1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sử dụng một số loài động vật hai mảnh vỏ để giám sát ô nhiễm kim loại nặng tại khu vực cửa sông kôn và đầm thị nại, tỉnh bình định

65 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng sử dụng một số loài động vật hai mảnh vỏ để giám sát ô nhiễm kim loại nặng tại khu vực cửa sông kôn và đầm thị nại, tỉnh bình định
Tác giả Hoàng Thanh Hải
Người hướng dẫn TS. Võ Văn Minh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 3,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG HOÀNG THANH HẢI NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT HAI MẢNH VỎ ĐỂ GIÁM SÁT Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TẠI KHU VỰC CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

HOÀNG THANH HẢI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT HAI MẢNH VỎ ĐỂ GIÁM SÁT

Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TẠI KHU VỰC

CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH THÁI HỌC

Đà Nẵng – Năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

HOÀNG THANH HẢI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT HAI MẢNH VỎ ĐỂ GIÁM SÁT

Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TẠI KHU VỰC

CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60.42.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS VÕ VĂN MINH

Đà Nẵng – Năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Người thực hiện

Hoàng Thanh Hải

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

4 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 GIÁM SÁT Ô NHIỄM BẰNG SINH VẬT CHỈ THỊ: CÁCH TIẾP CẬN VÀ Ý NGHĨA 4

1.1.1 Khái niệm về giám sát ô nhiễm bằng sinh vật chỉ thị 4

1.1.2 Cách tiếp cận sử dụng sinh vật chỉ thị để giám sát ô nhiễm 5

1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sinh vật chỉ thị để giám sát ô nhiễm 6

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT HAI MẢNH VỎ ĐỂ GIÁM SÁT Ô NHIỄM KLN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Việt Nam 10

1.3 TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 11

1.3.2 Đặc điểm kinh tế xã - hội 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 17

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 20

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 21

Trang 5

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 22

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23

3.1 XÁC ĐỊNH LOÀI HAI MẢNH VỎ LÀM CHỈ THỊ GIÁM SÁT Ô NHIỄM Ở KHU VỰC CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH 23

3.2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM KLN TRONG TRẦM TÍCH Ở KHU VỰC CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH 26

3.2.1 Hàm lượng thủy ngân (Hg) 27

3.2.2 Hàm lượng Cadimi (Cd) 28

3.2.3 Hàm lượng Chì (Pb) 29

3.2.4 Hàm lượng Crôm (Cr) 30

3.3 ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG KLN TRONG MÔ CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT HAI MẢNH VỎ Ở KHU VỰC CỬA SÔNG KÔN VÀ ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH 30

3.3.1 Hàm lượng thủy ngân (Hg) 32

3.3.2 Hàm lượng Cadimi (Cd) 33

3.3.3 Hàm lượng Chì (Pb) 34

3.3.4 Hàm lượng Crôm (Cr) 35

3.4 HỆ SỐ TÍCH LŨY KLN TRẦM TÍCH – SINH VẬT Ở LOÀI NGAO DẦU (MERETRIX MERETRIX) VÀ HẦU (SACCOSTREA SP.) 36

3.5 TƯƠNG QUAN GIỮA HÀM LƯỢNG KLN TRONG LOÀI NGAO DẦU (MERETRIX MERETRIX) VÀ HÀU (SACCOSTREA SP.) VÀ TRONG TRẦM TÍCH 38

3.5.1.Tương quan giữa hàm lượng Hg trong loài Ngao dầu (Meretrix meretrix) và loài Hàu (Saccostrea sp.) và trầm tích 38

3.5.2 Tương quan giữa hàm lượng Cd trong loài Ngao dầu (Meretrix meretrix) và loài Hàu (Saccostrea sp.) và trầm tích 40

Trang 6

3.5.3 Tương quan giữa hàm lượng Pb trong loài Ngao dầu (Meretrix meretrix) và loài Hàu (Saccostrea sp ) và trầm tích 42 3.5.4 Tương quan giữa hàm lượng Cr trong loài Ngao dầu (Meretrix meretrix) và loài Hàu (Saccostrea sp ) và trầm tích 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Anova : Analysis of Variance (Phân tích phương sai)

BSAF : Biota Sediment Accumulation Factor (Hệ số tích lũy trầm tích -

MECs : Measured environmental concentrations (Giá trị nồng độ)

PNECs : Predicted no effect concentrations (Giá trị ngưỡng)

RQ : Hệ số rủi ro

Trang 8

3.3 Hàm lượng KLN tích lũy trong loài Ngao dầu (Meretrix

meretrix) và loài Hàu (Saccostrea sp.) 31

3.4 Kết quả tính toán hệ số tích lũy KLN trầm tích sinh vật ở

loài Meretrix meretrix và Saccostrea sp 37

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

2.2 Lấy mẫu trầm tích bằng gàu SKU – 196 – B12 tại khu

3.7 Hàm lượng Hg tích lũy trong loài Ngao dầu (Meretrix

meretrix) và loài Hàu (Saccostrea sp.) 32

3.8 Hàm lượng Cd tích lũy trong loài Ngao dầu (Meretrix

meretrix) và Hàu (Saccostrea sp.) 33

3.9 Hàm lượng Pb tích lũy trong loài Ngao dầu (Meretrix

meretrix) và Hàu (Saccostrea sp.) 34

3.10 Hàm lượng Cr tích lũy trong loài Ngao dầu (Meretrix

meretrix) và Hàu (Saccostrea sp.) 35

3.11 Tương quan giữa hàm lượng Hg trong trầm tích và loài

3.12 Tương quan giữa hàm lượng Hg trong trầm tích và loài

Trang 10

3.13 Tương quan giữa hàm lượng Cd trong trầm tích và loài

3.14 Tương quan giữa hàm lượng Cd trong trầm tích và loài

3.15 Tương quan giữa hàm lượng Pb trong trầm tích và loài

3.16 Tương quan giữa hàm lượng Pb trong trầm tích và loài

3.17 Tương quan giữa hàm lượng Cr trong trầm tích và loài

3.18 Tương quan giữa hàm lượng Cr trong trầm tích và loài

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kim loại nặng (KLN) được định nghĩa là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5 g/cm3 (Passow và cs., 1961), ngoại trừ As là một á kim nhưng được xếp vào nhóm KLN do cơ chế ảnh hưởng đến sinh vật gần giống KLN [20] Một số KLN là những nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể sinh vật như Cu, Mn, Fe và Zn nhưng có thể gây độc cho sinh vật khi vượt quá nhu cầu của cơ thể, một số KLN khác có độc tính cao như Hg, As, Cd, Pb, có thể gây độc cho sinh vật ở hàm lượng rất thấp [2], [33], [39] Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa gia tăng, vấn đề ô nhiễm KLN và sức khỏe con người ngày càng được quan tâm bởi vì chúng có khả năng tích tụ, rất khó phân hủy,

có thể gây ngộ độc trực tiếp hay gián tiếp thông qua chuỗi thức ăn, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người và đời sống sinh vật [18] Vì vậy, việc giám sát KLN trong môi trường có một vai trò quan trọng để có thể đưa ra giải pháp quản lý, xử lý phù hợp

Ngoài phương pháp truyền thống lý hóa đã được sử dụng rộng rãi để giám sát KLN thì gần đây, sử dụng sinh vật chỉ thị để giám sát sinh học KLN

đã được nhiều nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu đặc biệt ở các loài hai mảnh vỏ Các sinh vật chỉ thị hai mảnh vỏ sẽ cho thấy được cái nhìn toàn diện về các tác động của ô nhiễm đến hệ sinh thái qua thời gian, phản ánh được tình trạng ô nhiễm môi trường (Rainbow và cs., 2001), xác định sự có mặt của KLN ngay khi chúng ở dạng vết, đồng thời với tần suất thu mẫu thấp dẫn đến chi phí thực hiện sẽ thấp hơn so với phương pháp khác [6], [18]

Ở Việt Nam và khu vực miền Trung cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng động vật hai mảnh vỏ để giám sát ô nhiễm KLN như các nghiên cứu của Đào Việt Hà (2002), Đặng Thúy Bình (2006), Lê Thị Mùi, Lê

Trang 12

Thị Vinh (2005), Nguyễn Văn Khánh… Những nghiên cứu này bước đầu đã cho những kết quả tích cực của việc giám sát ô nhiễm KLN ở khu vực cửa sông ven biển [3], [4] Với mục đích đánh giá ô nhiễm KLN và tạo cơ sở dữ liệu về động vật hai mảnh vỏ có khả năng giám sát KLN, góp phần phát triển phương pháp chỉ thị sinh học tại Việt Nam và miền Trung, việc thực hiện đề

tài “Nghiên cứu khả năng sử dụng một số loài động vật hai mảnh vỏ để

giám sát ô nhiễm KLN tại khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” là rất cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần hướng đến sử dụng động vật hai mảnh để giám sát ô nhiễm KLN ở khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại tỉnh Bình Định nói riêng và Việt Nam nói chung

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được hiện trạng ô nhiễm một số KLN tại khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại dựa trên đặc điểm trầm tích và động vật hai mảnh vỏ

- Xây dựng được cơ sở dữ liệu về động vật hai mảnh vỏ giám sát KLN

3 Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu góp phần đánh giá hiện trạng tích lũy KLN trong trầm tích

và một số loài động vật hai mảnh vỏ, đồng thời đánh giá khả năng giám sát ô nhiễm KLN vùng cửa sông Kôn, đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định Đây là nguồn

tài liệu tham khảo tin cậy cho các nhà quản lý

Trang 13

4 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tài liệu

Khái quát về chỉ thị sinh học và nghiên cứu sử dụng động vật hai mảnh

vỏ chỉ thị kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam, khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nêu lên đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm động vật hai mảnh vỏ

và các KLN Hg, Cd, Pb và Cr, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Các phương pháp chính để giải quyết mục tiêu của đề tài

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Phân tích, đánh giá hàm lượng KLN trong trầm tích và trong loài Ngao dầu và Hàu tại khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định Phân tích mối quan hệ giữa sự tích lũy KLN trong trầm tích và trong loài Ngao dầu

và Hàu để xác định loài có khả năng sử dụng làm sinh vật chỉ thị KLN

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 GIÁM SÁT Ô NHIỄM BẰNG SINH VẬT CHỈ THỊ: CÁCH TIẾP CẬN VÀ Ý NGHĨA

1.1.1 Khái niệm về giám sát ô nhiễm bằng sinh vật chỉ thị

Từ lâu, nhiều nhà khoa học đã quan tâm đến việc sử dụng sinh vật để giám sát ô nhiễm môi trường Nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này được nghiên cứu, nhưng nhìn chung đều dựa vào khả năng đáp ứng của sinh vật dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường để phản ánh chất lượng môi trường sống của chúng

Theo Rosenberg và Resh (1993) giám sát sinh học (Biomonitoring) là

sử dụng một cách có phương pháp các đáp ứng sinh học để đánh giá các biến đổi môi trường [15]

Theo Radecki và Radecka (1995), Namiesnik và Wardencki (2000) đó

là một quá trình mà cơ thể thực vật, động vật hoặc một phần của chúng được

sử dụng để cung cấp thông tin liên tục, phân tích thông tin qua thời gian [17]

Theo Markert và cs thì giám sát sinh học là phương pháp quan sát

sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đến hệ sinh thái và sự thay đổi của chúng theo thời gian hay việc xác định sự khác biệt giữa các khu vực khác nhau [32]

Còn theo Van Der Oost và cs (2003), giám sát sinh học là việc sử dụng thường xuyên có hệ thống sinh vật sống để đánh giá những thay đổi trong môi trường hoặc chất lượng nước trong điều kiện phòng thí nghiệm hay ngoài hiện trường bằng cách đánh giá tích lũy sinh học (bioaccumulation), ảnh hưởng sinh học, sức khỏe sinh học (khi xuất hiện bệnh) hay tình trạng của hệ sinh thái [17]

Trang 15

1.1.2 Cách tiếp cận sử dụng sinh vật chỉ thị để giám sát ô nhiễm

Tất cả cơ thể sống đều chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện vật lý và hóa học trong môi trường xung quanh Trên cơ sở những hiểu biết về tác động của các yếu tố vật lý, hóa học lên những cơ thể sống để có thể xác định không chỉ

sự có mặt mà còn các mức của nhiều chất trong môi trường Những sinh vật

bị các chất ô nhiễm hoặc các chất tự nhiên có mặt nhiều trong môi trường tác động và thông qua các biểu hiện của chúng sẽ chỉ thị cho bản chất và mức độ gây ô nhiễm [6] Những thay đổi này có thể được nhận diện qua một số biểu hiện như:

- Những thay đổi về thành phần loài hoặc các nhóm ưu thế trong quần

xã sinh vật

- Những thay đổi về đa dạng loài trong quần xã

- Tỉ lệ chết trong quần thể gia tăng, đặc biệt ở giai đoạn non mẫn cảm như trứng và ấu trùng

- Thay đổi sinh lý và tập tính trong các cá thể

- Những khiếm khuyết về hình thái và tế bào trong các cá thể

- Sự tích lũy dần các chất gây ô nhiễm hoặc sự trao đổi chất của trong các mô của những cá thể

Những sinh vật sử dụng để giám sát chất lượng môi trường được gọi là những sinh vật chỉ thị Sinh vật chỉ thị là sinh vật chứa đựng những thông tin phản ánh chất lượng của môi trường (hoặc 1 phần của môi trường) (Zhou và cs., 2008) [22] Sinh vật chỉ thị có thể được chia thành hai nhóm: nhóm các loài cảm ứng (nhạy cảm) và nhóm các loài có khả năng chống chịu với chất ô nhiễm (sinh vật tích tụ) [6]

Sinh vật cảm ứng là những sinh vật chỉ thị có thể tiếp tục hiện diện trong môi trường ô nhiễm, thích ứng, phù hợp với tính chất của sinh vật chỉ thị song

có thể biến đổi ít nhiều do tác động của chất ô nhiễm; còn sinh vật tích tụ là

Trang 16

sinh vật chỉ thị không chỉ có tính chất chất chỉ thị cho môi trường thích ứng

mà có khả năng tích lũy cao các chất ô nhiễm nào đó trong cơ thể chúng với hàm lượng cao hơn nhiều lần so với môi trường bên ngoài Bằng phương pháp phân tích hóa sinh hữu cơ mô cơ thể của chúng để phát hiện, đánh giá các chất ô nhiễm dễ dàng hơn so với phương pháp phân tích thủy hóa [6]

Không phải tất cả sinh vật đều có khả năng làm chỉ thị mà chỉ có một

số ít các loài sinh vật có khả năng đáp ứng các tiêu chí của sinh vật chỉ thị Việc lựa chọn các sinh vật chỉ thị cần phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí khác nhau, theo Phillips và Rainbow (1994), Connell và cs (1999) đó là [17]:

- Dễ định loại

- Tích lũy chất ô nhiễm mà không gây chết

- Ít vận động để đại diện cho khu vực giám sát

- Phong phú tại khu vực nghiên cứu

- Có giá trị kinh tế

- Có đời sống đủ dài để theo dõi

- Dễ dàng lấy mẫu, khỏe để có thể sống trong điều kiện thí nghiệm và cung cấp đủ lượng mô cho các phân tích

- Tồn tại mối tương quan đơn giản giữa chất ô nhiễm trong sinh vật chỉ thị và trong môi trường

1.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng sinh vật chỉ thị để giám sát ô nhiễm

Nghiên cứu về các tác động là nguyên nhân phát triển các phương pháp giám sát sinh học để quan trắc chất lượng môi trường mà đôi khi có thể thay

thế các phương pháp hóa học đắt tiền Phương pháp giám sát sinh học có thể

tạo ra những ưu việt đáng kể so với phương pháp hóa học Quan trắc hóa học không cho phép chúng ta đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm đến cá thể, quần thể, quần xã sinh vật, chỉ phản ánh được chất lượng môi trường tại thời điểm

Trang 17

lấy mẫu, tần suất thu mẫu cao có thể gây tốn kém hơn so với phương pháp sinh học [6], [17]

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp sử dụng sinh vật chỉ thị đó là không cho biết chính xác nhân tố và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Sự phản ứng của sinh vật đối với chất ô nhiễm phụ thuộc nhiều vào các nhân tố sinh thái chứ không chỉ phụ thuộc vào nồng độ và chủng loại của chất ô nhiễm, vì vậy mối quan hệ giữa sự tích lũy chất ô nhiễm và hàm lượng có trong môi trường cần được đánh giá để xem xét và lựa chọn những đối tượng phù hợp để có thể trở thành 1 công cụ chỉ thị hiệu quả (Perera, 2004) [37]

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT HAI MẢNH

VỎ ĐỂ GIÁM SÁT Ô NHIỄM KLN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.2.1 Trên thế giới

Việc sử dụng đối tượng hai mảnh vỏ để giám sát ô nhiễm KLN được nghiên cứu và ứng dụng tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển thuộc Châu Âu, Bắc Mỹ… Nó thể hiện ưu điểm rất lớn trong việc đánh giá diễn biến của chất ô nhiễm và sự di chuyển của chất ô nhiễm trong lưới thức ăn tại các khu vực cửa sông, ven biển (A R Melwani, 2011) [34]

Những nghiên cứu đầu tiên về giám sát KLN sử dụng loài hai mảnh vỏ đều được thực hiện chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển và đạt nhiều thành tựu đáng kể Tại Mỹ, kết quả nghiên cứu của Graham (1972), Wyland (1975) và Girvin và cs (1975) [21] tại vịnh San Francisco và Young và cs (1976) [34] tại biển nam Carlifornia đã cung cấp thêm những dẫn liệu hết sức có ý nghĩa

về khả năng chỉ thị sinh học của các loài động vật hai mảnh vỏ đối với các nguyên tố phóng xạ, kim loại nặng và các chất hữu cơ có gốc Cl Tại vùng biển Bergen (Na Uy) từ năm 1996 – 2003, loài Vẹm xanh được nghiên cứu về khả năng tích lũy Hg, Pb, Zn, hay tại Hà Lan từ 1985 – 2005 loài Vẹm xanh cũng được sử dụng để thực hiện chương trình nghiên cứu giám sát ô nhiễm

Trang 18

As, Cd, Cr, Pb, Hg… Vào những năm 80 của thế kỉ XX xuất hiện nhiều hơn các nghiên cứu về sự tích lũy KLN ở loài hai mảnh vỏ ở vùng nước ngọt và

đã cho thấy, các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có thể sử dụng để quan trắc ô nhiễm KLN ở vùng nước ngọt Tại Pháp có nghiên cứu về khả năng tích lũy

Cd và Zn của hai loài Hến nước ngọt (Corbicula fluminea) và loài Trai vằn (Dreissena polymorpha) cho thấy, loài Trai vằn có khả năng tích lũy Cd và

Zn cao hơn so với Hến, một so sánh khác về khả năng tích lũy Se ở hai loài

Hến nước ngọt (Corbicula fluminea) và loài Trai Trung Hoa (Potamococorbula amunensis) được thực hiện bởi Lee và cs cho thấy ở loài

Trai Trung Hoa có khả năng tích lũy Se cao hơn loài Hến nước ngọt [16], [18], [24] Từ kết quả của những nghiên cứu này, một tiêu chuẩn Quốc tế về lấy mẫu hai mảnh vỏ, bao gồm lấy mẫu theo chiều sâu; theo mùa và kích thước của loài hai mảnh vỏ (Mussel Watch, 1980; Claisse 1989), đây cũng là

cơ sở để xây dựng chương trình giám sát có tên là “Mussel Watch” được thực hiện ở 300 địa điểm trên toàn nước Mỹ Đến nay, “Mussel Watch” đã được áp dụng tại nhiều khu vực như: Trung Nam Mỹ, Mexico, vùng biển Caribbean, sau đó được tiếp tục mở rộng ra toàn khu vực ven biển Nam Mỹ, Trung Mỹ

và châu Á - Thái Bình Dương [34]

Các loài hai mảnh vỏ được nghiên cứu và sử dụng nhiều để giám sát KLN bởi vì chúng không chỉ đáp ứng được các tiêu chí của sinh vật chỉ thị,

mà còn có nhiều ưu điểm hơn các loài khác, đó chính là khả năng tích lũy cao các KLN trong các bộ phận cơ thể, ít nhất là xấp xỉ hàm lượng trong môi trường mà không có biểu hiện gây hại cho chúng (Simkiss và Taylor 1981) như ở loài Trai có khả năng tích lũy Cd cao gấp 100.000 lần môi trường chúng sống Đồng thời loài hai mảnh vỏ là một cấu thành quan trọng của hệ sinh vật đáy, có đời sống tĩnh, phân bố rộng, việc lấy mẫu tương đối dễ dàng Các KLN tích lũy trong bộ phận cơ thể được hấp thụ từ môi trường bùn đáy,

Trang 19

nước và thức ăn (Wang, 2002), nên chúng có thể phản ánh được mức độ và sự tác động của ô nhiễm KLN đến môi trường và hệ sinh thái [23], [38]

Nhiều động vật hai mảnh vỏ được sử dụng nghiên cứu khả năng tích lũy nhiều KLN khác nhau, từ đó đưa ra các dẫn liệu quan trọng về việc lựa chọn loài nào có khả năng giám sát tốt đối với KLN nào Những nghiên cứu này cho thấy, ở các loài hai mảnh vỏ khác nhau có khả năng tích lũy KLN

khác nhau (Phillip, 1977) như loài Hầu dẹt (Ostrea edulis) có khả năng tích lũy Cu cao hơn so với loài Vẹm xanh (Mytilus edulis) (Martincic và cs.,

1984) Hầu hết các loài hai mảnh vỏ đều có khả năng tích lũy KLN, tuy nhiên chúng chỉ có thể tích lũy cao đối với một hay một số KLN nhất định, ở các

loài Hàu như là Hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), Hàu Mỹ (Crassostrea virginica) có khả năng tích lũy As cao hơn các loài khác, hay ở loài Vẹm xanh (Mytilus edulis) khả năng tích lũy Hg và Cd khá cao

(Julshamn và Grahl, 1996) [18], [23] Nghiên cứu của Mihajlo Jovic (2011) [27] thực hiện tại Vịnh Boka Kotorska, Montenegro cũng chứng tỏ rằng loài

Mytilus galloprovincialis có khả năng chỉ thị các kim loại nặng Cr, Mn, Co,

Ni, Cu, Cd, Pb, V, Hg, Sn

Ngoài những nghiên cứu về khả năng tích lũy KLN thì nghiên cứu ảnh hưởng đến khả năng tích lũy KLN của các nhân tố vô sinh cũng là một vấn đề được quan tâm, là một trong những cơ sở để lựa chọn loài chỉ thị phù hợp và giải thích cơ chế, nguyên nhân của sự phân bố, khả năng tích lũy KLN khác nhau giữa các loài hai mảnh vỏ khác nhau Các nhân tố được quan tâm nhiều

là nhiệt độ, pH, độ mặn, giới tính, kích thước, khối lượng… (Phillip, 1977; Cossa, 1980; Okumus và Stirling, 1998; Shindo và Otsuki, 1999) Theo nghiên cứu của Perera (2004) [37], nhiệt độ và độ mặn là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng tích lũy của các loại động vật hai mảnh vỏ Nước biển ấm sẽ kích thích quá trình hấp thụ Cd và Cu ở các loài động vật hai mảnh vỏ (Abbe,

Trang 20

Riedel và cs.; 2000)[37] Nghiên cứu của Jackim, Morrison và cs (1997) [37]

cho biết nhiệt độ đóng vai trò rất quan trọng trong hấp thụ Cd của loài Mytilus edulis Zaroogian (1980) đã quan sát được mối tương quan thuận giữa hàm

lượng Cd, nhiệt độ của nước biển đối với hàm lượng Cd có trong cơ thể loài

Crasstrostrea virginica Các kết quả nghiên cứu của Frazier 1976, Jackim và

cs 1977 và Phillips 1977 cho biết vào mùa hè khả năng tích lũy Cd của các loài động vật 2 mảnh cao hơn mùa đông Liên quan đến độ mặn, Denton và

Burdon-Jones (1981) [37] phát hiện loài Saccostrea echinata phân bố ở khu

vực có độ mặn 20‰ tích lũy Cd và Pb cao hơn ở khu vực có độ mặn 36‰ Tuy nhiên, kết quả của Philips (1976) [37] lại cho thấy sự hấp thụ Pb ở loài

Mytylus edulis ở khu vực có độ mặn thấp có xu hướng thấp hơn ở khu vực có

độ mặn cao

1.2.2 Việt Nam

Mặc dù nghiên cứu và sử dụng động vật hai mảnh vỏ chỉ thị ô nhiễm KLN đã phát triển trên thế giới từ những năm 1970 của thế kỷ XX, đến nay đã

có những thành tựu to lớn và đã được sử dụng cho các chương trình giám sát

ô nhiễm KLN ở nhiều khu vực cửa sông, ven biển trên thế giới Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu này ở Việt Nam còn tương đối mới mẻ

Theo nghiên cứu của Đào Việt Hà (2002), hàm lượng Cd, Pb và Cu

trong Vẹm xanh (Perma viridis) tại đầm Nha Phu (Khánh Hòa) đều đạt tiêu

chuẩn cho phép, đối với Cd là 0,03 – 0.21 µg/g, đối với Pb là từ 0,14 – 1,13 µg/g Nghiên cứu của Đặng Thúy Bình và cs với đối tượng Vẹm Xanh được nuôi tại đảo Điệp Sơn, Vịnh Vân Phong, Khánh Hòa cho thấy rằng hàm lượng As cao nhất là 1,76 µg/g, hàm lượng tích lũy Cd cao nhất là 0,075 µg/g, còn đối với Pb hàm lượng không đáng kể Cũng theo nghiên cứu này cho thấy sự tích lũy As, Cd, Pb có sự biến đổi qua thời gian Tại vùng ven biển Đà Nẵng, Lê Thị Mùi (2008) [9] đã tiến hành nghiên cứu về sự tích

Trang 21

tụ chì và đồng trong một số loài nhuyễn thễ như Hàu (Ostrea rivulasis Gould), Ngó (Cyclina sinensis Gmelin), Sò lông (Anna subcrennata Lishke), Vẹm xanh (Perna viridis Linnd), Ngao bốn cạnh (Mactra guadragularis Deshayes), Vọp Suma (Cyrena sumatrenis Dall), Nghêu lụa (Paphia undulate Born) với hàm lượng Pb khảo sát dao động từ 1,13 – 2,12 µg/g

tươi; hàm lượng Cu từ 7,15 – 16,52 µg/g tươi Kết quả nghiên cứu tại đầm Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) ghi nhận, hàm lượng Cd và Pb trong loài Vẹm Xanh thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam (Ngô Văn Tứ; Nguyễn Kim Quốc Việt) [13]

Theo nghiên cứu của Phạm Kim Phương và cs trên đối tượng Nghêu tại vùng biển Cần Giờ cho thấy, hàm lượng KLN trong thịt Nghêu phụ thuộc vào từng KLN Các KLN khác nhau thì tích lũy ở mức độ khác nhau trong cơ quan của Nghêu, như Ag tích lũy nhiều trong thịt và ruột Nghêu sau đó đến Cd và Pb, ở loài Nghêu có khả năng tích lũy cao Cd so với môi trường [10]

Dù mới bắt đầu chưa lâu, nhưng những nghiên cứu ở Việt Nam đã tiếp cận và kế thừa nhiều nghiên cứu trên thế giới, bước đầu cho thấy khả năng sử dụng loài hai mảnh vỏ để chỉ thị ô nhiễm KLN tại Việt Nam là hiệu quả và có tính khả thi

1.3 TỔNG QUAN VỀ TỈNH BÌNH ĐỊNH VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Bình Định nằm ở vị trí trung tâm của miền Trung với diện tích tự nhiên của toàn tỉnh 6039,562 km2 và là một trong những tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (cùng với Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi) nên Bình Định có một vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế miền Trung và Tây Nguyên Phía Bắc

Trang 22

giáp Quảng Ngãi, phía Nam giáp Phú Yên, Phía Tây giáp Gia Lai và phía

Đông giáp biển Đông (hình 1.1) Hệ thống đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc

– Nam đi qua địa phận tỉnh Bình Định dài 148 km với 11 ga trong đó có ga lớn là Diêu Trì và nhánh rẽ từ Diêu Trì đi từ thành phố Quy Nhơn dài 10,3

km, cùng với Quốc lộ 19 lên các tỉnh khu vực Tây Nguyên và cảng biển nước sâu Quy Nhơn - Nhơn Hội tạo thành huyết mạch cho sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực cũng như tiểu vùng sông Mê Kông bởi trục đường hành lang Đông- Tây: Quy Nhơn - Kon Tum - Aptopo - Bắc Xế - Ubon Rat Cha Tha Ni, trục hành lang này có chiều dài khoảng 770 km; mặt khác từ Quy Nhơn lên Quốc lộ 19 đến Kon Tum và theo đường 14 rẽ về phía Nam đến Stung Ố Treng (Campuchia) [12]

Trang 23

Hình 1.1 Vị trí địa lý tỉnh Bình Định

Trang 24

Đà Nẵng đến Khánh Hòa, trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào Tần suất xuất hiện bão lớn nhất từ tháng 9 – 11) Mùa khô kéo dài gây nên hạn hán ở nhiều nơi Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 1.000 – 1.080 mm, chiếm 50 – 55% tổng lượng mưa Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 79 – 83% [11], [12]

Với nền nhiệt độ cao đều trong năm, độ ẩm và lượng mưa lớn thuận lợi cho Bình Định đa dạng hóa cây trồng, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên với lượng mưa phân bố không đều, hàng năm thường hay có bão nên có ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông – lâm - thủy sản

d Đặc điểm thủy văn

Do đặc điểm địa hình chuyển tiếp từ Tây sang Đông, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi nên hệ thống sông ngòi bắt nguồn từ vùng núi phía Tây, thường

Trang 25

ngắn, dốc và khá đa dạng với mật độ sông suối khá cao Tỉnh Bình Định có các sông lớn đáng kể là: sông Hà Thanh, sông Kôn, sông La Tinh và sông Lại Giang Ngoài các sông đáng kể nói trên, còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ có nước chảy về mùa lũ

Hệ thống sông Kôn là hệ thống sông lớn nhất của tỉnh, có diện tích lưu vực 2.980 km2, dài 171 km Bắt nguồn từ miền núi phía Tây huyện Hoài Ân

và An Lão có độ cao từ 600 - 700 m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Qua các vùng Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và có rất nhiều phụ lưu như sông Kôn, sông Phú Phong, sông Đập Đá… [11]

e Đặc điểm hải văn

Vùng biển Bình Định chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều không đều, hàng tháng số ngày nhật triều chiếm từ 18 - 22 ngày Mỗi tháng có 2 kỳ triều cường vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch, biên độ thủy triều đạt từ 1 - 2 m Trong thời kỳ nước kém, biên độ thủy triều khá nhỏ khoảng 0,3 - 0,5 m Thời gian triều dâng dài hơn thời gian triều rút Nói chung tính chất trên đã ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành và phát triển hệ sinh thái vùng triều và các khu hệ sinh vật ven bờ [12]

Dòng chảy khu vực ven bờ chịu sự chi phối của hệ thống dòng chảy biển Đông hình thành trong trường gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc, dòng chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam áp sát bờ Do tác dụng của gió mùa Đông Bắc, dòng toàn phần của hải lưu gió hướng thẳng vào bờ gây nên hiện tượng nước dâng dọc bờ Theo tính chất của môi trường liên tục hình thành các khu vực nước chìm (nước ở tầng mặt chuyển động xuống tầng sâu) Việc xuất hiện các vùng nước chìm gây nên sự nghèo nàn về thức ăn và sinh vật ít phát triển trong thời kỳ nói trên Trong thời

kỳ gió mùa Tây Nam, dòng toàn phần hải lưu gió đi từ bờ ra khơi Kết quả trong thời kỳ này ở dải ven bờ hay xuất hiện các vùng nước trồi đưa nước và

Trang 26

các vật chất lơ lửng từ tầng đáy lên tầng mặt, tạo thành các vùng giàu thức ăn, các loại sinh vật phát triển và cá thường tập trung tại các khu vực nói trên [12]

1.3.2 Đặc điểm kinh tế xã - hội

a Đặc điểm kinh tế

Nền kinh tế cơ bản của Bình Định là kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nền kinh tế tỉnh bước đầu có sự chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, mặc dù chưa có sự rõ nét Cụ thể tốc độ tăng trưởng bình quân (2006 – 2010) các ngành Nông, Lâm, Thuỷ sản tăng bình quân 7,2%, Công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 15,4%, dịch vụ tăng 11,6%

Cơ cấu kinh tế (năm 2010): nông lâm ngư nghiệp 35,79%; công nghiệp xây dựng 27,72%; dịch vụ 36,48% GDP bình quân/người tăng từ 219,7 USD năm

2000 lên 401 USD năm 2005 và 901 USD vào năm 2010 [12]

b Đặc điểm xã hội

Tỉnh Bình Định với tổng dân số năm 2010 là 1.489.700 người, mật độ dân số 246,2 người/km2 Trong đó, thành phố Quy Nhơn cao nhất là 983 người/km2, thấp nhất là huyện Vân Canh 30,9 người/ km2 Dân số nam chiếm 48,7%, nữ chiếm 51,3%; dân số thành thị chiếm 27,7% dân số, nông thôn chiếm 72,3% Cơ cấu dân số trẻ, dưới 30 tuổi chiếm 62,8% là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho các ngành kinh tế Bình Định có nhiều dân tộc chung sống, dân tộc Kinh chiếm 98% so với tổng dân số, 3 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 2% chủ yếu là Ba Na, H're, Chăm ở 113 làng/22 xã các huyện miền núi, trung du Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội được nâng cao, các công trình hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội được đầu tư phát triển [12]

Trang 27

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số loài động vật lớp hai mảnh

vỏ (Bivalvia) thuộc ngành động vật Thân mềm (Mollusca), sống phổ biến tại

khu vực cửa sông Kôn và đầm Thị Nại

Động vật hai mảnh vỏ được nghiên cứu đánh giá khả năng tích lũy các KLN Cd, Pb, Cr và Hg Đây là những KLN được cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ (EPA) xếp vào nhóm tám KLN ô nhiễm phổ biến nhất và có độc tính cao [20]

- Cadimi có kí hiệu hóa học là Cd, khối lượng nguyên tử 112,4, thuộc nhóm phân loại IIB, số thứ tự 48 trong bảng tuần hoàn hóa học Dạng tồn tại chủ yếu của Cd trong tự nhiên là CdCl2 và CdSO4 Cd được dùng chủ yếu làm tấm bảo vệ cho thép, trong các chất màu, tạo chất làm chắc cho lớp nhựa, lớp men và tráng men, sử dụng làm pin Nguồn ô nhiễm Cd chính hiện nay là khai thác mỏ, nấu chảy Cd và Zn, sự thiêu hủy những vật bằng nhựa và pin, rác, nước cống thấm vào đất, phân bón phosphate cũng là nguồn chứa Cd khá cao

Đã tìm thấy độc tính của Cd đối với và và các sinh vật thủy sinh khác (Rao và Saxena, 1981; Woodworth và Pascoe, 1982) Cd là một KLN độc hại, phần lớn Cd xâm nhập vào cơ thể người và tích lũy ở thận, gan, xương, gây ra các bệnh như suy thận, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, bệnh Itai – Itai… [2], [36], [40]

- Chì có kí hiệu hóa học là Pb, khối lượng nguyên tử 209,2 là kim loại thuộc nhóm IV, số thứ tự 82 trong bảng tuần hoàn hóa học Chì được sử dụng

để chế tạo hợp kim, ăcquy, sơn chống rỉ, màu công nghiệp, trong nhiên liệu

Trang 28

lỏng… Nguồn ô nhiễm Pb vào môi trường là từ khói xe, công nghiệp khai thác, luyện kim Pb và việc sử dụng sơn chứa chì, thuốc trừ sâu Chì là một KLN độc hại, trong cơ thể Pb thường tích lũy trong xương, thận gây ra các bệnh như rối loạn trí óc, co giật, hôn mê, đặc biệt đối với trẻ em gây hiện tượng chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ [2], [40], [42]

- Crôm có ký hiệu hóa học là Cr, khối lượng nguyên tử là 59,61, số thứ

tự 24 trong bảng tuần hoàn hóa học Nguồn thải Cr là từ đốt nhiên liệu hóa thạch, mạ Cr, từ công nghiệp dệt may, sản xuất thuốc nhuộm Trong nước, hầu như Cr không tan và là một phần của trầm tích Cr không tích lũy trong

cá nhưng tích lũy trong động vật không xương sống Cr (VI) dễ hấp thụ vào

mô qua đường ruột và da Khi tiếp xúc với Cr ở liều lượng thấp có thể gây ra

dị ứng phát ban ở da, Cr có khả năng gây ưng thư ở người [41]

- Thủy ngân (Hg) có khối lượng nguyên tử là 200,59, thuộc nhóm phân loại IIB, số thứ tự 80 trong bản tuần hoàn hóa học Các hợp chất hữu cơ của thủy ngân có độc tính cao nhất, đặc biệt là metyl thủy ngân (CH3Hg+), các chất này tan chảy được trong mỡ, phần chất béo của các màng và trong não tủy Nhiễm độc Hg có thể ngăn cản sự vận chuyển qua màng tế bào, làm giảm năng lượng của tế bào gây rối loạn xung thần kinh Ngoài ra, có thể dẫn tới sự phân chia nhiễm sắc thể, phá vỡ nhiễm sắc thể… [17]

Trang 29

Hình 2.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu

Sông Kôn bắt nguồn từ miền núi phía Tây huyện Hoài Ân và An Lão

có độ cao từ 600 - 700 m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Qua các vùng Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và có rất nhiều phụ lưu Chiều dài của sông Kôn là 171 km và diện tích lưu vực khoảng 2.594 km2 Độ dốc bình quân lưu vực khoảng 0,2 Sông Kôn và sông Cụt - sông Phú Phong (2 sông nhánh ở thượng lưu) nhập thành sông Kôn hay sông Bình Hòa ở trung lưu Sông Kôn - sông Bình Hòa tại khu vực này có sông Đồng Sim đổ vào, sau đó sông Kôn phân thành 3 nhánh ở hạ lưu gồm sông Đập Đá, sông Gò Chàm và sông Sây, sông Đập Đá, sông Cầu Dài, sông La Vĩ nhập lại thành sông Đại An đổ vào đầm Thị Nại Sông Gò Chàm - sông Ngang - sông Âm Phủ đổ vào đầm Thị Nại Sông Sây, sông An Trường, sông Nghiễm Hòa nhập lại thành sông Sây, sông này phân thành sông nhánh Tân An và một nhánh đổ vào đầm Thị Nại Sông nhánh Tân An phân thành 2 nhánh là sông Tân An và sông Cây My, cả hai đều nhập vào sông Âm Phủ đổ vào đầm Thị Nại [11]

Trang 30

Đầm Thị Nại là một đầm nước mặn lớn nhất Bình Định, nằm trên địa phận thành phố Quy Nhơn, huyện Tuy Phước, huyện Phù Cát, có diện tích hơn 5.000 ha Một phần nhỏ của đầm Thị Nại được sử dụng làm cảng biển (Cảng Quy Nhơn) Phía Đông đầm Thị Nại là khu kinh tế Nhơn Hội, đây là khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, có quy chế hoạt động riêng, bao gồm: khu phi thuế quan, khu công nghiệp, khu cảng biển và dịch vụ cảng biển, các khu du lịch, dịch vụ và khu đô thị mới, vận hành theo cơ chế ưu đãi đặc biệt, là trung tâm và động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định và của khu vực miền Trung Tuy nhiên, sự phát triển của khu kinh tế Nhơn Hội cũng tiềm ẩn những ảnh hưởng bất lợi đến môi trường, hệ sinh thái đầm Thị Nại nếu không có sự kiểm soát và quản lý chặc chẽ

Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành thu mẫu nghiên cứu khả năng

chỉ thị của một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ từ tháng 08/2012 – 04/2013

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa

Đề tài tiến hành lấy mẫu các loài động vật hai mảnh vỏ và mẫu trầm tích tại 9 điểm đại diện cho ba khu vực thuộc cửa sông Kôn và đầm Thị Nại vào 2 đợt tháng 08/2012 và tháng 03/2013

Mẫu các loài hai mảnh vỏ được thu, sau đó mẫu được bảo quản trong thùng xốp có chứa đá trước khi đưa về bảo quản ở -200C tại phòng thí nghiệm khoa Sinh – Môi trường, đại học Sư phạm, đại học Đà Nẵng

Mẫu trầm tích được lấy đồng thời với mẫu động vật sử dụng gàu SKU

– 196 – B12 của hãng Wildco (hình 2.2) và được bảo quản theo TCVN 6663

– 15:2004

Trang 31

Hình 2.2 Lấy mẫu trầm tích bằng gàu SKU – 196 – B12 tại khu vực nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Mẫu động vật được giải đông, rửa sạch tiến hành xác định kích thước, khối lượng bằng phương pháp cân đo thông thường và được định loại tại viện Hải Dương học Nha Trang

Vô cơ hóa 5 gam mô cơ tươi của động vật và 1 gam trầm tích đã được

xử lý bằng dung dịch HNO3 + HCl của hãng Merck (Đức) với tỉ lệ 1:3

Xác định hàm lượng Cd, Pb, Cr và Hg trong mẫu động vật và trầm tích sau khi vô cơ hóa bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) tại

Trang 32

phòng thí nghiệm, phân tích môi trường khu vực II, Đài Khí tượng Thủy Văn khu vực Trung Trung Bộ

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh và Lê Trọng Lư (2002), Kỹ thuật nuôi Ngao, Nghêu, Sò huyết & Trai ngọc, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi Ngao, Nghêu, Sò huyết & Trai ngọc
Tác giả: Nguyễn Thế Anh và Lê Trọng Lư
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2002
3. Phạm Thị Hồng Hà, Nguyễn Văn Khánh, Lê Thị Quế (2009), "Nghiên cứu tích lũy kim loại nặng chì (Pb) và cadimi (Cd) ở loài Sò lông (Anadara subcrenata Lischke) và Ngao dầu (Meretrix meretrix Linnaeus) vùng cửa sông, TP. Đà Nẵng", Tạp chí Sinh học, số 3, tr. 87 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tích lũy kim loại nặng chì (Pb) và cadimi (Cd) ở loài Sò lông (Anadara subcrenata Lischke) và Ngao dầu (Meretrix meretrix Linnaeus) vùng cửa sông, TP. Đà Nẵng
Tác giả: Phạm Thị Hồng Hà, Nguyễn Văn Khánh, Lê Thị Quế
Năm: 2009
4. Nguyễn Văn Khánh, Phạm Văn Hiệp (2009), "Nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng cadmium (Cd) và chì (Pb) của loài Hến (Corbicula sp.) vùng cửa sông ở Thành Phố Đà Nẵng", Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 1 (30) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng cadmium (Cd) và chì (Pb) của loài Hến (Corbicula sp.) vùng cửa sông ở Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh, Phạm Văn Hiệp
Năm: 2009
5. Nguyễn Văn Khánh và nnk (2010), "Hàm lượng As, Pb tích lũy trong loài Hến và Hàu sông (Ostrea rivularis Gould, 1861) tại cửa sông Cu Đê, Thành phố Đà Nẵng" Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, T.10, số 1, tr. 27 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm lượng As, Pb tích lũy trong loài Hến và Hàu sông (Ostrea rivularis Gould, 1861) tại cửa sông Cu Đê, Thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh và nnk
Năm: 2010
6. Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Quýnh, Nguyễn Quốc Việt (2007), Chỉ thị sinh học môi trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị sinh học môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Quýnh, Nguyễn Quốc Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Nguyễn Minh Khởi, Vũ Thu Anh, Phạm Quốc Hiệp (2007), "Đặc điểm địa hóa môi trường trầm tích tầng mặt hệ đầm phá Tam Giang - cầu Hai (Tỉnh Thừa Thiên Huế)", Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, Số 1, tr. 33 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa hóa môi trường trầm tích tầng mặt hệ đầm phá Tam Giang - cầu Hai (Tỉnh Thừa Thiên Huế)
Tác giả: Nguyễn Minh Khởi, Vũ Thu Anh, Phạm Quốc Hiệp
Năm: 2007
8. Phan Văn Mạch, Phan Ngọc Diệp, Lê Xuân Tuấn, Hiện trạng môi trường đầm Nại tỉnh Bình Thuận, Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ hai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường đầm Nại tỉnh Bình Thuận
9. Lê Thị Mùi (2008), "Sự tích tụ chì và đồng trong một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ vùng ven biển Đà Nẵng", Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 4 (27), tr. 49 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích tụ chì và đồng trong một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ vùng ven biển Đà Nẵng
Tác giả: Lê Thị Mùi
Năm: 2008
10. Phạm Kim Phương, Nguyễn Thị Dung, Phạm Ngọc Sơn (2007), "Nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng As, Cd, Pb và Hg từ môi trường nuôi tự nhiên lên nhuyễn thể hai mảnh vỏ", Tạp chí Khoa học và Công nghệ, tập 45, số 5, tr. 57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng As, Cd, Pb và Hg từ môi trường nuôi tự nhiên lên nhuyễn thể hai mảnh vỏ
Tác giả: Phạm Kim Phương, Nguyễn Thị Dung, Phạm Ngọc Sơn
Năm: 2007
11. Sở Khoa học và Công nghệ Bình Định. Địa chí Bình Định: Thiên nhiên, dân cư và hành chính, http://www.dostbinhdinh.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Bình Định: Thiên nhiên, dân cư và hành chính
12. Sở Tài Nguyên Môi trường Bình Định, Báo cáo hiện trạng Môi trường tỉnh Bình Định 5 năm 2006-2010, Bình Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng Môi trường tỉnh Bình Định 5 năm 2006-2010
13. Ngô Văn Tứ, Nguyễn Kim Quốc Việt (2009), "Phương pháp Von-Ampe hòa tan Anot xác định Pb, Cd, Zn trong Vẹm xanh ở đầm Lăng Cô, Thừa Thiên Huế", Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, số 50, tr. 155 - 163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp Von-Ampe hòa tan Anot xác định Pb, Cd, Zn trong Vẹm xanh ở đầm Lăng Cô, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Ngô Văn Tứ, Nguyễn Kim Quốc Việt
Năm: 2009
14. UBND TP. Đà Nẵng và GEF/UNDP/IMO/PEMSEA (2004), Đánh giá rủi ro Môi trường ban đầu thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá rủi ro Môi trường ban đầu thành phố Đà Nẵng
Tác giả: UBND TP. Đà Nẵng và GEF/UNDP/IMO/PEMSEA
Năm: 2004
15. Ủy hội sông Mê Công (2010), Phương pháp quan trắc sinh học cho hạ lưu vực Mê Công, NXB Nông nghiệp, HCM.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp quan trắc sinh học cho hạ lưu vực Mê Công
Tác giả: Ủy hội sông Mê Công
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2010
16. Abaychi and Mustafa (1998), "The Asiatic clam, Corbicula fluminea: An indicator of trace metal pollution in the al – Arad River, Iraq", Environment pollution, 54(1), pp. 109 – 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Asiatic clam, Corbicula fluminea: An indicator of trace metal pollution in the al – Arad River, Iraq
Tác giả: Abaychi and Mustafa
Năm: 1998
17. Adu Obirikorang Kawasi (2010), An assessment of heavy metal contamination of sediments and tissues of the clam Galatea paradoxa (born 1778) in the volta estuary, Ghana, A thesis submitted to the department of Fisheries and Watershed management in Partial Sách, tạp chí
Tiêu đề: An assessment of heavy metal contamination of sediments and tissues of the clam Galatea paradoxa (born 1778) in the volta estuary, Ghana
Tác giả: Adu Obirikorang Kawasi
Năm: 2010
18. Airas Sari, Trace metal concentrations in blue mussel Mytilus edulis in Byfiorden and the coastal areas of Bergen, Institute for Fisheries and Marine Biology University of Bergen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trace metal concentrations in blue mussel Mytilus edulis in Byfiorden and the coastal areas of Bergen
19. Astudillo L. Rojas de, L. Chang Yen, and L. Bekele (2005), "Heavy metals in sediments, mussels and oysters from Trinidad and Venezuela"Revista de Biologia Tropical, International Biology and Conservation, 53 (Suppl. 1), pp. 41 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heavy metals in sediments, mussels and oysters from Trinidad and Venezuela
Tác giả: Astudillo L. Rojas de, L. Chang Yen, and L. Bekele
Năm: 2005
21. Farrington J. W., B. W. Tripp, and Editors (1995), Final report on Initial Implementation Phase of International Mussel Watch (Coastal Chemical Contanminant Mornitoring Using Bivalves), US National Oceanic and Atmospheric Administration Sách, tạp chí
Tiêu đề: Final report on Initial Implementation Phase of International Mussel Watch (Coastal Chemical Contanminant Mornitoring Using Bivalves)
Tác giả: Farrington J. W., B. W. Tripp, and Editors
Năm: 1995
22. Gevin Lauren E. Mc, Mussels - Anatomy, babitat and environmental impact, Nova Sience Publishers, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mussels - Anatomy, babitat and environmental impact

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w