Trong nhân giống có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm, loại thuốc, nồng độ, giá thể,….Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ B
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU VĂN LONG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG BIMIX SUPER ROOTS ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH
CÂY HOM MẪU ĐƠN ĐỎ (IXORA COCCINEA)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHU VĂN LONG
Tên đề tài:
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG BIMIX SUPER ROOTS ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH
CÂY HOM MẪU ĐƠN ĐỎ (IXORA COCCINEA)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 - 2018 GVHD : PGS.TS Lê Sỹ Trung
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu là kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, chưa công bố
trên các tài liệu khác, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
PGS TS Lê Sỹ Trung Chu Văn Long
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 4Cuối cùng tôi xin chân thành bày tỏ sự biết ơn tới Gia đình, bạn bè và người thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập Trong quá trình thực hiện khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn sinh viên để giúp tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực tập
Chu Văn Long
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời gian
thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên 23
Bảng 3.1: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA 29
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm 30
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN 31
Bảng 4.3: Các chỉ tiêu ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN 39
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Ảnh cây Mẫu đơn đỏ [20] 20
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom ảnh hưởng của nồng độ
thuốc Bimix super roots 25
Hình 3.2: Thu thập số liệu 27
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Mẫu đơn ở các công thức thí nghiệm 30
Hình 4.2a: Ảnh ra rễ của hom cây hom Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm 32
Hình 4.2b: Biểu đồ biểu thị tỷ lệ ra rễ của hom cây Mẫu đơn
ở các công thức thí nghiệm 33
Hình 4.2c Biểu đồ biểu thị số rễ trung bình/ hom cây Mẫu đơn đỏ
ở các công thức thí nghiệm 34
Hình 4.2 d Biểu đồ biểu thị chiều dài rễ trung bình/hom cây
Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm 35
Hình 4.2e Biểu đồ biểu thị chỉ số ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ
ở các công thức thí nghiệm 36
Hình 4.3a: Ảnh ra chồi của hom cây hom Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm 38
Hình 4.3b Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN 39
Hình 4.3c Biểu đồ biểu diễn số chồi TB/hom cây Mẫu đơn đỏ
ở các công thức thí nghiệm 41
Hình 4.3 d: Biểu đồ về chiều dài chồi TB/ hom cây Mẫu đơn đỏ
ở các công thức thí nghiệm 41
Hình 4.3e: Biểu đồ biểu diễn chỉ số ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở
các công thức thí nghiệm 42
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của giâm hom 3
2.1.1 Cơ sở tế bào học 3
2.1.2 Cơ sở di truyền học 4
2.1.3 Sự hình thành rễ bất định 5
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom 6
2.2 Những nghiên cứu trên Thế giới 15
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 17
2.4 Một số thông tin về cây Mẫu đơn đỏ 20
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 22
2.5.1 Vị trí địa lý địa hình 22
2.5.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 22
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 24
3.4.1 Công tác chuẩn bị giâm hom 26
3.4.2 Thu thập và xử lý số liệu 27
Trang 9PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 30
4.1 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng
Bimix super roots đến tỷ lệ sống của hom cây Mẫu đơn đỏ 30
4.2 Kết quả về chỉ tiêu ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các công thức thí nghiệm 31
4.2.1 Chỉ tiêu về tỷ lệ ra rễ: 32
4.2.2 Chỉ tiêu về số rễ trung bình trên hom 34
4.2.4 Chỉ tiêu về chỉ số ra rễ của hom cây Mẫu đơn đỏ 36
4.3 Kết quả về chỉ tiêu ra chồi của hom cây Mẫu đơn đỏ ở các CTTN 38
4.3.1 Tỷ lệ ra chồi của cây hom Mẫu đơn đỏ 39
4.3.3 Chiều dài chồi trung bình/hom của hom cây Mẫu đơn đỏ 41
4.3.4 Chỉ số ra chồi của cây hom Mẫu đơn đỏ 42
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 10PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề
Mẫu đơn đỏ tên khoa học là Ixora coccinea, thuộc họ Thiến thảo
(Rubiaceae) Hoa có các màu đỏ, trắng, vàng
Hoa mẫu đơn tuyệt đẹp, dáng hoa như bông hồng, hoa bông to, cánh dập dờn lượn sóng rất duyên dáng, hương thơm nồng nàn quyến rũ Hoa mẫu đơn nhiều màu sắc nở quanh năm và cực sai hoa
Tại Việt Nam hiện có rất nhiều loại Mẫu đơn đẹp, có nhiều ưu điểm và giàu ý nghĩa trong văn hóa của người Việt cũng như công dụng trong việc trang trí cảnh quan, làm đẹp môi trường, ra hoa quanh năm, thích hợp mọi thời tiết khí hậu
Cây được trồng làm cây thuốc hoặc làm cảnh Rễ đơn đỏ được nhân dân dùng làm thuốc lợi tiểu, dùng trong trường hợp đái đục Ngoài ra, còn dùng chữa cảm sốt, đau nhức và chữa lỵ Hoa cũng được dùng để chữa lỵ Dùng làm thuốc thì cây hoa trắng hoặc vàng hay đỏ, có tác dụng ngang nhau (Đỗ Tất Lợi, 1981) [5]
Hoa mẫu đơn từ lâu đã được tôn vinh là Nữ hoàng của các loài hoa Bởi vậy, dưới chế độ phong kiến Trung Quốc, hoa mẫu đơn chỉ được trồng trong vườn thượng uyển, dân thường không được phép trồng Hoa mẫu đơn khoe sắc tô điểm cho chốn cung đình hoa lệ và thường được ví với các bậc mỹ nhân, ái phi của vua chúa Hoa mẫu đơn là loài hoa tượng trưng cho sự sang trọng, quý phái, niềm vinh hạnh Thời xưa, hoa mẫu đơn được trồng trong vườn thượng uyển
Chính vì ý nghĩa đó, ngày nay tranh hoa mẫu đơn được nhiều gia đình treo trong nhà với mong muốn có được cuộc sống giàu sang, quyền quý Không chỉ tượng trưng cho cuộc sống phú quý, trong quan niệm phong thủy hoa mẫu đơn còn tượng trưng cho sự chung thủy, hạnh phúc trong tình
Trang 11yêu Tuy nhiên, khi treo tranh hoa mẫu đơn cần lưu ý những điểm dưới đây để mang lại hiệu quả tốt nhất cho gia đình và bản thân
Hiện nay, cây mẫu đơn được nhiều người lựa chọn để trồng, nguồn giống có thể tạo ra từ hạt hoặc nhân giống vô tính Để đáp ứng được nguồn giống, giâm hom là một trong những biện pháp nhân giống nhanh Trong nhân giống có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm, loại
thuốc, nồng độ, giá thể,….Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ Bimix super roots đến sự hình thành cây hom Mẫu đơn đỏ (Ixora coccinea) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần tạo giống cây con Mẫu đơn đỏ cung cấp cho trồng cây phong cảnh, cải thiện môi trường sống, dược liệu
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ thuốc kích thích ra rễ thích hợp nhất cho nhân giống cây Mẫu đơn đỏ bằng phương pháp giâm hom
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
- Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
- Nắm được phương pháp nghiên cứu
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom
- Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Mẫu đơn đỏ bằng
phương pháp giâm hom
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của giâm hom
Giâm hom là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành giâm hom, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội Hợp tử phát triển thành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh,
nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng
2.1.1 Cơ sở tế bào học
Theo viện sĩ Maximop, mỗi bộ phận của cây, ngay đến mỗi tế bào, đều có tính độc lập về mặt sinh lí rất cao Chúng có khả năng khôi phục lại các cơ quan, bộ phận không đầy đủ và trở thành một cá thể mới hoàn chỉnh Trong cơ thể thực vật, nước và các chất khoáng hoà tan được vận chuyển từ
rễ lên lá theo mạch gỗ, còn các sản phẩm hữu cơ sản xuất ở lá được chuyển xuống gốc (rễ, củ, …) theo mạch rây Khi ta cắt đứt con đường vận chuyển theo mạch rây, các sản phẩm hữu cơ sẽ tập trung ở các tế bào vỏ của phần bị cắt Các chất hữu cơ này cùng với chất điều hoà sinh trưởng Axin nội sinh (được tổng hợp ở ngọn cây chuyển xuống) sẽ kích thích sự hoạt động của tượng tầng và hình thành mô sẹo, rồi sau đó hình thành rễ từ mô sẹo ở chỗ bị cắt, khi gặp điều kiện thuận lợi Quá trình hình thành rễ bất định này có thể chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tái phân chia tượng tầng
- Giai đoạn 2: Xuất hiện mầm rễ
Trang 13- Giai đoạn 3: Sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ đâm qua vỏ ra ngoài Năm 1902 Nhà sinh lý thực vật người đức Haberladt, đã tiến hành nuôi cấy mô tế bào thực vật dể chứng minh tế bào là toàn năng Tế bào có tính toàn năng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan như rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác trong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh
Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây làm giống cũng như loại tế bào đã phân hóa của cây
2.1.2 Cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan Đặc trưng của hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một
tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào con Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau
và giống tế bào ban đầu Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh Đây là một quá trình đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ
Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi vượt) Các loại cành giâm thường gặp là cành non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ Tùy thuộc vào các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn cành có khả năng ra rễ cao nhất (Phạm Văn Tuấn, 1992)[11]
Trang 14Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi cây
mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới dạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay lập tức đâm
ra khỏi vỏ Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết ra rễ một cách dễ dàng Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thành trong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống
Có hai loại rễ bất định gồm: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị phá hủy, bị tổn thương và các tế bào dẫn chuyền đã chết của mô gỗ được mở ra, dẫn đến dòng nhựa được dẫn từ phần
lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Giai đoạn 2: Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia
và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Giai đoạn 3: Các tế bào vùng tượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu
hình thành rễ
Trang 15Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau Thông thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom Nhưng ở nhiều loài cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ Mức độ hóa
gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều (Hoàng Minh Tấn, 2014) [7]
Rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát sát vào lõi trong tâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bên ngoài Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khác nhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đối với các loài khó ra rễ
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ cao
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi
ba yếu tố chính là: Khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ Cơ bản thuộc 2 nhóm nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân tố nội sinh
- Nhân tố ngoại sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ, từng
cá thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều hòa sinh trưởng
- Nhân tố nội sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và các nhân tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhân tố ngoại sinh
Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá thể giâm hom
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non
Trang 16Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ
của hom giâm
- Thời vụ giâm hom:
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom Một số loài có thể giâm hom quanh năm song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterow (1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài cây, trong khi đó có một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra rễ cao hơn
ở mùa xuân
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông Vì vậy thời gian giâm hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành
Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom
tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất
- Ánh sáng:
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của cây vì đó là nhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình ra rễ của hom giâm và nhất là ánh sáng tán xạ Ánh sáng có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe và ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu cơ ra khỏi lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơn trong tối Nhưng trong hom giâm không có lá thì quá trình quang hợp không diễn ra do
đó không thể có hoạt động ra rễ, trừ một số loại cây đặc biệt có thể ra rễ trong
Trang 17bóng tối Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tối hoàn toàn Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao làm cho quá trình ra rễ giảm Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóng thích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau (Đoàn Thị Mai, 2005) [6] Trên thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng hợp: Ánh sáng - nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng lẻ
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau
Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá trình vận chuyển chất Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển và hình thành nên rễ của hom Các loài cây nhiệt đới thường có yêu cầu cao hơn các loài cây ôn đới Đối với cây nhiệt đới:
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt nhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10 0°C cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°C cây sẽ bị phá hủy
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm cho quá tŕnh thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo; nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm Ở nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá
Trang 18cao tăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 - 33°C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 - 30°C Nhiệt độ trên 35°C làm tăng
tỷ lệ héo của cành giâm hom Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể là 2 - 3°C
Cũng như nhân tố ánh sáng, để có khả năng ra rễ cao cần có đầy đủ các
điều kiện thích hợp như sau:
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, theo mức độ hóa gỗ của hom Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làm tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá Vào từng thời điểm mà mức độ phun khác nhau: Trong mùa nóng thời gian phun sương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh
Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần lựa chon vật liệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được
độ ẩm thích hợp
Giá thể và môi trường giâm hom:
Giá thể cũng góp phần quan trọng vào thành công của giâm hom, giá thể không phải là nơi cung cấp chất dinh dưỡng mà phần dinh dưỡng đó từ
Trang 19ngay trong chính bản thân cành được giâm hom vì thế nó chỉ cần đáp ứng yêu cầu về nhiệt đô, độ ẩm, ánh sáng thích hợp rất nhiều giá thể được sử dụng trong giâm hom hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, điều kiện, thời
vụ, khí hậu và loài cây mà thành phần giá thể có thể là khác nhau Các giá thể thường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho cây vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với nhau
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh
- Giá thể cắm hom:
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã xử lí chất kích thích ra rễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất trong vườn ươm Một giá thể cắm hom tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tọa điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị
nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH thích hợp
* Nhân tố nội sinh:
- Đặc điểm di truyền của loài: Các nghiên cứu cho thấy không phải tất
cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau Nanda (1970) đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài cây thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài Các loài này không cần sử lý bằng chất kích thích ra rễ mà vẫn ra rễ với tỉ lệ rất cao, gồm các loài thuộc các chi
Ficus sp
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài Loại này hầu như không ra rễ hoặc là phải sử dụng chất kích thích ra rễ nhưng tỉ lệ ra rễ rất thấp thuộc các chi
Manlus sp,Prunus sp,… thuộc họ Rosaceae và một số chi khác
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài Tuy vậy sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối
Trang 20Vì thế theo khả năng giâm hom thì chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành là nhiều loài cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae): dâu tằm, đa, sung Một số loài thuộc họ Liễu, một số loài nông nghiệp như sắn, mía, khoai lang…Đối với loài cây này thì khi giâm hom không cần xử lý bằng thuốc chúng vẫn ra rễ bình thường
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom bị hạn chế
bởi các mức độ khác nhau: Tuổi cây mẹ, chất kích thích, yếu tố ngoại cảnh
- Đặc điểm di truyền và xuất xứ, từng cá thể: Do đặc điểm biến dị
mà các xuất xứ và cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau Ngay
cả những loài cây có cùng xuất xứ, cùng dòng, nhưng các cá thể khác nhau
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ Thông thường thì cành nửa hóa gỗ có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn
Như vậy cành non và cành nửa hóa gỗ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất
- Tuổi cây mẹ lấy cành hom và thời gian lấy hom: Khả năng ra rễ do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc vào tuổi cây mẹ lấy cành Hom lấy
từ cây chưa sinh sản bằng hạt dễ nhân giống bằng hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt Hom lấy từ cây tuổi còn non dễ ra rễ hơn cây tuổi già Cây còn non không những ra rễ tốt hơn mà còn ra rễ nhanh hơn
Sự tồn tại của lá trên hom: Lá là cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang phổ tạo ra chất cần thiết cho cây Vì thế khi chuẩn bị hom giâm phải có 1 - 2
lá và phải cắt bớt một phần phiến lá chỉ để lại 1/3 - 1/2 diện tích lá là tốt nhất
Trang 21- Kích thước hom:
Đường kính và chiều dài hom ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm
Tùy từng loài cây kích thước hom có thể khác nhau
- Các chất điều hòa sinh trưởng: Các chất điều hòa sinh trưởng chia
theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhóm tác dụng là nhóm kích thích sinh trưởng
và nhóm kìm hãm sinh trưởng Một số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom
Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá trình hình thành rễ nhiều loài cây
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a Naphthalene acetic acid), IAA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid), IPA (Indol-3yl-Acetonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin, Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất có khả năng kìm hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid), Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các
phenol, retedant…
* Các nhân tố kích thích:
- Loại thuốc: Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Một số loại chất kích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…
Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp Auxin tự nhiên là IAA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA (acid ß - indol axetic) Các Auxin tổng hợp như: ɑ-NAA (acid ɑ - Naphtylaxetic), 2,4D (acid 2.4 Dichlorophenoxyaxetic), 2.4.5T (Acid 2,4,5 Trichlorophenoxyaxetic), IBA (acid ß-indolbutyric), 2M4C (Acid 2metyl-4 Chlorophenoxyaxetic)… Trong sự
Trang 22hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng Auxin
là hoocmon hình thành rễ (Lê Đình Khả, 1998) [3]
- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh
hưởng khác nhau đến khả năng ra rễ của hom giâm Tùy từng loài cây mà hom của chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định Nếu nồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào
để hình thành rễ, nếu nồng độ quá cao sẽ ức chế quá trình hình thành rễ làm cho hom thối không ra nữa Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khi điều kiện nhiệt độ quá cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn
và ngược lại khi nhiệt độ môi trường thấp thì cần xử lý lâu hơn Nếu hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng độ thấp và hom hơi già (hom gần hóa
gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn
- Thời gian xử lý thuốc: Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng
thời gian xử lý khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau Khi thực hiện thí nghiệm cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối liên quan nhất định Với thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý ngắn
và thuốc kích thích sử dụng với nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài hơn
- Phương pháp xử lý hom
Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc bấm vào
gốc hom
Nhận xét: Như vậy, để hình thành thành một bộ rễ mới phải trải qua
quá trình rất phức tạp, tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội sinh, ngoại sinh, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng (auxin) …
Quá trình hình thành rễ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cần phức hệ nhất định các điều kiện và hoàn cảnh, có thế nói nếu đúng
Trang 23thời vụ giâm hom, tuổi cây mẹ cho hom, chiều dài hom, chọn thuốc xử lý và nồng độ thích hợp, kết hợp các yếu tố kĩ thuật chăm sóc tốt … thì hom giâm
có tỉ lệ sống và ra rễ rất cao Chính vì vậy, nắm chắc cơ sở khoa học của việc nhân giống bằng hom giâm thì đạt tỉ lệ thành công cao
2.1.5 Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản khi giâm hom
Vật liệu giâm hom rất nhạy cảm với sự mất nước và dễ bị nhiễm bệnh Hom phải ở độ hóa gỗ thích hợp cho từng loại cây và được bảo quản cẩn thận
Khi giâm hom cần: Không cắt hom quá già hoặc quá non, hom cắt không được để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời mà phải được bảo quản ở nơi giâm mát Vật liệu giâm hom không nên lấy quá xa nơi giâm hom và không nên cất giữ quá 1 ngày, khi vận chuyển hom tránh gây tổn thương hom và giữ ẩm cho hom bằng vải ẩm Hom phải được ngắt bỏ hết hoa, nụ hoa, chồi phụ ra lá, đối với cây lá kim, hom phải có đủ búp ngọn, hom giâm không ngắn quá 5cm, song không dài quá 10cm (Trung tâm giống cây rừng,1998)[9]
Khi cắt hom phải sử dụng dao cắt thật sắc để hom khi cắt không bị dập nát, xây xước Phải sử dụng thuốc chống nấm bệnh trước khi sử dụng thuốc kích thích ra rễ nên hom Phải để lại một số lá nhất định ở phía trên của hom giâm và cắt bớt phiến lá, song phải cắt hết phần lá dưới phần giâm dưới đất (Trung tâm giống cây rừng,1998)[9]
Giâm hom phải đặt trong lều nilong, để giữ ẩm và nhiệt, trên lều phải
có mái che tránh ánh nắng trực tiếp, giảm bớt cường độ sang và điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp Giá thể giâm hom phải thoát hơi nước tốt, được xử lý bằng thuốc chống bệnh và thường xuyên tưới phun mù giữ ẩm cho giá thể đồng thời cũng tạo độ ẩm không khí cho hom giâm
Vậy để giâm hom thành công cho bất cứ loại cây nào đều phải kết hợp một cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kĩ thuật cần thiết từ khâu chăm soc cây mẹ lấy cành hom và giâm hom cũng như tạo điều kiện cần thiết để
Trang 24hom dễ ra rễ.Sau khi hom ra rễ phải biết huấn luyện cây hom để chúng thích nghi được với điều kiện trong vườn ươm.
2.2 Những nghiên cứu trên Thế giới
Sản xuất hoa trên thế giới hiện nay, đang phát triển một cách mạnh
mẽ và trở thành một ngành thương mại với giá trị sản lượng cao Sản xuất hoa mang lại chuỗi giá trị rất lớn cho nền kinh tế của các nước trồng hoa cây cảnh Cùng chung xu hướng phát triển của thế giới, sản xuất hoa ở các nước châu Á cũng đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ hoa Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên Theo Sudhagar và Phil năm 2013, trên thế giới có hơn 145 quốc gia tham gia vào việc trồng hoa và diện tích các loại cây hoa đang gia tăng đều đặn Năm 2013 có khoảng 305.105 ha diện tích sản xuất hoa ở các nước trên thế giới, trong đó tổng diện tích ở châu Âu là 44.444 ha, Bắc Mỹ 22.388 ha, Châu Á và Thái Bình Dương 215.386 ha, Trung Đông và Châu Phi 2.282 ha, Trung Phi và Nam Phi 17.605 ha Ấn Độ có diện tích lớn nhất với 88.600 ha, theo sau là Trung Quốc với 59.527 ha, Indonesia: 34.000 ha, Nhật Bản 21.218 ha, Hoa Kỳ 16.400 ha, Brazil 10.285 ha, Đài Loan 9.661 ha, Hà Lan 8.017 ha, Ý 7.654 ha, Vương quốc Anh 6.804 ha, Đức 6.621 ha và
Colombia 4.757 ha Hoa trồng trong nhà kính trên thế giới là 46.008 ha
(Sudhagar S M C., and M Phil, 2013) [18]
Theo Barbara và cs (2014), giá trị xuất khẩu hoa trên thế giới tăng trung bình hàng năm 9% trong giai đoạn 2001 đến 2012 từ 7,1 tỷ đô la Mỹ năm 2001 lên 17,8 tỷ đô la Mỹ năm 2012 Trong đó hoa cắt cành tăng từ 47 % năm 2001 lên 49 % năm 2012 về tổng giá trị xuất khẩu hoa trên thế giới (Barbara E., F Amoding, A Krishnan, 2014) [16]
Sản xuất hoa thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng suất và chất lượng, giảm chi phí lao động, giảm giá thành sản phẩm Mục tiêu sản xuất
Trang 25hoa hướng tới là giống chất lượng cao và giá thành thấp Châu Âu và Bắc Mỹ
là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất thế giới Sản phẩm hoa đã trở thành loại hàng hoá có khối lượng lớn trong mậu dịch quốc tế nhưng do sự chênh lệch
về trình độ khoa học kỹ thuật, sự khác biệt về điều kiện môi trường sinh thái nên ở mỗi nước có tốc độ phát triển công nghệ trồng hoa khác nhau Trong mười năm qua, 5 nước xuất khẩu hoa đứng hàng đầu thế giới là Hà Lan,
Colombia, Kenya, Ecuador và Ethiopia (Rikken, 2011)[17]
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử dụng trên 100 năm nay Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường xanh bằng hom Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới bắt đầu chương trình nhân giống Bạch đàn Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m3/ha/năm (Phạm Văn Tuấn, 1997)[10]
Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuật tạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng
vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m3/ha/năm lên 15 m3/ha/năm trên đất xấu Năng suất trồng rừng bạch đàn 30 m3/ha/năm ở Zimbabuê, 30 m3/ha/năm
ở Công gô, ở Brazin 50 m3/ha/năm đặc biệt có nơi năng suất đạt từ 75 - 100
m3/năm/ha [10]
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là ACFTSC), trong những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất hom được tiến hành ở các nước Đông Nam á
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada[13] đã có những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với hệ thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi
Trang 26nhánh vườn ươm trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các lại cây
họ dầu, với 1ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi có thế sản xuất được 200.000 cây hom, đủ trồng cho 455 đến 500 ha rừng
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các lại cây họ Sao dầu bắt đầu từ những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia, ở trường đại học Tổng hợp Pertanian, trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã có những báo cáo các công trình
có giá trị về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên tỉ lệ ra rễ của cây họ dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi phương tiện nhân giống như: các biện pháp vệ sinh tốt, che bóng hiệu quả hơn, phun sương mù, kĩ thuật trẻ hóa cây mẹ… thì tỉ rễ được cải thiện( vd: Hopea odorta có tỉ lệ ra rễ là 86%, Shorea Leprosula 71% )[12]
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang được đưa vào sử dụng ngày một nhiều và đóng vai trò không thể thiếu được trong công tác chọn giống, bảo tồn tài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng
Lần đầu tiên vào năm 1976, những thực nghiệm về nhân giống hom với một số loài Thông và Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây
có sợi tại Phù Ninh - Phú Thọ Đây là những nghiên cứu rất sơ khai, song đã
mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm sau này ở Việt Nam
Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành tại Viện Lâm Nghiệp (nay là Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam), đối tượng nghiên cứu ở đây là các cây lâm nghiệp như Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn Ngọc Tân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường và xử lí các chất kích thích ra rễ đến tỉ lệ sống và
ra rễ của hom giâm[14]
Trang 27Trong những năm 1990 trở lại đây,công nghệ sản xuất cây giống bằng
mô hom phục vụ trồng rừng được Nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Từ những kết quả ban đầu của những khu rừng trồng bạch đàn, keo lai bằng mô hom cho thấy chất lượng rừng trồng đã được cải thiện, năng suất rừng tăng lên đáng kể, từ đó cây trồng rừng bằng mô hom đã dần dần thay thế cây trồng rừng bằng hạt ở nhiều nơi trong cả nước
Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là một việc thiết thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho công tác trồng rừng
Trong kĩ thuật giâm cành trên thế giới người ta sử dụng nhiều nền giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, khí hậu từng vùng, từng quốc gia, thời vụ giâm, giống đem giâm và loại cành
Những nền giâm hay còn gọi là giá thể hiện nay được sử dụng nhiều như: cát thô, than bùn, sơ dừa, đất, các chất vô cơ như Vanli calete (hợp chất chưa Mica), peclite (đá chân trâu), dung nhan phun thạch núi lửa… Nếu chỉ giâm cho hom ra rễ mới chuyển hom giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt vào vườn ươm
Những nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của giá thể đến hom giâm Ví dụ: Ảnh hưởng của giá thế đến khả năng ra rễ của hom xoan với các loại giá thể như: Cát sông, 50%+50% đất tầng mầu, 20% cát + 50% đất + 30% than chấu, 70% đất+ 30% hỗn hợp ruột bầu và 100% đất bầu thì khả năng ra rễ lần lượt là 39.26%, 52.59%, 52.59%, 57.04%, 39.26%[18]
Như vậy cùng một loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thế khác nhau thì khả năng ra rễ của hom giâm là khác nhau
Các chất điều hòa sinh trưởng cũng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm.Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất và Auxin được chia làm hai nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp
Trang 28Auxin tự nhiên được biết đến như Axit Indol Axete(IAA)
Các loại Auxin tổng hợp như: Axit Indol Butylic (IBA), Axit Indol propionicv (IPA) và Axit napthalen axetic (NAA), các chất được dùng chủ yếu hiện nay là thích ứng với một loại chất kích thích, nồng độ kích thích, thời gian sử lí thuốc và phương pháp sử lí hom cũng khác nhau
Loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự hình thành rễ của hom Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lí bằng IAA,IBA, NAA nồng độ 50ppm trong 3 giờ thì có tỉ lệ ra rễ lần lượt là 74,1%, 93,8%, 53,3% [4]
Cùng một loại thuốc kích thích nhưng ở các loại nồng độ khác nhau thì khả năng ra rễ của hom cũng khác nhau, nồng độ xử lí quá thấp không
có tác dụng phân hóa tế bào để hình thành rễ, nồng độ quá cao sẽ làm cho hom bị thối rữa trước khi ra rễ Ví dụ:Hom cây xoan xử lý bằng IBA ở các nồng độ khác nhau 0,25% 0,5% 0,75% 1,0% 1,25% 1,5% có tỉ lệ ra rễ khác nhau lần lượt là: 37.78%, 39.26%, 57.78%, 30.37%, 22.22%, 18,52%[18]
Về thời gian xử lí thuốc thì cùng một loại thuốc, nồng độ nhưng thời gian xử lí thuốc là khác nhau thì cho các kết quả khác nhau Ví dụ: Hom
Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100ppm với thời gian 3; 5; 8; 16 giờ thì có tỉ
rễ của hom cây rừng
Trong đề tài nghiên cứu của Hoàng Minh Thư: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành hom cây Gáo” Với các chiều dài hom cây Gáo 5cm, 6cm, 7cm thì tỉ lệ hom ra rễ tương ứng lần lượt là 20% 25,6% 26,7% Như vậy kích thước của hom ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom cây Gáo[8]
Trang 29Theo đề tài Nghiên cứu của Nguyễn Đình Dự: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành hom cây Sao Đen” Với các loại hom của cây Sao Đen như Hom gốc, Hom giữa và Hom ngọn thì tỉ lệ ra rễ của các loại hom lần lượt là 15,6% 21,1% 23,3% Vậy loại hom cũng ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom cây Sao Đen[2]
Nghiên cứu chọn và nhân giống Quế có năng xuất tinh dầu cao, Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi cây lấy hom càng trẻ thì tỷ lệ ra
rễ càng cao, hom lấy từ cây quế 1 năm tuổi thì tỉ lệ ra rễ đến 98,6%, nhưng hom lấy từ cây 13 năm tuổi thí nghiệm trong công thức thuốc và thời vụ tốt nhất cũng chỉ có tỉ lệ ra rễ được 15,5%, hom của cây 15 tuổi chỉ ra rễ được 4,3%[19]
2.4 Một số thông tin về cây Mẫu đơn đỏ
Mẫu đơn đỏ tên khoa học là Ixora coccinea, thuộc họ Thiến thảo
(Rubiaceae)
Đặc điểm sinh thái: Cây mẫu đơn đỏ là loài cây ưa ánh sáng, không ưa bóng râm, rất sợ tối và úng nước Có thể trồng cây trên nền đất màu mỡ, thoát nước tốt và đặc biệt lưu ý “cây không thích hợp với loại đất mặn”
Hình 2.1: Ảnh cây Mẫu đơn đỏ [20]