ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG LÊ THỊ HẬU PHÚC NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC MỘT SỐ HỢP CHẤT HÓA HỌC CÓ TRONG CAO CHIẾT NƯỚC RỄ CÂY ĐINH LĂNG [POLYSCIAS FRUTICOSA L... ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG LÊ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ HẬU PHÚC
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC
MỘT SỐ HỢP CHẤT HÓA HỌC CÓ TRONG CAO CHIẾT NƯỚC RỄ CÂY ĐINH LĂNG
[POLYSCIAS FRUTICOSA (L.) HARMS]
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Đà Nẵng – Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ HẬU PHÚC
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC
MỘT SỐ HỢP CHẤT HÓA HỌC CÓ TRONG CAO CHIẾT NƯỚC RỄ CÂY ĐINH LĂNG
[POLYSCIAS FRUTICOSA (L.) HARMS]
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số: 60 44 27
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Hậu Phúc
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 2
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 2
5 Cấu trúc luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4
1.1 NHỮNG CÂY THUỐC HỌ ARALIACEAE CÓ Ở VIỆT NAM 4
1.1.1 Sâm Việt Nam [Panax vietnamensis Ha et Grushv.] 4
1.1.2 Sâm vũ diệp [Panax bipinnatifidus Seem] 7
1.1.3 Tam thất [Panax notogingseng (Burk.) F H Chen] 8
1.1.4 Ngũ gia bì chân chim [Schefflera octophylla (Lour.) Harms.].10 1.2 NHỮNG CÂY THUỐC HỌ ARALIACEAE CÓ Ở THẾ GIỚI 11
1.2.1 Sâm Triều Tiên [Panax gingseng C.A Meyer] 12
1.2.2 Sâm Liên Xô [Eleutherococos senticosus Rupr Et Maxim] 13
1.2.3 Sâm Mỹ [Panax quinquefolium L.] 15
1.3 CHI POLYSCIAS 16
1.3.1 Cây đinh lăng [Polyscias fruticosa (L.) Harms] 16
1.3.2 Cây đinh lăng lá tròn [Polyscias balfouriana Bail.] 19
1.3.3 Cây đinh lăng trổ [Polyscias guilfoylei Bail.] 19
1.3.4 Cây đinh lăng răng [Polyscias serrata Balf.] 20
1.3.5 Cây đinh lăng ráng [Polyscias filicifolia Balf.] 21
Trang 51.4 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH
SINH HỌC CỦA CÂY ĐINH LĂNG 23
1.4.1 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây đinh lăng 24
1.4.2 Các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của cây đinh lăng 31
1.5 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CÁC CÂY TRONG CHI POLYSCIAS 35
1.5.1 Cây đinh lăng ráng [Polyscias filicifolia Balf.] 35
1.5.2 Cây đinh lăng dĩa [Polyscias scutellaria (Burm f.) Merr.] 35
1.5.3 Cây đinh lăng lá tròn [Polyscias balfouriana Bail.] 36
1.5.4 Cây đinh lăng răng [Polyscias serrata Balf.] 37
1.5.5 Cây đinh lăng trổ [Polyscias gulfoylei Bail.] 37
CHƯƠNG 2 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 38
2.1 NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT, THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU 38
2.1.1 Nguyên liệu 38
2.1.2 Hóa chất, thiết bị nghiên cứu 38
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.2.1 Phương pháp chiết mẫu thực vật 39
2.2.2 Phương pháp tách và tinh chế chất 39
2.2.3 Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các chất 40
2.2.4 Phương pháp lựa chọn chất hấp phụ và dung môi chạy cột sắc ký [17] 40
2.2.5 Tỉ lệ giữa lượng mẫu chất cần tách với kích thước cột 42
2.2.6 Cách nạp silica gel vào cột 42
2.2.7 Cách nạp mẫu vào cột .44
2.2.8 Theo dõi quá trình giải ly cột 45
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 46
Trang 62.3.2 Chạy cột sắc ký phần cao MeOH 47
2.3.3 Chạy cột sắc ký phần cao CH2Cl2 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 SỐ LIỆU PHỔ VÀ CẤU TRÚC CỦA CHẤT DL – 01 53
3.2 SỐ LIỆU PHỔ VÀ CẤU TRÚC CỦA CHẤT DL – 02 66
3.3 SỐ LIỆU PHỔ VÀ CẤU TRÚC CỦA CHẤT DL – 03 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7
FT – IR: Fourier transform – Infrared
HMBC: Heteronuclear multiple bond correlation
HSQC: Heteronuclear single quantum correlation
Trang 8Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Sắc ký cột 3,15 gam cao MeOH 48 2.2 Sắc ký cột 900 mg cao CH2Cl2 50 3.1
đinh lăng và chất sucrose trong tài liệu
Trang 9Số hiệu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài thực vật và đây là một trong những nguồn tài nguyên cung cấp cho chúng ta nhiều loài cây quý làm thuốc chữa bệnh có giá trị Tuy nhiên, phần lớn các cây được sử dụng làm thuốc trong dân gian chỉ dựa trên kinh nghiệm của nhân dân mà chưa được nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về mặt hóa học cũng như hoạt tính sinh học Vì vậy chưa khai thác được triệt để nguồn tài nguyên quý giá này
Số liệu thống kê cho biết thảm thực vật Việt Nam có trên 12000 loài, trong số đó có khoảng 3200 loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong y học dân gian [2] Việc nghiên cứu thành phần hóa học các cây thuốc trong y học
cổ truyền nhằm tìm kiếm các chất có hoạt tính, cung cấp các bằng chứng khoa học về chúng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đây là một trong những chiến lược phát triển sản phẩm của nhiều công ty dược
Trong số thực vật Việt Nam, chi Polyscias (Đinh lăng) thuộc họ Ngũ gia
bì (Araliaceae) gồm nhiều cây thuốc có giá trị sử dụng cao Trong đó loài
đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms, họ Ngũ gia bì
(Araliaceae) được sử dụng từ lâu trong y học phương đông như một vị thuốc
bổ, kích thích tiêu hóa, giải độc, kháng khuẩn, tăng cường thể lực, tăng sức đề kháng, tăng khả năng thích nghi Cây này rất dễ trồng, dễ sử dụng và có nhiều tác dụng dược lý giống nhân sâm
Tuy cây đinh lăng có nhiều tác dụng như vậy nhưng các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học nói chung và cao chiết nước nói riêng còn
hạn chế Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu phân lập và xác định
cấu trúc một số hợp chất hóa học có trong cao chiết nước rễ cây đinh
lăng [Polyscias fruticosa (L.) Harms]” nhằm tìm hiểu bản chất hóa học, góp
Trang 12phần tạo cơ sở khoa học cho các bài thuốc dân gian dùng nước sắc rễ cây đinh lăng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất hóa học có
trong cao chiết nước rễ cây đinh lăng [Polyscias fruticosa (L.) Harms]
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Điều tra sơ bộ, thu thập và xử lý nguyên liệu là rễ cây đinh lăng
[Polyscias fruticosa (L.) Harms] thu hái ở tỉnh Nam Định
- Phân lập, tinh chế một số hợp chất hóa học có trong mẫu cao chiết nước của rễ cây đinh lăng
- Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất phân lập được
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu các hợp chất tự nhiên
- Nghiên cứu trên mạng Internet, tham khảo các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về loài nghiên cứu
- Tổng quan các tài liệu về đặc điểm hình thái thực vật, thành phần hoá
học, ứng dụng của chi và cây nghiên cứu
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Nguyên liệu là rễ cây đinh lăng được rửa sạch, sấy khô và xay nhỏ
đun trong 5 giờ, gộp dịch của 3 lần chiết, cô trên bếp cách thủy thu được cao chiết nước
- Phân lập, tách và tinh chế các chất bằng phương pháp sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng, các phương pháp kết tinh phân đoạn
- Các phương pháp xác định cấu trúc: kết hợp các phương pháp phổ cộng
Trang 13hưởng từ hạt nhân hai chiều (2D NMR): COSY, HSQC, HMBC; phổ hồng ngoại (IR) và các phương pháp khác để xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 80 trang, 5 bảng, 32 hình, 36 tài liệu tham khảo
Với: Phần MỞ ĐẦU (3 trang)
Chương 1 TỔNG QUAN (32 trang)
Chương 2 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM (15 trang)
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (28 trang)
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (1 trang)
TÀI LIỆU THAM KHẢO (4 trang)
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Luận văn đã tham khảo 36 tài liệu khoa học về loài cây đinh lăng
[Polyscias fruticosa (L.) Harms] và những kiến thức liên quan Trong đó, có
22 tài liệu tiếng Việt, 8 tài liệu tiếng Anh và 6 tài liệu từ mạng Internet Hiện tại trong và ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu về cây đinh lăng, các kết quả nghiên cứu đã xác định được thành phần hóa học chính của cây đinh lăng, đã phân lập được một số cấu tử chính và thử hoạt tính sinh học của chúng Tuy nhiên mỗi một nghiên cứu đều có nguồn nguyên liệu khác nhau Cây đinh lăng ở những nơi khác nhau sẽ có sự khác nhau về thành phần cũng như hàm lượng các cấu tử
Trang 14CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 NHỮNG CÂY THUỐC HỌ ARALIACEAE CÓ Ở VIỆT NAM
Họ Araliaceae là một họ thực vật lớn, gồm 700 loài thuộc 55 chi [4] Việt Nam được coi là một trong những cái nôi của các cây trong họ này với nhiều cây thuốc quý trong y học phương đông
Theo số liệu thống kê gần đây, số loài cây trong họ Araliaceae ở nước ta
đã lên đến trên 130 loài, thuộc 18 chi [4] Chi Panax có 3 loài mà từ lâu trong dân gian được đánh giá là loại dược liệu quý: sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv.), sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem), sâm tam thất [Panax notoginseng (Burk.) F.H.] Bên cạnh đó, các chi Polysias, Acanthopanax và Schefflera cũng có những cây thuốc giá trị như: đinh lăng [Polyscias fruticosa (L.) Harm], ngũ gia bì hương [Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.], ngũ gia bì chân chim [Schefflera octophylla (L.) Harm.], [4]
Dưới đây là một số loài thuốc quý trong họ Araliaceae và công dụng của chúng
1.1.1 Sâm Việt Nam [Panax vietnamensis Ha et Grushv.]
Sâm Việt Nam còn được gọi là sâm ngọc linh, sâm đốt trúc, sâm khu năm (sâm K5), cây thuốc giấu, củ ngãi rợm con…là một loại sâm quý của Việt Nam, phân bố chủ yếu trong phạm vi 13 xã của ba huyện quanh núi Ngọc Linh thuộc hai tỉnh Kontum và Quảng Nam (huyện Trà My) ở độ cao
1500 đến 2000m Các nhà khoa học đang thử nghiệm trồng sâm Việt Nam ở các vùng núi cao từ 1700 – 2200m [3] (xem hình 1.1)
Thành phần hóc học:
Saponin triterpen được xác định là những hoạt chất chủ yếu có tác dụng sinh học của sâm Việt Nam Hiện đã phân lập khoảng 52 hợp chất trong thân
Trang 15và rễ, gồm có Daucosterin và 49 saponin, trong đó có 25 hợp chất đã được xác định cấu trúc và phân bổ theo 4 khung như sau: diol – saponin, triol – saponin, ocotillol – saponin, olean – saponin Các saponin damaran đượ xem
là hợp chất quyết định cho các tác dụng sinh học chủ yếu của sâm Triều Tiên cũng chiếm một tỉ lệ rất cao về hàm lượng và số lượng
Hợp chất polyacetylen tuy chiếm tỉ lệ khiêm tốn trong sâm Việt Nam (0,0028 – 0,0084%), nhưng từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay đã được các nhà khoa học chú ý do tác dụng chống ung thư [3] Hiện đã phân lập và xác định cấu trúc được 7 loại, đồng thời cũng phát hiện được 5 polyacetylen chưa từng được mô tả trong các loại cây trong họ Araliaceae
Bằng phương pháp sắc ký khí, cho đến nay đã xác định được 17 loại acid béo trong sâm Việt Nam Trong đó có 5 acid béo quan trọng là acid palmitic, stearic, linoleic, linolenic, oleic chiếm tỉ lệ 90,01% Hàm lượng acid béo chưa
no chiếm tỉ lệ khá cao, đặc biệt linoleic, linolenic là 2 hợp chất có tác dụng chống lão hóa tế bào chiếm tới 50% tổng số
Trong sâm Việt Nam có 18 loại acid amin, chưa đủ 8 acid amin cần thiết cho cơ thể Đặc biệt arginin (46,66%), lysin (17,90%), tryptophan (10,20%)
đã được xác định có tính chống lão hóa tế bào
Nghiên cứu hoạt tính sinh học và thử nghiệm lâm sàng [3], [4] đã chứng tỏ tác dụng chủ yếu của sâm Việt Nam như sau:
Trên hệ thần kinh trung ương, với liều thấp (10 - 100 mg/kg chuột) có tác dụng kích thích nhẹ, gia tăng trí thông minh, sự nhanh nhẹn, khéo léo, điều hòa hoạt động của não bộ, rút ngắn thời gian ngủ của barbital Liều cao hơn (0,5 - 2g/kg chuột) thể hiện tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương
Có tác dụng tăng lực ở liều thấp (5 – 100 mg/kg chuột), chống mệt mỏi, phục hồi sức lực, tăng cường khả năng thích nghi với môi trường khắc nghiệt, kích thích sinh tổng hợp corticoid vỏ thượng thận, gia tăng sức đề kháng của
Trang 16cơ thể, chống lão hóa tế bào, giải độc và bảo vệ gan
Trên hệ tim mạch, sâm Việt Nam có tác dụng phòng chống xơ vữa động mạch, giảm cholesterol máu, giảm lipit máu…có tác dụng điều hòa, giúp tim hoạt động bình thường trở lại Nâng nhẹ huyết áp (8 - 15%) trong trường hợp
hạ huyết áp do thiếu máu
Hình 1.1 Panax vietnamensis Ha et Grushv
(nguồn: http://trongraulamvuon.com/cac-giong-sam-thuong-gap/)
Ngoài ra, sâm Việt Nam còn có tác dụng cải tạo sức khỏe trên bệnh nhân suy nhược thể chất và tinh thần (83% bệnh nhân); bồi dưỡng cơ thể sau phẫu thuật Khi sử dụng viên ngậm từ sâm Việt Nam (không kết hợp kháng sinh)
Trang 17đã giúp 53,8% - 100% bệnh nhân giảm đau họng, 66% giảm viêm họng, ngăn chặn sự tái phát của cơn hen
1.1.2 Sâm vũ diệp [Panax bipinnatifidus Seem]
Sâm vũ diệp còn có tên gọi khác là vũ diệp tam thất, tam thất lá xẻ Cây mọc hoang trên vùng núi cao (1000 – 1500 m) ở miền bắc Việt Nam (Lào Cai, Sa Pa) [4] (xem hình 1.2)
Hình 1.2 Panax bipinnatifidus Seem
(Nguồn: www.Caythuocquy.info.vn)
Sâm vũ diệp có tác dụng bồi bổ cơ thể, chữa thiếu máu, xanh xao, gầy yếu, phụ nữ sau khi sinh, kích thích sinh dục và được dùng trong điều trị vô sinh [4]
Trang 181.1.3 Tam thất [Panax notogingseng (Burk.) F H Chen]
Tam thất còn được gọi là sâm tam thất, sanchi - ginseng, kim bất hoán, nhân sâm tam thất, điền thất, sơn thất, tam thất Trung Quốc, là cây thuốc được sử dụng lâu đời và có vị trí quan trọng trong y học cổ truyền, được trồng nhiều ở Vân Nam, Quảng Tây Tại Việt Nam đã từng trồng ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn [3], [4] (xem hình 1.3)
Thành phần hóa học:
Hợp chất saponin triterpen cũng được coi là thành phần chủ yếu có hoạt tính sinh học của cây tam thất Hàm lượng saponin toàn phần của rễ củ tam thất khá cao, khoảng 13,21% Đã xác định sự hiện diện của 23 saponin damaram, đó cũng là những hợp chất có trong nhân sâm
Trong tam thất đã tìm thấy 16 loại acid amin, gồm có: phenylalanin, leucin, isoleucin, valin, prolin, oxyprolin, histidin, lysin hợp chất có tác dụng cầm máu là dencichine
Ngoài ra trong tam thất còn có các thành phần: alkaloid, protid, lipid, caroten, tinh dầu, tanin, các nguyên tố vi lượng (Fe, Ca )
Các tác dụng dược lý đã được chứng minh [4]:
Tam thất có tác dụng cầm máu, rút ngắn thời gian đông máu
Trên thần kinh trung ương: tác dụng chống mệt mỏi, tăng lực, tăng sức
đề kháng, tăng khả năng lao động chân tay và trí óc, chống lại các yếu tố gây hại của môi trường (nóng, lạnh, hóa chất) Tam thất có tác dụng hồi phục số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu cho chuột nhắt bị nhiễm xạ, giảm tỷ lệ chuột chết do phóng xạ
Trên hệ tim mạch: tác dụng trực tiếp làm giảm mạch ngoại vi rõ rệt, làm
hạ huyết áp chó, chậm nhịp tim, tăng lưu lượng máu động mạch vành, giảm tiêu hao oxy của tim
Trang 19Bột tam thất làm hạ cholesterol máu, điều hòa quá trình tổng hợp và phân giải glycogen Thúc đẩy quá trình tổng hợp protein huyết thanh của gan…
Tác dụng kháng viêm: nước sắc tam thất có tác dụng kháng viêm trên
mô hình gây viêm khớp thực nghiệm
Ngoài ra, tam thất được dùng làm thuốc giảm đau, an thần, phòng chống ung thư, chữa các bệnh gan, tim mạch…
Hình 1.3 Panax notogingseng (Burk.) F H Chen
(Nguồn: http://www.fzrm.com/herbextract/sanchi extract.htm)
Trang 201.1.4 Ngũ gia bì chân chim [Schefflera octophylla (Lour.) Harms.]
Ngũ gia bì chân chim (NGBCC) còn được gọi là sâm nam, cây chân chim, kotan (Lào) Cây mọc rải rác ở các tỉnh phía bắc và phía nam dãy Trường Sơn, có nơi mọc tập trung thành từng vùng lớn 5 - 10 hecta Những tỉnh có nhiều nhất là Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Bắc, Ninh Bình, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Bình Phước, Lâm Đồng [4] (xem hình 1.4)
Hình 1.4 Schefflera octophylla (Lour.) Harms
(Nguồn: http://tuelinh.vn/ngu-gia-bi-chan-chim-1027
Trang 21Thành phần hóa học: Từ vỏ thân và các bộ phận chính của ngũ gia bì
chân chim có 2 triterpen và 12 saponintriterpen đã được phân lập và xác định cấu trúc tạo thành 6 cặp có cấu trúc ursen và oleanen Từ lá có 4 triterpen và 8 saponin mới đã được xác định cấu trúc Ngoài ra còn có một số thành phần khác: tinh dầu, acid amin…
Trung tâm sâm Việt Nam hợp tác nghiên cứu với viện nghiên cứu cây thuốc Poznan (Ba Lan) cho thấy NGBCC có các tác dụng dược lý sau [4]:
tim phúc mô là 3,32 g/kg súc vật
Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: NGBCC có tác dụng theo hai
hệ thần kinh trung ương
Cây NGBCC đã được dân gian sử dụng từ lâu để làm thuốc bổ, hạ nhiệt, chống viêm, giảm đau, trị thấp khớp, đau xương và các bệnh về gan
Ngoài 4 dược liệu kể trên, trong dân gian Việt Nam, còn sử dụng theo kinh nghiệm một số cây thuốc khác trong họ Ngũ gia bì như: đinh lăng
[Polyscias fruticosa (L.) Harm], ngũ gia bì hương [Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.], ngũ gia bì gai [Acanthopanax aculeatus Seem], chân chim bầu dục [Schefflera elliptica (Bl.) Harms, Trong đó, cây đinh lăng được sử dụng
nhiều nhất
1.2 NHỮNG CÂY THUỐC HỌ ARALIACEAE CÓ Ở THẾ GIỚI
Ngoài những cây thuốc họ Araliacea được sử dụng làm thuốc tại Việt Nam nói trên, một số loài sâm khác nổi tiếng trên thế giới như sâm Triều Tiên, sâm Liên Xô, sâm Mỹ cũng được nghiên cứu khá nhiều
Trang 221.2.1 Sâm Triều Tiên [Panax gingseng C.A Meyer]
Hình 1.5 Panax gingseng C.A Meyer
(Nguồn: internet) Sâm Triều Tiên còn có tên gọi khác là nhân sâm, hồng sâm, bạch sâm,
dã nhân sâm, korean gingseng Là loại thuốc quý được con người biết đến và
sử dụng từ lâu Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu nhưng vẫn chưa xác minh hết giá trị của loài sâm này (xem hình 1.5)
Thành phần hóa học:
Hoạt chất chính là hợp chất saponin triterpen, loại khung damaran trong
rễ củ được xem là hoạt chất chính quyết định phần lớn tác dụng sinh học đặc trưng của sâm Triều Tiên Các thành phần khác: polyacetylen, tinh dầu, alkaloide, đường , acid béo, vitamin…
Trang 23Theo y học cổ truyền, nhân sâm là vị thuốc bồi bổ nguyên khí, bổ tỳ, ích phế, an thần, tăng trí nhớ Chủ trị các chứng tỳ phế khí nhu nhược, chứng tiêu khát, khí huyết hư suy, thần chí rối loạn [4]
Kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm cho thấy nhân sâm có các tác dụng chủ yếu như sau [4]:
Trên thần kinh trung ương: điều hòa hoạt động vỏ não, gia tăng quá trình
ức chế (liều cao) và hưng phấn (liều thấp), có tác dụng hồi phục khi hai quá trình này bị rối loạn Tăng khả năng lao động trí óc và chân tay, chống mệt mỏi, tăng trí nhớ Giúp súc vật thành lập phản xạ có điều kiện nhanh hơn Giúp cơ thể tăng thích nghi với các tác động của môi trường: kéo dài thời gian sống của chuột trong điều kiện áp suất giảm (110mmHg), nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp Tăng khả năng thích nghi với sự mệt mỏi
và sức chịu đựng trong nghiệm pháp chuột bơi kiệt sức [4]
Nhân sâm có tác dụng chống lão hóa, kích thích điều hòa cơ thể miễn dịch, bảo vệ da, phòng chống tia bức xạ, chống khô da, nhăn da, giảm tác hại của phóng xạ, ức chế sự sinh trưởng của các tế bào ung thư Tác dụng phòng chống ung thư của nhân sâm được cho là tác dụng của các thành phần polyacetylen [4]
là 5g/kg, tiêm dưới da là 16,5 mg/kg Khi cho uống liên tục trong một tháng liều 100 – 250 – 500 mg/kg không thấy các thay đổi khác thường về trọng lượng [4]
1.2.2 Sâm Liên Xô [Eleutherococos senticosus Rupr Et Maxim]
Tên gọi khác: ngũ gia bì chân chim nhiều gai, cây quỷ, cây tiêu dại, sâm Tây Bá Lợi, siberian gingseng Phân bố ở vùng Viễn Đông, Nga, Nhật, Triều Tiên, Trung Quốc Có mùi thơm nặng, vị gắt [4], [36] (xem hình 1.6)
Trang 24
Hình 1.6 Eleutherococos senticosus Rupr Et Maxim
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Sâm_Tây_Bá_Lợi_Á)
Thành phần hóa học chính: hợp chất phenyl propan, cumarin,
polysacchcride, sterin, tinh dầu…
Các tác dụng của sâm Liên Xô như sau:
Là một vị thuốc quý của nền y học cổ truyền Trung Quốc được dung như thuốc bổ, giúp sống lâu, ăn ngon , tăng trí nhớ
Vào đầu những năm 50, do nhân sâm dắt và khó trồng nên các nhà khoa học Liên Xô đã chuyển hướng nghiên cứu các cây thuốc thuộc họ nhân sâm
và phát hiện loại cây này có thể thay thế nhân sâm trong một số tác dụng sinh học: tăng khả năng lao động trí óc và chân tay, kích thích hệ thống miễn dịch, gia tăng hiện tượng thực bào, gia tăng tuần hoàn, làm giãn mạch, có lợi ích trong việc điều trị bằng phóng xạ do làm giảm các hiệu ứng phụ
Sâm Liên Xô làm tăng khả năng chống đỡ của động vật với các tác nhân gây độc có nguồn gốc vật lý, hóa học và sinh vật: lạnh, nóng, bất động, chấn
Trang 25thương sọ não thục nghiệm, các thuốc chống ung thư…Tăng sức đề kháng của người với các bệnh đường hô hấp
Trong vài năm gần đây, một số nghiên cứu về tương tác của sâm Liên
Xô với dược phẩm cho thấy nó làm tăng nồng độ Digoxin huyết thanh 75%, giảm tác động chống đông máu của warfarin, thay đổi độc tính của phenelzine
1.2.3 Sâm Mỹ [Panax quinquefolium L.]
Tên gọi khác: sâm Mỹ, sâm Hoa Kỳ, tây dương sâm, dương sâm, Quảng Đông nhân sâm, american gingseng) Cây mọc hoang dại và trồng tại Mỹ, Canada, Trung Quốc, New Zealand, Australia (xem hình 1.7)
Hình 1.7 Panax quinquefolium L
http://vi.wikipedia.org/wiki/Sâm_Mỹ
Trang 26Thành phần hóa học: trong rễ củ có13 saponin chủ yếu là dẫn xuất của
protopanaxadiol và protopanaxatriol tương tự nhân sâm
Hiện đã tìm thấy 7 hợp chất polyacetylen, trong đó có 4 hợp chất giống nhân sâm và 3 hợp chất mới
Sâm Mỹ có tác dụng bổ, tăng lực, chống mệt mỏi và sinh thích nghi, phòng chống ưng thư, an thần… tương tự nhân sâm [4] Một số vùng ưa chuộng sử dụng sâm Mỹ vì có tác dụng em dịu hơn nhân sâm
1.3 CHI POLYSCIAS
Chi Polyscias (Đinh lăng) có nguồn gốc từ đảo Polynesie (Thái Bình
Dương) Chi này có gần 100 loài trên thế giới phân bố rải rác ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, hiện có khoảng 10 loài thuộc chi đinh lăng, phân bố ở khắp nơi Trong đó, có 6 loài đã được nghiên cứu và sử dụng Đa
số các loài trồng hiện nay được sử dụng làm cảnh, chỉ có vài loài được dùng
làm thuốc, trong đó loài được dùng phổ biến nhất là đinh lăng [Polyscias fruticosa (L.) Harms].
1.3.1 Cây đinh lăng [Polyscias fruticosa (L.) Harms]
Tên gọi khác: cây gỏi cá, nam dương lâm, đinh lăng lá xẻ hay đinh lăng hương [2], [6], [7], [29]
Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L.) Harms
Họ Ngũ gia bì (Araliaceae) [11]
Các tên khác: Nothopanax fructicosus (L.) Mig.; Tieghemopanax fructicosus (L.) R Vig.; Panax fructicosum (L.) Mig
Trang 27
a.Cụm hoa
b Quả
c Cây đinh lăng
Hình 1.8 Polyscias fruticosa (L.) Harms
(nguồn: www.hungvuongdalat.info)
Trang 28Đây là loại cây nhỏ, thân nhẵn, phân nhiều nhánh, thân có mang những vết sẹo lá hình chữ V, không có gai, thường cao 0,8 đến 1,5 m, vỏ thân có mùi thơm nhẹ Lá kép 3 lần xẻ lông chim dài 20 - 40 cm, không có lá kèm rõ Lá chét có cuống gầy dài 3 - 10 mm, phiến lá chét có răng cưa không đều, lá có mùi thơm Cụm hoa hình chùy ngắn 7 - 18 mm gồm nhiều tán, mang nhiều hoa nhỏ, đài hoa dạng chén, hoa có 5 cánh màu lục nhạt hình trứng thuôn dài 2-3 mm, có 5 nhị chỉ nhị ngắn và mảnh dài khoảng 1,5 mm Cây thường ra hoa vào tháng 4 và tháng 7 Quả dẹt dài 3 - 4 mm, dày 1 mm có vòi, khi chín
có màu tím đen, đôi khi trắng xám Rễ cong dài khoảng 30 cm, rộng khoảng 2,5 cm, đầu trên to, đầu dưới thuôn.Mắt ngoài màu trắng xám, có nhiều nếp nhăn dọc, nhiều lỗ bì nằm ngang, nhiều vết tích của rễ con và các rễ con còn xót lại, dễ bẻ gãy, mặt bẻ lởm chởm.(xem hình 1.8) Mặt cắt ngang màu vàng nhạt, gỗ sắp xếp thành tia từ giữa tỏa ra [1], [2], [7], [11], [18]
Cây đinh lăng được phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới như Malaixia, Indonexia, miền Nam Trung Quốc, Lào, Polynesie… Tại Việt Nam cây đinh lăng được trồng ở nhiều nơi và thường trồng làm cảnh ở sân đình, nhà thờ, khu di tích lịch sử… Ngoài ra, còn được sử dụng trong các bài thuốc dân gian [11], [18]
Bộ phận dùng làm thuốc thường là rễ, thân và lá Rễ đinh lăng có vị ngọt hơi đắng, tính bình; lá có vị nhạt, hơi đắng, tính bình Rễ của những cây
đã trồng từ 3 năm trở lên có nhiều hoạt chất hơn Rễ được thu hái vào mùa đông, đem rửa sạch, cắt bỏ phần rễ sát gốc, thân rồi phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và chất lượng Khi dùng để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5% sao qua rồi tẩm 5% mật ong, sao thơm Dược liệu có vị ngọt, đắng, mùi thơm, tính mát, không độc Nếu rễ nhỏ thì dùng cả, nếu rễ to thì dùng phần vỏ rễ Lá thu hái quanh năm, thường dùng tươi [14], [9], [20]
Trang 291.3.2 Cây đinh lăng lá tròn [Polyscias balfouriana Bail.]
Hình 1.9 Polyscias balfouriana Bail
(nguồn: http://www.google.com.vn)
Cây tiểu mộc, cao 1 - 2 m, lá kép thường mang 3 lá phụ trên một cuống dài, phiến lá tròn, đầu tà Lá có màu xanh đậm, không lông, bìa lá có răng nhọn Được trồng làm cảnh ở khắp nơi tại Việt Nam [7], [20] (xem hình 1.9)
1.3.3 Cây đinh lăng trổ [Polyscias guilfoylei Bail.]
Đinh lăng trổ hay còn gọi là đinh lăng viền bạc Cây bụi, cao 3 - 4 m, mọc thẳng, thân cây màu xám ít phân nhánh Lá đa dạng, rộng Lá có màu lục sáng, viền trắng, chia lông chim đều đặn (xem hình 1.10)
Trang 301.3.4 Cây đinh lăng răng [Polyscias serrata Balf.]
Cây bụi cao 0,5 - 1,5 m Thân cây màu xám trắng, không lông Cành non xanh, lá hai lần kép, màu xanh Trồng làm cảnh [20] (xem hình 1.11)
Trang 31Hình 1.11 Polyscias serrata Balf
(nguồn: http://www.google.com.vn)
1.3.5 Cây đinh lăng ráng [Polyscias filicifolia Balf.]
Cây đinh lăng ráng còn gọi là đinh lăng lá to Cây tiểu mộc cao đến 2,5
m Thân có bì khẩu Lá đa dạng: ở thân non, kép 1- 2 lần thành đoạn hẹp nhọn, bìa có răng nhọn, dạng lá ráng; ở nhánh già lá đơn, thon, có màu lục tươi, gân ở giữa Trồng làm cảnh [19] (xem hình 1.12)
Trang 32Hình 1.12 Polyscias filicifolia Balf
(nguồn: http://www.google.com.vn)
1.3.6 Cây đinh lăng dĩa [Polyscias scutellaria (Burm f.) Merr.]
Loài tiểu mộc cao từ 1- 2 m, thân nâu đen, có bì khẩu trắng Lá đơn, phiến tròn như cái đĩa hay hình bán cầu, xanh, không lông Chụm tụ tán thòng dài, tán 5 - 8 hoa, hoa giữa không cọng, cánh hoa xanh, cao 3,5 mm, noãn sào 3-4 vòi nhụy Gốc ở Mexico, thường trồng làm kiểng ở Việt Nam [5], [7], [19]
Trang 33Hình 1.13 Polyscias scutellaria (Burm f.) Merr
được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều về mặt hóa học [20]
Trang 341.4.1 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây đinh lăng
Theo các tài liệu đã công bố, thành phần hóa học chủ yếu của loài
Polyscias fruticosa (L.) Harms gồm có: glucosid, alkaloid, polyacetylen,
tanin, vitamin (B1, B2, B6, C), tinh dầu (b-elemen, a-bergamoten, germacren
argenin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenin alanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, triptophan, metionin…[11], [13], [14], [15], [16], [20], [26]
Võ Xuân Minh và cộng sự [5] đã định lượng saponin toàn phần trong các
bộ phận của cây đinh lăng và cho biết hàm lượng của saponin trong rễ (0,49%), vỏ rễ (1,00%), lõi rễ (0,11%), và lá (0,38%)
Theo các tài liệu tham khảo được, đến nay đã có khoảng 23 hợp chất được phân lập từ cây đinh lăng
Sáu hợp chất đã được phân lập từ rễ đinh lăng [13], gồm có:
3,10-diol (1); 3-ol-10-on (2); (8Z)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on (3); panaxydol (4), falcarinol (5) và acid oleanolic (6)
(8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-Saponin triterpen là nhóm chất chính phân lập được từ cây đinh lăng Chúng gồm các hợp chất O-glycosid của acid oleanolic chứa từ 2 đến 5 đơn vị đường Dưới đây là các saponin triterpen đã được phân lập từ cây này [23], [25]
Acid 3-O-[b-D-galactopyranosyl- (1®2) -b-D-glucopyranosyl] oleanolic (7); 3-O-[a-L-rhamnopyranosyl-(1®4)- b- D- glucopyranosyl] - 28 – O - b- D -
glucopyranosyl ester (8); Acid glucuronopyranosyl oleanolic (9); Acid 3- O- b- D- glucopyranosyl- (1®2) - b- D- glucuronopyranosyl oleanolic (10); Acid 3-O-[b-D-glucopyranosyl-
3-O-b-D-glucopyranosyl-(1®4)-b-D-(1®2) -b- D -glucopyranosyl- (1®4)]-b-D-glucuronopyranosyl oleanolic
Trang 35(11); Acid 3-O- [a- L- arabinopyranosyl- (1®2 ) - b- D- glucopyranosyl-
(1® 4)] b D glucuronopyranosyl oleanolic (12); Acid 3 O [ b D
-glucuronopyranosyl oleanolic (13); 3-O-b-D-glucopyranosyl-
(1®4)-b-D-glucuronopyranosyloleanolic -28-O-b-D-glucopyranosyl ester (14); 3 - O - [b-D-glucopyranosyl- (1® 2)- b- D- glucopyranosyl- (1®4)] - b- D-glucuronopyranosyl oleanolic - 28 - O - b- D-glucopyranosyl ester (15); 3-O-[a-L-arabinopyranosyl - (1® 2) - b-D-glucopyranosyl - (1® 4)]-b-D-glucuronopyranosyl oleanolic -28-O-b-D-glucopyranosyl ester (16); 3-O-[b-D-galactopyranosyl- (1® 2)- b- D- glucopyranosyl - (1® 3)]-b- D- glucuronopyranosyl oleanolic -28-O-b -D-glucopyranosyl ester (17); 3-O-b-D-Glucopyranosyl-(1®4)-b-D-glucuronopyranosyl oleanolic 28-O-b-L-rhamnopyranosyl-(1® 3)-b-D-glucopyranosyl ester (18); 3-O-[b-D-
glucuronopyranosyl oleanolic
-28-O-[a-L-rhamnopyranosyl-(1®3)-b-D-glucopyranosyl ester (19)
Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Tấn Thiện [18], [20] đã cô lập được các
hợp chất stigmasterol (20); acid oleanolic (6); isophytol (21) và 2 hợp chất lần đầu tiên được tìm thấy trong cây này là 5-hydroxymetylfurfural (22) và 3b- hydroxyolean-28(13)-lacton (23)
Cấu trúc hóa học của các hợp chất được cô lập từ cây đinh lăng được trình bày theo như sau :
Trang 36(8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3,10-diol (1)
(8E)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on (2)
(8Z)-heptadeca-1,8-dien-4,6-diyn-3-ol-10-on (3)
Trang 37Panaxydol (4)
Falcarinol (5)
Acid olenolic (6)
Trang 38Acid 3-O-[b-D-galactopyranosyl-(1®2)-b-D-glucopyranosyl] oleanolic (7)
3-O-[a-L-rhamnopyranosyl-(1®4)-b-D-glucopyranosyl]-28-
O-b-D-glucopyranosyl ester (8)
Trang 40Stigmasterol (20)
Isophytol (21)
5-hydroxymetylfurfural (22)