1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phường hoàng văn thụ thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên

96 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1: MỞ ĐẦU (10)
    • 1.1. Đặt vấn đề (10)
    • 1.2. Mục đích nghiên cứu (11)
    • 1.3. Mục tiêu nghiên cứu (11)
    • 1.4. Ý nghĩa của đề tài (12)
      • 1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu (12)
      • 1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn (12)
  • Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (13)
    • 2.1. Cơ sở khoa học (13)
      • 2.1.1. Tổ mối (13)
      • 2.1.2. Thức ăn của mối (15)
      • 2.1.3. Hình thái và chức năng của mối (15)
      • 2.1.4. Sự chia đàn và hình thành tổ mối (18)
      • 2.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình (19)
      • 2.1.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến loài mối (20)
    • 2.2. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam (22)
      • 2.2.1. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới (22)
      • 2.2.2. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam (24)
    • 2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu (26)
      • 2.3.1. Điều kiện tự nhiên (26)
      • 2.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội (27)
      • 2.3.3. Nhận xét và đánh giá chung (27)
  • Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (28)
    • 3.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu (28)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (28)
      • 3.3.1. Thử nghiệm diệt mối bằng phương pháp lây nhiễm (28)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (29)
      • 3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu (29)
      • 3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu (29)
      • 3.4.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (30)
      • 3.4.4. Dụng cụ, vật liệu phục vụ quá trình nghiên cứu (32)
      • 3.4.5. Phương pháp đánh giá mức độ mối hại gỗ (33)
  • Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (34)
    • 4.1. Lịch sử phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên (34)
    • 4.2. Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên (36)
    • 4.3. Kinh nghiệm trong phòng trừ mối (49)
    • 4.4. Giải pháp khắc phục và kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại địa phương (50)
      • 4.4.1. Giải pháp khắc phục tình trạng mối hại gỗ tại địa phương (50)
      • 4.4.2. Kế hoạch phòng trừ mối tại địa phương (51)
      • 4.4.3. Đề xuất các phương pháp phòng trừ mối có thể áp dụng tại địa phương43 4.4.4. Diệt thử nghiệm mối hại gỗ tại một số nhà dân (52)
  • Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (67)
    • 5.1. Kết luận (67)
    • 5.2. Kiến nghị (68)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (69)

Nội dung

Xuất phát từ thực tế đó, để có những dẫn liệu cụ thể cho việc đề xuất các giải pháp phòng trừ mối chúng tôi tiến hành thực hiện xây dựng đề tài “Giải pháp phòng trừ mối hại công trình x

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học

Mối là một nhóm côn trùng có tính xã hội cao Chúng lập thành vương quốc sớm nhất Đôi khi người ta gọi mối là (kiến trắng) nhưng thực tế chúng chẳng có họ hàng gì với họ kiến (thậm chí chúng còn không giống nhau) chúng chỉ có mối quan hệ: Đều là họ côn trùng, mối được phân loại như bộ cánh đều (danh pháp khoa học: isoptera) tuy nhiên dựa trên chứng cứ ADN người ta thấy có sự ủng hộ của một giả thuyết gần 120 năm trước, nguyên thủy dựa trên hình thái học, rằng mối có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi Crytoocercus) Gần đây, điều này đã dấn tới việc một số tác giả đề xuất rằng mối nên được phân loại như là một họ duy nhất, gọi là termidae, trong phạm vi bộ Balttodea, một bộ chứa các loài gián, tuy nhiên phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ biện pháp ít quyết liệt hơn và coi mối là một nhóm có tên gọi khoa học Isopteran, nhưng chỉ là một nhóm dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân loại nội bộ của các loài mối

Trên thế giới người ta đã giám định được trên 2.700 loài, ở nước ta đã giám định được trên 100 loài thuộc 6 giống, giữa các loài có sự khác nhau về hình thái, về số lượng cá thể, về cấu trúc tổ song đều giống nhau là chúng sống quần thể Mỗi quần thể có sự phân chia theo công thức chức năng Ví dụ: Loài mối nhà (comptermes, formosanus shir.) tổ mối trưởng thành có trên 10 triệu cá thể

Các loài mối khác nhau thì cấu tạo tổ có khác nhau, mối thường làm tổ trong thân cây, gốc cây hay trong đất Tổ mối có loài có kết cấu tổ khá đơn giản nhưng có loài cấu tạo lại khá phức tạp

Nguyên liệu chủ yếu để xây tổ là gỗ và đất được nhào với nước bọt của mối

* Tổ mối chỉ ở trong gỗ

Thường làm tổ trong gỗ khô như giống hoàn toàn không có liên hệ với đất và nước Tổ này thường không lớn, các cấu tạo đơn giản có những lỗ nhỏ thông từ hang này sang hang khác và thông ra bên ngoài

Hình 2.1 Mối gỗ khô hại gỗ Đối với loại mối này chúng ở đâu thường đùn một phần phân ra ngoài, rơi xuống như đống cát nhỏ xíu, căn cứ vào đặc điểm này có thê phát hiện ra chúng, tuy chúng ở trong gỗ nhưng cũng đục vào sách vở quần áo nơi cận kề tổ Loài mối tổ khoảng ba bốn trăm con chỉ cần phát hiện tổ và dùng thuốc đặc trị phun trực tiếp vào tổ là diệt được

* Tổ mối có liên quan đến đất và nguồn nước a b

Hình 2.2 Cấu trúc tồ mối

(a Tổ mối; b Lật tung tổ mối) Tất cả các loài mối khác khi kiến trúc tổ đều có nhu cầu đất hoặc nước ở ngoài tổ Phần lớn các loài mối có cấu trúc một hệ thống tổ chính và nhiều tổ phụ để dung nạp số lượng các thể lớn Tổ chính có mối vua và mối chúa Có nhiều lại sâu trong lòng đất từ 1-2m Hệ thống tổ của loài mối nhà vừa ở dưới đất nền và trong cấu kiện phía trên, đôi khi nằm hoàn toàn phía trên, song có hệ thống đường giao thông nối với nguồn nước Đối với đê đập độ rỗng của tổ mối có ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình nên cần thiết phải phát hiện tổ để xử lý

Nguồn thức ăn chủ yếu là sản phẩm thực vật, trong đó thành phần quan trọng chủ yếu là chất cellulose vì vậy đối tượng bị mối gây hại rất đa dạng

Nhiều loài mối lấy thức ăn từ cây sống đặc biệt là vào mùa khô hạn, cây sống còn cung cấp nước cho chúng, nhất là các cây còn non như: Bạch đàn, keo chè, sắn và các loại cây trồng khác

Ruột của loài mối là nhà tiêu hóa được chất xơ nên ngoài gỗ, tre nứa tất cả các sản phẩm chế biến được giấy, vải đều bị chúng phá hoại Trên đường dấn đến nguồn thức ăn mối có thể đục qua nhiều loại vật liệu khác như xốp cách âm, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm nhiều máy móc bị hư hỏng theo

2.1.3 Hình thái và chức năng của mối

Cơ thể mối gồm có 3 phần: đầu, ngực, bụng với ranh giới rõ rệt Mối là loại côn trùng có kích thước nhỏ, vỏ cơ thể có cấu tạo cutin rắn chắc nhưng rất mềm dẻo, râu đầu hình chuỗi hạt, miệng gặm nhai, bàn chân có 4 đốt Mối có cánh hoặc không có cánh

Trong tổ mối trưởng thành của các loài mối điển hình bao gồm các thành phần: Mối vua, mối chúa, mối cánh, mối lính, mối thợ Mỗi thành phần lại có các đặc điểm hình thái và đảm nhận các chức năng khác nhau

Hình 2.3.Mối chúa và mối vua

Mỗi đàn có 1 hoặc 1 vài mối vua, 1 mối chúa Chúng có đặc điểm là đầu nhỏ, bụng to Bộ phận sinh dục phát triển Mối chúa có thể sống 10 năm, lúc đầu đẻ ít trứng, sau 4-5 năm, bộ phận sinh dục trưởng thành, mỗi ngày có thể đẻ ra 8000-10000 trứng (Phạm Bình Quyền (2006)) [9]

Mối chúa có lượng lớn hơn 300 lần trọng lượng mối lao động đảm nhiệm chức năng sinh sản chính trong tổ Nếu diệt mối mà không diệt được “cỗ máy đẻ” này là chưa trừ tận “gốc” Mối chúa và mối vua thường không ra khỏi tổ, trừ trường hợp ngập úng, cho chúng có thể rời tổ chính đến tổ phụ an toàn hơn song thường không hay ở ngay vị trí đang gây hại (Phạm Bình Quyền (2006)) [9]

Trong tổ mối trưởng thành, bao giờ cũng có thành phần mối cánh, chúng chiếm số lượng ít (khoảng 5%) Mối cánh là do mối non trải qua một số lần lột xác mà thành, chúng đi kiếm ăn như mối lao động

Mối lính phân hóa từ mối thợ, mối lính có bộ phận đầu và hàm răng phát triển, đầu có mầu nâu hồng có hạch độc, mối khi chiến đấu tiết ra chất sữa màu trắng có tính axit trong một số lượng mối lính không đều (khoảng 10%) Chức năng chủ yếu là canh gác và tấn công, canh phòng, báo động, chinh sát, hộ vệ mối lao động đi kiếm ăn Khi gặp tiếng động bất thường như có tiếng động mạnh, sự thay đổi cường độ ánh sáng mùi lạ hoặc đường mui bị phá vỡ mối lính xông ra nơi có sự cố đồng thời báo động cho quần thể một con báo động những con khác chuyền tiếp tạo ra những tiếng rào rào tai ta có thể nghe thấy được

Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới

Mối là nhóm côn trùng có “Tính xã hội cao” Xuất hiện trên trái đất cách đây hơn 50 triệu năm Một số hóa thạch có từ kỷ Oligocen, Eocen, Miocen, có những hóa thạch phát hiện từ kỷ phấn trắng Trên thế giới hiện đã phát hiện khoảng 2700 loài mối, ở Việt Nam đã phát hiện 106 loài mối khác nhau Hàng năm mối gây thiệt hại rất lớn cho các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam đặc biệt đối với các tài liệu lưu trữ quý hiếm, các thư tịch cổ, các hiện vật bảo tàng có giá trị khi bị mối phá hoại thì không thể tính được giá trị tổn thất Ở Trung Quốc nhất là vùng Hoa Nam có đến 80% số nhà cửa kho tàng, nhà lầu hàng năm bị mối phá hại

Hơn 2 triệu gia đình yêu cầu phương pháp điều trị mối mỗi năm gây thiệt hại khoảng 2.5 tỷ USD/năm Đó là thiệt hại lớn hơn cả các vụ cháy, bão và động đất kết hợp Ở nước ta, loài mối thường gặp là mối gỗ khô (cryptotermes domestices), một số loài mối còn có khả năng khoét đất tạo khoang rỗng trong lòng đất Mối phá hoại các công trình xây dựng, kho tàng, đê điều, cây trồng,… hiện nay là rất nghiêm trọng Tác hại của chúng đối với các đối tượng kinh tế chủ yếu là:

- Phá huỷ các đồ vật và các cấu kiện gỗ trong công trình

- Phá huỷ hệ thống cáp điện ngầm và các thiết bị điện tử

- Gây sụt lún cho nền móng công trình, vỡ đê đập thủy điện

- Mối gây gãy, đổ, chết cây trồng

Dù chưa có số liệu nào thống kê chính thức nhưng thiệt hại hàng năm do mối gây ra không phải là nhỏ Để khắc phục hậu quả mỗi công trình cần phải có hàng chục triệu đồng để sửa chữa Mối không những xâm nhập vào nhà tranh, vách nứa mà còn xâm nhập vào những công trình kiên cố, bê tông cốt thép… Nhiều công trình, tòa nhà mối đã xuất hiện ở cả tầng cao nhất như Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, 8 tầng; mối xuất hiện ở tầng 11 khách sạn Hà Nội; nhiều gia đình ở tầng 4, tầng 5 đã bị mối gây hại sách vở, quần áo, chăn bông

Những năm gần đây, ở các tỉnh đã phải chi một khoảng tiền khá lớn cho việc phòng trừ mối, bảo quản và giữ gìn tài sản Nhà nước, từ những công trình cơ sở như trường học, bệnh viện, khu làm việc,… đến các công trình kiên cố to đẹp như Ngân hàng, Nhà nước, Kho tiền, Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng lưu trữ hồ sơ UBND tỉnh, phòng lưu trữ hồ sơ Sở Công an, các trạm viba thông tin liên lạc,… đã bị mối tấn công Đó là chưa kể các tổn thất do mối ở nhà ở và các công trình khác của nhân dân (Tạp chí nông nghiệp nông thôn, 2007) [10]

Trên thế giới việc nghiên cứu bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu Smaethman, 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối Linnacus vào năm 1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống Termes Holmgreen người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại học về mối Trên cơ sở này các nhà phân loại học như Light, 1921; Grasse, 1949… đã hiệu đính và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định Snyder,

1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông đã lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ Termitinae Ông có đưa ra những mô tả sơ bộ về hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên

(Lê Văn Nông, 1999), (Nguyễn Đức Khảm, 1976) [11] Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập nhiều khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại của Ahmad (1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối ở Ấn Độ… Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và các tấm lưng ngực của mối lính lớn của loài Microtermes pakistanicus… nhưng các đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm phân bố và phân hoá các đẳng cấp của loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập (Kumar Krishna and fancer M.Weesner, 1970) [15] Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khoá định loại năm 1955 của mình các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M pakistanicus, góp phần rất lớn trong việc phát hiện và phòng trừ loại mối gây hại này

Những tu chỉnh bổ sung về thành phần loài mối và những đề xuất cải tiến về thành lập họ, giống mới vẫn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

Trước đòi hỏi phải thống nhất cách đo đạc để phân loại, Roonwal đã đưa ra bản thống nhất cách đo đạc mối vào năm 1969 (Kumar Krishna and fancer

M.Weesner (1970) [15] Hầu như tất cả các khoá định loại hiện nay nói chung, đối với loài mối M pakistanicus nói riêng đều dựa trên cơ sở so sánh về hình thái ngoài của mối Tuy nhiên sự khác biệt về hình thái giữa các loài nhiều khi không rõ ràng dẫn đến sự nhầm lẫn khi phân loại Oshima (1914), Light (1921), Kemner (1930, 1933, 1934) nhầm lẫn loài M Pakistanicus ở các vùng khác nhau nên đã cho nhiều tên khác nhau Về sau chính các tác giả này đã kiểm tra và đính chính lại chuyển thành synonym Microtermes pakistanicus Để khắc phục tình trạng đó, đã có một số công trình nghiên cứu cấu trúc lớp biểu bì, cấu trúc ADN của loài mối này Nhưng những kết quả này chỉ cho phép tách ra được các nhóm loài chứ chưa tách ra được từng loài (Kaib, Richard, 1994) Trích theo (Nguyễn Tần Vương (1997) [8]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình với các vùng lân cận nên thành phần loài mối cũng khá phong phú Công trình nghiên cứu đầu tiên về mối ở Việt Nam là của tác giả J>Batheller, 1927 Khi nghiên cứu khu hệ mối Đông Dương, ông đã mô tả hình thái, sinh thái của 9 loài trong đó Việt Nam có 17 loài Tuy nhiên loài Microtermes pakistannicus cũng chỉ được nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, sinh học và phân bố trong tự nhiên (S Dronnet, M.ohresser, E L Vargo, C Lohou, J L.Clement and A G.Bagneres (2006) [14]

Công trình có giá trị nhất về phòng trừ mối mà đến nay chúng ta vẫn áp dụng là của tác giả Allurad vào năm 1947

Từ những năm 60 của thế kỉ XX trở về đây, nhóm côn trùng này đã gây chú ý nhiều hơn và thu hút nhiều cán bộ của Việt Nam tham gia nghiên cứu như Bùi Huy Dưỡng, Nguyễn Xuân Khu, Vũ Văn Tuyển…tuy nhiên, mặt mạnh vẫn chỉ là những kinh nghiệm về phòng chống mối và đặc điểm sinh thái sinh học của một số loài gây hại chính Những dẫn liệu về cấu trúc tổ mối loài M pakistanicus trong các nghiên cứu của Vũ Văn Tuyển cho rằng loài có cấu trúc tổ nổi giống với cấu trúc tổ của một số loài thuộc giống Macrotermes, (Đặng Kim Tuyến (2008) [3]

Công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất là của Nguyễn Đức Khảm, (1975)

[12] về mối miền bắc Việt Nam, tác giả mô tả về tập tính, cấu trúc tổ, vùng phân bố của 61 loài mối ở miền bắc, trong đó loài mối M pakistanicus được bổ sung thêm các dẫn liệu về thời kì giao hoan của mối cánh, đặc điểm xây dựng tổ và vai trò của các đẳng cấp trong tổ mối

Những nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái diệt mối cũng bắt đầu được các cơ quan nghiên cứu khoa học chú ý như các trường đại học, viện nghiên cứu của nhà nước, trong đó trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đã có được những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ Công trình được nghiên cứu gần đây như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối hại cây (2007), (Tạp chí nông nghiệp nông thôn (2007) [10], đã đưa ra những dẫn liệu mới về cấu trúc tổng quan và chi tiết của tổ mối, tập tính kiếm ăn và xây dựng tổ của loài mối M Pakistanicus làm cơ sở cho việc phòng trừ giảm thiểu tác hại do chúng gây ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp đối với các tỉnh Tây

Nguyên Công trình này cho rằng cấu trúc tổ của loài có những khác biệt về hình thái so với những nhận định của Vũ Văn Tuyển trước đó Song song với những nghiên cứu ở Miền Nam, cũng có những nghiên cứu sơ bộ về loài mối này trải dài khắp các địa phương của Miền Bắc, Miền Trung

Các nghiên cứu của các tác giả về phòng trừ mối cũng đã bổ sung thêm nhiều tư liệu về tỉ lệ các loại đẳng cấp trong tổ mối các loài hại cây công nghiệp, cây rừng, và nhiều cây trồng khác (Leek.E and Wood T.G, 1971).[6]

Tổng quan khu vực nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái nguyên – Tỉnh Thái nguyên

Tỉnh Thái nguyên nằm ở phía Bắc của nước ta Phía nam giáp với thủ đô

Hà Nội, phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Đông tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang Có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km 2 , với địa hình đặc trưng là đồi núi đá vôi và đồi dạng bát úp xen kẽ là ruộng và bãi đất bằng Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23,6 o C (2004), trong đó nhiệt độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17,0 o C và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28,8 o C (thời gian tháng 6) Đây cũng là khu vực có độ ẩm khá cao, trung bình năm đạt tới 82% với lượng mưa khá lớn trung bình năm từ 1800 – 2500mm, tuy nhiên phân bố không đều theo không gian và thời gian

2.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Dân số của tỉnh là 1.096.091 người, mật độ trung bình gần 312 người/km 2 , với 8 dân tộc anh em sinh sống chủ yếu là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Mông, Sán Chay, Hoa Tuy nhiên dân số tập trung cao ở Thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công Tại đây vừa là khu sản xuất công nghiệp, vừa là trung tâm hành chính văn hóa xã hội và cũng là đầu mối giao thông với các tỉnh thành phố xung quanh

Thái Nguyên thuộc Vùng trung du và miền núi phía bắc, có rất nhiều công trình đã và đang xây dựng trong khi xây dựng sử dụng một lượng lớn về các loại gỗ (Trong gỗ chứa xenlulo) là nguồn thức ăn chính của lài mối Mặc dù một vùng được coi là nghèo và chậm phát triển nhất tại Việt Nam vậy kinh tế Thái Nguyên đang dần chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần tập trung đầu tư vào công nghiệp, du lịch, thương mại

2.3.3 Nhận xét và đánh giá chung

Qua điều tra cho thấy điều kiện tự nhiên ở đây rất thuận lợi cho sự phát triển của mối, mối xuất hiện và phá hoại trên phạm vi rộng gây nhiều thiệt hại lớn đến kinh tế Do thiếu kiến thức về các loài mối gây hại và các biện pháp phòng trừ mối cho các công trình xây dựng còn là một vấn đề khá mới và chưa được quan tâm đúng mức.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về loài mối hại gỗ trong các công trình xây dựng nhà ở của người dân, công trình của công cộng của phường, trụ sở làm việc tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.

Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018

- Địa điểm nghiên cứu: Phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

Nội dung nghiên cứu

- Lịch sử phòng trừ mối tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

- Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng

Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

- Kinh nghiệm phòng trừ mối của các cán bộ và người dân tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất giải pháp và kế hoạch phòng trừ mối tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

3.3.1 Thử nghiệm diệt mối bằng phương pháp lây nhiễm

+ Bước 1: Đặt hộp nhử mối

- Tìm kiếm vị trí mối đục lỗ trên tường hoặc đường mui đất do mối đắp khi di chuyển Cạy nhẹ một điểm để đặt hộp nhử mối vào đó

+ Bước 2: Tiến hành xử lý phun thuốc cho hộp nhử mối

- Phun hoặc rắc nhẹ thuốc đều vừa phải một lớp mỏng ngay vào đáy hộp và các miếng gỗ trong hộp nhử đồng thời lên cả các cá thể mối sau đó đặt hộp trở lại vị trí đã đặt để mối quay lại tổ

+ Bước 3: vệ sinh sạch khu vực nhử mối rồi theo dõi kết quả

- Gỡ bỏ hộp nhử và vệ sinh quét dọn sạch sẽ.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết được những nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng những biện pháp cụ thể sau:

3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Tiến hành thu thập các thông tin cần thiết từ các tài liệu như:

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu a) Phương pháp quan sát trực tiếp

Chúng tôi tiến hành quan sát trên thực tế địa bàn phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên để thu thập số liệu về sự xuất hiện và mức độ gây hại của mối đối với gỗ trong các công trình xây dựng

Trong tổng số 33 tổ dân phố chúng tôi sử dụng phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên và liên hệ được 25 tổ mỗi tổ chiếm từ 100 - 130 hộ dân, sau khi liên hệ được tôi đã tiến hành quan sát các công trình xây dựng nhà ở và các công trình công cộng tại các tổ trong khu vực Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên Cụ thể như sau:

+ 140 hộ dân/19 tổ trong Phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

+ Sở lao động - thương binh và xã hội b) Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Cùng với quá trình quan sát, chúng tôi tiến hành điều tra và phỏng vấn người dân địa phương, các cán bộ tại các trụ sở phòng ban bằng bộ câu hỏi đã được lập sẵn

Ngoài ra còn tìm gặp những người làm việc lâu năm tại các trường để phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối và kinh nghiệm phòng trừ mối Để việc điều tra quan sát và phỏng vấn được thuận lợi chúng tôi đã lập ra bộ phiếu phỏng vấn mối hại công trình Nội dung phỏng vấn gồm những nội dung sau:

1 Tên công trình, năm xây dựng

2 Thời gian, địa điểm phỏng vấn

3 Các vật dụng sử dụng bằng gỗ tại công trình xây dựng

4 Thông tin mối hại gỗ

5 Lịch sử phòng trừ mối

6 Thực trạng mối phá hại

7 Thời gian mối phá hại mạnh

8 Kinh nghiệm phòng trừ mối

9 Nhu cầu phòng trừ mối tại công trình

3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

+ Các tài liệu, số liệu sau khi thu thập được tôi tiến hành chọn lọc các số liệu cần thiết và loại bỏ những số liệu không hợp lý

+ Xử lý số liệu trên phần mềm Word và Excel

+ Tổng hợp và phân tích các số liệu, tài liệu theo một trật tự nhất định Để tổng hợp và xử lý số liệu chúng tôi đã sử dụng bảng biểu theo mẫu như sau

Mẫu bảng 1: Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng trong P Hoàng Văn

Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

Số năm thực hiện phòng trừ

Mẫu bảng 2: Thực trạng phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗcho các công trình xây dựng thuộc P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

Mẫu bảng 3: Thực trạng mối xuất hiện và phá hoại gỗ cho các công trình xây dựng thuộc P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

Mối xuất hiện Vị trí xuất hiện

Mức độ Thời gian xuất hiện

Mẫu bảng 4: Một số loại gỗ được sử dụng trong công trình xây dựng thuộc P Hoàng

Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

STT Tên gỗ Nhóm gỗ Tổng số công trình sử dụng Tỷ lệ (%)

3.4.4 Dụng cụ, vật liệu phục vụ quá trình nghiên cứu

- Dụng cụ: Đèn pin, tua vít, hộp nhử mối, máy khoan, bình phun thuốc a b c

Hình 3.1 Dụng cụ phục vụ nghiên cứu (a Đèn pin; b Tua vít; c Máy khoan; d Hộp nhử mối; e Bình phun thuốc)

- Vật liệu: PMC 90, Agenda 25EC, Lenfos 50EC a b c

Hình 3.2 Vật liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu (a Lenfos 50EC; b Agenda 25EC; c PMC 90)

3.4.5 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại gỗ

Hiện nay chưa có tiêu chuẩn nào hướng dẫn cách đánh giá mức độ mối hại công trình Vì vậy để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và đánh giá mức thực trạng mối hại tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi căn cứ vào mức độ phá hại các cấu kiện bằng gỗ, các vật dụng có nguồn gốc từ cenlulo để quy ước theo 3 mức độ gây hại như sau:

- Mức độ hại nặng : Là những địa điểm mà bị mối ăn hại và làm hỏng phần lớn các cấu kiện

- Mức độ hại trung bình: Là những địa điểm bị mối ăn hại và làm hỏng các cấu kiện nhưng ở mức độ nhẹ hơn

- Mức độ hại nhẹ: Là địa điểm mối mới xuất hiện gây hại hoặccó mối gây hại nhưng đã đi

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Lịch sử phòng trừ mối hại công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Kết quả điều tra, phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối tại phường được thể hiện qua bảng 4.1:

Bảng 4.1 Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

STT Tên công trình Năm xây dựng

Số công trình được thực hiện phòng trừ

Có (năm) Không Công trình công cộng

1 UBND phường Hoàng Văn Thụ 2010 2012

5 Nhà văn hóa tổ 5,6,26 và 27 2012 

6 Sở lao động - Thương binh và xã hội 2005 

140 hộ dân được điều tra, quan sát

Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy:

Công tác phòng trừ mối cho các công trình xây dựng công cộng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên chưa được quan tâm phần lớn các công trình xây dựng ở đây đều không được tiến hành phòng mối trước xây dựng cũng như sau khi xây dựng chỉ có một số ít công trình tiến hành phòng mối trong khi sử dụng Đối với công trình công cộng thì có 2 công trình trong tổng số 6 công trình công cộng sau khi tiến hành điều tra, quan sát, phỏng vấn thực tế thì được biết 2 công trình này tiến hành phòng mối vào năm 2012, còn 4 công trình còn lại không hề được tiến hành phòng trừ mối Hiện nay, các công trình công cộng của phường nhà văn hóa tổ 16 và trụ sở làm việc của sở lao động - thương binh và xã hội trên địa bàn phường đã xuất hiện mối gây hại cho các cấu kiện gỗ, nếu không có giải pháp phòng trừ ngay thì tác hại và mức độ hại ngày sẽ một lớn, các cấu kiện gỗ bị tàn phá hư hỏng ngày một nặng, cùng với đó là chi phí cho việc diệt trừ sẽ lớn

Các điểm mối gây hại thường là góc tủ, khung cửa, các phòng kho tài liệu nên rất khó phát hiện và diệt trừ, mối là loài côn trùng sống mang tính xã hội nên sinh sản rất nhanh, chỉ với một quần thể nhỏ sau vài tháng hoạt động chúng đã hình thành nên một quần thể lớn, lúc đó chúng sẽ là một mối nguy hiểm phá hoại các công trình xây dựng của phường Để có thể bảo quản gỗ tốt trong các công trình xây dựng, chúng ta nên có kế hoạch phòng trừ trước và sau khi đưa vào sử dụng, các công trình được phòng trừ tốt sẽ có tuổi thọ dài, việc phòng trừ tốt sẽ tiết kiệm được một chi phí khá lớn cho việc bảo quản và phòng trừ các công trình xây dựng trong khi sử dụng Đối với người dân họ vẫn thờ ơ hầu như là cũng chưa hiểu biết gì về mối, tác hại mà mối gây ra cho những công trình xây dựng Trong 140 hộ dân được tiến hành điều tra, quan sát, phỏng vấn thì chỉ có 9 hộ dân tiến hành phòng mối trước khi xây dựng công trình chiếm (6,4%), còn lại 131 hộ dân không hề tiến hành phòng mối trước cũng như sau xây dựng chiếm (93,6%)

Qua điều tra, chúng tôi thấy khi xây dựng, người dân cũng không quan tâm gỗ đã được phòng trừ mối hay chưa, hoặc khi xây dựng công trình thấy tổ mối họ cũng không quan tâm lắm đến việc đó Vì họ cho rằng khi mình san nền đào móng chúng đã được xúc chở đi nơi khác, chúng không còn ảnh hưởng tới việc xây dựng công trình

Lịch sử cho thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc người dân không quan tâm tới việc phòng chống mối nhưng nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế của người dân còn thấp, họ thiếu thông tin, kiến thức về loài mối Khi được hỏi thì hầu hết người dân đều nói là không biết gì về loài mối, họ chưa nhận thức được sự nguy hiểm của loài mối dẫn đến việc họ không quan tâm tới việc mối hại gỗ trong các công trình xây dựng.

Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Hoàng Văn Thụ - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Từ kết quả điều tra, phỏng vấn về lịch sử phòng trừ mối tại phường, dưới đây là thực trạng mối xuất hiện và phá hoại gỗ trong các công trình được thể hiện qua bảng 4.2

Bảng 4.2 Thực trạng mối xuất hiện trong các công trình xây dựng tại

P Hoàng Văn Thụ - TP Thái Nguyên - T Thái Nguyên

Mối xuất hiện Vị trí xuất hiện

Có Không Nhẹ Trung bình Nặng Công trình công cộng

 Cánh cửa phòng hội trường, cửa sổ, tủ tài liệu

Cánh cửa chính, cửa sổ và tủ

- Thương binh và xã hội

 Chân tường, trên nền, cửa chính,cửa sổ và tủ tài liệu Đường mui trên nẹp cửa, lên tường

140 hộ dân cửa chính, cửa bếp cửa sổ, cánh cửa, ốp tường Đắp đường mui

- 6 công trình công cộng trong đó có 2 công trình xuất hiện mối và 4 công trình không thấy xuất hiện mối

- Mức độ hại của mối trong các công trình là khác nhau mức độ nhẹ có 1 công trình, trung bình có 1 công trình Việc mối xuất hiện tại các công trình tại phường Hoàng Văn Thụ – Thành Phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên, là do công trình đươc xây dựng chủ yếu là trên đất đồi được san cán phẳng, là điều kiện thuận lợi nhất cho mối có thể sinh trưởng và phát triển

Trong tổng số 140 hộ điều tra có 16 hộ xuất hiện mối chiếm (11,4 %), 124 hộ còn lại không thấy mối xuất hiện chiếm (88,6 %) Mức độ hại cũng khác nhau, chiếm phần lớn là bị hại ở mức trung bình chiếm (56,25%), nhẹ là (31,25%), nặng là 12,5%) Số hộ dân xuất hiện mối rất nhiều, trong khi đó việc phòng trừ thì chỉ diễn ra ở một số hộ trong phường, từ thực tế đó cho thấy người dân chưa quan tâm đến việc phòng trừ Thực trạng này diễn ra chủ yếu là do người dân còn thiếu hiểu biết về mối và tác hại của chúng, một phần do điều kiện kinh tế của người dân thấp, việc phòng trừ mối chưa được quan tâm đến, trình độ người dân chưa được nâng cao Đối với việc phòng mối cho các cấu kiện bằng gỗ cho các công trình xây dựng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4.3 Thực trạng phòng mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

1 UBND phường Hoàng Văn Thụ 

2 Trạm y tế phường Hoàng Văn Thụ 

5 Nhà văn hoá tổ 5, 6, 26 và tổ 27 

6 Sở lao động - Thương binh và xã hội 

Qua kết quả điều tra cho thấy 100% các cấu kiện bằng gỗ sử dụng trong các công trình không được xử lý phòng mối trước và sau khi đưa vào sử dụng

Thực trạng này diễn ra là do rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do người dân ở đây còn thiếu thông tin, kiến thức về loài mối, họ chưa hiểu biết được sự nguy hiểm của của loài mối cũng như chưa biết cách phòng trừ chúng, ngoài ra do đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn nên thiếu kinh phí để tiến hành phòng trừ mối cho các công trình xây dựng của mình Khi được hỏi thì hầu hết các cán bộ và người dân đều nói là thiếu thông tin về loài mối và chưa thực sự nhận thức được mối nguy hại sự nguy hiểm của loài mối, họ luôn nghĩ rằng công trình xây dựng của họ xây dựng phần lớn là bằng bê tông cốt thép thì mối không thể hại được nên họ không quan tâm hoặc ít quan tâm đến vấn đề mối gây hại gỗ trong các công trình nhà ở của mình, bên cạnh đó còn một số người thì cũng đã nhận thức được sự nguy hiểm của loài mối nhưng do không có điều kiện để phòng trừ Đối với các loại gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng được thể hiện cụ thể qua bảng 4.4

Bảng 4.4 Thực trạng các loại gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên -

STT Loại gỗ Nhóm Số công trình sử dụng Tỉ lệ (%)

Qua bảng 4.4 có thể thấy có rất nhiều loại gỗ mà người dân sử dụng trong gia đình, các loại gỗ này dễ bị mối phá hại nếu không có biện pháp phòng trừ Đa số người dân sử dụng gỗ xoan, keo, re hương và gỗ mít để làm các cấu kiện gỗ như tủ, cánh cửa, khung cửa Nhóm gỗ được sử dụng nhiều nhất là nhóm gỗ II, IV, V,VI Các loại gỗ mà người dân sử dụng đa số là gỗ mềm như: Mít (17,5%), xoan (82,5%), ngoài ra còn một số loại gỗ khác là điều kiện thuận lợi cho mối phát triển và gây hại Các cấu kiện bị mối phá hại chủ yếu là những cấu kiện tiếp xúc mặt đất như: chân giường, chân tủ, bàn, ghế…hoặc các cấu kiện gần mặt đất như: Trần nhà, ốp tường, gỗ dự trữ, tài liệu

Về mức độ gây hại của mối cho các cấu kiện bằng gỗ loại gỗ sử dụng được thể hiện cụ thể qua bảng 4.5

Bảng 4.5: Thực trạng mối gây hại cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

Mối xuất hiện Cấu kiện bị phá hại Loại gỗ Mức độ

Cánh cửa phòng hội trường, cửa sổ, tủ tài liệu,

Gỗ xoan, gỗ ép công nghiệp

5 Nhà văn hóa tổ 5, 6, 26 và tổ 27 

6 Sở lao động - Thương binh và xã hội 

Chân tường, trên nền, cửa chính,cửa sổ và tủ tài liệu

Gỗ xoan, gỗ ép công nghiệp, gỗ keo

Mối xuất hiện Cấu kiện bị phá hại Loại gỗ Mức độ

Công trình nhà ở của 16/140 hộ dân điển hình

1 Lê Đăng Chi  Cửa,bàn ghế,trần nhà Gỗ xoan Nhẹ

2 Nguyễn Văn Kiên  Khuôn cửa Gỗ sao Nhẹ

3 Nguyễn Đức Lợi  Gác sét Gỗ xoan Trung bình

4 Đinh Việt Hùng  Khuôn cửa Gỗ sao Nặng

5 Phạm Thị Hoa  Tủ bếp Gỗ xoan Nhẹ

6 Nông Văn Học  Cửa, gỗ dự trữ

7 Bùi Thị Hoa  Khuôn cửa, tủ đồ

8 Phùng Thúy Hòa  Tủ đồ Gỗ Lát, xoan Nhẹ

9 Lê Thị Ngọc  Tủ bếp Pơ mu Nhẹ

10 Nguyễn Quốc Tuấn  Tủ đồ Gỗ xoan Nhẹ

11 Nguyễn Thị Luyến  Cửa Gỗ xoan Nhẹ

12 Triệu Thị Hội  Ốp chân tường

13 Cao Thu Lương  Tủ tường Gỗ sao Nhẹ

14 Hà Thị Thanh Loan  Khuôn cửa, cửa sổ Gỗ sao Nhẹ

15 Hà Thúy Lan  Giường Gỗ mít Nhẹ

16 Vũ Khắc Biên  Kệ ti vi Gỗ sao Nhẹ

Từ bảng 4.5 ta thấy các cấu kiện gỗ bị gây hại chủ yếu như: Khuôn cửa, cánh cửa, tủ tài liệu, tủ đồ, tủ bếp, giường ngủ , các cấu kiện này đều nằm ở vị trí tiếp xúc trực tiếp hoặc gần với mặt nền đất nên rất thuận lợi cho mối xâm nhập và gây hại, ngoài ra các cấu kiện này chủ yếu được làm bằng từ các loại gỗ mềm có thành phần gỗ rác cao đây cũng là một số những nguyên nhân chính làm cho loài mối phát triển và gây hại mạnh

Dưới đây là một số hình ảnh khảo sát được thực trạng mối hại các cấu kiện bằng gỗ tại phường Hoàng Văn Thụ – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên

Trong các công trình công cộng mối gây hại ở nhiều vị trí khác nhau và các cấu kiện bị hại cũng khác nhau Mối xuất hiện gây hại cho các cấu kiện gỗ tại các vị trí khuôn cửa, cánh cửa của công trình xây dựng hình ảnh trên cho thấy mối bắt đầu xâm nhập, phá hại ở mức nhẹ a) Khung cảnh bên ngoài b) Mối hại của ra vào c) Mối hại cửa sổ

Hình 4.1 Mối hại gỗ tại Nhà văn hóa - tổ 16- P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên –

Một số các công trình đã bị mối tấn công tại các khuôn cửa sổ, các chân cửa chính, chúng phá hại từ trong khuôn gỗ ra ngoài Khi phát hiện gỗ đã bị rỗng phía bên trong và di chuyển sang các phòng khác a) Khuôn viên công trình b) Mối hại khuôn cửa sổ c) Mối hại khuôn cửa ra vào

Hình 4.2 Mối hại gỗ tại Sở lao động - Thương binh và xã hội - P Hoàng Văn Thụ –

TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

Một số hình ảnh tại nhà bà Hòa - P Hoàng văn Thụ về mối hại chân cột, khuôn cửa và tủ nếu không được phát hiện xử lý kịp thời thì mức độ phá hại sẽ mạnh hơn theo đó là quy trình diệt sẽ khó khăn hơn a) Mối hại chân cột b) Mối hại khuôn cửa c) Mối hại tủ bếp

Hình 4.3 Mối hại gỗ tại nhà bà Phùng Thúy Hòa - tổ 16 - P.Hoàng Văn Thụ – TP Thái

Nguyên – T Thái Nguyên Đối với mối chúng sẽ lợi dụng các khe kẽ để len rỏi xâm nhập vào công trình để tìm kiếm thức ăn chúng có thể đắp các đường mui theo tường, lợi dụng các đường ống nước, đường dây điện để lên các cấu kiện gỗ a) Mối đắp mui theo tường b) Mối xâm nhập theo ống nước c) Mối từ trong tường lên gác séc d) Mối hại gỗ gác séc

Hình 4.4 Mối hại gỗ tại nhà ông Đinh Việt Hùng - tổ 2A - P Hoàng Văn Thụ – TP

Một số các hộ dân thường trang trí căn nhà của mình bằng cách ốp các loại gỗ vào chân tường mối lợi dụng những kẽ hở chúng xâm nhập phá hại ngầm ở bên trong sau ăn ra bên ngoài

Mối hại ốp chân tường Hình 4.5 Mối hại gỗ tại nhà bà Triệu Thị Hội - tổ 11 - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái

Do nằm tiếp giáp với mặt đất là nơi ẩm ướt vị trí khuôn cửa là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho mối xâm nhập lên công trình là cao nhất

Hình 4.6 Mối hại gỗ tại nhà ông Nguyễn Văn Viên - tổ 6 - P Hoàng Văn Thụ – TP

Hình ảnh mối hại các cấu kiện khác chúng đắp đường mui lên tường nhằm tìm kiếm thức ăn do không được kiểm tra định kỳ chúng đã gây hại đến các vận dụng khác a) Mối xâm nhâp lên tường b) Mối hại bàn

Hình 4.7 Mối hại gỗ tại nhà ông Lê Đăng Chi - tổ 6 - P Hoàng Văn Thụ – TP Thái

Kinh nghiệm trong phòng trừ mối

Bảng 4.6 Kinh nghiệm phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng của người dân tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên

Kinh nghiêm phòng trừ mối Phương pháp

4 Tạ Văn Thăng 48  Phun thuốc

137 Nguyễn Văn Kiên 48  Phun thuốc

138 Hoàng Văn Thạch 36  Phun thuốc

Qua bảng 4.6 cho thấy người dân cũng có một số phương pháp áp dụng để phòng trừ mối hại, tuy nhiên do hiểu biết về mối hại gỗ còn hạn chế nên cũng chỉ áp dụng những phương pháp tạm thời, chưa xử lý tận gốc mối hại gỗ Trong 140 hộ chúng tôi tiến hành điều tra chỉ có 46 hộ biết một chút về phương pháp phòng trừ như dùng thuốc diệt mối, dùng dầu hỏa, phá tổ, dẫn dụ (chiếm 32,9%), 94 hộ còn lại chưa có kinh nghiệm gì trong việc phòng trừ mối cho các công trình xây dựng, họ rất thụ động trong công tác phòng trừ mối và chỉ tiến hành diệt mối khi thấy mối xuất hiện (chiếm 67,1%) Trong quá trình điều tra, phỏng vấn chỉ có một số ít hộ gia đình muốn được tập huấn, tư vấn về kinh nghiệm phòng trừ mối cho các công trình xây dựng còn đa số hộ gia đình họ thờ ơ không quan tâm và không cần thiết

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loài thuốc diệt mối người dân không biết sử dụng loại thuốc nào là tốt nhất để tiêu diệt mối, các loại thuốc đó có tác dụng phụ ảnh hưởng tới con người hay không, có đảm bảo an toàn môi trường hay không, bao nhiêu lâu thì mối lại xuất hiện tiếp theo Qua điều tra, người dân cho biết họ chỉ biết mua thuốc diệt mối, không biết tên loại thuốc như thế nào tác dụng của thuốc ra sao, có diệt tận gốc mối hay không và không được hướng dẫn sử dụng thuốc như thế nào sao cho có hiệu quả cao.

Giải pháp khắc phục và kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại địa phương

Căn cứ vào thực trạng mối hại gỗ trên địa bàn phường Hoàng Văn Thụ ta thấy: Mối xuất hiện khá nhiều, phá hoại các cấu kiện bằng gỗ Mặt khác, mối thường tấn công kín đáo nên khi phát hiện ra các vận dụng đã bị hư hại nặng Để khắc phục tình trạng mối hại gỗ tại địa phương, kéo dài tuổi thọ cho gỗ góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, địa phương cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về tác hại của mối để người dân có ý thức hơn trong công tác phòng trừ mối

- Tập huấn cho người dân, cán bộ về mối hại gỗ và các biện pháp phòng trừ

- Theo dõi kiểm tra định kỳ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng

- Lập kế hoạch chi tiết cho công tác phòng trừ mối hại gỗ (Công trình, diện tích, phương pháp phòng trừ…)

- Phối hợp các trường, viện, cơ quan nghiên cứu thực hiện các đề tài nghiên cứu về mối hại gỗ và phương pháp bảo quản gỗ nhằm hạn chế sự tấn công của mối

- Hỗ trợ kinh phí cho người dân thực hiện phòng trừ mối

- Nâng cao ý thức của người dân về phòng trừ mối hại gỗ, cách phòng trừ có hiệu quả nhất cho từng công trình trong địa bàn phường Hoàng Văn Thụ Trên đây là một số giải pháp đề xuất của chúng tôi để phần nào khắc phục tình trạng mối gây hại tại địa phương

4.4.2 Kế hoạch phòng trừ mối tại địa phương

Từ kết quả nghiên cứu thực trạng mối hại gỗ tại phường Hoàng Văn Thụ chúng tôi đã tiến hành lập kế hoạch phòng trừ cho một số công trình đã sử dụng tại phường Hoàng Văn Thụ, cụ thể như sau:

Bảng 4.7 Phương pháp phòng trừ và thời gian tiến hành cho các công trình xây dựng công cộng tại P Hoàng Văn Thụ – TP Thái Nguyên – T Thái Nguyên STT Địa điểm

Mức độ mối gây hại

Hoàng Văn Thụ 200 Không có mối

Agenda 25EC, lenfos 50EC Định kỳ

Agenda 25EC, lenfos 50EC Định kỳ

Diệt lây nhiễm,thuốc bột và nước

Agenda 25EC, lenfos 50EC Định kỳ

5, 6 26 và tổ 27 150 Không có mối

Agenda 25EC, lenfos 50EC Định kỳ

Thương binh và xã hội

1440 Trung bình Diệt lây nhiễm PMC 90 Định kỳ

4.4.3 Đề xuất các phương pháp phòng trừ mối có thể áp dụng tại địa phương

Phòng mối trước khi xây dựng dễ thực hiện và hiệu quả cao Mặt khác, khi thấy mối phá hoại thì một số cấu kiện đã bị hỏng hoặc bị mối ăn một phần, khi đó chi phí cho việc trừ mối là rất cao, vì phải thay thế các cấu kiện mới hoặc mất một phần chi phí lớn cho việc trừ mối

4.4.3.1 Phương pháp phòng mối cho công trình trước khi xây dựng

Kết quả nghiên cứu cho thấy phòng mối như là một phương thức bảo hiểm cho công trình để tránh các tác hại do mối gây ra về sau Phòng mối ngay khi bắt đầu xây dựng sẽ ít tốn kém, dễ thực hiện và hiệu quả cao, vì trong trường hợp này, ta có thể chủ động áp dụng những biện pháp kỹ thuật tốt như cách ly chân tường, ngâm tẩm gỗ, đối với trường hợp phòng mối sau khi xây dựng thì những biện pháp trên không thể thực hiện được Mặt khác, khi đã phát hiện thấy mối thì một số cấu kiện gỗ hoặc tài liệu thường đã bị hại, khi đó chi phí sẽ phải tăng không những về các biện pháp chống mối phức tạp hơn mà còn vì phải sửa chữa thay thế gỗ

* Phòng mối cho công trình xây dựng cần:

- Diệt tổ mối (nếu có)

- Hào phòng mối trong và ngoài công trình

- Các cấu kiện gỗ phía trên a Diệt tổ mối

Trong quá trình san lấp, phát hiện thấy tổ mối, phải tưới vào vị trí tổ mối khoảng 20-30 lít dung dịch thuốc chống mối, đồng thời phải loại bỏ các tàn dư thực vật như gốc cây, ván cốt pha kẹp lại trong khi xây dựng…

Trường hợp phải đóng cọc móng bằng che, nếu mạch nước ngầm dâng ngập cao thì không phải xử lý Nếu ở đất khô, cọc tre cần được ngâm trong dung dịch thuốc phòng mối trước khi đóng xuống đất

Trường hợp những tấm ván cốt pha kẹp sâu giữa hai trụ bê tông không rút ra được thì cũng phải phun thuốc phòng chống mối Dọc theo mạch phòng lún cũng phải xử lý thuốc phòng mối b Phòng mối

Như đã biết, mối có thể đục qua được lớp vữa xây dựng thông thường, nhất là lớp vữa có vôi để tiếp cận tới các đầu gỗ gối vào tường, song mối không đục được qua lớp vữa mác cao Vì vậy toàn bộ phía trên công trình được cách ly với mặt nền bằng lớp vữa mác cao là tốt nhất

Muốn thực hiện được mục đích, có hai yêu cầu rất cơ bản đối với lớp cách ly là “toàn diện và liên tục” Toàn diện có nghĩa là lớp cách ly phải được thực hiện trên toàn bộ mặt nền công trình Nếu chỉ thực hiện một số phòng, còn một số phòng không thực hiện thì những phòng có làm lớp cách ly cũng bị vô hiệu vì mối có thể di chuyển từ phòng này sang phòng khác Liên tục có nghĩa là lớp cách ly phải liên kết với các cấu trúc khác, không để phá vỡ tính liên tục của lớp cách ly

Lớp cách ly cơ học có ưu điểm so với lớp cách ly hoá chất là nó không bị phai nhạt, nếu công trình không bị biến dạng, lún nứt; tăng thêm độ bền vững của công trình và có tác dụng chống thấm

Việc phòng ngừa mối xâm nhập vào công trình xây dựng là hoàn toàn cần thiết, nhất là những công trình xây dựng có sử dụng ít nhiều đồ gỗ, cho dù xung quanh chưa có công trình nào bị mối xâm nhập, còn nếu căn nhà liền kề đã có mối thì nguy cơ mối xâm nhập càng cao

Quy trình phòng chống mối cho một công trình xây dựng mới bao gồm các bước xử lý, các giai đoạn sau:

Hình 4.8 Xử lý móng nhà

Trong công trình xây dựng mới sau khi phần kết cấu chân móng của công trình đã được hoàn thiện ta tiến hành phun toàn bộ cổ móng bằng chế phẩm thuốc phòng trống mối tại cổ móng, sau đó tiến hành lấp đất, đầm nén tạo mặt nền Kết thúc giai đoạn xử lý cổ móng ta tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 của quy trình phòng trừ mối hại công trình xây dựng

* Tạo hàng rào phòng mối

Ngày đăng: 22/05/2021, 08:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w