, tr
(1) A N Lêônchép, Tuyển tập tác phẩm tâm lý học, tập 2, Mátxcơva,
(2) A Einstein, Tập hợp tác phẩm vật lý học, tập 2, Mátxcơva, 1983
Thế giới nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật thống nhất giữa hình thức và nội dung, là sản phẩm sáng tạo độc đáo của nghệ sĩ chỉ tồn tại trong tác phẩm và cảm thụ của người thưởng thức Nó mang tính cảm tính, đặc trưng bởi sự kết hợp của các yếu tố đa dạng, tạo nên một cấu trúc và ý nghĩa riêng, chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả Với quy luật tồn tại và triển khai, thế giới nghệ thuật là một cấu tạo hữu hạn, có tính ước lệ so với thực tại, với sự bắt đầu và kết thúc rõ ràng Mỗi chi tiết trong thế giới này đều có ý nghĩa riêng, tương quan với chỉnh thể, và sự cảm nhận sâu sắc sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về ý nghĩa của nó.
Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối và tính ước lệ, không thể đơn giản so sánh với thực tại để đánh giá giá trị tác phẩm Nghệ thuật luôn khác biệt so với thực tại, điều này giúp nó tồn tại riêng biệt và thể hiện ý nghĩa qua sự khác biệt đó.
Nhiệm vụ của thi pháp học là khám phá các quy luật nội tại tạo nên hình thức nghệ thuật, chức năng biểu đạt và mã văn hóa của nó, thay vì chỉ đơn giản miêu tả bề ngoài Việc này giúp nâng cao khả năng miêu tả và cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật một cách sâu sắc hơn.
Các yếu tố của thế giới bên trong của tác phẩm văn học
Khi đọc một tác phẩm văn học, người đọc sẽ gặp gỡ lời kể, sự bộc bạch và miêu tả, từ đó nhận diện con người, môi trường và hành động Qua các chi tiết, ta khám phá từng nhân vật, mối quan hệ, xung đột, và tính cách của họ, dẫn đến việc hiểu rõ hơn về cuộc sống, con người và ý nghĩa nhân sinh Để cảm thụ tác phẩm, cần phân tích chi tiết tính cách và quan hệ nhân vật nhằm hiểu rõ xã hội và lịch sử, đồng thời đưa ra nhận xét về nghệ thuật miêu tả, từ ngữ, và sự phù hợp với ý đồ tư tưởng cũng như hình tượng của tác giả.
Thi pháp học không chỉ lặp lại các bước đi mà còn khám phá hình thức tạo hình và lô gíc của nghệ thuật, đi sâu vào "thế giới bên trong" của tác phẩm Thế giới này có những quy luật và kích thước riêng, tạo thành một hệ thống có ý nghĩa đặc biệt Mô hình thế giới này là cơ sở cho việc tổ chức tác phẩm và miêu tả hình tượng, bao gồm các yếu tố như con người, thời gian, không gian, đồ vật và màu sắc Thi pháp học không tập trung vào nhân vật mà chú ý đến quan niệm về con người, từ đó xây dựng mô tả nhân vật, đồng thời cũng quan tâm đến không gian và thời gian trong tác phẩm.
Đ X Likhachép trong bài viết "Thế giới bên trong của tác phẩm nghệ thuật" nhấn mạnh rằng thi pháp học không chỉ tập trung vào các chi tiết và biến cố cụ thể mà còn nghiên cứu các kiểu loại chi tiết và biến cố tạo nên hình tượng nghệ thuật Thi pháp học cũng xem xét các mô hình xã hội, tâm lý và lịch sử trong văn học, từ đó làm rõ những yếu tố nền tảng cho việc miêu tả các hiện tượng xã hội, tâm lý và lịch sử trong tác phẩm.
Trong thế giới nghệ thuật, không chỉ có những hình ảnh được miêu tả mà còn có những người kể chuyện và nhân vật trữ tình Để hiểu rõ hơn về thế giới này, cần khám phá cả con người kể chuyện và những nhân vật trữ tình Thế giới miêu tả bao gồm lời nói của các nhân vật, trong khi thế giới miêu tả lại phản ánh qua lời trần thuật của văn bản Thi pháp học tìm hiểu các nguyên tắc nghệ thuật chi phối việc hình thành văn bản, không chỉ dừng lại ở nguyên tắc ngôn từ mà còn bao gồm nguyên tắc "siêu ngôn ngữ học" như M Bakhtin đã đề cập, nhằm chỉ ra các thuộc tính nghệ thuật.
Yếu tố của hình thức bên trong là những thành phần cấu thành nên thế giới nghệ thuật, chúng liên kết và quy định lẫn nhau, tạo nên một hình thức chỉnh thể thống nhất.
Tính quan niệm của hình thức nghệ thuật
Sự khác biệt của nghệ thuật so với các hình thức khác là ở tính chất quan niệm của nó Khái niệm này không mới, đã có từ thời Platon với hình thức tiên nghiệm khách quan, và I Kant với các khái niệm chủ quan Theo quan điểm duy vật biện chứng, hình thức quan niệm là sản phẩm tinh thần từ truyền thống văn hóa và phát hiện cá nhân, ảnh hưởng đến cách nhìn và sáng tạo Triết học Marx - Lênin nhấn mạnh vai trò của hệ thống thế giới quan trong sáng tác, bao gồm triết học, nhân sinh và thẩm mỹ Tuy nhiên, các nhà lý luận mác xít thường chỉ xem xét thế giới quan từ góc độ triết học, chính trị và xã hội, mà bỏ qua khía cạnh cá nhân và thẩm mỹ, dẫn đến các sáng tác chỉ mang tính minh họa M Goócki cũng đề cập đến "cảm quan về thế giới" và "phạm trù ấn tượng", là những yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến sáng tác.
Hình thức mà chúng ta đề cập ở đây là hình thức nội tại, phản ánh cái nhìn và tâm hồn của tác giả, từ đó tạo nên hình thức thẩm mỹ cho tác phẩm văn học Hình thức này có mối liên hệ chặt chẽ với hình thái ý thức xã hội, nhưng lại mang đặc trưng riêng của nghệ thuật văn bản Nó thể hiện quan niệm về thế giới, đồng thời tạo ra những hình thức cụ thể trong việc miêu tả nhân vật và cấu trúc thể loại Khái niệm này được phát triển từ quan niệm của Bakhtin về hình thức tiểu thuyết của Đốtxtôiépxki, giúp phân biệt với các hình thức tiểu thuyết khác.
M Bakhtin trong tác phẩm "Những vấn đề thi pháp Đốxtôiépxki" đã nêu rõ rằng các yếu tố hình thức như nhân vật, cốt truyện và lời trần thuật đều mang tính độc đáo và khác biệt, tạo nên thể loại tiểu thuyết đa thanh của Đốxtôiépxki Ông nhấn mạnh rằng "nhiều tiếng nói và ý thức độc lập không hoà nhập làm một" là đặc điểm cốt lõi của tiểu thuyết này Bakhtin cũng mô tả quan niệm của Đốxtôiépxki về nhân vật, cho rằng nhân vật không chỉ là một thực thể cố định mà là một ý thức độc lập, sống động, thể hiện sự phức tạp và chiều sâu của tâm hồn con người.
Nhà văn Đôxtôiépxki đã phát triển một quan niệm độc đáo về lời trần thuật và đối thoại, tạo nên hình thức tiểu thuyết đặc sắc Theo Bakhtin, ông đã phá vỡ các hình thức tiểu thuyết châu Âu truyền thống để hình thành một hình thức mới, mang tính quan niệm Quan niệm này không chỉ phản ánh cách nhìn nghệ thuật của Đôxtôiépxki mà còn thể hiện sự tương tác và đồng tồn tại trong không gian, thay vì chỉ trong thời gian Bakhtin chỉ ra rằng mặc dù quan niệm này có thể khiến Đôxtôiépxki bỏ lỡ nhiều khía cạnh quan trọng của thực tại, nhưng nó cũng làm sắc nét khả năng cảm thụ của ông, cho phép ông nhận ra sự đa dạng và những mâu thuẫn trong từng tiếng nói Quan niệm nghệ thuật này không chỉ liên quan đến thế giới quan trừu tượng của nhà văn mà còn là hệ thống biện pháp nghệ thuật thể hiện cái nhìn của ông, đóng vai trò quan trọng trong thi pháp học.
Quan niệm là một phương thức và cách giải thích đối với các đối tượng, hiện tượng hay quá trình, đóng vai trò như một quan điểm cơ bản và tư tưởng chỉ đạo cho các hoạt động có tính hệ thống Thuật ngữ này chỉ ra một cấu tứ chủ đạo và nguyên tắc xây dựng trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, công nghệ và chính trị Đặc biệt, "quan niệm" được hiểu là cách hiểu, cách giải thích, và trở thành nguyên tắc cấu tứ trong hoạt động nghệ thuật.
(1) Xem : Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki, chương I, Sđd
Yếu tố quả có sức mạnh tạo hình lớn, nhưng không chỉ đơn thuần là khái niệm hay công thức hóa hình thức Thay vào đó, nó phản ánh nội hàm quan niệm trong hình thức và hình thành từ cảm nhận Đôi khi, tác giả không nhận thức được quan niệm của mình Điều quan trọng là trong các yếu tố hình thức, có sự ngưng kết một quan niệm về đời sống, như trong đoạn thơ miêu tả Thúy Vân của Nguyễn Du.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Nhà thơ khắc họa vẻ đẹp của nhân vật qua những chi tiết tinh tế như khuôn mặt, nét ngài, hoa, ngọc, mây, tuyết, tất cả đều thuộc về thế giới thiên nhiên và vũ trụ, mang tính chất cao quý và vĩnh viễn Điều này cho thấy vẻ đẹp không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố xác thịt trần tục, đồng thời cũng không chứa đựng dấu ấn cá nhân hay cá tính Khi miêu tả Kiều tắm, sự thanh khiết và tinh khôi của nàng càng được tôn vinh.
Trong tác phẩm Truyện Kiều, tác giả khéo léo sử dụng hình ảnh "ngọc trắng ngà" để tạo nên một bức tranh thiên nhiên sống động Việc lặp lại các chi tiết tương đồng không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp mà còn góp phần hình thành tính quan niệm trong cảm thụ và miêu tả chân dung nhân vật.
Quan niệm nghệ thuật tạo ra giới hạn trong việc miêu tả, theo nhà nghiên cứu Gachép, có một "thế giới quan đông cứng lại" trong hình thức, làm nền tảng cho việc diễn tả các hiện tượng mới Ông chỉ ra rằng các hình thức bi kịch, sử thi, và trữ tình đều chứa đựng một quan niệm về thế giới; ví dụ, bi kịch thể hiện xung đột giữa cá nhân và định mệnh, mà con người không thể vượt qua Kết thúc có hậu cũng phản ánh quan niệm này Thể loại văn học thường mang trong mình "ký ức" riêng, và ký ức đó chính là quan niệm của thể loại.
Cách dùng "quan niệm" để chỉ hình thức trừu tượng đã có truyền thống lâu đời, bắt nguồn từ thời cổ Hy Lạp khi Platon sử dụng thuật ngữ này.
"Ý tưởng" ban đầu chỉ "hình trạng", "hình thức", "lý thức" Pythagore dùng "ý tưởng" để chỉ các hình kỷ hà, trong khi Aristote mở rộng nghĩa để chỉ hình thức cụ thể Việc dịch thành "hình thức" (form) sau này đã làm mất đi nghĩa gốc Husserl hiểu "ý tưởng" là "eidos", tức là "lý thức", liên quan đến hình thức lô gích mà Plotin đã đề cập Hiện nay, nhiều người hiểu "ý tưởng" như hình thức mẫu cổ (archetype), model hay nguyên hình (prototype), hoặc "hình thức hệ hình" (paradigm).
(2) Tính quan niệm gắn với sự cảm nhận vô thức nhưng không thể quy tất cả vào vô thức
Hình thức mang tính quan niệm thể hiện giới hạn trong cảm nhận đời sống, liên quan đến các thủ pháp nghệ thuật đặc trưng như độc thoại nội tâm và dòng ý thức, chỉ xuất hiện khi con người nhận thức được cuộc sống nội tâm của mình Việc khám phá tính quan niệm giúp hiểu rõ cấu trúc chỉnh thể của hình thức Trong thời trung đại, quan niệm cảm nhận thế giới một cách toàn vẹn trở thành nguyên tắc cố định, khiến cho truyện và thơ thường bắt đầu từ sự việc và kết thúc khi mọi mâu thuẫn đã được giải quyết triệt để, điều này không cho phép tác giả bắt đầu kể chuyện một cách tùy tiện.
(2) G.D Gachép, Tính nội dung của hình thức nghệ thuật (Sử thi, trữ tình, kịch), Mátxcơva, 1968
Hoàng Trác Việt trong tác phẩm "Hệ hình tâm lý trong nghệ thuật" (1992) chỉ ra rằng, trong xã hội cận đại, con người cảm thấy thế giới bị rạn nứt, khó xác định điểm khởi đầu và kết thúc Điều này thể hiện rõ qua việc thơ văn thường bắt đầu từ khúc giữa và kết thúc lửng lơ, như trong những tác phẩm của Hàn Mặc Tử.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Và Xuân Diệu có thể mở đầu :
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại
Tố Hữu viết mở đầu :
Mã Chiếm Sơn thả lỏng cương ngựa và suy tư, trong khi ngựa ngẩng cao đầu hý vang giữa tàn quân Đây là những câu mở đầu độc đáo, khó có thể tìm thấy trong cấu trúc thơ trữ tình cổ điển trung đại, kể cả trong tác phẩm của thi sĩ Tản Đà.
Tính quan niệm của hình thức thể hiện hệ hình tư duy phản ánh trình độ chiếm lĩnh thế giới của một hệ thống nghệ thuật, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của hình thức nghệ thuật Điều này cho thấy thi pháp không chỉ là tập hợp các phương thức miêu tả nghệ thuật, mà còn là hệ thống các nguyên tắc cảm nhận đời sống một cách thẩm mỹ.
Các chỉnh thể văn học
Nghiên cứu thi pháp là một hệ thống nguyên tắc và phương thức thể hiện nghệ thuật, đòi hỏi việc xác lập các chỉnh thể văn học như những đơn vị mang thi pháp.
Các nhà khoa học thường nhấn mạnh đến những chỉnh thể trong văn học, bao gồm tác phẩm văn học như một đơn vị sáng tác toàn vẹn với cấu trúc mở đầu và kết thúc, sự thống nhất giữa hình thức và nội dung Sáng tác của một tác giả, mặc dù có thể thay đổi về tư tưởng và phong cách, vẫn giữ được những yếu tố cảm nhận và miêu tả đặc trưng cho phong cách cá nhân Ngoài ra, sáng tác còn phản ánh một thời kỳ hoặc trào lưu văn học với những nguyên tắc chung trong việc cảm nhận và miêu tả thế giới, như văn học cổ đại, trung đại, hiện đại, hay các trường phái như cổ điển, lãng mạn, hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa Các thể loại văn học cũng là những kết cấu vững bền, có ký ức thể loại riêng, mặc dù có sự biến đổi nhưng vẫn giữ được thi pháp đặc trưng Cuối cùng, văn học dân tộc có thể được xem như một chỉnh thể với hệ thống thể loại gắn liền với ngôn ngữ và phong cách học của nó.
Có thể phân hóa các cấp độ nghiên cứu thi pháp thành nhiều loại khác nhau Đầu tiên là thi pháp tác phẩm văn học, như thi pháp Truyện Kiều hay Chiến tranh và hoà bình Tiếp theo là thi pháp tác giả, ví dụ như thi pháp Puskin hay Đốxtôiépxki Thứ ba là thi pháp thể loại, bao gồm thi pháp tiểu thuyết, thi pháp thơ Đường, và thi pháp truyện thơ Nôm Ngoài ra, còn có thi pháp giai đoạn văn học, chẳng hạn như thi pháp văn học cổ đại Hy Lạp và văn học trung đại Việt Nam Cuối cùng là thi pháp văn học dân tộc, với các ví dụ như thi pháp văn học Nga cổ, Trung Quốc và Nhật Bản.
Các phạm trù thi pháp
Trong giáo trình này, chúng tôi không chỉ đề cập đến các phạm trù thi pháp truyền thống như cốt truyện, kết cấu, thể loại và lời văn, mà còn giới thiệu các phạm trù mới như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian, thời gian, kiểu tác giả và chi tiết nghệ thuật Những phạm trù này đóng vai trò như "mẫu số chung" cho một mô hình tác phẩm lý tưởng, tạo nền tảng để phân tích các chỉnh thể nghệ thuật cụ thể.
Mục đích của lý luận văn học là xác định các phạm trù chung và phản ánh yếu tố phổ quát trong cấu trúc văn học, trong khi thi pháp học tập trung vào việc phát hiện và miêu tả các phạm trù thi pháp cụ thể của từng chỉnh thể văn học Những phạm trù này bao gồm các sáng tạo nghệ thuật độc đáo, đặc trưng cho các tác phẩm lớn, cũng như các đặc điểm loại hình của thể loại, trào lưu và giai đoạn văn học.
Sáng tác nghệ thuật cần phải độc đáo và không lặp lại, vì vậy thi pháp học phải xác định các phạm trù độc đáo của các chỉnh thể nghệ thuật Những phạm trù thi pháp này không chỉ mang tính chất lịch sử cụ thể mà còn thể hiện sắc thái cá tính riêng biệt.
IV - Phương pháp nghiên cứu thi pháp học
Phương pháp nghiên cứu thi pháp xem tác phẩm không chỉ là một văn bản ngôn từ mà còn là một chỉnh thể nghệ thuật mang tính quan niệm Thế giới nghệ thuật này được hình thành và thể hiện thông qua chất liệu ngôn từ.
Yêu cầu đầu tiên trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật là khai thác các yếu tố ngôn từ, từ việc thể hiện cái nhìn đến xác định hình tượng không gian và thời gian Ngôn từ không chỉ hình thành các biểu trưng mà còn biểu hiện cảm giác, cho thấy tính hệ thống của nó nằm trong cấu trúc tổng thể của thế giới nghệ thuật, phục vụ cho việc tạo ra các chiều sâu của thế giới đó.
Văn bản ngôn từ biểu hiện ý thức nghệ thuật và quan hệ thẩm mỹ giữa chủ thể và khách thể Ngôn từ không chỉ là sản phẩm của ý thức chủ thể mà còn là phát ngôn gắn liền với thế giới các chủ thể Đồng thời, nó cũng miêu tả và biểu hiện thế giới khách thể Mối liên hệ giữa hai mặt này tạo ra không gian nội tại, từ đó hình thành nên thế giới nghệ thuật.
Nhà nghiên cứu thi pháp sử dụng từ cứ liệu ngôn từ như sự lặp lại, sự đối lập và lựa chọn để tái cấu trúc thế giới nghệ thuật Quá trình nghiên cứu bao gồm việc quy nạp thành các phương thức và phạm trù, sau đó kiểm chứng trong tính hệ thống của chỉnh thể.
Các nguyên tắc thi pháp được thể hiện qua yếu tố lặp lại và không lặp lại Sự thiếu vắng tính độc đáo sáng tạo dẫn đến việc không nhận thấy giá trị nghệ thuật, trong khi đó, tính lặp lại xuất hiện ở nhiều cấp độ và trong nhiều văn bản lại phản ánh các quy tắc tổ chức hình thức Ví dụ, trong tác phẩm Truyện Kiều, Xuân Diệu đã chỉ ra rằng chi tiết "Sẵn thây vô chủ bên sông ư Đem vô để đó lộn sòng ai hay" phản ánh thực trạng của một thời kỳ loạn lạc.
Lê đầu Nguyễn thường gặp hình ảnh người vô chủ, nhưng đây là một sự hiểu nhầm "Sẵn thây" không chỉ đơn thuần là sự hiện diện của nhân vật mà còn giống như các yếu tố khác trong văn học như "Hiên san treo sẵn cầm trăng" hay "Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ" Những "đạo cụ" này được chuẩn bị sẵn để giúp cốt truyện phát triển một cách mạch lạc, tránh việc đi lạc vào những tình huống không cần thiết như "tìm thây" hay "tìm đàn" Do đó, "Sẵn thây" thực sự là một phần trong quy tắc tổ chức truyện của tác giả.
Trong thế giới nghệ thuật, có nhiều yếu tố lặp lại đáng chú ý, bao gồm ngôn từ, chân dung nhân vật, chi tiết ngoại hình, mô típ hành động, các loại quan hệ, kiểu trang trí, phong cảnh, màu sắc, âm thanh, lời nói, không gian, cấu trúc thời gian và biểu tượng Những yếu tố này tạo nên sự phong phú và đa dạng trong tác phẩm nghệ thuật.
Nguyên tắc thi pháp cần được hiểu trong bối cảnh văn hóa và văn học của từng dân tộc, khu vực và thời đại, vì vậy nghiên cứu thi pháp không thể tách rời khỏi văn hóa truyền thống và giao lưu văn học Mô hình vũ trụ trong tam giáo đã ảnh hưởng đến cách miêu tả con người trong văn học trung đại Việt Nam Lý thuyết tiến hóa và triết học thực chứng tác động đến mối quan hệ giữa môi trường và tính cách trong chủ nghĩa hiện thực, trong khi lý thuyết đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa tập thể ảnh hưởng đến cách miêu tả sự trưởng thành của con người mới trong văn học cách mạng Việt Nam theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Văn học, như một sản phẩm của đời sống xã hội, mang trong mình nội dung lịch sử sâu sắc, do đó nguyên tắc lịch sử đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu thi pháp Các điều kiện lịch sử xã hội không chỉ giúp lý giải tính quy luật của thi pháp mà còn phản ánh hình thức quan niệm nội tại, gắn liền với cách nhìn và cảm nhận của cá nhân nghệ sĩ Vì vậy, yếu tố cá tính và sự cảm nhận cá thể, cùng với trải nghiệm, là những yếu tố không thể thiếu trong thi pháp học.
Trong thời hiện đại, nghiên cứu thi pháp cần được thực hiện theo hướng liên ngành, kết hợp các phương pháp ngôn ngữ học, ký hiệu học, văn hoá học, tâm lý học và nhân loại học để làm sáng tỏ các hệ thống thi pháp Bên cạnh đó, các phương pháp thống kê số lượng được phân tích một cách thấu đáo và có cơ sở khoa học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiểu biết về thi pháp.
Thi pháp học so sánh là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, không chỉ so sánh các khái niệm lý luận văn học giữa các nền văn hóa và văn học dân tộc khác nhau, mà còn nghiên cứu các thể loại, biện pháp nghệ thuật và phong cách văn học Công trình "Thi pháp học so sánh" của tác giả Mỹ là một tài liệu tham khảo hữu ích trong lĩnh vực này.
L Miner (1990) hoặc Hệ thống so sánh thi pháp Trung Quốc và phương Tây do Hoàng Dược Miên và Đồng Khánh Bính chủ biên (1991)
Câu hỏi hướng dẫn học tập
1 Phân biệt yếu tố hình thức và tính chỉnh thể của hình thức Nêu ví dụ
2 Phân biệt hình thức bên ngoài và hình thức bên trong Nêu ví dụ
3 Thế nào là thế giới nghệ thuật ? Tính quan niệm của hình thức là gì ? Nêu ví dụ
4 Các cấp độ nghiên cứu thi pháp
5 Phương pháp nghiên cứu thi pháp Nêu ví dụ
6 Giữa phân tích tác phẩm văn học và phân tích theo bình diện thi pháp có gì giống và khác nhau ?
Quan niệm nghệ thuật về con người
I - Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lý giải, cảm thụ của chủ thể sáng tác…
Văn học là nghệ thuật miêu tả con người, phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống từ xã hội đến tự nhiên, từ hữu thức đến vô thức Hai chữ "nhân học" thể hiện sự phong phú trong việc biểu hiện con người, bao gồm cả những cảm xúc từ thất vọng đến hy vọng, từ dã man đến văn minh Để miêu tả con người một cách sâu sắc, người sáng tác cần có hiểu biết và cảm nhận cùng các phương tiện biểu hiện phù hợp Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học không chỉ là sự lý giải mà còn tạo nên giá trị thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật.
Nhân vật là yếu tố cốt lõi trong việc miêu tả con người trong văn học, thường được đánh giá qua nội dung và tính khách quan Các câu hỏi thường gặp bao gồm: Nhân vật sở hữu những phẩm chất gì? Tính cách của họ ra sao? Hình dáng và tâm lý của nhân vật được thể hiện như thế nào? Liệu ngôn ngữ của nhân vật có được cá tính hóa hay không?
Khi phân tích nhân vật trong văn học, cần chú ý đến sự sống động và thực tế của nhân vật, đồng thời so sánh với nguyên mẫu thực tế để đánh giá sự độc đáo trong cách nhà văn thể hiện Việc phân loại nhân vật thành chính, phụ, chính diện, phản diện, cũng như phân biệt giữa nhân vật "dẹt" và "tròn", hay nhân vật tĩnh và động, giúp làm rõ chức năng và cấu trúc của nhân vật trong tác phẩm Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào hình tượng khách thể mà bỏ qua quan niệm của nhà văn về con người có thể dẫn đến sự giản đơn hóa trong việc hiểu bản chất sáng tác văn học, làm giảm giá trị của sự sáng tạo tư tưởng và không đánh giá đúng tính chân thực của tác phẩm.
Quan niệm nghệ thuật về con người khuyến khích khám phá cách cảm thụ và biểu hiện sáng tạo của chủ thể, bất kể sự tương đồng với thực tế Một nhà phê bình trước đây đã đánh giá thấp bài thơ của Tố Hữu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho rằng nó không phản ánh đúng bản chất của con người.
Tiếng Người thét Mau lên gươm lắp súng !
Nhà phê bình cho rằng những câu thơ không chân thực vì "Bác chúng ta có thét bao giờ đâu", nhưng lại khen câu thơ "Tiếng của Người không phải sấm trên cao ư ấm từng tiếng, thấm vào lòng mong ước" trong bài Sáng tháng năm (1951) của Tố Hữu Ông không nhận ra rằng "tiếng thét" thể hiện quyết tâm và ý chí giành độc lập của lãnh tụ, trong khi mối quan hệ giữa Bác và nhà thơ là thân tình, gần gũi Mỗi bài thơ có cấu tứ độc lập, không nhất thiết phải sửa sai cho nhau Nhà phê bình đã bỏ qua sự đa dạng trong hình tượng nghệ thuật, khi cho rằng mọi bài thơ về lãnh tụ phải giống nhau Cần nhận thức rằng chủ nghĩa hiện thực và lãng mạn đều là những quan niệm nghệ thuật bình đẳng trong sáng tạo.
2 Cơ sở xã hội, lịch sử, văn hoá của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học là sự thể hiện đặc thù, phản ánh các nguyên tắc cảm nhận và mô tả con người, có nguồn gốc sâu xa từ thực tế lịch sử Marx chỉ ra rằng, khi con người chưa chinh phục thiên nhiên, họ thường tưởng tượng ra các thần linh, nhưng khi có những phát minh như thuốc súng hay máy in, họ không còn cần đến những hình ảnh như Hêphaixtốt hay Apôlô Trong Hệ tư tưởng Đức, Marx nhấn mạnh rằng, các đặc điểm về đẳng cấp và tầng lớp trong xã hội trước chủ nghĩa tư bản được cảm nhận như cá tính bẩm sinh của từng cá nhân Ngược lại, trong xã hội có sự thống trị của tư hữu ruộng đất, các quan hệ tự nhiên chiếm ưu thế, trong khi đó, nơi tư bản thống trị, các yếu tố xã hội và lịch sử trở nên nổi bật Do đó, quan niệm nghệ thuật về con người có thể được xem là một sản phẩm của lịch sử, với nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào từng thời đại và ý thức hệ.
Quan niệm nghệ thuật về con người là sản phẩm của văn hóa và tư tưởng, phản ánh sự tác động qua lại giữa nghệ thuật và các hình thái ý thức xã hội khác Mặc dù quan niệm này có sự đa dạng qua từng thời kỳ, nhưng vẫn mang dấu ấn của quan niệm thống trị Trong thời trung đại phương Tây, con người được xem là sản phẩm sáng tạo của Chúa trời Đến thời Phục hưng và Khai sáng, con người được nhìn nhận như sản phẩm của tự nhiên, giải phóng khỏi sự kiểm soát của giáo hội và đạo đức đẳng cấp Từ thế kỷ XIX, con người được coi là sản phẩm của cả tự nhiên và xã hội, nhưng bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh xã hội.
Trong thế kỷ XX, quan niệm về con người chủ yếu cho rằng họ bị quy định hoàn toàn bởi hoàn cảnh Tuy nhiên, khi xã hội chuyển mình sang giai đoạn hậu công nghiệp và tư trào hậu hiện đại xuất hiện, vị thế của con người đã có sự thay đổi đáng kể.
Quan niệm về con người là một hành trình khám phá bản chất con người thông qua nghệ thuật, phản ánh cấu trúc nhân cách và các mối quan hệ phức tạp giữa con người với thế giới.
Nhưng nếu chỉ chịu sự quy định của lịch sử, xã hội, văn hoá thì văn học làm sao phong phú được ?
Quan niệm nghệ thuật về con người phản ánh dấu ấn sáng tạo và cá tính của nghệ sĩ, đồng thời thể hiện cái nhìn phát hiện độc đáo của họ Điều này đã được công nhận rộng rãi trong giới nghệ thuật.
Trong các thể loại văn học, sự khác biệt trong chức năng của hệ thống phương tiện biểu hiện dẫn đến quan niệm nghệ thuật về con người cũng khác nhau Điều này là những điểm cơ bản cần nắm rõ trước khi nghiên cứu sâu về các biểu hiện của quan niệm nghệ thuật này.
3 ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người
Nhiều nghệ sĩ đã khẳng định rằng "một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới", phản ánh sự thay đổi trong cách hiểu về con người và việc suy nghĩ lại các khám phá nghệ thuật của thế hệ trước Một số người còn nhấn mạnh rằng "quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật" Tuy nhiên, cần phân biệt rõ ràng giữa con người mới và những yếu tố khác trong nghệ thuật.
(1) K Marx, F Engels, Tác phẩm, tập 3 : Hệ tư tưởng Đức, tập 12, tr 77, tr 733 (tiếng Nga)
(1) Hoàng Trác Việt, Hệ hình tâm lý trong nghệ thuật, Bắc Kinh, 1992
(2) G Fridlender, Thi pháp chủ nghĩa hiện thực Nga, Lêningrát, 1971, tr.
(1) J Becher, Thơ của tôi, tình yêu của tôi, Mátxcơva, 1965, tr 68
(2) V Sécbina, Quan niệm con người trong văn học thế kỷ XX, Mátxcơva,
Vào năm 1964, sự xuất hiện của những con người mới trong thực tế đã làm văn học đổi mới, nhưng việc thay đổi cách giải thích và cảm nhận về con người cũng đóng vai trò quan trọng trong sự biến đổi này Trong lịch sử văn học, việc tái sử dụng các đề tài, cốt truyện và nhân vật truyền thống rất phổ biến; ví dụ, Shakespeare và Racine chủ yếu vay mượn từ truyền thuyết, lịch sử hay huyền thoại Dù cốt truyện và nhân vật không hoàn toàn mới, nhưng cách họ nhìn nhận và diễn giải lại mang đến một tiếng nói nghệ thuật độc đáo, tạo ra những tác phẩm văn học mới Việc nhìn nhận con người từ góc độ khác nhau không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn làm thay đổi căn bản văn học.
Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn không chỉ là cách lý giải thông thường mà mang tính triết học sâu sắc, thể hiện giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người, từ đó tạo ra sự khác biệt và tính sáng tạo Việc so sánh các tác phẩm văn học trong giới hạn này cho phép hiểu rõ hơn về mức độ chiếm lĩnh đời sống của các hệ thống nghệ thuật Chẳng hạn, M Bakhtin đã chỉ ra rằng L Tônxtôi là bậc thầy phân tích tâm lý, với khả năng phát hiện quy luật biện chứng của tâm hồn và mô tả sự phát triển của cảm xúc, tư tưởng Ngược lại, F Đốtxtôiépxki lại không chú trọng tâm lý học đương thời mà khám phá các hiện tượng phi lô gích, kỳ lạ, không nhất quán, vượt ra ngoài các quan niệm tâm lý hiện hành.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá giá trị nhân văn Các tác phẩm sử dụng nhân vật như những con cờ trên ván cờ tư tưởng thường thiếu chiều sâu trong việc khám phá con người, dẫn đến nội dung nhân văn nghèo nàn Nghệ sĩ đích thực không chỉ suy nghĩ về con người mà còn đưa ra những tư tưởng mới để hiểu rõ hơn về bản chất con người Do đó, việc khám phá quan niệm nghệ thuật về con người giúp đi sâu vào thực chất sáng tạo và đánh giá đúng thành tựu của tác giả.
Tương quan nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật về con người .46 2 Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cốt lõi trong cấu trúc tác phẩm văn học, thể hiện rõ nét qua các nhân vật Những nhân vật này không chỉ là hình ảnh đại diện cho con người mà còn phản ánh sâu sắc những khía cạnh tinh thần và xã hội, góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Nhân vật văn học là hình ảnh con người được thể hiện qua tác phẩm, phản ánh cách nhìn của nhà văn về con người Mỗi nhân vật thể hiện quan điểm nghệ thuật riêng, như trong truyện cổ tích Tấm Cám, Tấm và Cám đều mang những đặc điểm khác nhau nhưng cùng thể hiện một quan niệm nghệ thuật về con người Tương tự, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, các nhân vật như Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, và Từ Hải cũng đều thuộc về một quan niệm nghệ thuật chung Do đó, khái niệm về quan niệm nghệ thuật về con người rộng hơn so với khái niệm nhân vật, vì nhân vật chỉ là sự thể hiện cụ thể của quan niệm đó.
Để hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học, cần phân tích các biểu hiện lặp đi lặp lại của nhân vật thông qua các yếu tố bền vững Nhân vật được xem là một cấu tạo nghệ thuật với các yếu tố như cách xưng hô, tên gọi, công thức giới thiệu và những biến đổi trong tác phẩm Các yếu tố như chân dung, ngoại hình, trang phục, hành động, tâm lý, ngôn ngữ và kết cục đều góp phần định hình nhân vật "Tính cách" của nhân vật, nếu hiểu là các phẩm chất tư tưởng và đạo đức, không thuộc về quan niệm nghệ thuật mà thuộc về đề tài và ý thức hệ của tác giả Tuy nhiên, nếu "tính cách" được xem như cơ sở lô gíc của hình tượng con người, thì nó chính là yếu tố phản ánh quan niệm nghệ thuật.
2 Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người Để miêu tả nhân vật thì chủ thể phải hiểu về con người mà nhân vật là một thể hiện cá biệt Ngay cách xưng hô, gọi tên cũng đã thể hiện một quan niệm chung Xét về tính dân tộc thì gọi tên riêng là kiểu Việt Nam, gọi bằng họ như ông Trương, ông Vương là kiểu Trung Quốc Gọi nhân vật bằng "anh, tôi, nó" một cách trung tính là kiểu Trung Quốc và phương Tây, mà gọi bằng kiểu quan hệ thân thuộc như "chú, cháu, mẹ, con, anh, em" đối với người không thân thuộc là kiểu Việt Nam Các tác giả Khái Hưng,
Nhất Linh sử dụng cách gọi nhân vật bằng "chàng, nàng", thể hiện quan niệm khác biệt so với "hắn, y, va" của Nam Cao và "anh, chị, ông" trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố Việc thay đổi cách xưng hô này không thể tách rời khỏi cách cảm thụ cuộc sống tương ứng trong văn học Ngoài ra, cách gọi tên nhân vật bằng chữ viết tắt như AQ của Lỗ Tấn, K của Kafka, H.C.E của Joyce cũng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc.
(1) Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lý luận văn học, tập
(2) L Ghindơbua, Bàn về nhân vật văn học, Lêningrát, 1979, tr 5
Không miêu tả chân dung nhân vật thể hiện quan niệm về con người, như trong tác phẩm của Nguyễn Du với Từ Hải hay Thị Nở trong Chí Phèo Những chân dung này không chỉ đơn thuần là đặc điểm riêng của nhân vật mà còn phản ánh quan niệm sâu sắc về con người Chân dung Từ Hải, Thúy Kiều và Thúy Vân mang tính tượng trưng, trong khi chân dung Mã Giám Sinh và Tú Bà thể hiện tính chất tả thực không chỉ dựa trên quan niệm tả thực Các chân dung này được gọi là loại chân dung đặc biệt, thể hiện những giá trị văn hóa và nhân sinh sâu sắc.
Chân dung trong văn học hiện thực phê phán không chỉ phản ánh những nhân vật cụ thể như Tú, Mã, Sở, mà còn thể hiện những khái niệm sâu sắc về xã hội Các nhân vật như Thị Nở và Lang Rận, cùng với Thị Nhi, đại diện cho những hình ảnh dị dạng, cho thấy quan niệm của tác giả về con người và xã hội Điều này nhấn mạnh rằng chân dung của Lang Rận không chỉ đơn thuần là miêu tả một cá nhân, mà là sản phẩm của một quan niệm sâu sắc hơn về bản chất con người.
Hành động lặp đi lặp lại của các nhân vật trong Truyện Kiều và Lục Vân Tiên thể hiện quan niệm về con người, khi họ chủ yếu thực hiện những hành động mang tính chất lẽ sống như nhận lời làm vợ, bán mình chuộc cha, hay cứu giúp người gặp nạn Ngược lại, các nhân vật của Thạch Lam lại sống chủ yếu bằng nội tâm, tập trung vào việc cảm nhận những thay đổi tinh tế trong ngoại cảnh và tâm hồn.
Tâm lý con người là một lĩnh vực phong phú, bao gồm những ý nghĩ, suy tính và trạng thái của ý thức lẫn vô thức Trong bối cảnh này, thái độ đối với sự sống và cái chết thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người, tạo nên một phạm vi cảm nhận đa dạng Ví dụ, trong tác phẩm "Lôi vũ" của Tào Ngu, các nhân vật đều tìm cách thoát khỏi bế tắc nhưng cuối cùng đều bị nhấn chìm, phản ánh những xung đột nội tâm sâu sắc.
Chu Phác Viên, Phồn Y, Chu Bình, Chu Xung, Tứ Phượng đều là những nhân vật không thể thoát khỏi bi kịch, thể hiện rõ ràng bản chất con người gắn liền với các khía cạnh nhân loại học như tư tưởng, hành động, hoài nghi và sự sùng bái cá nhân cũng như cộng đồng.
Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng trong việc thể hiện quan niệm về con người trong tác phẩm, và nó chỉ có thể hiện rõ qua tính hệ thống với sự lặp lại có quy luật cùng mối liên hệ chi phối lẫn nhau.
III - Sự vận động và phát triển của quan niệm nghệ thuật về con người
Con người trong thần thoại
Thần thoại là sản phẩm của người nguyên thuỷ, không phải là nghệ thuật đích thực, nhưng lại lưu giữ ký ức thời nguyên sơ và ảnh hưởng sâu sắc đến văn nghệ sau này Theo các nhà nhân loại học, nhân loại đã sáng tạo thần thoại trong thời kỳ đầu có ý thức, khi chưa tách mình khỏi tự nhiên Nhà sử học Italia Vicô trong tác phẩm Khoa học mới (1725) đã nhấn mạnh rằng, chính con người dựa vào hình ảnh của mình để tạo ra hình tượng của thần, chứ không phải thần tạo ra con người.
Trong thần thoại, hình ảnh con người chưa được phân biệt rõ ràng với tự nhiên, và họ thường quy cho thần những sức mạnh huyền bí Thần thoại phản ánh một thế giới siêu nhiên mà hiện tượng tự nhiên được coi là thực thể Khi có sấm sét hay mưa lũ, con người thường nghĩ rằng đó là sự giáng họa từ thần Do vậy, đặc điểm nổi bật của con người trong thần thoại là con người chức năng.
Trong thần thoại, các nhân vật thường đại diện cho những hiện tượng tự nhiên và có chức năng đặc biệt Ví dụ, thần Dớt là chúa tể thế giới, Ôkêanox là thần biển, Điônidốt đại diện cho rượu nho, Êrox là thần tình yêu, Ephrôđix là thần sắc đẹp, và Apôlông là thần mặt trời, ánh sáng và nghệ thuật Hầu hết các nền văn hóa đều có những vị thần thể hiện các chức năng tự nhiên, văn hóa và xã hội, từ việc sáng tạo thế giới đến việc tạo ra loài người Những nhân vật thần thoại thường mang một hoặc hai chức năng cụ thể, thể hiện sự đa dạng trong vai trò của họ trong xã hội.
Trong thần thoại Việt Nam, nhân vật như Âu Cơ và Lạc Long Quân thể hiện sự biến hóa đặc trưng của con người thần thoại, khi Âu Cơ sinh ra bọc trứng mang giống người Việt và Lạc Long Quân có khả năng biến hình từ chàng trai thành rồng, hổ, hay voi Sự biến hóa này còn thể hiện qua các nhân vật trong thần thoại Ấn Độ, nơi các thần thường có hình dạng vô định Ngoài ra, nhiều nhân vật như Nữ Oa, Phục Hy hay Huyền Nữ mang hình dáng lưỡng thể, nửa người nửa vật, với những đặc điểm độc đáo như đầu người mình rắn hay đầu người mình chim Điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa con người và tự nhiên trong thế giới thần thoại.
Hy Lạp cũng có những nhân vật nửa người nửa thú, có thể phản ánh dấu vết của tôtem Hình thức người hóa vật và vật hóa người thể hiện qua những truyền thuyết như hòn Vọng phu hay chuyện trầu cau Những câu chuyện này cho thấy con người có thể hóa thành đá nếu ngồi lâu Nhân vật trong thần thoại mang bản chất tự nhiên và hồn nhiên, và sự biến hóa này không phải do tu luyện như trong các câu chuyện về đạo sĩ sau này.
Trong thần thoại Bắc Âu, nhân vật thú như Loki mang hình dáng hươu, tuấn mã và chim ưng, cho thấy sự liên kết giữa con người và động vật Tương tự, trong thần thoại Ấn Độ, nhân vật cũng thường có nhiều hình dạng Tuy nhiên, trong sử thi, nhân vật chủ yếu là con người Đặc điểm nổi bật của những nhân vật thần thoại là họ được coi là tổ tiên của nhân loại, người sáng tạo ra thế giới, đất, trời, ngày đêm và tất cả mọi vật.
Thần thoại Hy Lạp miêu tả các vị thần với những cuộc đấu tranh quyền lực và đam mê, trong khi thần thoại Trung Quốc thể hiện con người cải tạo môi trường như Nữ Oa vá trời Thần thoại Việt Nam cũng có những anh hùng như Long Quân và Âu Cơ, cùng với vị thần đánh giặc Thánh Gióng Thánh Gióng, một sản phẩm thần thoại muộn của dân tộc chịu nhiều ngoại xâm, chỉ có một chức năng duy nhất là đánh giặc, không phải sinh ra để làm trẻ con hay làm vui lòng cha mẹ.
Thánh Gióng, theo E M Mêlêtinxki trong "Thi pháp thần thoại", là hình mẫu của con người đơn chức năng trong thần thoại, thể hiện qua việc ngài không nói, không cười và không sống cuộc đời bình thường Khi có giặc, ngài lớn lên nhanh chóng và chiến đấu, nhưng ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ngài lập tức bay về trời mà không kịp thăm mẹ Một phát hiện mới cho thấy việc Thánh Gióng cứu mẹ có thể là một thần tích, nhằm bù đắp cho tình mẫu tử, có lẽ được hình thành sau bản chép ở Lĩnh Nam chích quái.
Khác với cổ tích, nhân vật trong thần thoại không bị ràng buộc bởi các tiêu chí đánh giá, do đó chúng thường mang nhiều nghĩa và ý nghĩa phong phú, không bị lý tưởng hóa.
Trong thần thoại, con người thường thể hiện bản năng tính dục một cách rõ ràng Chẳng hạn, chàng Harbard trong Bài ca chàng Harbard của thần thoại Bắc Âu tự hào về những chiến công chinh phục phái đẹp, trong khi nàng Phơrel không ngần ngại hiến dâng thân xác cho những ai cần.
Con người trong sử thi
Sử thi, hay anh hùng ca, phản ánh sự hình thành các bộ tộc người với nguồn gốc từ những bài ca ca ngợi các vị tộc trưởng tài trí và hùng mạnh Nhân vật trong sử thi mang ảnh hưởng của thần thoại, gắn liền với thần linh và có nhiều phép lạ, nhưng chủ yếu là những anh hùng với sức mạnh và tài năng vượt trội, như Asin hay Ajuna Họ đại diện cho cộng đồng, bộ tộc và đất nước, thể hiện ý thức phân biệt giữa "mình" và "khác", thường tham gia vào các cuộc chiến để bảo vệ danh dự và quyền lợi của bộ tộc Trong Iliade, Asin từ chối chiến đấu vì bị xúc phạm và chỉ trở lại khi muốn trả thù cho bạn mình Động cơ hành động của anh hùng sử thi xoay quanh nghĩa vụ bảo vệ danh dự và trả thù Trong sử thi Xaga, việc giết người được mô tả tự nhiên, không tàn nhẫn, mà là nghĩa vụ để trả thù cho người thân, và cái chết không mang lại cảm giác đau đớn, chặt đầu được xem là dấu hiệu của chiến thắng hoàn toàn.
Con người sử thi thể hiện lý trí cao, không hành động theo cảm xúc nhất thời Uylixơ, sau khi kết hôn và có con, đã giả điên để tránh chiến tranh nhưng cuối cùng vẫn phải ra chiến trường Tơroa Pênêlốp nhận ra chồng trong hình dạng hành khất nhưng không bộc lộ cảm xúc, chỉ công nhận khi Uylixơ nói về bí mật của họ Tương tự, Rama không tin vào lời cầu xin và nước mắt của Xita, buộc nàng phải nhảy vào lửa để chứng minh sự trinh bạch.
Trong sử thi Đam Săn, mỗi khi kẻ thù xâm phạm lãnh thổ và bắt cóc bà chủ, Đam Săn luôn kêu gọi toàn bộ tộc đứng lên chống lại, tiêu diệt kẻ thù, phá hủy căn cứ của chúng, chặt đầu kẻ chủ mưu để trừng phạt và bảo vệ sự bình yên cũng như danh dự của bộ tộc.
(1) A F Lôxép, Bách khoa triết học, tập 3, Mátxcơva, 1964, tr 458
(1) M Xtêbơlin – Camenxki, Thế giới Xaga, Lêningrát, 1983
Con người sử thi không phát triển ý thức cá nhân, mà là đại diện cho bộ tộc với những nhân vật như Asin, Patrôcơlơ và Hécto, thể hiện những phẩm chất tốt đẹp nhất của vô vàn anh hùng vô danh Họ, cùng với trang phục và vũ khí, là biểu tượng cho những giá trị cao quý và lý tưởng của bộ tộc, từ chiến binh lý tưởng đến tù trưởng lý tưởng.
Con người sử thi thể hiện giá trị cộng đồng qua sức mạnh, trí tuệ, và sự giàu sang, đồng thời phản ánh phong tục, tập quán và quan niệm về vẻ đẹp Sức mạnh của Đam Săn, vẻ đẹp cùng trang sức của HNhi và HBhi, cùng sự giàu có của họ, là niềm tự hào chung của bộ tộc.
Trong tác phẩm của Stebơlin và Camenxki, tình yêu chưa được thể hiện một cách sâu sắc, mà chỉ dừng lại ở những từ như "quyến luyến" và "hứa hẹn" Các nhân vật như Đam Săn và các cô vợ cũng chưa bộc lộ tình cảm yêu thương thực sự Tình cảm trong những tác phẩm sử thi này có nguồn gốc từ lý trí, yêu cái hợp lẽ và ghét cái vô đạo, dẫn đến nội tâm nhân vật trở nên nghèo nàn M Bakhtin chỉ ra rằng con người trong tác phẩm của Homère chỉ hiện ra bề ngoài, thiếu đi chiều sâu nội tâm Họ thể hiện cảm xúc một cách lộ liễu, như hình ảnh Priam khóc con vang dội khắp thành phố.
Con người sử thi được xem là nhân vật có thật, hiện hữu trong truyền thuyết, khác với những sản phẩm hư cấu trong văn học thông thường Sử thi và truyền thuyết là hai hình thức văn học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Con người sử thi được coi là những người khai sinh hoặc anh hùng của bộ tộc, dân tộc, do đó họ thường được thần thánh hóa và mang tính chất linh thiêng, không thể tiếp cận theo cách thông thường Những câu chuyện về họ thường được kể lại với thái độ sùng kính và lời lẽ lễ bái.
Con người trong cổ tích
Cổ tích là sản phẩm phản ánh thời đại phân hoá và tan rã của cộng đồng, trong đó yếu tố huyền thoại vẫn hiện diện nhưng đã mất đi phần thiêng liêng Những câu chuyện cổ tích thường chứa đựng sự sáng tạo và hư cấu, kết hợp các mảnh ghép từ thần thoại, sử thi cùng với những câu chuyện đời thường và hài hước, tạo nên một thế giới tưởng tượng phong phú.
Khác với con người trong thần thoại, người trong cổ tích thường tập trung vào số phận cá nhân và những khát khao riêng tư Họ tìm kiếm những đồ vật và nhân vật với mục đích như thức ăn, tình yêu, hoặc những vật phẩm kỳ diệu để cải thiện cuộc sống của mình Trong khi nhân vật thần thoại tìm kiếm nguồn nước và lửa để cứu giúp nhân loại, thì nhân vật cổ tích thường hành động vì lợi ích cá nhân, như chữa bệnh cho người thân hoặc giành lấy điều gì đó từ người khác Kết thúc của các câu chuyện cổ tích thường mang lại sự giàu có, tình yêu, và địa vị xã hội cao hơn cho nhân vật, thể hiện sự giải thoát khỏi những mâu thuẫn xã hội và khẳng định bản thân trong mối quan hệ gia đình.
(1) M Bakhtin, Những vấn đề văn học và mỹ học, Mátxcơva, 1975, tr.
Hệ hôn nhân trong huyền thoại và sử thi thường gây ra xung đột, đe dọa an nguy của cộng đồng, trong khi trong cổ tích, nó lại ảnh hưởng đến hạnh phúc của từng cá nhân Gia đình trong cổ tích phản ánh một khái quát về gia đình thị tộc, với số phận của người con út và người mồ côi thể hiện sự bất bình đẳng trong xã hội.
Con người cổ tích hiện nay đã mất đi nhiều tính thần kỳ và toàn năng của các vị thần, với sức mạnh chủ yếu tập trung vào những vật thần kỳ, trở thành những trung gian mà con người có thể chiếm hữu hoặc đánh mất Sức mạnh của họ dựa vào tính chính nghĩa; nếu có thiện tâm, họ sẽ gặp may mắn và nhận được phép màu bất ngờ, trong khi kẻ ác sẽ bị trừng phạt Những nhân vật trong cổ tích sống ngoài thời gian, không ai lớn lên hay già đi, với các cô tiên mãi trẻ trung, các tiên đồng không bao giờ lớn lên, và các bà tiên thì già đi nhưng không chết.
Trong cổ tích, người tốt thường là những nhân vật thực hiện trọn vẹn bổn phận và giữ lời hứa, trong khi người ác lại là kẻ phá hoại công lý, cướp đoạt thành quả và địa vị của người khác bằng mọi thủ đoạn.
Nhân vật trong cổ tích thường thiếu sự phát triển nội tâm và tâm lý đơn giản, điều này giúp cho các hành động như gây hại hay trả thù diễn ra nhanh chóng Ví dụ, Tấm dễ dàng để mẹ Cám chặt cây cau, hay Thạch Sanh cả tin bị Lý Thông lừa Ngược lại, Cám cũng dễ dàng để Tấm dội nước sôi Sau khi từ quả thị bước ra, Tấm quên đi cuộc sống hôn nhân, chỉ chăm sóc bà lão mà không chờ đợi ai, ngoại trừ vua Điều này cho thấy rằng nhân vật cổ tích sống theo lẽ công bằng phổ quát, chứ không phải dựa vào trí tuệ hay tâm lý cá nhân.
Con người trong văn học viết trung đại
Văn học trung đại là sản phẩm của xã hội phong kiến, với nhiều thể loại khác nhau, phản ánh đặc điểm đẳng cấp, hệ tư tưởng và tôn giáo Ở phương Đông, đặc biệt là trong văn học Trung Quốc và Việt Nam, con người được xem như một cá thể vũ trụ, chịu ảnh hưởng từ mô hình vũ trụ và cuộc sống nông nghiệp Hình ảnh con người thường được liên kết với thiên nhiên qua những biểu tượng như dáng liễu, dáng mai, và các yếu tố vũ trụ khác Trong thơ ca, con người luôn được đặt trong bối cảnh vũ trụ, thể hiện qua các tác phẩm như "Tay tiên gió táp mưa sa" hay "Vòng trời đất dọc ngang" Đến đầu thế kỷ XX, Huỳnh Thúc Kháng cũng phản ánh mối liên hệ giữa con người và vũ trụ trong "Bài hát lưu biệt", cho thấy cảm thức này là đặc trưng của một thời đại văn học Các nhà văn thường tránh miêu tả con người trong dáng vẻ đời thường, vì điều đó không mang lại vẻ đẹp và sự cao quý.
Trong tác phẩm văn xuôi tự sự lịch sử, chân dung nhân vật thường được khắc họa theo khuôn mẫu nhưng lại mang ý nghĩa văn hóa thần bí lâu đời Các nhân vật như Nữ Oa, Thần Nông, và các vua như Nghiêu, Thuấn, Vũ đều có những đặc điểm hình thể kỳ lạ và ấn tượng, thể hiện sức mạnh và quyền uy Những mô tả này không chỉ phản ánh vẻ đẹp ngoại hình mà còn gợi lên sự linh thiêng, như ánh sáng, hương thơm hay những dấu hiệu đặc biệt trên cơ thể Ví dụ, Bà Triệu được miêu tả với vẻ đẹp lôi cuốn và sức mạnh phi thường, trong khi Lê Lợi hiện lên với khí chất đế vương Các dấu hiệu như rồng, hổ, lân, báo không chỉ là biểu tượng của quyền lực mà còn thể hiện sự kết nối giữa con người và thiên nhiên Chân dung Từ Hải với "râu hùm, hàm én" cũng không nằm ngoài quy luật này, cho thấy sự hòa quyện giữa nhân cách và sức mạnh.
Trong tác phẩm văn học, nhân vật thể hiện chí khí và tâm địa của mình qua hành động và lời nói, không nhất thiết phải theo yêu cầu của tình huống Sự biểu hiện này thường mang tính quá độ, như Kiều "bán mình chuộc cha" hay "Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ" Ngọc Hoa trong tang lễ chồng thể hiện nỗi đau bằng cách "Ban ngày thời ở bên ngoài, Ban đêm mở nắp quan tài vào trong." Kiều Nguyệt Nga cũng thể hiện sự chung thủy qua bức chân dung Lục Vân Tiên đeo bên mình Tình yêu khiến con người gầy mòn, khóc than ướt áo, và buồn rầu đến bạc tóc, cho thấy con người bị "ngoại hiện hoá" thành những biểu hiện khác thường.
Thời trung đại đã tạo ra một khái niệm rõ ràng về con người cá nhân, với A Gurêvích nhấn mạnh rằng "trong thời đại này khái niệm cá nhân được hình thành một cách trọn vẹn" Ở phương Đông, ý thức cá nhân được phản ánh qua quan niệm "tri kỷ".
"Tri âm", "tri ngộ" và khái niệm "sĩ vị tri kỷ giả tử" nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bạn sâu sắc, nơi mà cái "kỷ" (cá nhân) luôn khao khát được thấu hiểu và khẳng định Các triết lý Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo đều công nhận giá trị của cái "tôi" trong con người, thể hiện sự cần thiết của việc tìm kiếm sự đồng cảm và thể hiện bản thân.
(1) B Ríptin, Tính chất ký hiệu của chân dung nhân vật trong văn học cổ điển Trung Quốc trong sách Ký hiệu học và sáng tạo nghệ thuật, Mátxcơva,
Văn học Việt Nam trước thế kỷ XVIII chủ yếu khẳng định cá nhân trong các lý tưởng lớn, nhưng cũng có những biểu hiện cá nhân như trong tác phẩm Lĩnh Nam chích quái và Truyền kỳ mạn lục Những lý tưởng sống "nhàn" và "tự tại" của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện mong muốn sống cho riêng mình, tự giải phóng khỏi trách nhiệm xã hội theo quan niệm Nho giáo Từ thế kỷ XVIII, văn học bắt đầu nhận thức về giá trị của thân phận con người, dẫn đến sự xuất hiện của dòng văn học khóc than cho thân phận con người Tư tưởng này đã có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc thời Ngụy Tấn - Nam Bắc triều, phản ánh sự thức tỉnh của con người trước sự tan rã của đại nhất thống Đến thế kỷ XIX, con người công khai bày tỏ nhu cầu hưởng lạc và vui thú, điển hình là các tác giả như Nguyễn Công Trứ và Dương Lâm.
Trong tác phẩm "Con người trong văn học Nga cổ (trung đại)", Đ X Likhachép chỉ ra rằng, trong văn học Nga thế kỷ XI - XIII, con người chỉ thể hiện những hành động lớn lao, thiếu vắng những hành động đời thường và không có sự phát triển tâm lý lứa tuổi Các công tước được miêu tả trong trang phục nghi lễ hoặc áo giáp, thể hiện sự ca ngợi Đến thế kỷ XIV - XV, khái niệm "tâm lý trừu tượng" xuất hiện, cho phép miêu tả các trạng thái tâm lý riêng lẻ nhưng chưa tạo thành một tính cách hoàn chỉnh Sang thế kỷ XVII, văn học dân chủ bắt đầu phản ánh con người tâm lý, thể hiện sự bất mãn với số phận và hoàn cảnh, khác biệt hoàn toàn với hình ảnh những kẻ phiêu lưu giàu có trong các thời kỳ trước Con người Nga lúc này là những nhân vật khốn khổ, đứng ở bậc thang cuối cùng của xã hội, muốn tìm cái chết để thoát khỏi đau khổ, đánh dấu sự khởi đầu của dòng văn học nhân đạo thế kỷ XIX.
Trong văn học Cơ Đốc giáo, đặc biệt là trong Cựu ước, việc thể hiện nỗi đau và sự kêu gào vì đau đớn không hề bị xem là điều đáng xấu hổ Không giống như những cảnh tượng trong bi kịch Hy Lạp, nơi cơ thể bị xẻ ra và trái tim lộ ra, Kinh Thánh mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về sự đau đớn và sự run rẩy của cơ thể con người Cảnh tượng này thể hiện sự khổ sở của những người chịu nạn, trái ngược hoàn toàn với hình ảnh của cơ thể trần truồng đầy sinh lực trong các tác phẩm nghệ thuật thần thánh.
Hy Lạp mang đến sự thanh thản và vẻ đẹp hài hòa của con người tự do, thể hiện sự bất lực trước bạo lực Trong Cựu ước, từ "trái tim" xuất hiện 851 lần, phản ánh quan niệm về con người trong Kinh Thánh Eric Auerbach nhận thấy rằng con người trong Kinh Thánh luôn đầy bí ẩn và thường quay lưng về phía người đọc.
(1) Xem các bài viết của Trần Đình Sử trong sách Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB Giáo dục, 1997
(1) Đ Likhachép, Con người trong văn học Nga cổ, Mátxơcva, 1970
Trong tác phẩm "Thi pháp văn học Bidantin trung đại thượng kỳ" của X Avêrinxép, người đọc nhận thấy rằng yêu cầu của họ thường được lắng nghe, nhưng ít khi được giải thích một cách rõ ràng Điều này tạo nên sự khác biệt so với nhân vật của Homère, nơi các chi tiết được giải thích một cách tỉ mỉ.
Trong văn học trung đại Việt Nam, quan niệm về con người thể hiện sự đa dạng và phức tạp, khác biệt rõ rệt so với thời cổ đại và hiện đại Những tác phẩm như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương và hát nói của Nguyễn Công Trứ đều phản ánh những khía cạnh khác nhau của con người, cho thấy sự phong phú trong cách nhìn nhận và miêu tả nhân vật.
5 Con người trong văn học cận, hiện đại
Văn học cận đại và hiện đại phản ánh sự tan rã của xã hội phong kiến và sự hình thành của quan hệ tư bản, đánh dấu sự xuất hiện của con người cá nhân tư sản Đây là thời kỳ mà ý thức cá tính của tác giả và nghệ thuật tự giác được thể hiện rõ nét Trong khi cá nhân trong văn học trung đại được xem như một phần của vũ trụ và tự nhiên, thì ở đây, cá nhân trở nên đa dạng và đổi mới về chất Những khía cạnh này có thể thấy rõ trong văn học Phục hưng, chủ nghĩa cổ điển, văn học lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực, tạo nên những vấn đề quen thuộc nhưng cũng đầy mới mẻ.
Theo Iu Lốtman, con người trong văn học Phục hưng và Khai sáng thể hiện bản chất tự nhiên và sống vui vẻ với bản năng Trong chủ nghĩa lãng mạn, con người thường đóng vai ác quỷ hoặc tên cướp, phá vỡ trật tự cũ và dám làm những điều "trái đạo" để chống lại những giá trị truyền thống.
Trở về với văn học Việt Nam trước năm 1945 ta thấy có ba hiện tượng văn học lớn với những quan niệm nghệ thuật về con người đáng chú ý
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, với tác phẩm tiêu biểu của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, đã thể hiện quan niệm về con người mới, xoay quanh xung đột giữa cá nhân và gia đình truyền thống, cùng khát vọng tìm kiếm tự do bản năng Tác phẩm đã mở đầu cách miêu tả thế giới nội tâm, chú trọng đến cảm giác của nhân vật đối với môi trường, người khác và chính mình Toàn bộ đời sống nhân vật được dệt bằng cảm giác, với hành động là những sự kiện kích thích cảm xúc Câu chuyện bắt đầu và kết thúc bằng cảm giác, giúp người đọc trải nghiệm cùng nhân vật, thể hiện đặc trưng của lối cảm thụ lãng mạn với những cảm giác êm ái, ngọt ngào và thơ mộng.
Thơ mới khám phá cái tôi cá nhân sâu sắc và chân thực của mỗi người Cảm hứng chủ đạo của thể loại thơ này là hành trình tìm kiếm bản thân trong bối cảnh đô thị hiện đại Như một khách tình si, tác giả thể hiện những cảm xúc và suy tư riêng tư, phản ánh sự thấu hiểu về chính mình trong thế giới xô bồ.