PHẠM HUYỀN TRANG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC
Trang 1PHẠM HUYỀN TRANG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2PHẠM HUYỀN TRANG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC NÔNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu nghiên cứu này được tiến hành tại ba cơ sở y tế tư nhân tại thành phố Thái Nguyên, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả
Phạm Huyền Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Khoa học Môi trường khoá 23, giai đoạn 2015 - 2017 của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của tập thể thầy, cô giáo Khoa Khoa học Môi trường, Phòng Quản lý Sau Đại học và lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đối với các cơ sở y tế tư nhân, tác giả đã nhận được những sự giúp đỡ của cán
bộ, nhân viên tại ba cơ sở tỉnh Thái Nguyên nơi mà tác giả đã đến thu thập số liệu
đề tài Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ quý báu đó Tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cán bộ, nhân viên Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên đã giúp tôi có tài liệu hoàn thành luận văn
Kết quả của luận án này không thể tách rời sự chỉ dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoa học là PGS TS Nguyễn Ngọc Nông, người đã nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn
để tác giả hoàn thành luận văn này Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn
Xin được cảm ơn sự khuyến khích, giúp đỡ của gia đình cùng bạn bè và đồng nghiệp xa gần, đó là nguồn khích lệ và cổ vũ to lớn đối với tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thành công trình này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017 Tác giả
Phạm Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Các khái niệm liên quan về chất thải y tế 4
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 6
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh, thành phần và đặc tính của chất thải y tế 7
1.1.4 Ảnh hưởng của CTRYT đến sức khỏe cộng đồng và môi trường 9
1.1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe 9
1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường 11
1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý chất thải y tế và quản lý chất thải rắn 13
1.3 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới và Việt Nam 15
1.3.1 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới 15
1.3.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân tại Việt Nam 19
1.4 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của cơ sở y tế tư nhân tại Thái Nguyên 24
Trang 61.5 Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải rắn y tế 29
1.5.1 Mô hình xử lý CTR y tế 29
1.5.2 Các phương pháp xử lý CTRYT 29
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Tổng quan về các cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nghiên cứu 33
2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế tư nhân Thái Nguyên 33
2.3.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế thông qua ý kiến cán bộ y tế và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân 33
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 34
2.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa 34
2.3.4 Phương pháp phân tích các bên liên quan 35
2.3.5 Phương pháp xác định rác thải phát sinh 35
2.3.6 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Tổng quan về các cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nghiên cứu 36
3.1.1 Địa điểm, quy mô bệnh viện 36
3.1.2 Chức năng hoạt động của các cơ sở nghiên cứu 37
3.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của các cơ sở nghiên cứu 37
Trang 73.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y
tế tư nhân 39
3.2.1 Nguyên liệu thô và hóa chất sử dụng trong quá trình hoạt động 39
3.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải y tế của ba cơ sở nghiên cứu 40
3.2.3 Thực trạng công tác thu gom chất thải rắn y tế của ba cơ sở nghiên cứu 51
3.2.4 Thực trạng công tác xử lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở nghiên cứu 56
3.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế thông qua ý kiến cán bộ y tế và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân 58
3.3.1 Đánh giá thông qua cán bộ y tế 58
3.3.2 Đánh giá thông qua bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 62
3.3.3 Đánh giá tình trạng môi trường và công tác quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu dựa trên phiếu điều tra và quan sát thực tế 64
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 68
3.4.1 Giải pháp trong hoạt động thu gom, lưu trữ và xử lý CTRYT 68
3.4.2 Giải pháp trong công tác quản lý nhân lực 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHẦN PHỤ LỤC 78
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BVĐKAP Bệnh viện Đa khoa An Phú
2 BVĐKTT Bệnh viện Đa khoa Trung tâm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 1.1: Lượng phát sinh CTRYT trên Thế giới 16
Bảng 1.2: Tổng khối lượng chất thải y tế phát sinh theo từng loại hình cơ sở y tế (Pakistan, Tanzania, Nam Phi) 17
Bảng 1.3: Thống kê giường bệnh kế hoạch toàn tỉnh năm 2014, 2015, 2016 25
Bảng 1.4: Bảng kê cơ sở y tế ngoài công lập đến 31/12/2016 trên địa bàn tỉnh 27
Bảng 1.5: Tổng hợp công tác quản lý, xử lý chất thải của các đơn vị y tế 28
Bảng 3.1: Địa điểm, quy mô của ba cơ sở nghiên cứu tại TP Thái Nguyên 36
Bảng 3.2: Cơ cấu tổ chức của ba cơ sở y tế tư nhân Thái Nguyên 37
Bảng 3.3: Cơ cấu cán bộ, nhân viên của ba cơ sở y tế tư nhân Thái Nguyên 38
Bảng 3.4: Danh sách dụng cụ, nguyên liệu thô, hóa chất sử dụng hàng năm của ba cơ sở nghiên cứu 39
Bảng 3.5: Thống kê nguồn phát sinh chất thải y tế tại ba cơ sở nghiên cứu 40
Bảng 3.6: Bảng thống kê khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở PKĐK HN-TN 41
Bảng 3.7: Bảng thống kê khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKTT 43
Bảng 3.8: Bảng thống kê khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKAP 45
Bảng 3.9: Bảng thống kê tổng hợp khối lượng CTRYT phát sinh mỗi tuần của ba cơ sở nghiên cứu tại TP Thái Nguyên (tổng hợp 3 bảng 3.6, 3.7, 3.8) 47
Bảng 3.10: Thống kê khối lượng CTRYT phát sinh theo thời gian (tháng) và tỉ lệ % giữa các loại chất thải ở ba cơ sở nghiên cứu tại TP Thái Nguyên 48
Bảng 3.11: Phương tiện thu gom CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 51
Bảng 3.12: Phân loại CTRYTNH của ba cơ sở nghiên cứu Thái Nguyên 54
Bảng 3.13: Thu gom và vận chuyển CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 55
Trang 10Bảng 3.14: Cán bộ, nhân viên y tế của ba cơ sở được hướng dẫn về Quy chế
quản lý chất thải y tế do Bộ Y tế quy định 58
Bảng 3.15: Hiểu biết của PKĐK HN-TN về màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 59
Bảng 3.16: Hiểu biết của BVĐKTT về màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 60
Bảng 3.17: Hiểu biết của BVĐKAP về màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế 61
Bảng 3.18: Số lượng nhân viên y tế đã từng bị thương do chất thải y tế 62
Bảng 3.19: Kết quả phỏng vấn bệnh nhân và người nhà 62
Bảng 3.20: Hiểu biết của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về công tác quản lý CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 63
Bảng 3.21: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT của PKĐK HN-TN 65
Bảng 3.22: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT của BVĐKTT 66
Bảng 3.23: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT của BVĐKAP 67
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Một số biểu tượng nguy hại [9] 5
Hình 3.1: Biểu đồ khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở PKĐK HN-TN 42
Hình 3.2: Biểu đồ khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKTT 44
Hình 3.3: Biểu đồ khối lượng CTRYT trong 2 tháng ở BVĐKAP 46
Hình 3.4: Biểu đồ khối lượng CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu 49
Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ (%) CTRYT của ba cơ sở nghiên cứu tại TP Thái Nguyên 50
Hình 3.6: Sơ đồ phân loại và thu gom chất thải rắn tại ba cơ sở y tế Thái Nguyên 53
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chất thải rắn y tế là một vấn đề nan giải trong công tác kiểm soát ô nhiễm, nhiều đánh giá trên Thế giới xếp các cơ sở y tế là đối tượng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp nhưng chất thải rắn y tế lại chứa đựng những chất độc hại, các loại hoá chất
và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn, đặc biệt chứa đựng hàng loạt những vi sinh vật gây bệnh, gây nguy hại cho sức khỏe Những đối tượng có thể chịu ảnh hưởng của chất thải y tế bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người trực tiếp tham gia xử lý, tiêu hủy chất thải, những người dân trong cộng đồng dân cư xung quanh,…
Trong những năm gần đây công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam được tiến hành hiệu quả và triệt để hơn Điều này được thể hiện trong việc tuân thủ quy trình thu gom, xử lí chất thải rắn tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, chỉ tại các bệnh viện lớn của nhà nước và số ít các cơ sở chữa bệnh tư nhân với quy mô lớn, hiện đại tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… mới có phương tiện xử lí hiệu quả Các cơ sở khám chữa tư nhân khác, đặc biệt là các phòng khám tư nhân vừa và nhỏ thì công tác quản lý chất thải rắn y tế đang bộc lộ một số bất cập và còn nhiều yếu kém
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung Du - Miền núi Bắc Bộ, trong lưu vực sông Cầu Được đánh giá là tỉnh trung tâm của khu vực miền núi phía Bắc, tỉnh Thái Nguyên có Đại học Y - Dược đào tạo đội ngũ y, bác sỹ cho các tỉnh lân cận, có Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên là địa chỉ điều trị, chăm sóc sức khỏe của đông đảo bệnh nhân trong và ngoài tỉnh Theo đó, số lượng các trung tâm, cơ sở
y tế khám, chữa bệnh khác cũng hết sức lớn mạnh Tìm hiểu về công tác quản lý chất thải y tế tại một số cơ sở y tế tại thành phố Thái Nguyên cho thấy: Các bệnh viện công lập, với quy mô lớn như Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên, Bệnh viện Lao và bệnh Phổi Thái Nguyên đều
có hệ thống xử lí chất thải y tế đầy đủ và hoạt động khá hiệu quả
Trang 13Cùng với các cơ sở y tế công lập, hệ thống các cơ sở y tế tư nhân ở TP Thái Nguyên cũng hình thành và phát triển nhanh chóng Bước đầu khảo sát tình trạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số cơ sở y tế tư nhân tại khu vực thành phố Thái Nguyên, thấy rằng về cơ bản chất thải rắn y tế đều được quản lý đúng quy trình kỹ thuật Tuy nhiên, chất thải rắn y tế của một số cơ sở y tế tư nhân có lúc đổ chung với rác thải sinh hoạt, phân loại và xử lí chưa đúng quy định Tiến hành phỏng vấn một số đối tượng là nhân viên tại các cơ sở y tế tư nhân, người dân sống xung quanh các cơ sở và thậm chí các bác sỹ trực tiếp điều hành các cơ sở y tế tư nhân, nhận thấy: phần lớn họ không thực sự lo ngại về vấn đề này, họ cho rằng khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh hằng ngày của các cơ sở y tế tư nhân là không đáng kể Một
số ít có quan tâm thì cũng “lực bất tòng tâm” vì không có phương tiện xử lí
Nhằm có cái nhìn cụ thể về công tác quản lý chất thải rắn y tế với đối tượng là
một số cơ sở y tế tư nhân tại thành phố Thái Nguyên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế của một số cơ sở y tế tư nhân tại Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá tổng quan về ba cơ sở y tế tư nhân được lựa chọn nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế tư nhân thông qua số liệu thực tế quản lý, xử lý CTRYT
- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế của ba cơ sở y tế thông qua ý kiến cán bộ y tế và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT của ba cơ
sở nghiên cứu
Trang 143 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
+ Đề tài là tài liệu tham khảo và cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học vào nghiên cứu thực tế + Nâng cao kiến thức, kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm thực tế để phục vụ cho công tác sau này
+ Là tư liệu giúp cho các nhà quản lý về môi trường có những chính sách và công tác quản lý môi trường chặt chẽ hơn
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các khái niệm liên quan về chất thải y tế
* Định nghĩa chất thải y tế
Trong Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế [23]
Chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan,… bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại [3]
Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm sóc và sinh hoạt tại các cơ sở y tế [3]
Chất thải y tế thông thường
Chất thải y tế thông thường là chất thải có chứa thành phần và tính chất tương
tự như chất thải sinh hoạt CTYT thông thường không chứa các chất độc hại, các tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường CTYT thông thường có thể bao gồm các vật liệu, bao gói: giấy, thùng carton; chai nhựa, chai thủy tinh không ô nhiễm, có nguồn gốc phát sinh từ khu vực hành chính, từ các khoa, phòng không cách ly trong cơ sở y tế, Một phần CTYT thông thường có thể tái sử dụng hoặc tái chế và đem lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Thực hiện triệt để đúng quy định trong công tác phân loại CTYT sẽ góp phần giảm tải tác động của CTYT nói chung tới con người và môi trường
Chất thải y tế nguy hại
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
Trang 16CTYT nguy hại là các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế có chứa các thành phần gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và môi trường CTYT nguy hại có một trong các đặc tính sau:
+ Chứa các tác nhân gây bệnh
- Có hai loại rủi ro liên quan trực tiếp đến CTYT nguy hại bao gồm: Nguy cơ gặp phải chấn thương hoặc bị nhiễm trùng Hai đối tượng được xếp vào nhóm có nguy cơ cao là nhân viên y tế và những người trực tiếp tham gia vào quá trình phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế;
- Nguy cơ ảnh hưởng chính đến môi trường là nguy cơ lây nhiễm bệnh tật đối với cộng đồng
Hình 1.1: Một số biểu tượng nguy hại [9]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [23]
Trang 171.1.2 Phân loại chất thải y tế
* Phân định chất thải y tế
a) Chất thải lây nhiễm bao gồm:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác;
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên
- Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
b) Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
- Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
- Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất;
- Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng;
- Chất hàn răng amalgam thải bỏ và chất thải nguy hại khác
c) Chất thải y tế thông thường bao gồm:
- Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người
và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
- Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại
- Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
Trang 18* Phân loại chất thải y tế:
a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng; b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
d) Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
đ) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen;
e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín;
g) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;
h) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng [23]
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh, thành phần và đặc tính của chất thải y tế
* Nguồn gốc phát sinh, thành phần
- Chất thải y tế thông thường là chất thải có chứa thành phần và tính chất tương tự như chất thải sinh hoạt CTYT thông thường không chứa các chất độc hại, các tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường CTYT thông thường có thể bao gồm các vật liệu, bao gói: giấy, thùng carton; chai nhựa, chai thủy tinh không ô nhiễm, có nguồn gốc phát sinh từ khu vực hành chính, từ các khoa, phòng không cách ly trong cơ sở y tế, Một phần CTYT thông thường có thể tái sử dụng hoặc tái chế và đem lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Thực hiện triệt để đúng quy định trong công tác phân loại CTYT sẽ góp phần giảm tải tác động của CTYT nói chung tới con người và môi trường
Trang 19- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
CTYT nguy hại là các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế có chứa các thành phần gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và môi trường CTYT nguy hại có một trong các đặc tính:
+ Chứa các tác nhân gây bệnh
- Có hai loại rủi ro liên quan trực tiếp đến CTYT nguy hại bao gồm: Nguy cơ gặp phải chấn thương hoặc bị nhiễm trùng Hai đối tượng được xếp vào nhóm có nguy cơ cao là nhân viên y tế và những người trực tiếp tham gia vào quá trình phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế;
- Nguy cơ ảnh hưởng chính đến môi trường là nguy cơ lây nhiễm bệnh tật đối với cộng đồng
* Đặc tính của CTYT nguy hại
Tiếp xúc với CTYT nguy hại có thể có nguy cơ bị chấn thương hoặc nhiễm mầm bệnh Đặc tính của CTYT nguy lại có thể bao gồm một hoặc một số tính chất nguy hại sau đây:
Chất thải y tế nguy hại có một số đặc tính như sau:
+ Có khả năng lây nhiễm;
+ Gây độc gen, gây độc tế bào;
+ Có chứa độc chất, hóa chất độc hại;
Trang 20+ Có tính ăn mòn;
+ Có tính phóng xạ (đối với các cơ sở có xạ trị);
+ Sắc nhọn [9]
* Các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng của CTYT nguy hại
Tất cả mọi người khi tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có thể có khả năng bị tác động xấu tới sức khỏe Các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn nhất của CTYT nguy hại bao gồm:
Các đối tượng có nguy cơ ảnh hưởng bởi CTYT nguy hại
- Cán bộ, nhân viên y tế: bác sỹ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý, y công, nhân viên văn phòng, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình
xử lý chất thải,…;
- Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong bệnh viện: nhân viên công ty vệ sinh môi trường; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi,…;
- Đối tượng khác:
+ Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên bệnh viện; người liên quan đến bãi chôn lấp rác và người nhặt rác;
+ Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú;
+ Người nhà bệnh nhân và khách thăm;
+ Cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế;
+ Cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chất thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu của các cơ sở y tế [9]
1.1.4 Ảnh hưởng của CTRYT đến sức khỏe cộng đồng và môi trường
1.1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe
Ngày nay, các bệnh viện được cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe con người CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt là sự cố thương tích do
Trang 21chất thải sắc nhọn Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim tiêm lây nhiễm
* Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn
Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,
* Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm
CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở
* Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm
Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:
+ Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT Thủy ngân có mặt trong một số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ;
Trang 22+ Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong bệnh viện, chúng thường
có tính ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn;
+ Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận;
+ Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận
* Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào
Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da
* Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong bệnh viện, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền [9]
1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường
Chất thải y tế có thể tác động xấu tới tất cả các khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí Mặt khác, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên
Trang 23* Đối với môi trường đất
Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn
* Đối với môi trường không khí
Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, phát sinh trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT
có thể phát tán vào không khí Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt
CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như sau:
+ Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và các chất độc hại;
+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và SO2; + Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc
* Đối với môi trường nước
Tác động của CTYT đối với các nguồn nước có thể so sánh với nước thải sinh hoạt Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế còn có thể chứa Salmonella, Coliform,
Trang 24Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này [9]
1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý chất thải y tế và quản lý chất thải rắn
- Quyết định số: 3079/ QĐ-BYT ngày 21 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ
Y tế về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống làm công tác bảo
hộ lao động trong các sở y tế
- Thông tư số: 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ Y tế hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ
sở khám chữa bệnh
- Quyết định số: 09/2011/QĐ-UBND ngày 18 tháng 02 năm 2011 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên về “Về việc quy định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển,
xử lý chất thải rắn y tế trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên”
- Thông tư số: 18/2009/TT-BYT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Y tế về
“Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”
- Quyết định số: 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về “Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025”
- Chỉ thị số: 21/CT-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên về “Tăng cường quản lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
- Quyết định số: 1788/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020”
Trang 25- Thông tư số: 31/2013/TT-BYT ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng
Bộ Y tế về “Quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của Bệnh viện”
- Luật Bảo vệ môi trường số: 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội số 13
- Nghị định số: 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về
“Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường”
- Nghị định số: 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ về
“Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường”
- Thông tư số: 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về “Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường”
- Thông tư số: 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên về “Quản lý chất thải nguy hại”
- Nghị định số: 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ về
“Quản lý chất thải và phế liệu”
- Chỉ thị số: 05/CT-BYT ngày 06 tháng 7 năm 2015 của Bộ trường Bộ Y tế về
“Việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong Bệnh viện”
- Thông tư liên tịch số: 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm
2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về “Quản
lý chất thải y tế”
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tiêu chuẩn Việt Nam
- TCVN 6706:2000: Chất thải nguy hại - Phân loại
- TCXDVN 320:2004: Bãi chôn lấp chất thải nguy hại - Tiêu chuẩn thiết kế
- TCVN 7380: 2004: Lò đốt chất thải y tế - Yêu cầu kỹ thuật
- TCVN 7381:2004: Lò đốt CTRYT - Phương pháp đánh giá thẩm định
Trang 26- TCXDVN 365:2007: Bệnh viện Đa khoa - Hướng dẫn thiết kế
- TCVN 6707:2009: Chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh báo
- TCVN 6696:2008: Chất thải rắn - Bãi chôn lấp hợp vệ sinh - Yêu cầu chung
về bảo vệ môi trường
- QCVN 02:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế
1.3 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới và Việt Nam
1.3.1 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới
1.3.1.1 Các nghiên cứu về công tác quản lý chất thải rắn y tế của cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới
C Visvanathan (2006), Chương trình quản lý và kỹ thuật môi trường Viện
Công nghệ Châu Á của Thái Lan (Environmental Engineering & Management Program Asian Institute of Technology Thailand) đã nghiên cứu công tác quản lý chất thải y tế (Medical Waste Management Issues in Asia) tại thành phố Khulna của
Bangladesh và đề cập tới Chương trình của Ngân hàng Thế giới (thực hiện bởi Prodipan, tổ chức NGO): nghiên cứu tại 20 bệnh viện tư nhân và các phòng thí nghiệm có liên quan (tại thời điểm đó có 42 bệnh viện) Mỗi tổ chức tham gia đóng góp 1,5 - 9 đô la Mỹ /tháng, tùy thuộc vào khối lượng chất thải y tế phát sinh Có đội ngũ nhân viên thu gom phân loại và vận chuyển chất thải Trong việc thu gom phải phân loại: chất thải lây nhiễm để thiêu hủy (đốt), đồ nhựa được khử trùng và tiêu hủy bằng máy nghiền, còn kim tiêm và các vật sắc nhọn được để trong hộp khóa có nắp [28]
Y Chartier et al., WHO (2012) đã nghiên cứu công tác quản lý an toàn chất
thải từ các hoạt động chăm sóc sức khỏe một cách an toàn (Safe management of wastes from health-care activities) Ông đã thống kê khối lượng chất thải rắn y tế và
các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế
tư nhân [30]
Trang 271.3.1.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân trên Thế giới
Theo báo cáo của Uỷ ban nghiên cứu và bảo vệ môi trường Liên hợp quốc, ngày nay lượng chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất độc hại, chất thải rắn y tế không được xử lí đúng cách là một trong các ổ dịch gây bệnh
nghiêm trọng
Bảng 1.1: Lượng phát sinh CTRYT trên Thế giới
Trang 28Bảng 1.2: Tổng khối lượng chất thải y tế phát sinh theo
từng loại hình cơ sở y tế (Pakistan, Tanzania, Nam Phi)
thông thường
Phát sinh chất thải lây nhiễm
giường/ngày (Khoảng: 1,28 - 3,47) Phòng khám và trạm xá 0,075kg / bệnh
ngày Nhà hộ sinh 4,1 kg / bệnh nhân/
Bệnh viện trung ương quốc
Bệnh viện đại học tỉnh 1,53kg/giường bệnh/ ngày Bệnh viện khu vực 1,05kg/giường bệnh/ ngày Bệnh viện huyện 0,65kg/giường bệnh/ ngày Bệnh viện chuyên khoa 0,17kg/giường bệnh/ ngày Phòng khám công cộng 0,008kg/giường bệnh/ ngày Trung tâm y tế cộng đồng 0,024kg/giường bệnh/ ngày Phòng khám tư phẫu thuật
theo ngày
0,39 kg/ bệnh nhân/ ngày Trung tâm y tế cộng đồng 0,07 kg/ bệnh nhân/ ngày
(Nguồn: WHO - 2014) [30]
Trang 29Pakistan khảo sát bốn bệnh viện và các cơ sở khác ở Karachi; Pescod & Saw (1998) Tanzania khảo sát các cơ sở ở Dar es Salaam; Christen (1996), Nam Phi khảo sát 13 bệnh viện và 39 phòng khám tại Gauteng và KwaZulu - Natal; phòng khám theo yêu cầu; trung tâm y tế cộng cộng có 30 giường và hoạt động 7 ngày/ tuần; DEAT (2006) cho thấy chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân tại các nước Pakistan, Tanzania, Nam Phi đã được thống kê và chiếm khối lượng nhỏ hơn
so với các bệnh viện, cơ sở y tế của Nhà nước Nhưng số lượng các cơ sở y tế tư nhân là khá lớn; Nếu không quản lý tốt thì lượng chất thải sẽ ảnh hưởng khá lớn tới chất lượng môi trường (đất, nước, không khí) tại các quốc gia đó
Tại Bungari:
Chính phủ Bungari đặc biệt quan tâm, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các phòng khám tư nhân thiết kế, xây dựng và vận hành hệ thống xử lý CTRYTNH trong khu vực, và cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYTNH cho các cơ sở y tế và các phòng khám tư nhân không có điều kiện xử
lý Vừa kinh tế vừa tạo cơ hội việc làm cho người dân về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, quản lý CTRYTNH trong tương lai
Việc thực hiện dịch vụ đó của tư nhân và các cơ sở y tế tư nhân sẽ được giám sát bởi các cơ quan Nhà nước Điềunày sẽ đảm bảo rằng các dịch vụ trên có công nghệ tiến tiến nhất, chi phí hợp lý và quản lý tốt Và chính phủ đảm bảo rằng nó vừa đóng một phần quan trọng trong việc huy động đầu tư vừa thân thiện với môi trường và con người Với điều kiện là các phòng khám tư nhân phải thu gom, lưu giữ và vận chuyển phải an toàn trong khu vực
Công tác quản lý CTRYT là rất quan trọng Những chất thải này có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho sức khỏe con người và chất lượng môi trường Trong số tất cả các chất thải tạo ra, công tác quản lý CTRYTNH cần đặc biệt quan tâm [25]
Tại Philippin:
Căn cứ vào kết quả của cuộc điều tra được tiến hành năm 2002 cho biết trong năm 2001 các đơn vị tiến hành thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý CTRYTNH
Trang 30tại chỗ ở Metro Manila phải đăng ký Nếu CTRYTNH được vận chuyển đến các cơ
sở tư nhân có tư cách pháp nhân để xử lý theo ca và hàng ngày thì cần phải hợp đồng với các cơ sở đó
Tại các phòng khám chữa bệnh tư nhân của Metro Manila - thủ đô Phillipin lại hợp đồng với cơ sở xử lý CTRYTNH có tư cách pháp nhân Tháng 7 năm
2003, có hai nhà máy thuộc sở hữu tư nhân cung cấp dịch vụ xử lý CTRYTNH của các bệnh viện và phòng khám chữa bệnh tư nhân ở thủ đô Manila: một lò đốt, một lò vi sóng Các cơ sở tính phí khoảng 40Pesos/kg CTRYTNH bao gồm cả thu gom và xử lý Trong trường hợp đốt tại chỗ thì tro và xỉ được chôn ngay trong khuôn viên cơ sở y tế đó (hay phòng khám chữa bệnh tư nhân) (trong tháng 7 năm
2003, 1$ = 50 peso Philippines) Bên cạnh đó cũng có một vài cơ
sở đốt CTRYTNH phải ngừng hoạt động do áp lực từ chính cộng đồng xung quanh hoặc do nhiều lý do khác chi phối Qua đó, cho thấy Phillipin đã quan tâm đến các phòng khám chữa bệnh tư nhân một cách đúng mức và bị xử phạt hành chính hoặc ngừng hoạt động nếu như ảnh hưởng lớn tới môi trường và sức khỏe con người Đặc biệt là có sự lên tiếng của cộng đồng dân cư đối với cơ sở y tế hoặc phòng khám chữa bệnh (vi phạm quy chế quản lý CTRYTNH) làm ảnh hưởng tới cuộc sống và môi trường hiện tại của họ [1]
1.3.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế của các cơ sở y tế tư nhân tại Việt Nam
1.3.2.1 Các nghiên cứu về công tác quản lý chất thải rắn y tế của cơ sở y tế tư nhân tại Việt Nam
Nguyễn Ngọc Quý (2012), đề tài: “Quản lý chất thải rắn y tế nguy hại tư nhân tại Hà Nội” đã nghiên cứu, đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy
hại tư nhân và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp với thực tế đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội với các nội dung chủ yếu gồm (Nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế nguy hại tư nhân tại Hà Nội; Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tư nhân)
Trang 31Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quý đã được tiến hành trong phạm vi địa bàn hành chính của Thành phố Hà Nội, trong đó tập chung vào các cơ sở y tế tư nhân tại quận Hai Bà Trung và quận Hà Đông [13]
Như vậy, nghiên cứu sẽ làm tài liệu cho các nhà quản lý biết được thực trạng chất thải rắn y tế tại cơ sở nghiên cứu và đưa ra các giải pháp (lựa chọn) tốt trong công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại hiệu quả Ngoài ra, nghiên cứu còn làm tài liệu tham khảo và cơ sở khoa học cho các nghiên cứu liên quan
Năm 2009, trong báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, đề tài: “Nghiên cứu môi trường và điều kiện làm việc của một số cơ sở y tư nhân tại thành phố Hà Nội
và Hải Dương” nghiên cứu về môi trường và điều kiện làm việc của các cơ sở y tư
nhân tại hai thành phố lớn của Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môi trường tại các cơ sở nghiên cứu [40]
Nghiên cứu đã đánh giá được điều kiện làm việc, hoạt động chuyên môn của các phòng khám đa khoa tư nhân tại thủ đô Hà Nội, Hải Dương và đánh giá thực trạng một số yếu tố môi trường phòng khám đa khoa y tư nhân (thông qua việc quan trắc để xác định một số yếu tố môi trường không khí, nước tại phòng khám) Đồng thời tác giả cũng đánh giá được hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế và nước thải ở các phòng khám đa khoa tư nhân và đánh giá điều kiện nhân lực chuyên môn cũng như hiệu quả hoạt động của cơ sở đó
1.3.2.2 Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam
Năm 2013, cả nước có 157 bệnh viện tư nhân (trong đó có 151 bệnh viện trong nước và 06 bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài), hơn 30.000 phòng khám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế (trong đó có 30 phòng khám đa khoa, 87 nhà hộ sinh,
số còn lại là phòng khám chuyên khoa, dịch vụ y tế, 30 phòng khám có vốn đầu tư nước ngoài, 29 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người nước ngoài tham gia khám bệnh, chữa bệnh) Nhiều bệnh viện quy mô lớn từ 400 - 500 giường bệnh, được đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng cao [1], [25], [4], [11]
Trang 32Các tỉnh có bệnh viện tư nhân tập trung nhiều là Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Nghệ An và Đà Nẵng, trung bình có 79 giường, 6 khoa/bệnh viện và 100% bệnh viện có khoa cấp cứu, khoa cận lâm sàng và khoa dược, [28]
Nhìn chung, khu vực y tế tư nhân góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến tỉnh
và trung ương Nhờ việc xây dựng, phát triển cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân nên bước đầu đã hình thành môi trường cạnh tranh giữa bệnh viện công và bệnh viện tư, góp phần thúc đẩy phát triển chuyên môn, kỹ thuật, nâng cao thái độ phục vụ đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh đã dạng của người dân [4]
Các cơ sở y tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong điều trị ngoại trú (chiếm 60% số lượt khám, chữa bệnh ngoại trú), đã tiến hành cấp cứu, khám chữa bệnh cho trên 3 triệu lượt người, phẫu thuật, thủ thuật trên 100 nghìn lượt người, góp phần giảm tải đáng kể cho các cơ sở y tế công lập, chất lượng phục vụ tốt hơn so với hệ thống y tế công, người dân có điều kiện được lựa chọn dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu [1], [25], [4], [11]
Bên cạnh đó, các phòng khám chữa bệnh tư nhân cũng có những mặt tồn tại về nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị Bộ Y Tế đã cho phép các bác sỹ trong khu vực y tế Nhà nước được phép hoạt động ngoài giờ, đào tạo, cấp phép cho nhân viên của hệ thống bệnh viện tư nhân và phòng khám chữa bệnh tư nhân Đặc biệt, các phòng khám và bệnh viện tư nhân đã đóng góp tích cực vào việc giải quyết một phần tình trạng quá tải, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [28]
Thực trạng công tác quản lý CTRYT tại các phòng khám và bệnh viện tư nhân trong cả nước đáng báo động:
- Phân loại CTRYT chưa đúng quy định, phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, việc xử lý, tiêu huỷ chất thải gặp nhiều khó khăn, nguồn kinh phí đầu tư xây dựng, vận hành hệ thống xử lý CTRYTNH hạn hẹp là những bất cập trong quản lý CTRYT ở nhiều phòng khám tư nhân hiện nay
- Công tác quản lý CTRYT tại các phòng khám tư nhân còn yếu kém và mắc nhiều sai phạm theo quy định của Nhà nước
Trang 33Tại tỉnh Hoà Bình:
Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường - Công an tỉnh Hòa Bình đã kiểm tra đột xuất một số bệnh viện và phòng khám đa khoa tư nhân trên địa bàn Ngoài kiểm tra thực tế tại nơi thu gom, xử lý chất thải, lực lượng cảnh sát môi trường kiểm tra hồ sơ pháp nhân, hồ sơ liên quan trong công tác bảo vệ môi trường
Đa số các điểm thu gom, xử lý rác thải, CTRYT của các phòng khám chữa bệnh tư nhân chưa phân loại theo từng loại rác, chưa có kho chứa và chưa bố trí đủ thùng rác Về vệ sinh phòng khám chữa bệnh tư nhân cũng làm chưa tốt, về cảm quan có mùi khó chịu, rác còn vương vãi nhiều chỗ Toàn bộ CTRSH, CTRYTNH đều được thu gom và hợp đồng với tổ dịch vụ vệ sinh môi trường vận chuyển, xử lý Khó khăn lớn nhất của các phòng khám tư nhân đang gặp phải là chưa có hệ thống
xử lý nước thải và lò đốt xử lý CTRYTNH phát sinh Sau hợp đồng vận chuyển với
tổ dịch vụ vệ sinh môi trường, chất thải, CTRYT được xử lý ra sao, cơ sở y tế không biết và hoàn toàn không quan tâm
Nhiều phòng khám đa khoa tư nhân cũng chưa chấp hành nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường Thời điểm kiểm tra tại phòng khám đa khoa Nhân Đức ở tổ 17, phường Đồng Tiến (TP Hoà Bình) của phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường tỉnh Hòa Bình phát hiện CTRYT phát sinh trong quá trình hoạt động như bông, gạc, các mẫu xét nghiệm,… để lẫn lộn với rác thải sinh hoạt, chưa phân loại theo quy định Vấn đề xử lý CTR, CTRYTNH, phòng khám hợp đồng với đơn vị bệnh viện đa khoa tỉnh thu gom, xử lý
Tại thời điểm lực lượng cảnh sát Môi trường đến kiểm tra các phòng khám đa khoa chưa xuất trình được một số thủ tục hồ sơ như hồ sơ pháp nhân, hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường, hồ sơ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại; hồ sơ khai thác tài nguyên nước ngầm và giấy phép xả nước thải; hồ sơ liên quan đến việc
sử dụng máy X quang và chưa có kết quả quan trắc giám sát môi trường,…
Trang 34Những thiết sót, tồn tại trong bảo vệ môi trường ở các phòng khám tư nhân phụ thuộc cả yếu tố chủ quan và khách quan Về chủ quan các phòng khám hoàn toàn có thể tự khắc phục được như phân loại CTRYT đúng quy định trước khi vận chuyển, xử lý; tăng cường vệ sinh môi trường tạo cảnh quan trong lành Nếu không được xử lý triệt để, chúng sẽ là mầm bệnh đặc biệt nguy hại đến sức khỏe con người
và môi trường xung quanh [35]
Tại TP Hồ Chí Minh:
TP Hồ Chí Minh có 750 cơ sở y tế bao gồm bệnh viện, phòng khám tư nhân Tuy nhiên, cơ quan chức năng chỉ mới kiểm soát, xử lý chất thải khu vực y tế nhà nước, còn chất thải rắn y tế của phòng khám tư nhân xử lý như rác thải sinh hoạt, gây nguy hại cho môi trường
Một số phòng khám đa khoa tư nhân do 22 công ty TNHH một thành viên dịch vụ công ích của các quận, huyện tổ chức thu gom nhưng vẫn chưa triệt để Hiện nay, có khoảng 10% rác thải rắn y tế của các phòng khám tư nhân để chung vào rác thải sinh hoạt
Theo dự báo của Sở Tài nguyên Môi trường thành phố, với khoảng 15.000 cơ
sở y tế tư nhân, cửa hàng kinh doanh dược phẩm, số lượng nguồn phát sinh chất thải rắn y tế của thành phố sẽ tăng nhanh, dự kiến lên đến 40 tấn/ngày vào năm 2019
Mặt khác, TP Hồ Chí Minh đã xây dựng dự thảo "Quy hoạch hệ thống quản lý chất thải TP Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" nhằm phân loại chất
thải để có hướng xử lý phù hợp [39]
Theo Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị TP Hồ Chí Minh, hiện chỉ có các bệnh viện là có chuyển giao rác thải y tế cho công ty xử lý Riêng rác thải y tế của các phòng khám đa khoa tư nhân, và các phòng khám nha khoa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện tại đều đổ chung vào CTRSH Đây là vấn đề chưa thể thống kê, kiểm soát được Do vậy, nếu không quản lý tốt nguồn thải nguy hại này sẽ để lại hậu quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng [27]
Trang 35Tại Hà Nội:
Hà Nội có 23 bệnh viện tư nhân với số lượng các cơ sở y tế tư nhân khác rất lớn Hà Nội định hướng phát triển và mở rộng mạng lưới các bệnh viện tư nhân trên địa bàn cả về số lượng bệnh viện, số giường bệnh Đặc biệt, phát triển loại hình bệnh viện 100% vốn nước ngoài để tăng đầu tư vào lĩnh vực kỹ thuật hiện đại [32]
Ưu tiên phát triển bệnh viện tư nhân, phòng khám chữa tư nhân và các dịch vụ
y tế tư nhân sử dụng công nghệ y học cao, hiệu quả khám chữa bệnh lớn, ít gây ô nhiễm môi trường; Khuyến khích thành lập các bệnh viện tư nhân và các phòng khám tư nhân mới; Hướng các nhà đầu tư vào khu vực thành phố, có chủ trương phát triển các dịch vụ y tế khám, chữa bệnh như các khu đô thị mới
Hiện nay, tại Hà Nội có 18 bệnh viện ngoài công lập đã được cấp đất, trong đó
04 bệnh viện đã triển khai xây dựng và đi vào hoạt động; Rà soát 14 dự án bệnh viện còn lại, chỉ đạo tiếp tục xây dựng hoặc thu hồi đất dành cho các hạng mục y tế khác có tính khả thi cao hơn [36]
Trong thực tế, chỉ một số các bệnh viện tư nhân có quy mô lớn như các bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài là có hệ thống xử lí và phương tiện xử lí chất thải rắn y tế Phần lớn các phòng khám đa khoa tư nhân và các cơ sở y tế nhỏ khác đều đổ chung CTRYTNH vào CTRSH Đây là vấn đề chưa thể thống
kê, kiểm soát được
Thái Nguyên
Theo thống kê của Sở Y tế (2015), tính đến ngày 31/3/2017 có 650 cơ sở khám chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động, trong đó cơ sở ngoài công lập: 442 (04 bệnh viện đa khoa, 11 phòng khám đa khoa, 280 phòng khám chuyên khoa và
cơ sở dịch vụ y tế, 117 phòng chuẩn trị y học cổ truyền)
Trên toàn tỉnh có 1.179 cơ sở kinh doanh thuốc được cấp Giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh thuốc: 18, Nhà thuốc: 228, Quầy thuốc: 675 Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp: 53, Tủ thuốc trạm y tế: 139, Cơ sở bán lẻ thuốc y học
cổ truyền: 06 [17]
Trang 36Bảng 1.3: Thống kê giường bệnh kế hoạch toàn tỉnh năm 2014, 2015, 2016
kế hoạch
2014
Giường
kế hoạch
2015
Giường
kế hoạch
2016
Giường thực kê
4 Bệnh viện 91 Quân đội (có phục
vụ khám chữa bệnh cho nhân dân) 140 140 140 320
(Nguồn: Thống kê của Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên năm 2017) [19]
Trang 37Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên ưu tiên quỹ đất và miễn giảm tiền thuê đất, tiền thuế cho các dự án y tế như bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân và bệnh viện tiêu chuẩn quốc tế; Có chính sách thu hút, khuyến khích các tổ chức, tập thể cá nhân đầu
tư, liên doanh, liên kết với các đơn vị y tế thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu để nâng cao chất lượng phục vụ và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế chất lương cao đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong tình hình mới Như vậy, tỉnh Thái Nguyên có các chính sách khuyến khích các tổ chức kinh tế và người dân đầu tư phát triển bệnh viện ngoài công lập, tạo điều kiện ưu đãi để phát triển hình thức này, tập trung ở khu đông dân cư như thành phố, các khu công nghiệp,… Dự kiến đến năm 2020 tỉnh Thái Nguyên sẽ có 05 bệnh viện tư nhân đưa tổng số giường bệnh tư nhân lên 500 giường [32]
Theo số liệu thống kê về tình hình quản lý chất thải y tế của tỉnh Thái Nguyên khối lượng CTRYT phát sinh từ các cơ sở y tế trong toàn tỉnh Thái Nguyên là: tổng khối lượng CTR khoảng 7.605 kg/ngày trong đó trên 1.218kg/ngày chất thải y tế nguy hại
Theo quy hoạch của ngành y tế tỉnh, đến năm 2025 số giường bệnh ở Thái Nguyên sẽ tăng đến 5.700 Với hệ số phát thải CTRYT là 1,2 kg/giường bệnh/ngày (trong đó có 20% CTRYTNH) thì vào năm 2020 tổng lượng CTRYTNH ở Thái Nguyên sẽ đến 2.496 tấn (500 tấn CTRYTNH) Khối lượng CTRYT vào năm 2020
có thể lên đến 6,84 tấn/ngày (2.496 tấn) tăng 6,9 lần so với năm 2007 [31]
Đối với các bệnh viện tư nhân, phòng khám tư nhân các số liệu, tài liệu thống
kê còn ít Quỹ đất phòng khám tư nhân thấp, kinh phí hạn chế nên việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn y tế vẫn còn là thách thức lớn, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe người dân
Hiện tại, CTRYT của một số bệnh viện tư nhân và phòng khám tư nhân được chôn lấp lẫn với CTRSH của đô thị tại Bãi rác Đá Mài, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên
Trang 38Bảng 1.4: Bảng kê cơ sở y tế ngoài công lập đến 31/12/2016 trên địa bàn tỉnh
S TT
Lao động thường xuyên thời điểm 31/12/201
6 (người)
Quốc tế Thái Nguyên
Số 328, đường Lương Ngọc Quyến, phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
189
phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
61
3 Bệnh viện Đa khoa Việt Bắc 1 Ngõ 310, đường Lương Ngọc Quyến, tổ 4,
phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
57
4 Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Số 501 - 503, đường Lương Ngọc Quyến,
phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
86
phòng khám Đa khoa Minh
Đức (Ông Trần Minh Tuấn)
Số 336, đường Lương Ngọc Quyến, phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
21
Định Hóa
Số 19A, phố Hợp Thành, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
22
7 Phòng khám Đa khoa Việt
Bắc (Ông Nguyễn Huy
Thắng)
Số 440/1, đường Cách mạng tháng tám, phường Trung Thành, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
26
Nội - Thái Nguyên (Ông
Hoàng Lê Dương)
Nhà CL 20-01, khu đô thị hồ Xương Rồng,
tổ 24, phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Số 133, tổ 10, phường Thắng Lợi, TP Sông
Đạt (Ông Trần Đình Tuyên) Số 410, đường Lương Ngọc Quyến, tổ 4, phường Đồng Quang, TP Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên
15
Vân (Ông Đỗ Văn Ngữ)
Tổ 4, thị trấn Hương Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
14
Hồng (Ông Nguyễn Huy
Trang 39Bảng 1.5: Tổng hợp công tác quản lý, xử lý chất thải của các đơn vị y tế
1 Bệnh viện A Thuê công ty
URENCO 10 Hoạt động bình thường
2 Bệnh viện C Thuê công ty
URENCO 10 Xuống cấp, đang sửa chữa
3 Bệnh viện Gang thép Thuê công ty
Anh Đăng Hoạt; động bình thường
chức năng Thuê công ty URENCO 10 Khử khuẩn tại nguồn
7 Bệnh viện Tâm Thần Thuê công ty
URENCO 10 Hoạt động bình thường
17 Bệnh viện Đa khoa
Định Hóa Thuê công ty URENCO 10 Hoạt động bình thường
phục hồi chức năng Thuê công ty URENCO 10 Khử khuẩn tại nguồn
21 Bệnh viện Quốc tế Thuê công ty
URENCO 10 Hoạt động bình thường
22 Bệnh viện Đa khoa
Trung tâm Thuê công ty Anh Đăng Hoạt động bình thường
23 Bệnh viện An Phú Thuê công ty
URENCO 10
Hoạt động bình thường
24 Bệnh viện Việt Bắc 1 Thuê công ty
URENCO 10 Hoạt động bình thường
(Nguồn: Sở Y tế Thái Nguyên - 2017) [20]
Trang 40Số lượng phòng khám tư nhân trên địa bàn thành phố khá lớn như vậy nhưng công tác xử lí chất thải y tế tại các phòng khám này lại đa phần chưa tuân thủ các quy trình quản lý và xử lí chất thải rắn y tế, đặc biệt là các CTRYTNH Hầu hết cơ
sở y tế tư nhân đều không có phương tiện và kĩ thuật xử lí chất thải y tế riêng Điều tra tại một số cơ sở khám bệnh và hiệu thuốc vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố, chúng tôi thấy bác sỹ và nhân viên đều chưa tuân thủ đúng công tác xử lí chất thải rắn y tế, chất thải rắn y tế còn tình trạng đổ chung vào rác thải sinh hoạt
Do quy mô hoạt động nhỏ nên họ nghĩ rằng số lượng rác thải y tế phát sinh hàng ngày là không đáng kể,…
1.5 Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải rắn y tế
1.5.1 Mô hình xử lý CTR y tế
Các mô hình xử lý, tiêu hủy CTRYTNH bao gồm:
- Mô hình 1: Trung tâm xử lý và tiêu hủy CTYT nguy hại tập trung
- Mô hình 2: Cơ sở xử lý và tiêu hủy CTYT nguy hại cho cụm cơ sở y tế
- Mô hình 3: Xử lý và tiêu hủy CTR y tế nguy hại tại chỗ [8]
1.5.2 Các phương pháp xử lý CTRYT
a Thiêu đốt
Là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao trong các lò đốt chuyên dụng có nhiệt
độ từ 8000C, 12000C hoặc lớn hơn để đốt CTRYT Phương pháp đốt có ưu điểm là
xử lý được đa số các loại CTRYT, làm giảm tối đa về mặt thể tích của chất thải Tuy vậy, nhược điểm của phương pháp đốt là nếu chế độ vận hành không chuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làm phát sinh các chất độc hại như Dioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; chi phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường cao [9]
b Khử trùng bằng hơi nóng ẩm (lò hấp)
Là phương pháp tạo ra môi trường hơi nước nóng ở áp suất cao để khử trùng dụng cụ và CTYT Các loại CTNH có thể xử lý được: CTNH không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu [9]