1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát khả năng sinh sản của giống lợn cp909 và một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái nuôi tại trại ông nguyễn thanh lịch ba vì hà nội

62 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát khả năng sinh sản của giống lợn cp909 và một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái nuôi tại trại ông Nguyễn Thanh Lịch – Ba Vì – Hà Nội
Tác giả Dương Văn Thoáng
Người hướng dẫn TS. Cù Thị Thúy Nga
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 730,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1: MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài (9)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (9)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (9)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (10)
  • PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (11)
    • 2.1. Cơ sở khoa học của đề tài (11)
      • 2.1.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái (11)
      • 2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái (14)
      • 2.1.3. Một số hiểu biết về quá trình viêm (15)
      • 2.1.4. Một số bệnh thường gặp ở lợn nái (19)
      • 2.1.5. Một số thông tin về hai loại thuốc kháng sinh sử dụng (23)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (24)
      • 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (24)
      • 2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (27)
  • PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (28)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (28)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (28)
      • 3.3.1. Nội dung (28)
      • 3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi (28)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi (29)
      • 3.4.1. Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin (29)
      • 3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu (31)
  • PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (32)
      • 4.1.1. Công tác chăn nuôi (32)
      • 4.1.2. Công tác chăm sóc nuôi dƣỡng (32)
      • 4.1.3. Công tác thú y (34)
      • 4.1.4. Công tác phòng bệnh (35)
      • 4.1.5. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh (37)
      • 4.1.6. Công tác khác (40)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (41)
      • 4.2.1. Cơ cấu đàn lợn sinh sản của Trại giai đoạn 2013 -2015 (41)
      • 4.2.2. Khảo sát khả năng sinh sản của giống lợn CP909 (42)
      • 4.2.3. Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của trại Nguyễn (45)
      • 4.2.4. Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái theo lứa đẻ (47)
      • 4.2.5. Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái theo tháng (49)
      • 4.2.6. Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung, hội chứng mất sữa, bại liệt đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại (51)
      • 4.2.7. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, hội chứng mất sữa, bại liệt của lợn nái tại cơ sở thực tập (52)
  • PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (55)
    • 5.1. Kết luận (55)
    • 5.2. Đề nghị (55)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (57)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

Theo Đặng Quang Nam (2002) [17], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận sau:

- Buồng trứng (Ovarium): Gồm một đôi (dài 1,5-2,5cm), khối lƣợng 3-

5 gam) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3-4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên

Buồng trứng được bao bọc bởi màng liên kết sợi chắc, bên trong chia thành hai phần với mô liên kết xốp tạo thành chất đệm Dưới lớp màng này, nhiều tế bào trứng non phát triển thành nang trứng nguyên thủy, tiếp theo là nang trứng sơ cấp và cuối cùng là bao noãn chín Dưới tác động của kích tố sinh dục tuyến yên, trứng chín sẽ rụng.

Buồng trứng có hai chức năng chính: sản xuất tế bào trứng và tiết hormone sinh dục, ảnh hưởng đến sự phát triển tính biệt và chức năng của tử cung, góp phần hình thành các đặc tính thứ cấp ở phụ nữ.

Ống dẫn trứng (Oviductus) dài từ 15-20cm, nằm ở cạnh trước dây chằng rộng và được chia thành hai phần Phần trước tự do có hình phễu, gọi là loa vòi (loa kèn), có chức năng hứng tế bào trứng chín rụng Phần sau thon nhỏ, có đường kính 0,2-0,3cm, nối với sừng tử cung.

Ống dẫn trứng được cấu tạo từ nhiều lớp: bên ngoài là màng tương mạc từ dây chằng rộng, tiếp theo là lớp cơ gồm hai lớp (cơ vòng bên trong và cơ dọc bên ngoài), và lớp niêm mạc ở trong cùng có nhiều gấp nếp chạy dọc nhưng không có tuyến.

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi cung cấp dinh dƣỡng và phát triển của thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái

Tử cung được chia thành ba phần chính: sừng, thân và cổ tử cung Sừng tử cung có hình dạng dài ngoằn như ruột non, với chiều dài từ 30-50cm và được hỗ trợ bởi dây chằng rộng, cho phép kéo sừng tử cung ra ngoài khi thiến Thân tử cung ngắn và có niêm mạc với các gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai nhi thường làm tổ ở sừng tử cung, trong khi cổ tử cung không có các gấp nếp mà thay vào đó là những cột thịt xen kẽ giống như răng lược.

Tử cung được cấu tạo từ ba lớp chính: lớp ngoài là tương mạc nối với dây chằng rộng, lớp giữa là cơ với cấu trúc dày và khỏe, giúp chứa thai và đẩy thai khi sinh Lớp cơ này bao gồm cơ dọc bên ngoài và cơ vòng bên trong, với sự phát triển mạnh mẽ ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt, nhiều gấp nếp và chứa nhiều tuyến tiết chất nhờn.

Âm đạo là đoạn nối giữa cổ tử cung và âm hộ, đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao phối khi tiếp nhận dương vật Vị trí của âm đạo nằm trên trực tràng và dưới bóng đái, được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh.

Âm đạo được cấu tạo từ ba lớp: lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo, lớp giữa là cơ trơn xếp theo nhiều chiều khác nhau kết hợp với tổ chức liên kết bên ngoài, và lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn theo chiều dọc chứa nhiều chất nhờn Với khả năng co giãn lớn, âm đạo không chỉ là cơ quan sinh dục mà còn là đường đi ra của thai trong quá trình sinh nở.

Âm hộ (Vulva) là phần cuối cùng của bộ máy sinh dục nữ, nằm sau âm đạo và được ngăn cách bởi màng trinh Vị trí của âm hộ nằm dưới hậu môn và thông ra ngoài qua một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Bartholin) và cơ quan cương cứng được gọi là âm vật (Clitoris).

Âm môn là một khe thẳng đứng nằm dưới hậu môn, bao gồm hai môi kết nối với nhau qua hai mép Môi lớn bên ngoài dày và bao trùm môi nhỏ bên trong, trong khi mép trên hơi nhọn và mép dưới rộng bao quanh âm vật Cả hai mép được bao bọc bởi lớp da mỏng mịn, với lông xuất hiện phía dưới mép dưới.

Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:

+ Màng trinh (Hymen): Ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ

Lỗ đái là lối ra của niệu đạo con cái, nằm ở phần dưới âm môn, ngay sau màng trinh, với hình dạng khe có van che phủ hướng về phía sau Bên cạnh lỗ đái còn có lỗ đổ ra của ống tuyến tiền đình, hai tuyến này tiết ra dịch nhờn giúp ẩm ướt cửa vào âm đạo và có tính chất sát khuẩn.

+ Âm vật (Clitoris): Là tổ chức cương cứng, có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao

Âm hộ được cấu tạo từ ba lớp chính: lớp da mỏng mịn với nhiều sắc tố, lớp cơ bao gồm cơ thắt và dây treo âm hộ, và lớp niêm mạc bên trong chứa nhiều tuyến tiết dịch nhờn.

Lợn có từ 6-8 đôi vú, được xếp thành 2 hàng từ vùng ngực đến bụng bẹn, và là động vật đa thai Tuyến vú chỉ phát triển khi lợn cái đến tuổi thành thục, đạt kích thước lớn nhất trong thời kỳ mang thai và sinh con Trong giai đoạn này, tuyến vú tiết ra sữa để cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lợn non Vú bao gồm bầu vú và núm vú.

Bầu vú là cơ quan sản sinh và chứa sữa, với cấu trúc bên ngoài là lớp da mỏng mịn, có thể là da ngực, nách, bụng hoặc bẹn Bên trong, bầu vú bao gồm lớp cơ và hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ với tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, cùng hệ thống mạch máu và thần kinh Cấu trúc này chia bầu vú thành nhiều thùy nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi.

Bao tuyến là nơi sản xuất sữa, hoạt động như một túi chứa, từ đó sữa được dẫn qua ba loại ống: nhỏ, trung bình và lớn, trước khi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra ở đỉnh đầu vú Để tạo ra một lít sữa, cần tới 540 lít máu lưu thông qua tuyến vú, do đó, nguồn cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú với hệ thống mao mạch dày đặc bao quanh bao tuyến.

+ Núm vú: Một bầu vú có một núm vú cấu tạo bởi da - tổ chức liên kết

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Trần Minh Châu (1996), việc điều trị viêm vú, viêm tử cung và tình trạng cạn sữa ở lợn nái có thể đạt hiệu quả tốt bằng cách tiêm oxytoxin với liều 5–10 UI cho lợn nái nặng đến 200kg, kết hợp với kháng sinh ampicillin 25 mg/1kg/ngày hoặc tetracyclin 30 – 80 mg/kg/ngày.

Theo Trương Lăng (2003), việc bơm thụt rửa tử cung sau khi sinh có thể thực hiện bằng thuốc tím 1‰ hoặc rivanol 1‰ Ngoài ra, có thể sử dụng furazolidol để bơm vào tử cung hoặc đặt 4 viên chloranol mỗi ngày.

Tiêm streptomycin hoặc penicillin 1 – 2 vạn đơn vị/kg P

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [13], dùng phác đồ điều trị tiêm bắp thịt để điều trị bệnh viêm tử cung: streptomycin 15 – 20 mg/kgP dùng liên tục

3 – 4 ngày (cấp tính), 6 – 8 ngày (mãn tính)

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [18]:

Dùng benzyl penicillin (procaine ) 1.000.000 UI

Tá dƣợc vừa đủ trong 1 ống 2 gram Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò cho kết quả cao

Viên nén chloteracilin 1 gram được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau sinh, bao gồm viêm tử cung, lộn tử cung, sát nhau và viêm âm đạo Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Kim Dung và cộng sự (2002), việc thụt rửa tử cung và âm đạo bằng rivanol 0.1% hoặc chloramphenicol 4% được khuyến nghị thực hiện hàng ngày, mỗi lần 50 – 100ml với dung dịch hòa tan trong nước ấm 40 – 45 độ C, sau đó có thể sử dụng một số loại thuốc hỗ trợ khác.

Tiêm bắp thịt kanamycin liều 10mg/kg/ngày, chia làm hai lần/ngày, tiêm bắp thịt gentamycin 4 UI /kg/ngày

Ketomycin nên được bôi 1–2 lần mỗi ngày và uống từ 1–2 gram cho người có trọng lượng từ 30-50 kg trong khoảng 3–5 ngày Để đạt hiệu quả tốt nhất, nên kết hợp với các vitamin bổ trợ như VTM C, B và cafein.

Nguyễn Hùng Nguyệt, (2007) [20] cho biết: Điều trị viêm vú bằng phương pháp châm cứu cho kết quả tốt

Bằng châm cứu: Đơn huyệt: Bách Hội, Dương Minh, Vĩ Căn, Hội Âm, Túc Tam Lý, Hải Môn, Khai Phong

Châm theo phương pháp tả

Thời gian điều trị 7 – 10 ngày liên tục, nghỉ 2 – 3 ngày sau đó tiếp tục điều trị

Thuỷ châm: Đơn huyệt: Bách Hội, Dương Minh, Hội Âm, Túc Tam Lý, Khai Phong Đơn thuốc: Vitamin B1 2,5% 20ml

Thuỷ châm vào các huyệt ngày 1 lần, điều trị trong 5 – 7 ngày liên tục nghỉ 2 – 3 ngày sau đó điều trị tiếp

Theo Lê Hồng Mận và cs, (2004) [15]:

+ Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm

+ Tiêm thuốc chống viêm nhƣ prednizolon, hydro-cortizone

+ Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn có tiêm nhắc lại sau 1 ngày

+ Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin, liều đạt trên 200.000 – 500.000 UI mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 – 2 lần/ngày trong 3 – 5 ngày

Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (2003), trước khi lợn nái sinh con, cần thực hiện các bước như lau, xoa vú và tắm cho nái Sau khi lợn con ra đời, nên cho con bú ngay trong vòng 1 giờ và cắt răng nanh cho lợn con.

Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt

Tiêm kháng sinh penicillin với liều lượng 1,5 – 2 triệu đơn vị pha với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu có nhiều vú bị viêm, cần pha loãng liều thuốc với 20ml nước cất và tiêm xung quanh các vú bị viêm Thực hiện tiêm liên tục trong 3 ngày.

Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [10]:

+ Trước khi đẻ, lau vú, xoa vú, tắm cho nái

+ Cho con bú mẹ sau 1h đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5–2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm trong 3 ngày liền

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Popkov (Liên Xô cũ) đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, viêm tử cung đạt kết quả cao

Dung dịch MgSO4 1% 40 ml + vitamin C

Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, N.Mikhailov đã dùng rửa không sâu (qua ống thông) trong âm đạo bằng dung dịch nước Etacridin 1/1.000 và 1/5.000, Furazolidon 1/1.000

Diensiviridep sử dụng Rivanol 1% để thụt rửa mang lại hiệu quả cao mà không gây hại cho gia súc Tại Pháp, các nhà nghiên cứu Pierre Brouillt và Bernard Faroult đã khẳng định rằng việc điều trị bệnh viêm vú trong thời gian cho sữa là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát bệnh này Quy trình điều trị cần được thực hiện sớm và hiệu quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà còn cần xem xét các chỉ tiêu chăn nuôi và kết quả từ phòng thí nghiệm Hiểu biết sâu sắc về các phương pháp điều trị, đặc biệt là dược lực học và dược động học, sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị.

Nghiên cứu của A.V Trekaxova (1983) đã chỉ ra rằng việc điều trị viêm vú cho lợn nái hiệu quả hơn khi kết hợp các phương pháp chữa trị Việc sử dụng Novocain để phong bế kết hợp với điều trị bằng kháng sinh đã mang lại kết quả tích cực Cụ thể, tác giả đã áp dụng dung dịch Novocain 0.5% với liều lượng thích hợp để phong bế thần kinh tuyến sữa.

Mỗi túi vú cần tiêm từ 30 – 40ml dung dịch, sâu 88 – 10cm vào mỗi thuỳ vú bệnh Dung dịch Novocain được bổ sung thêm 100–200 ngàn đơn vị Penicillin hoặc kháng sinh khác Ngoài ra, lợn nái cũng cần tiêm bắp loại kháng sinh trong Novocain với liều lượng từ 400–600 đơn vị, thực hiện 2–3 lần mỗi ngày.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Ông Nguyễn Thanh Lịch – Ba Vì – Hà Nội

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Tại trại lợn nái Ông Nguyễn Thanh Lịch – Ba Vì – Hà Nội

- Thời gian: Từ ngày 25/5/2015 đến ngày 25/11/2015

Nội dung nghiên cứu

- Tiến hành khảo sát khả năng sinh sản của giống lợn nái CP909

- Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái của trại Ông Nguyễn Thanh Lịch – Ba Vì – Hà Nội

- Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái theo lứa đẻ

- Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở đàn lợn nái theo tháng

- Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung, hội chứng mất sữa, bại liệt đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại

- Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, hội chứng mất sữa, bại liệt của lợn nái tại cơ sở thực tập

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi

- Số lợn con trên một ổ

- Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái tại trại

- Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ

- Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo tháng trong năm.

Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin

3.4.1.1 Điều tra cơ cấu đàn lợn và đánh giá tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái sinh sản

- Thông qua điều tra số liệu qua sổ sách theo dõi của trại

- Phỏng vấn, học hỏi kinh nghiệm của các cán bộ kỹ thuật của công ty

- Trực tiếp theo dõi và quan sát biểu hiện toàn thân và cơ quan sinh dục ngoài để xác định tình trạng mắc bệnh

3.4.1.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Nghiên cứu theo dõi khả năng hồi phục ở nái mắc bệnh sinh sản được điều trị bằng hai phác đồ khác nhau Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo tính đồng nhất về số lượng lợn điều trị, giống, lứa đẻ và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng.

Sơ đồ thí nghiệm: Thí nghiệm đƣợc bố trí thành 2 lô với 2 phác đồ điều trị khác nhau

- Phác đồ 1: Điều trị 26 lợn nái bị viêm tử cung và 3 lợn nái mắc hội chứng mất sữa bằng kháng sinh Vetrimoxin LA

- Phác đồ 2: Điều trị 26 lợn nái bị viêm tử cung và 3 lợn nái mắc hội chứng mất sữa bằng kháng sinh Hitamox LA

- Đối với 4 nái bại liệt điều trị bằng:

Phác đồ 1: Điều trị 2 nái bằng thuốc Calcium fort,tiêm 10 - 15ml/nái Phác đồ 2: 2 nái can thiệp bằng thủ thuật

* Bố trí thí nghiệm theo bảng sau:

Bảng 3.1: Bảng bố trí thí nghiệm

Số lợn điều trị Con 26 3 26 3

Giống CP909 CP909 CP909 CP909

Loại kháng sinh sử dụng Vetrimoxin LA Hitamox LA

Liều lƣợng ml 1ml/ 10kg TT 1ml/ 10kg TT

Cách sử dụng Tiêm bắp thịt Tiêm bắp thịt

Loại thuốc bổ trợ VTMC VTMC

Cách sử dụng Trộn thức ăn, dùng liên tục đến khi khỏi

Trộn thức ăn, dùng liên tục đến khi khỏi

4 Biện pháp hộ lý Thụt rửa tử cung Chăm sóc Thụt rửa tử cung

3.4.1.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định

* Các chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ cai sữa của giống lợn CP909

- Tỷ lệ nhiễm bệnh sinh sản trong toàn đàn nái của trại (%)

- Hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản (% khỏi)

- Hiệu quả điều trị hội chứng mất sữa ở lợn nái sinh sản (% khỏi)

- Hiệu quả điều trị bệnh bại liệt ở lợn nái sinh sản (% khỏi)

* Phương pháp xác định các chỉ tiêu

- Tỷ lệ cai sữa (%) = Số con cai sữa x 100 Tổng số lợn sơ sinh

- Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản (%) Σ Số nái mắc bệnh sinh sản x100 Σ Số nái theo dõi

- Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ (%) Σ Số nái mắc bệnh theo từng lứa đẻ x100 Σ Số nái theo dõi

- Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng (%) Σ Số nái mắc bệnh theo từng tháng x100 Σ Số nái theo dõi

- Tỷ lệ khỏi (%) Σ Số nái khỏi bệnh x100 Σ Số nái điều trị

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học (Nguyễn Văn Thiện, 2002) [25] trên phần mềm Excell

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Trong thời gian thực tập tại trang trại, tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ công nhân viên Nhờ vào sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành nhiều nội dung quan trọng trong quá trình thực tập.

Công tác vệ sinh trong chăn nuôi đóng vai trò quan trọng, giúp gia súc khỏe mạnh, sinh trưởng tốt và giảm chi phí thuốc thú y Nhận thức được tầm quan trọng này, tôi đã chú trọng thực hiện tốt các công việc vệ sinh trong suốt thời gian thực tập.

4.1.2.Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tích cực tham gia vào việc chăm sóc nái chửa và nái đẻ, cũng như hỗ trợ trong quá trình đỡ đẻ và chăm sóc lợn con cho đến khi cai sữa Tôi trực tiếp thực hiện vệ sinh, chăm sóc và theo dõi đàn lợn thí nghiệm, đồng thời áp dụng quy trình chăm sóc cho nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ và đàn lợn con theo mẹ cho đến khi chúng được cai sữa.

Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1 và 2, cần được kiểm tra hàng ngày để phát hiện các vấn đề như lợn phối không đạt, sảy thai hoặc mang thai giả Công tác vệ sinh chuồng trại rất quan trọng, bao gồm dọn phân, cho lợn ăn, rửa máng và phun thuốc sát trùng hàng ngày Lợn nái chửa được cho ăn thức ăn 566SF và 567SF, với khẩu phần thay đổi theo từng tuần chửa: từ tuần 1 đến tuần 12, lợn ăn 1,5 - 2 kg/ngày; từ tuần 13 đến tuần 14, khẩu phần tăng lên 2,5 - 3 kg/ngày, đều được cho ăn 1 lần trong ngày.

26 Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi đƣợc ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 3,5 - 4 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày

Lợn nái chửa nên được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến từ 7 đến 10 ngày Trước khi chuyển, chuồng cần được dọn dẹp, sát trùng và làm sạch Thông tin đầy đủ về lợn phải được ghi trên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn cho lợn chờ đẻ được cung cấp với tiêu chuẩn 3 kg/ngày, chia thành 2 bữa sáng và chiều.

Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa

Sau 2 ngày sau khi lợn nái đẻ, cần tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 đến 5 kg mỗi con mỗi ngày, chia thành hai bữa sáng và chiều Đối với lợn nái quá gầy hoặc nuôi nhiều con, có thể tăng lượng thức ăn lên 6 kg mỗi con mỗi ngày.

- Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:

+ Ngay sau khi đẻ ra lợn đƣợc tiến hành cắt rốn, bấm nanh

+ Lợn con 2 - 3 ngày tuổi đƣợc cắt số tai, cắt đuôi và tiêm sắt, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy

+ Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng + Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực

+ Lợn con đƣợc từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF

+ Lợn con đƣợc 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả

+ Lợn con đƣợc 21 - 26 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn

* Phát hiện lợn nái động dục

- Khi cho lợn nái đi qua các ô chuồng nhốt lợn đực thì lợn nái có biểu hiện kích thích thần kinh, tai vểnh lên và đứng ì lại

- Lợn có biểu hiện bồn chồn hay đứng lên nằm xuống, ta quan sát đƣợc vào khoảng 10 - 11 giờ trƣa

- Cơ quan sinh dục có biểu hiện: Âm hộ xung huyết, sƣng, mẩy đỏ, có dịch tiết chảy ra trong, loãng và ít, sau đó chuyển sang đặc dính

* Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

- Bước 1: Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, quan sát triệu chứng động dục trước đó và đã xác định khoảng thời gian dẫn tinh thích hợp nhất

- Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ

- Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (80 - 100 ml) và số lượng tinh trùng tiến thẳng trong một liều dẫn (1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng)

- Bước 4: Vệ sinh lợn nái

Sau khi hoàn tất quá trình dẫn tinh, việc vệ sinh dụng cụ là rất quan trọng Trong mỗi chu kỳ động dục, lợn nái có thể được dẫn tinh tới 3 lần, và thông tin này cần được ghi lại trên thẻ nái Sau khoảng 21-25 ngày, cần tiếp tục theo dõi và kiểm tra kết quả thụ thai, đồng thời phát hiện những lợn cái có dấu hiệu động dục để thực hiện dẫn tinh lại kịp thời Kết quả thụ thai từ mỗi kỳ động dục sẽ được ghi nhận vào báo cáo của chu kỳ đó.

Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ và tiêu độc bằng thuốc sát trùng Ommicide hai lần mỗi ngày, với tỷ lệ 320ml sát trùng cho 1000 lít nước Sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển lên chuồng nái bầu Sau khi xuất lợn con, các tấm đan chuồng được tháo ra và ngâm trong dung dịch NaOH 10% trong một ngày, sau đó được cọ sạch và phơi khô Khung chuồng cũng được cọ sạch và xịt bằng dung dịch NaOH loãng, tiếp theo là xịt bằng dung dịch vôi xút Gầm chuồng được vệ sinh kỹ lưỡng, tiêu độc và rắc vôi bột, để khô một ngày trước khi lắp lại đan và chuyển lợn chờ đẻ từ chuồng nái bầu xuống Lịch sát trùng được trình bày qua bảng.

Lịch sát trùng trại lợn nái

Thứ Trong chuồng Ngoài chuồng Chuồng bầu Chuồng đẻ Chuồng cách ly

CN Phun sát trùng Phun sát trùng

Thứ 2 Quét hoặc rắc vôi hành lang

Phun sát trùng + rắc vôi Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Quét vôi hành lang + Phun sát trùng

Quét hoặc rắc vôi đường đi

Thứ 4 Xả vôi xút gầm Phun sát trùng Rắc vôi

Phun sát trùng + xả vôi xút gầm

Quét vôi đường liên chuồng

Thứ 6 Phun sát trùng Phun sát trùng

+ rắc vôi Phun sát trùng Phun sát trùng

Thứ 7 Vệ sinh tổng chuồng

(Nguồn: Kỹ thuật của trại) 4.1.4.Công tác phòng bệnh

Quy trình tiêm phòng cho đàn lợn tại trang trại được thực hiện thường xuyên và bắt buộc nhằm tạo ra miễn dịch chủ động trong cơ thể, giúp chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và tăng cường sức đề kháng cho lợn.

Sau đây là quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vaccine cho các loại lợn

Lịch phòng bệnh của trại lợn nái

Tuổi Vaccine Phòng bệnh Liều

10-14 ngày Mycoflex viêm phổi do

21ngày Colapets dịch tả 2 IM

Hậu bị và nọc thay thế sau khi nhập về 1 tuần Ingelvac PRRS tai xanh 2 IM sau khi nhập về 2 tuần Farrowsure khô thai

+doramectin 5-2 IM sau khi nhập về 3 tuần Colapets dịch tả 2 IM sau khi nhập về 4 tuần

Porcilis Bengonia giả dại + lở mồm 2 IM sau khi nhập về 5 tuần Ingelvac PRRS tai xanh 2 IM sau khi nhập về 6 tuần

Farrowsure + Aftopor khô thai + lở mồm 5-2 IM sau khi nhập về 7 tuần chuyển lên đàn sinh sản heo nái

10 tuần Colapets dịch tả 2 IM

12 tuần Aftopor lở mồm long móng 2 IM

Tháng 2,6 Colapets Dịch tả 2 IM

Bengonia giả dại 2 IM tháng 3,7,11 Ingelvac PRRS tai xanh 2 I M

(Nguồn: Phòng kĩ thuật) Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn vaccine giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con Đối với lợn đực:

- Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vaccine dịch tả

Coglapest, 4 tuần tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccine giả dại Begonia

- Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vaccine dịch tả Coglapest Tháng 4, 8, 12 tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccine giả dại Begonia

4.1.5.Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh Để điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnh kịp thời và chính xác giúp ta đƣa ra đƣợc phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày tôi cùng cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất cả các ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm Trong thời gian thực tập, chúng tôi đã gặp và điều trị một số bệnh sau:

Viêm sinh dục ở lợn mẹ là một bệnh lý phức tạp với nhiều nguyên nhân, bao gồm kỹ thuật phối giống không đúng, lợn mẹ gặp khó khăn trong quá trình sinh nở, và việc can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ có thể gây tổn thương cho niêm mạc cổ tử cung và âm đạo, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Ngoài ra, việc không vệ sinh chuồng trại và lợn nái trước và sau khi đẻ cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Bệnh có thể kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như bệnh sảy thai truyền nhiễm và phó thương hàn.

Khi lợn bị bệnh, chúng thường biểu hiện những triệu chứng như thân nhiệt cao, giảm ăn uống và lượng sữa, cùng với dấu hiệu đau đớn như cong lưng và không yên tĩnh Ngoài ra, âm hộ của lợn có thể sưng đỏ, và từ cơ quan sinh dục có thể thải ra dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng, kèm theo mùi tanh, thối khắm.

Để điều trị hiệu quả, chúng tôi tập trung vào việc hạn chế sự lan rộng của viêm, kích thích tử cung co bóp để thải bỏ dịch viêm và ngăn ngừa nguy cơ nhiễm trùng cho cơ thể.

Tiêm một liều Oxytocin: 3 - 5 ml/con

Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày

Tiêm Vetrimoxin LA : 1ml/10kgTT/1lần/2ngày

Hitamox LA : 1ml/10kgTT/1lần/2ngày Điều trị liên tục trong 3-6 ngày

+ Kết quả: Điều trị 52 con, khỏi 51

Nguyên nhân gây viêm tuyến vú ở lợn mẹ chủ yếu do các loại vi khuẩn như Liên cầu, tụ cầu trùng và E.coli xâm nhập qua da Việc xây xát núm vú do răng nanh của lợn con mới sinh, cùng với tình trạng sữa ứ đọng, tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển Hơn nữa, sự căng tức do lượng sữa quá nhiều cũng có thể dẫn đến viêm tuyến vú.

Do vệ sinh chuồng trại kém, phân, nước tiểu không thoát hết, nhiệt độ chuồng trại quá lạnh, quá nóng

Do việc dùng thuốc sát trùng tẩy uế chƣa hợp lý trong khu trang trại cũng như trong chuồng lợn nái trước và sau khi đẻ

Do kế phát từ các bệnh viêm âm đạo, tử cung

Lợn nái có triệu chứng bỏ ăn, nằm yên một chỗ, sốt cao và không cho con bú Tình trạng viêm, đỏ, đau, nóng và sưng xuất hiện ở tất cả hoặc một vài bầu vú Một số con có thể bị viêm nặng, khiến bầu vú tím bầm và khi sờ nắn thấy cứng.

Cục bộ: Vắt cạn sữa ở vú viêm, chườm nóng kết hợp xoa bóp nhẹ vài lần/ngày cho vú mềm dần

Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng Nor 100: 1ml/10kgTT

Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày

Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày

Hitamox LA: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày

+ Kết quả: Điều trị 6 con, khỏi 100%

- Bệnh phân trắng lợn con

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.2.1 Cơ cấu đàn lợn sinh sản của Trại giai đoạn 2013 -2015

Trong thời gian thực tập tại Công ty CP Trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, Hà Nội từ 25/5/2015 đến 25/11/2015, tôi đã tham gia cùng cán bộ, nhân viên của trại trong việc chăm sóc đàn lợn nái và lợn con theo mẹ.

Trong quá trình thực tập, tôi nhận thấy rằng đàn nái tại trại có năng suất sinh sản cao, với trung bình mỗi nái đẻ từ 10 đến 12 con mỗi lứa Các nái ở trại đều có sức khỏe tốt và cung cấp đủ sữa cho đàn con trong giai đoạn bú.

Cơ cấu đàn lợn sinh sản của Trại đƣợc thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2: Cơ cấu đàn lợn sinh sản của trang trại (2013 - 2015)

Số lƣợng lợn của các năm (con) % tổng đàn năm 2015

Số lượng lợn nái cơ bản và lợn nái hậu bị của trại không có sự biến động đáng kể giữa năm trước và năm nay.

Với gần 1200 con lợn nái, việc phòng và điều trị các bệnh viêm đường sinh dục là cực kỳ quan trọng để duy trì năng suất và hiệu quả chăn nuôi Các lợn nái được phân chia theo giai đoạn như chuồng bầu, chuồng đẻ, và chuồng hậu bị Mỗi con lợn nái được theo dõi tỉ mỉ, với các thông tin quan trọng như số tai, ngày phối giống, và ngày đẻ dự kiến được ghi chép cẩn thận trên thẻ gắn tại chuồng nuôi.

4.2.2 Khảo sát khả năng sinh sản của giống lợn CP909

Sinh sản là chức năng thiết yếu của sự sống, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nòi giống và sự phát triển của các sinh vật Để đánh giá quá trình này, nhiều chỉ tiêu sinh lý sinh sản đã được xem xét Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào một số chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá phẩm chất đàn, được trình bày trong bảng 4.3.

Bảng 4.3: Khả năng sinh sản của giống lợn CP909

STT Chỉ Tiêu CP909 (n = 30) ĐVT X ±m x

1 Số con sơ sinh/ ổ Con 11,63 ± 1,17

2 Số con để nuôi/ổ Con 10,87 ± 1,04

3 Số con cai sữa/ổ Con 10,17 ± 1,14

4 Khối lƣợng sơ sinh trung bình/con Kg 1,4 ± 0,09

5 Khối lƣợng sơ sinh trung bình/ổ Kg 16,28 ± 2,53

6 Khối lƣợng cai sữa/con Kg 4,5 ± 0,22

7 Khối lƣợng cai sữa/ổ Kg 45,77 ± 4,18

Kết quả bảng 4.3 cho thấy:

Tiêu chí đánh giá số lượng trứng được thụ tinh và phát triển thành hợp tử là rất quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nái mẹ Điều này liên quan đến kỹ thuật phối giống và chăm sóc dinh dưỡng cho lợn nái trong giai đoạn mang thai, mà người chăn nuôi cần chú trọng để nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Theo bảng trên tôi thấy số con đẻ ra của lợn nái dòng CP909 cho kết quả trung bình 11,63 con/ổ

Theo nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cộng sự (2002), số lượng con đẻ ra trên mỗi ổ lần lượt là 10,03 và 11,62 con Kết quả của chúng tôi cho thấy số con đẻ ra cao hơn so với hai tác giả trên.

Số con cai sữa/ổ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng nuôi con và tiết sữa của lợn mẹ, cũng như kỹ thuật chăm sóc lợn con tại các cơ sở chăn nuôi Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010), số con cai sữa/ổ trung bình của tổ hợp nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối giống với đực (Pietrain x Duroc) đạt 10,15 con/ổ Kết quả theo dõi của tôi về lợn nái CP909 cũng cho thấy những thông số tương tự.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng đương tác giả đạt 10,17 con, cao hơn đáng kể so với nghiên cứu của Tạ Thị Bích Duyên (2003) với hai giống thuần Landrace và Yorkshire, chỉ đạt từ 7,79 đến 8,0 con.

- Khối lƣợng sơ sinh/con

Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng giống nuôi tại trại, khả năng mang thai của lợn mẹ và kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng nái chửa của người chăn nuôi.

Khối lƣợng lợn sơ sinh trung bình/con của trại là 1,4 kg

Kết quả theo dõi chỉ tiêu nuôi thai cho thấy lợn mẹ có khả năng nuôi thai tốt, phản ánh chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý đàn lợn nái hiệu quả tại trại Khối lượng sơ sinh trung bình của từng con đạt yêu cầu của giống, chứng tỏ sự thành công trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng.

Chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi thai của lợn nái bao gồm khả năng sinh trưởng và sức sống của thai nhi trong bụng mẹ, cũng như kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai Chỉ tiêu này có mối tương quan di truyền thuận và tỷ lệ thuận với số con sơ sinh mỗi ổ và khối lượng sơ sinh của từng con.

Khối lƣợng cai sữa/con và khối lƣợng cai sữa/ổ

Khối lượng cai sữa là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá khả năng sinh sản và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái Càng cao khối lượng cai sữa, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái càng lớn, đồng thời khả năng tăng trọng khi nuôi thịt cũng sẽ cao hơn.

Khối lượng cai sữa/ổ đạt được là 45,77kg/ổ, thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Kim Ngọc.

Nghiên cứu năm 2004 cho thấy khối lượng cai sữa/ổ của dòng C1050 đạt 56,35 kg/ổ, trong khi dòng C1230 là 55,18 kg/ổ Khối lượng cai sữa/con của hai dòng này lần lượt là 5,8 kg và 5,6 kg.

Ngày đăng: 22/05/2021, 07:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trúc Anh (2010), Giáo trình Dược lý thú y, Trường Trung cấp Nông Lâm Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý thú y
Tác giả: Nguyễn Trúc Anh
Năm: 2010
2. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc gia
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
3. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
4. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái. Để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái. Để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
5. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Phong, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Phong, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng (2004), "Kết quả ứng dụng hormone sinh sản điều trị hiện tƣợng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái", Tạp chí Nông nghiệp, tập 2 số 1, Tr. 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng hormone sinh sản điều trị hiện tƣợng chậm động dục lại sau đẻ ở lợn nái
Tác giả: Trần Tiến Dũng
Năm: 2004
7. Tạ Thị Bích Duyên (2003), Xác định một số đặc điểm di truyền, giá trị giống về khả năng sinh sản của lợn Y và L nuôi tại các cơ sở An Khánh, Thụy Phương và Đông Á, Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số đặc điểm di truyền, giá trị giống về khả năng sinh sản của lợn Y và L nuôi tại các cơ sở An Khánh, Thụy Phương và Đông Á
Tác giả: Tạ Thị Bích Duyên
Năm: 2003
8. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009), “Năng suất sinh sản và sinh trưởng của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) phối với ủực lai giữa Pietrain và Duroc (Pidu)”, Tạp chớ khoa học và phát triên 2009, tập VII, số 3: 269 - 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009), “Năng suất sinh sản và sinh trưởng của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace x Yorkshire) phối với ủực lai giữa Pietrain và Duroc (Pidu)”
Tác giả: Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy
Năm: 2009
9. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp (1997), Dược lý học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
10. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
11. Huỳnh Văn Kháng (2003), Bệnh ngoại khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp - Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ngoại khoa gia súc
Tác giả: Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Đại học Nông nghiệp I
Năm: 2003
12. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
13. Phạm Sỹ Lăng - Phan Địch Lân, (1995), Cẩm nang bệnh lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bệnh lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng - Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
14. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
15. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
16. Lê Hồng Mận (2006), Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại, phòng và trị bệnh ở lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật mới về chăn nuôi lợn ở nông hộ, trang trại, phòng và trị bệnh ở lợn cao sản
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Đặng Quang Nam (2002), Giáo trình Giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb NN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong
Nhà XB: Nxb NN Hà Nội
Năm: 2002
19. Lê Thị Kim Ngọc (2004), Khảo sát khả năng sinh trưởng, phát dục và khả năng sinh sản của lợn nái thuộc hai dòng lợn ông bà C1050 và C1230 nuôi tại trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng sinh trưởng, phát dục và khả năng sinh sản của lợn nái thuộc hai dòng lợn ông bà C1050 và C1230 nuôi tại trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
Tác giả: Lê Thị Kim Ngọc
Năm: 2004
20. Nguyễn Hùng Nguyệt (2007), Châm cứu chữa bệnh vật nuôi, Nxb Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu chữa bệnh vật nuô
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm