Tuy nhiên, cho đến nay hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các cây trong chi Cau Chuột của Việt Nam được công bố.. Mục đích nghiên c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ DOÃN HÙNG
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC MỘT SỐ HỢP CHẤT HÓA HỌC TRONG MỘT SỐ DUNG MÔI CỦA QUẢ CÂY CAU CHUỘT NÚI (PINANGA DUPERREANA) THUỘC
HỌ CAU (ARECACEAE) Ở TỈNH HÒA BÌNH CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Hóa Hữu cơ
Mã số: 60.44.27
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH TRẦN VĂN SUNG
Trang 2Đà Nẵng – Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
VÕ DOÃN HÙNG
Trang 4MỤC LỤC
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ CHI TRONG HỌ CAU (ARECACEAE) xiv
Trang 5CHƯƠNG 2.CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM xlii
2.2.5 Phương pháp lựa chọn chất hấp phụ và dung môi chạy cột sắc kí l
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
(Phổ Dept)
1H-1H COSY : Phổ tương quan proton (1H-1H)
(Tương quan trực tiếp qua một liên kết)
HMBC : Phổ tương quan 1H- 13C tương tác xa (Qua 2-3 liên kết)
Trang 7IC50 : Nồng độ có hiệu lực ức chế 50% cá thể
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.7 Sơ đồ phân lập và tinh chế chất sạch của phân đoạn
3.1 Sơ đồ phân mảnh của hợp chất PDQM.1 bởi phản ứng
Font: 16 pt Centered Font: Bold
Centered
Trang 103.4 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C-NMR của catechin 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay trong thế giới hiện đại, ngành công nghiệp phát triển kéo theo nhiều vấn đề về môi trường, sinh thái và sức khoẻ con người Mô hình bệnh tật vì thế cũng ngày càng phức tạp hơn Những năm gần đây thế giới luôn phải đối mặt với những dịch bệnh nguy hiểm và có khả năng lan rộng thành đại dịch ở quy mô toàn cầu Có thể lấy một số ví dụ điển hình như bệnh HIV/AIDS, ung thư, viêm đường hô hấp cấp SARS, cúm gia cầm
H5N1, cúm lợn H1N1, bệnh tim mạch v.v Thực tế đó đã thúc đẩy chúng ta luôn luôn phải tìm ra các loại thuốc chữa bệnh mới, có hiệu quả cao, tác dụng chọn lọc hơn và giá thành rẻ hơn để điều trị các bệnh hiểm nghèo Hóa học các hợp chất thiên nhiên nói chung và các hợp chất có hoạt tính sinh học nói riêng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Từ xa xưa, con người đã khám phá sức mạnh của thiên nhiên và biết sử dụng nhiều loại thực vật nhằm mục đích chữa bệnh, đồng thời tránh được một số tác nhân có hại cho sức khỏe con người và được đặt lên hàng đầu Do vậy, việc nghiên cứu các chất mang hoạt tính sinh học cao có trong các loài cây, cỏ có tác dụng thiết thực trong đời sống hàng ngày là vấn đề quan tâm của toàn xã hội
Việt Nam là một nước có nguồn thực vật phong phú với khoảng
12000 loài, trong đó đã điều tra được 3850 loài được sử dụng làm thuốc thuộc 309 họ Đa phần các cây moc tự nhiên và chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về mặt khoa học cũng như hoạt tính sinh học
Họ cau (Arecaceae Schultz - Sch.) là một họ thực vật lớn Trên thế giới họ này có khoảng 202 chi và 2600 loài [2] Ở Việt Nam họ Cau cũng là một họ lớn, các loài trong họ này mọc hoang hoặc được trồng khắp nơi trong
cả nước Các loài trong họ cau ở Việt Nam có nhiều công dụng khác nhau Đại đa số các loài của họ cau dùng để làm nhà, làm đồ mỹ nghệ, làm thực phẩm và thuốc Có nhiều loài mới được phát hiện cho khoa học và là loài
Trang 12đặc hữu của Việt Nam Chi Cau Chuột (danh pháp khoa học: Pinanga) là một chi thực vật quan trọng và mọc phổ biến trong họ Cau Chi này có nhiều loài đặc hữu của Việt Nam và nhiều loài được ứng dụng trong y học cổ truyền để điều trị ung thư, chữa các bệnh về máu, làm thuốc trừ giun sán Tuy nhiên, cho đến nay hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các cây trong chi Cau Chuột của Việt Nam được công bố
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất hóa học trong một số dung môi của quả cây Cau Chuột Núi (Pinanga duperreana) thuộc họ Cau (Arecaceae) ở tỉnh Hòa Bình của Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định thành phần hóa học trong quả cau chuột núi
- Phân lập và xác định cấu trúc của một số cấu tử chính có trong quả cau chuột núi
- Thử hoạt tính sinh học của dịch chiết và từ các cấu tử đã tách được
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: quả Cau Chuột Núi ở tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi: nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học và phân lập một số cấu tử chính có trong quả Cau Chuột Núi và dịch chiết từ quả cau chuột núi bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: phương pháp nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên, tổng quan các tài liệu về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học, tác dụng sinh học của các thành phần thuộc cây cau, các phương pháp chiết tách và xác định thành phần hóa học của các hợp chất thiên nhiên và hoạt tính sinh học của chúng
- Phương pháp chiết: ngâm, chiết, chưng ninh, chiết soxhlet bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau
Trang 13- Phương pháp xác định các chỉ số vật lý và hóa học: xác định độ ẩm bằng phương pháp trọng lượng, xác định hàm lượng hữu cơ bằng phương pháp tro hóa mẫu, xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp AAS, các phương pháp xác định chỉ số vật lý tỷ trọng, chỉ số khúc xạ, các phương pháp xác định chỉ số axit, este, xà phòng hóa…
- Phương pháp xác định thành phần hóa học, định danh, tách và phân lập, xác định cấu trúc các cấu tử chính bằng các phương pháp, sắc ký cột (SKC), sắc ký bản mỏng (SKBM) sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS),
1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, COSY, HMBC, HSQC, IR, MS
5 Nội dung nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Từ các nguồn tài liệu khác nhau tìm hiểu về hợp chất thiên nhiên, các phương pháp chiết tách và xác định thành phần hóa học của các hợp chất thiên nhiên và hoạt tính sinh học của chúng
- Sơ lược họ Cau và tác dụng của một số cây thuộc họ Cau
- Sơ lược cây cau chuột núi, thành phần hóa học và ứng dụng của các
bộ phận của cây cau chuột núi:
+ Đặc điểm, phân bố
+ Công dụng của cây cau chuột núi đối với đời sống
- Đặc điểm cây cau chuột núi
5.2 Nghiên cứu thực nghiệm:
1 Nghiên cứu và xử lý nguyên liệu: Xử lý nguyên liệu: Sấy khô ở
60oC trong tủ sấy hoặc phơi trong bóng râm
2 Thăm dò khả năng chiết các cấu tử trong quả cau chuột núi bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau (n-Hexan, EtOAc, MeOH )
3 Xác định thành phần hóa học của các dịch chiết bằng phương pháp sắc kí bản mỏng từ đó chọn dung môi chiết tối ưu để nghiên cứu tiếp
4 Tách và phân lập các cấu tử chính trong quả cau chuột núi bằng phương pháp vật lý: chạy sắc kí cột nhồi silicagen, sắc kí bản mỏng, 1H-
Trang 14NMR, 13C-NMR, DEPT, COSY, HMBC, HSQC, IR, MS
5 Thử hoạt tính sinh học của quả cau chuột núi: Các mẫu dịch chiết, cấu tử tách được đem thử khả năng kháng vi sinh vật kiểm định, hoạt tính gây độc tế bào
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cung cấp thông tin khoa học về thành phần, cấu tạo một số hợp chất chính và hoạt tính sinh học có trong dịch chiết quả cau chuột núi góp phần nâng cao giá trị sử dụng của cây cau
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm :
Phần mở đầu
Chương 1 – TỔNG QUAN
Chương 2 – CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỌ CAU [1], [2], [5], [6], [23]
Họ Cau hay họ Cọ, họ Cau dừa hoặc họ Dừa (danh pháp khoa học: Arecaceae, đồng nghĩa Palmae), là một họ trong thực vật có hoa, thuộc về lớp thực vật một lá mầm và nằm trong bộ Cau (Arecales) Hiện nay, người
ta biết khoảng 202 (APG: 189) chi với khoảng 2.600 (APG: 2.361) loài,
Trang 15phần lớn sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới Trong số tất cả các
họ thực vật thì họ Cau có lẽ là dễ nhận biết nhất Loài điển hình trong họ này là cau, quả của nó được nhai với lá trầu không Các loài như chà là, mây, cọ hay dừa cũng thuộc về họ này
1.1.1 Đặc điểm chung về hình thái của họ Cau (Arecaceae) [1] Thân mọc đơn độc hay thành cụm; hình trụ, thường không phân nhánh (hiếm khi có hay một lần; hoa đơn tính, cùng gốc hay khác gốc Lá đơn, xẻ thùy hình lông chim hay chân vịt, thùy lá xếp gập lên hay gập xuống, sống lá có thể kéo dài thành roi Cụm hoa mọc ở nách lá, giữa các nách lá, dưới lá hay trên lá; cụm hoa có thể lưỡng tính hay đơn tính, không phân nhánh hay phân nhánh từ 1 – 5 lần, đôi khi kéo dài và có roi Hoa có thể tạo cụm 3 : 2 hoa đực và 1 hoa cái ở giữa, đơn độc hay thành nhóm Hoa thường mẫu 3, hoa có thể đơn tính hay lưỡng tính Quả hạch, rất đa
Cây Dừa Cây Cau
Hình 1.1 Một số loài cây thuộc họ Cau
Trang 16dạng về hình dạng, cỡ, khi chín thường có màu xanh sẫm, tím, đỏ hay trắng; vỏ quả ngoài nhẵn hay có vảy, vỏ quả giữa có sợi hay nạc, vỏ quả trong thường cứng
Họ Cau trên thế giới có khoảng 236 chi, 3500 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi, châu Á và Oxtraylia Ở Việt Nam có 39 chi, 103 loài
a Thân cây
Cây có thân mọc đơn độc như Cau (Areca), Chà là (Phoenix dactylifera) hay mọc thành cụm như Cau kiểng vàng (Chrysalidocarpus lutescens), Cau kiểng đỏ (Cyrtostachys), Chi mật cật (Rhapis) Thân cây thẳng hình cột, hoá gỗ Chiều cao và đường kính thay đổi tuỳ theo loài Thường các cây họ Cau có thân cây không phân nhánh, đôi khi có phân nhánh như Phướn (Korthalsia laciniosa), hoặc phình to ở gốc hay ở giữa như Cau bụng (Roystonea regia), thân ngầm bò lan như Dừa nước (Nypa fruticans), thân leo (các loài trong chi Mây (Calamus), Mây đang (Daemonorops), Liệt công (Plectocomia), Song voi (Plectocomiopsis), … hay thân rất ngắn, gần như không thân như Mật cật gai móc (Salacca edulis) Thân cây có lóng hay có những vòng do sẹo lá để lại như chi Cau (Areca) Bề mặt thân cây có thể bị bao bọc bởi gốc lá và sợi của bẹ lá như Móc (Caryota)
b Lá
Lá của các loài họ Cau (Arecaceae) là lá đơn, khi non thường nguyên, khi trưởng thành xẻ thuỳ hình lông chim hay chân vịt, cỡ lá đa dạng, có thể dài tới 1 – 2 m Cấu tạo của lá thường gồm các bộ phận như bẹ
lá, cuống lá, lưỡi gốc phiến và phiến lá
Trang 17(Chamaedorea elegans) Hoa tạo nhóm 3 : 2 hoa đực và 1 hoa cái ở giữa, nhóm 2 hoa đực hay hay hoa đực đơn độc, hay hoa đực xếp 2 hàng về một phía của nhánh
Hoa thường mẫu 3, hoa có thể lưỡng tính ở chi Cọ (Livistona) hay đơn tính ở chi Cau (Areca), chi Búng báng (Arenga), Hoa thường có cỡ nhỏ (< 2 cm), màu xanh, vàng nhạt, kem, trắng
d Quả
Quả các đại diện họ Cau là quả hạch, rất đa dạng về hình dạng và kích thước Khi chín thường có màu xanh sẫm, tím, đỏ hay trắng Quả có thể có hình trứng, hình cầu, hình bầu dục, hình thận, gần hình thoi, hình dạng 3 góc Thường có bao hoa tồn tại dưới quả Vỏ quả ngoài thường nhẵn hay có vảy như phân họ Mây (Calamoideae) Vỏ quả giữa có sợi ở Dừa (Cocos), Dừa nước (Nypa) hay nạc ở các chi Mây (Calamus), chi Móc (Caryota) Vỏ quả bên trong thường cứng
e Hạt
Hạt 1 – 3, hình dạng và cỡ phù hợp với quả, có vỏ cứng hoặc không, phôi nhũ đồng nhất hay bị xâm nhập
1.1.2 Phân loại họ Cau [1]
Họ Cau được chia thành 5 phân họ (sắp xếp theo trật tự phát sinh loài) là:
Calamoideae Beilschmied, đồng nghĩa Calamaceae Perleb, Lepidocaryaceae O F Cook: Khoảng 21 chi, trong đó các chi đa dạng nhất là Calamus (khoảng 400 loài), Daemonorops ( khoảng 115 loài) Sinh sống tại khu vực nhiệt đới, đặc biệt từ Sri Lanka tới Tây Samoa và Fiji
Nypoideae Griffith, đồng nghĩa Nypaceae Le Maout & Decaisne: 1 chi, 1 loài (Nypa fruticans) Hiện sinh tồn tại khu vực Malesia (từ Bengal tới Queensland) Trong quá khứ, thấy có hóa thạch rải rác ở
Trang 18nhiều nơi trong khu vực nhiệt đới và ôn đới ấm ở cả hai bán cầu
Coryphoideae Burnett, đồng nghĩa Borassaceae Schultzenstein, Coryphaceae Schultz-Schultzenstein, Phoeniciaceae Burnett, Sabalaceae Schultz-Schultzenstein: Khoảng 45 chi, trong đó chi Coccothrinax là đa dạng nhất (khoảng 50 loài) Phân bố khắp trong vùng nhiệt đới (tới ôn đới ấm), ít loài ở Nam Mỹ
Schultz- Ceroxyloideae Drude, đồng nghĩa Phytelephaceae Perleb: Khoảng 8 chi và 42 loài Chủ yếu tại Trung Mỹ, tây Nam Mỹ, cũng có ở đông bắc Australia, Madagascar, Florida và khu vực quần đảo Antilles Phân họ này bao gồm cả Phytelephantoideae (Dransfield và ctv 2005)
Arecoideae Burnett, đồng nghĩa Acristaceae O F Cook, Ceroxylaceae O F Cook, Chamaedoraceae O F Cook, Cocosaceae Schultz-Schultzenstein, Geonomataceae O F Cook, Iriarteaceae O
F Cook & Doyle, Malortieaceae O F Cook, Manicariaceae O F Cook, Pseudophoeniciaceae O F Cook, Synechanthaceae O F Cook: Khoảng 112 chi, trong đó đa dạng loài nhất là Bactris (khoảng
240 loài), Dypsis (khoảng 140 loài), Pinanga (khoảng 120 loài), Chamaedorea (khoảng 110 loài), Geonoma (khoảng 75 loài), Desmoncus (khoảng 65- loài), Areca (khoảng 60 loài), Astrocaryum (khoảng 50 loài) Phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới, phân họ đa dạng nhất tại Nam Mỹ
1.1.3 Một số chi trong họ Cau [1]
Các chi quan trọng về mặt kinh tế là:
Trang 19 Calamus - Song, mây
1.1.4 Phân bố của họ Cau
Trong họ Cau: Cây cau được trồng ở nhiều nơi, khắp vùng Châu Á, phía đông bao trùm Thái Bình Dương đến các đảo cạnh Châu Úc, phía tây vượt quá Ấn Độ đến bờ biển Châu Phi, phía bắc lấn tràn Miến Điện và miền nam Trung Quốc, phía nam chiếm toàn Đông Nam Á với quần đảo Nam Dương Cau trồng nhiều ở vùng nhiệt đới như Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác
Có một ít loài cây trong họ này có thể chịu được giá lạnh còn chủ yếu là các loài sinh sống trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Ba loài chịu lạnh tốt nhất là Trachycarpus fortunei, có nguồn gốc ở miền đông châu Á, Rhapidophyllum hystrix và Sabal nhỏ, cả hai đều có nguồn gốc ở
Trang 20miền đông nam Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, các loài cây khác nhau của họ Cau có thể thấy tại các khu vực có khí hậu nhiệt đới và khí hậu Địa Trung Hải như Florida, miền nam California và Hawaii và dọc theo bờ biển của vịnh Mexico từ miền nam Georgia, Mississippi, Alabama và Louisiana tới Texas Bang miền đông nam Nam Carolina còn có tên hiệu là bang Palmetto do ở bờ biển phía Đại Tây Dương của bang này có rất nhiều cây thuộc họ Cau Một số loài còn có thể sinh sống xa hơn về phía bắc tới Maryland, Arkansas, và thậm chí dọc theo bờ biển Thái Bình Dương tới tận Oregon và Washington Người ta còn biết có vài loại cọ lai ghép có thể sống xa về phía bắc tới tận miền nam New Jersey [1] Các khu vực sa mạc của Nevada, Arizona, Utah
và New Mexico cũng là quê hương của vài loài cọ
Miền nam châu Âu có hai loài cọ bản địa là Chamaerops humilis (rộng khắp, nhưng chủ yếu ở Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Italy và Malta) và Phoenix theophrastii (Crete và miền nam Thổ Nhĩ Kỳ) Nhiều loài cọ khác cũng được trồng rộng rãi, với loài cọ Nhật Bản Trachycarpus wagnerianus có thể trồng và sống được tận ở Iceland
Ở Việt Nam, Cau trồng được ở khắp các tỉnh thành trên toàn quốc, trồng nhiều ở Thanh Hóa, Nghệ An, An Lão - Bình Định, Tiên Phước - Quảng Nam, Cao Nhân - Hải Phòng
1.1.5 Quá trình tiến hóa của họ Cau
Nhóm thân cây của họ Arecaceae có niên đại tới khoảng 120 triệu năm trước (Ma), sự phân nhánh trong nhóm chỏm cây khoảng 110 Ma (theo Janssen & Bremer 2004), hoặc có niên đại tương ứng là 99-91 Ma và 73-63 Ma (theo Wikström và ctv 2001) Magallón và Castillo (2009) ước tính niên đại khoảng 128 và 115 Ma cho nhóm thân cây của bộ Arecales Các dữ liệu hóa thạch của họ này có thể có niên đại tới 93 Ma (Pan và ctv 2006; Harley 2006) Các dữ liệu thu thập (lá, thân, quả) từ các lớp đá tại Texas có niên đại thuộc kỷ Creta-tầng Champagne (khoảng 77 Ma) đã
Trang 21được xác định là thuộc về chi Sabal; những con khủng long non trẻ có thể
đã ăn quả của chúng (Manchester và ctv 2010a)
Các loại lá, phấn hoa và hoặc gỗ cọ là khá phổ biến và phân bố rộng vào cuối kỷ Creta khi nhiệt độ toàn cầu là ấm áp hơn (Burnham & Johnson 2004), thậm chí có cả ở châu Phi và Ấn Độ, những nơi mà ngày nay họ này không được đa dạng cho lắm; tại châu Phi các loài cọ đã trở nên ít phổ biến hơn vào đầu kỷ đệ Tam và một lần nữa vào cuối thế Eocen, khoảng 34 Ma (Pan và ctvl 2006; Harley 2006 để có tổng quan về các hồ sơ hóa thạch)
Có lẽ các loài cọ hiện nay rất dễ bị tổn thương trước băng giá, phần lớn chỉ
có một lớp mô phân sinh sinh dưỡng duy nhất không có khả năng sinh ra các mô phân sinh thay thế nếu như những mô này bị chết Thông thường chúng được tìm thấy tại những nơi có nhiệt độ trung bình năm cao hơn
10 °C, nhiệt độ trung bình trong các tháng lạnh nhất trên 5 °C và nhiệt độ thấp nhất không dưới -10 °C (Greenwood & Wing 1995) Ít nhất thì sự đa dạng và sự đa dạng hóa của chúng tại Tân thế giới từng liên quan tới tính bền vững ổn định của các khu vực tương đối ấm và ẩm mà chúng ưa thích (Svenning và ctv 2008) Mặc cho kích thước của cây và quả, sự phát tán chứ không phải là sự chia tách do các cản trở tự nhiên ngày càng được viện dẫn nhiều hơn để giải thích các khía cạnh trong sự phân bố hiện tại của họ này Các hóa thạch thuộc chi Nypa rất khác biệt được biết đến từ đầu kỷ đệ Tam khi chi này dường như đã có sự phân bố khắp thế giới (nhiều hay ít); các hóa thạch được tìm thấy tại Tasmania, Anh (hệ thực vật đất sét London), v.v (Plaziat và ctv 2001 Để hiểu thêm về sự tiến hóa của môi trường sống kiểu đước (ngập nước mặn), xem bài về họ Rhizophoraceae; tuy nhiên các loài Nypa ưa thích môi trường ít mặn hơn so với nhiều loài đước, và được tìm thấy dọc theo các con sông cho tới giới hạn của khu vực chịu ảnh hưởng của thủy triều) Sự phân bố rải rác và dường như thuộc về đại lục Gondwana cổ đại của phân họ Ceroxyloideae có lẽ được giải thích tốt nhất nhờ vài sự kiện phát tán liên đại dương vào giữa kỷ đệ Tam (Trénel
Trang 22và ctv 2007), trong khi các loài thuộc chi Hyophorbe Chamaedoreeae) bị đứt đoạn trên quần đảo Mascarene, và chi này có thể đã phân tỏa trên các hòn đảo hiện nay đang nằm dưới mặt đại dương, bằng những "bước nhảy ngắn" từ đảo này qua đảo khác (Cuenca và ctv 2007); một vài loài thuộc các họ Myrtaceae, Begoniaceae và Sapotaceae có thể thể hiện hành vi "nhảy lò cò" trên đảo tương tự như thế Roncal và ctv (2008) khảo sát tỉ mỉ địa sinh học của các loài cọ tại khu vực Antilles
(Arecoideae-1.1.6 Đặc tính thực vật
Cây cau là cây sống lâu năm Thân mọc thẳng, không chia cành,
có nhiều đốt do vết lá cũ rụng Lá tập trung ở ngọn, cuống phát triển thành
bẹ to ôm lấy thân, phiến lá to, rộng, xẻ lông chim Hoa tự mọc thành buồng, ngoài có mo bao bọc, hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới Hoa đực nhỏ màu trắng, thơm, màu lục Hoa cái to, bao hoa không phân hoá Quả hạch hình trứng, lúc còn non có màu xanh, vỏ bóng nhẵn, khi già có màu vàng, vàng cam hoặc đỏ Quả bì có sợi Hạt có nội nhủ xếp cuốn Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn giữa đáy hơi lõm, màu nâu nhạt, vị chát (hình 1.2 )
Cau có 2 loại chính: Cau vườn và cau rừng
Hình 1.2 Cây Cau, trái Cau, hạt Cau
- Cau vườn cao độ 10 ÷ 20m, đường kính khoảng 10 ÷ 15cm, lá có
bẹ to dài từ 1,5m đến 2m, hình lông chim Hoa nhỏ, màu trắng ngà, thơm Quả hạch hình trứng, to gần bằng quả trứng gà, lúc non xanh, vỏ bóng
Trang 23nhẵn, khi già thành màu vàng đỏ (hình 1.3) Quả bì có sợi, hạt có nội nhũ xếp cuốn Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn, màu nâu nhạt, vị chát Cau được trồng bằng quả, sau 5 – 6 năm mới thu hoạch
Hiện nay, ở Việt Nam có trồng giống cau nhập từ Đài Loan đó là cau lùn, cao khoảng 2 3m, ra trái quanh năm (cau tứ thời) Cau lùn cho năng suất cao, khi non có màu xanh và khi chín có màu đỏ (hình 1.4)
- Cau rừng (Areca laosensis O.Becc): cây bé, thân trụ mọc thẳng đứng đơn độc, cao 2 - 6m, có đốt đều đặn, cách xa nhau 8 - 10cm, lá dài khoảng 1m, dạng kép lông chim, các lá chét xếp vào rất sát nhau, không đều hình cong liềm, mép hơi có răng, lá tập trung ở ngọn, hoa vàng nhạt Quả nhỏ, nhọn, chắc, hình trứng, khi chín có màu vàng cam (hình 1.5) Nước ta, vùng núi Nghệ An, Thanh Hóa có nhiều cau rừng
Cây cau vườn Hoa cau vườn Buồng cau vườn
Hình 1.3 Cây Cau vườn (Gia tân lang)
Cây cau lùn Hoa cau lùn
Hình 1.4 Cây Cau lùn (Cau tứ thời)
Buồng cau lùn
Trang 241.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ CHI TRONG HỌ CAU (ARECACEAE)
1.2.1 Chi Cọ (Livistona R.Br.)
Trên thế giới chi cọ có khoảng 28 loài, phân bố ở Châu Phi, Indonexia, Malayxia, Niu Ghinê và Oxtrâylia Ở Việt Nam chi cọ có bốn loài như sau :
- Cọ hạ long (Livistona halongensis T.H Nguyen&Kiew)
- Cọ [Livistona saribus (Lour.) Merrie ex A Chev.], còn có tên là lá gồi, kè, lá nón, kè nam, kè đỏ
- Cọ xẻ [Livistona chinensis (Jacq.) R.Br], còn gọi là kè tàu
- Kè bắc bộ (Livistona tonkinensis Magalon)
Trong số bốn loài thuộc chi cọ của Việt Nam thì mới chỉ thấy cây cọ
xẻ (Livistona chinensis) là đã được các nước nghiên cứu về hoạt tính sinh học và chút ít về thành phần hóa học Ba loài còn lại, đặc biệt là loài mới được các nhà khoa học Việt Nam phát hiện và là đóng góp mới cho khoa học Cọ hạ long thì chưa thấy có công bố nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học Rất cần có những nghiên cứu về hóa học và dược lý học của loài cọ hạ long để bổ sung cho các nghiên cứu về thực vật học
Sau đây chúng tôi xin giới thiêu tóm tắt 4 loài của chi cọ ở Việt Nam
Hình 1.5 Cây Cau rừng
Trang 25a Cây Cọ Xẻ (Livistona chinensis)
Cây này ra hoa, quả quanh năm, thường vào cuối xuân qua tháng 4,
có quả vào tháng 5, 6 Cây được trồng làm cảnh từ lâu trong các vườn gia đình và công viên Nhân giống bằng hạt, thu hái hạt suốt mùa thu và mùa đông, phơi khô cất để dành, thu hái lá và rễ quanh năm, rửa sạch và phơi khô Cây phân bố tại Yên Bái, Tuyên Quang (Chạm Chu), Bắc Kạn, (Chợ Đồn), Thái Nguyên (Thần Sa, Đại Từ), Quảng Ninh (Ba Mùn), Hà Nội, Ninh Bình (Nho Quan), Thanh Hoá (Lam Kinh), Kon Tum (Đắc Glei), còn
có ở Ấn Độ và Trung Quốc [1] Theo đông y, cọ xẻ có vị ngọt và chát, tính bình, hạt làm tiêu ung thư, khối u, rễ giảm đau [4] Y học dân gian Trung Quốc dùng hạt cọ xẻ chữa ung thư mũi, họng, thực quản, ung thư rau, bệnh bạch cầu Liều dùng 15-30 gam, dạng thuốc sắc [1], [4]
a Cây và quả
(nguồn : www.wikideep.it)
b Cụm quả (ảnh : T.P.Anh) Hình 1.6 Cây Cọ Xẻ (Livistona chinensis)
b Cây Cọ, còn gọi là Kè Nam, cây Lá Gồi, cây Lá Nón (Livistona saribus; L cochinchinensis Mart.)
Đây là cây đặc sắc của rừng ven suối, đất ẩm, vùng núi tới 1500 m, rải rác ở khắp nước ta Cây cũng được trồng làm cây cảnh và trồng trên đồi
Trang 26thấp ở miền trung du dọc theo bờ ruộng ở tỉnh Thanh Hoá, nơi có nhiều ánh sáng, khô ráo Có thể thu hái rễ quanh năm, phơi khô Cây mọc rải rác trong rừng nhiệt đới ở Hà Giang (Bắc Quang), Bắc Kạn (Na Rì), Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hải Phòng (Cát Bà), Thái Nguyên, Hà Tây (Bà Vì: Thủ Pháp), Hà Nội, Quảng Trị, Lâm Đồng (Langbiang), Đồng Nai (Biên Hoà), TP Hồ Chí Minh (Thủ Đức) Còn có ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Philippine
Cây ra hoa vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau, ra quả vào tháng 5 đến tháng 7 hàng năm Ngoài việc dùng để làm nhà (thân cây làm cột, lá để lợp nhà), làm nón, đan lát, kinh nghiệm dân gian dùng rễ cây này chữa bạch đới, khí hư Thường phối hợp với những vị khác như rễ cau, rễ tre, rễ cây móc với lượng bằng nhau, sắc đặc uống làm 2 lần trong ngày Liều dùng hàng ngày 6-12 gam [4]
c Cây Cọ Bắc Bộ (L tonkinensis)
Đây là cây đặc hữu của Việt Nam Cây này mọc trên đồi, núi đất, có quả vào tháng 8 đến tháng 10 Cây được trồng nhiều ở Bắc Việt Nam: Bắc Kạn (Chợ Đồn), Sơn La (Xuân Nha), Lào Cai (Bảo Thắng), Tuyên Quang (Chạm Chu), Phú Thọ (Xuân Sơn), Thanh Hoá (Bá Thước, Quan Hoa), Khánh Hoà [1]
d Cây Cọ Hạ Long (L halongensis)
Đây là loài mới cho khoa học, mới được tìm thấy ở Quảng Ninh (Hạ Long) Cây mọc ở núi đá vôi trên đảo của vịnh Hạ Long, có quả vào tháng
7 Cọ hạ long là loài mới được phát hiện của vịnh Hạ Long Rất có thể là cây đặc hữu của Hạ Long Bởi vậy rất cần nghiên cứu về hoạt tính sinh học
và thành phần hóa học của cây này Đây là công việc rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đóng góp vào việc chứng minh tính đa dạng sinh học của thảm thực vật Việt Nam nói chung và vịnh Hạ Long nói riêng, di sản thiên nhiên của thế giới
e Ứng dụng của các loài cây thuộc chi Cọ (Livistona) trong y học
Trang 27dân gian [3]
Cọ là những cây mọc hoang phổ biến ở những vùng đồi núi, trung du nước ta Chúng còn được trồng làm cây cảnh ở nhiều nơi Nhân dân ta vẫn dùng lá cọ để lợp nhà, làm nón, làm các dụng cụ gia đình Tuy nhiên, còn nhiều bộ phận của cây cọ chưa được nghiên cứu, sử dụng Đặc biệt là cuống lá, hoa, quả, hạt và rễ của những cây này có thể được sử dụng làm thuốc điều trị một số bệnh, kể cả bệnh hiểm nghèo Trong bốn loài của chi
Cọ có ở nước ta thì có hai loài là đặc hữu của Việt Nam (L tonkinensis và
L halongensis)
Cây Kè Bắc Bộ (Livistona tonkinensis) được dùng làm cảnh, lá lợp nhà Quả ăn được, lõi thân cây có bột có thể ăn được [3] Cây Kè nam (Livistona saribus) ngoài việc được dùng để làm nhà (thân cây làm cột, lá
để lợp nhà), làm nón, đan lát thì theo kinh nghiệm dân gian rễ cây này còn dùng chữa bạch đới, khí hư Thường phối hợp với những vị khác như rễ cau, rễ tre, rễ cây móc với lượng bằng nhau, sắc đặc uống làm 2 lần trong ngày Liều dùng hàng ngày 6 – 12 gam
Theo đông y, Cọ xẻ (Liviatona chinensis R.Br.) có vị ngọt và chát, tính bình, hạt làm tiêu ung thư, khối u, rễ giảm đau [3] Cây Cọ xẻ mới được nghiên cứu và sử dụng nhiều ở Trung Quốc Y học dân gian Trung Quốc dùng hạt Cọ xẻ (có tên vị thuốc là “Quỳ thụ tử”) để chữa ung thư mũi, họng, thực quản, ung thư rau, bệnh bạch cầu Rễ cây này được dùng
để trị hen suyễn, giảm đau do tiêm Liều dùng 15 – 30 gam, dạng thuốc sắc Chúng tôi xin giới thiệu một số đơn thuốc ở Trung Quốc:
- Chữa u ác tính: Dùng hạt cọ xẻ 30 g, nấu với thịt lợn lạc 30 g trong 2 giờ
- Chữa chảy máu tử cung: Dùng cuống lá cọ xẻ đốt thành tro, hòa vào nước uống, hoặc sao lên và nấu nước uống
- Trong các vị thuốc dân gian của nhiều bài thuốc có vị "Quỳ thụ tử" (hạt cây Cọ Xẻ L.chinensis R.Br.)
Cây cọ xẻ là cây duy nhất trong chi cọ được nghiên cứu nhiều về hoá
Trang 28học và hoạt tính sinh học Sing, R.P và Kaur G (Ấn Độ) thông báo hoạt tính chống tạo mạch (anti-angiogenic) và hoạt tính chống tăng sinh tế bào (anti-proliferative) invitro của dịch chiết quả và hạt cọ xẻ Phân đoạn chứa các hợp chất phenol của cây này có hoạt tính phá máu (hemolytic) [28] Nhóm tác giả trên cũng nghiên cứu định tính thành phần hoá học của cây
cọ xẻ và đưa ra giả thiết là hàm lượng cao các hợp chất phenol là nguyên nhân gây chết các tế bào của vi sinh vật [28]
Nhóm nghiên cứu của Hoang W.C (Đài Loan) đã thông báo hoạt tính ức chế enzim sinh trưởng biểu bì (Epidermal Growth Factor EGF) và enzim hoạt hoá phân bào (Mitogen-activated protein kinase, MAPK) trong các dòng tế bào ung thư ở người bởi một phân đoạn protein ký hiệu là LC-
X, tách và tinh chế từ hạt cây cọ xẻ [22]
Trong một bài báo tiếng Trung Quốc, Zhong Z.G và CS đã nghiên cứu hoạt tính ức chế sinh trưởng của dịch chiết rễ cọ xẻ đối với 7 dòng tế bào ung thư gồm: ung thư dạ dày SGC 7901, ung thư máu L 1210, P 388D1, ung thư cuống họng Hela, ung thư gan hele 7404, ung thư hắc tố da (melanoma B16) và ung thư thần kinh chuột nhắt lai chuột cống NG 108 -
15 Tất cả các dòng tế bào ung thư thử nghiệm đều bị ức chế bởi dịch chiết ethyl acetat từ rễ cọ xẻ [28] Maurer - Menestrina và CS (Brazil) đã tách và xác định cấu trúc của một betaxylan (polysacharid) có nhiều nhóm thế từ nhựa quả cọ xẻ [24]
Cheng S và CS đã công bố kết quả nghiên cứu rất chi tiết về hoạt tính ức chế tế bào ung thư máu HL 60 của dịch chiết cồn và dịch chiết nước hạt cây cọ xẻ Theo đó, dịch chiết cồn có hoạt tính tốt hơn [14] Meneo Tsukiyama và CS (Nhật Bản) đã nghiên cứu tác dụng chống tích tụ mỡ, làm căng da, chống nhăn, giảm béo của dịch chiết hạt cọ xẻ Có thể nghiên cứu để sử dụng dịch chiết hạt cọ xẻ trong mỹ phẩm [25]
Trong khi về dược lý cây cọ xẻ đã được nghiên cứu khá nhiều thì về thành phần hoá học của cây cọ xẻ mới chỉ có một vài công bố, theo đó đa
Trang 29số các chất đã được tách và xác định cấu trúc thuộc nhóm flavonoid [20], [23]
Cọ Hạ Long (Livistona halongensis) hội tụ nhiều đặc điểm độc đáo
về giá trị sinh học, thẩm mĩ, kinh tế và khoa học Lá cọ có độ dai, bền là nguồn nguyên liệu để làm ra sản phẩm thủ công như túi xách, nón lá là sản phẩm độc đáo mang sắc thái riêng cho Vịnh Hạ Long Tuy nhiên, loài này đang có chiều hướng giảm sút về số lượng cá thể Vì thế ban quản lí Vịnh
Hạ Long đã nhân giống loài cọ đặc hữu này nhằm bảo tồn và phát triển chúng [2]
f Tình hình nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học các cây trong chi Cọ (Livistona) tại Việt Nam và trên thế giới
Chi Livistona (Cọ) là một chi thực vật quan trọng và mọc phổ biến trong họ Cau Chi này chứa nhiều loài đặc hữu của Việt Nam và nhiều loài được ứng dụng trong y học cổ truyền như điều trị ung thư, chữa các bệnh
về máu, làm thuốc trừ giun sán Tuy nhiên cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các cây trong chi này của Việt Nam Cọ Hạ Long là loài thực vật mới của Vịnh Hạ Long – Việt Nam, vừa được nghiên cứu về thành phần hoá học và hoạt tính sinh học vào năm 2010 Các tác giả Trần Văn Lộc, Trần Văn Sung và cộng sự
đã tách và xác định được cấu trúc của 6 chất từ dịch chiết n-hexan của vỏ thân cây này là: cyclomusalenon (1.1); cyclolaucadenon (1.2); 3β-cyclomusalenol (1.3); stigmast-4-en-3-on (1.4); stigmasterol (1.5) và β-sitosterol (1.6) [8]
Trang 30từ lá cây Tillandsia fasciculata 3β-cyclomusalenol (1.3) đã được tách từ cây chuối tiêu (Musa sapientum) với hàm lượng lớn Hiroyuki và cộng sự cũng tìm thấy chất này dưới dạng acetat từ rễ của hai loài dương xỉ là Polypodium formosanum và Polypodium niponicum [18] cùng với một loạt cycloartan triterpen khác Stigmasterol (1.5) và β-sitosterol (1.6) là hợp
Trang 31chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học, tồn tại khá phổ biến trong giới thực vật [28]
Các dịch chiết hexan, chloroform và methanol của vỏ cây Cọ Hạ Long đã được thử hoạt tính gây độc tế bào ưng thư KB, LU, MCF7, HepG2, hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định và hoạt tính kháng oxi hóa Kết quả cho thấy, chỉ có dịch chiết hexan và dịch chiết MeOH có hoạt tính
ức chế hoạt động của enzym peroxydaza ở mức độ trung bình Các dịch chiết này (Hexan, Chloroform và MeOH) đều không có hoạt tính ức chế sự phát triển của 4 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là KB (tế bào ung thư biểu mô), LU ( tế bào ung thư phổi), MCF7 (tế bào ung thư vú) và HepG2 (tế bào ung thư gan) [9]
Các tác giả Sing, R.P và Kaur G (Ấn Độ) thông báo hoạt tính chống tạo mạch (antiangiogenic) và hoạt tính chống tăng sinh tế bào (antiproliferative) in vitro của dịch chiết quả và hạt Cọ xẻ Phân đoạn chứa các hợp chất phenol của cây này có hoạt tính phá màu (hemolytic) Nhóm tác giả trên cũng nghiên cứu định tính thành phần hoá học của cây Cọ xẻ và đưa ra giả thiết là hàm lượng cao các hợp chất phenol là nguyên nhân gây chết các tế bào của vi sinh vật [28]
Nhóm nghiên cứu của Hoang W.C (Đài Loan) đã thông báo hoạt tính ức chế enzym sinh trưởng biểu bì (Epidermal Growth Factor EGF) và enzym hoạt tính phân bào (Mitogen – activated protein kinase, MAPK) trong các dòng tế bào ung thư ở người bởi một phân đoạn protein kí hiệu là LC–X tách và tinh chế từ hạt cây Cọ xẻ [22]
Zhong Z.G và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính ức chế sinh trưởng của dịch chiết rễ Cọ xẻ đối với 7 dòng tế bào ung thư gồm: ung thư dạ dày SGC 7901, ung thư máu L 1210, P 388D1, ung thư cuống họng Hela, ung thư gan Hele 7404, ung thư hắc tố da (melanoma B16) và ung thư thần kinh chuột nhắt lai chuột cống NG 108 – 15 Tất cả các dòng tế bào ung thư thử nghiệm đều bị ức chế bởi dịch chiết etyl acetat từ rễ Cọ xẻ [33]
Trang 32Maurer – Menestrina và cộng sự (Brazil) đã tách và xác định cấu trúc của một betaxylan (polysaccharide) có nhiều nhóm thế từ nhựa quả Cọ
xẻ [24]
Cheung A và cộng sự đã công bố kết quả nghiên cứu rất chi tiết về hoạt tính ức chế tế bào ung thư máu HL 60 của dịch chiết cồn và dịch chiết nước hạt cây Cọ xẻ Theo đó, dịch chiết cồn có hoạt tính tốt hơn [18] Meneo Tsukiyama và cộng sự (Nhật Bản) đã nghiên cứu tác dụng chống tích tụ mỡ, làm căng da, chống nhăn, giảm béo của dịch chiết hạt Cọ xẻ Có thể nghiên cứu để sử dụng dịch chiết hạt Cọ xẻ trong mĩ phẩm [25] Theo tra cứu tài liệu thì cho đến nay, trong khi về dược lý cây cọ xẻ đã được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới thì về thành phần hoá học của lá cây Cọ
xẻ thì mới chỉ có một vài công bố, theo đó đa số các chất đã được tách và xác định cấu trúc thuộc nhóm flavonoid [20], [23], [24]
Mới đây nhất vào tháng 1 năm 2011, từ quả Cọ xẻ, Xiaobin Zeng và cộng sự đã tách được 11 hợp chất flavonoid trong đó có 3 chất mới là: 2S,3S–3,5,7,3′,5′–pentahydroxyflavan (1.7); 2R,3R–3,5,6,7,8,4′–hexahydroxyflavan (1.8) và 2R,3R–3,5,6,7,8,3′,5′–heptahydroxyflavan (1.9)
Trang 33(1.9)
Các hợp chất trên đã được nghiên cứu thử hoạt tính chống oxy hóa
và hoạt tính kháng sinh chống lại bốn dòng tế bào khối u của người (HL–
60, Mata, Hep.G2 và CNE–1), kết quả cho thấy hầu hết các hợp chất đều
có hoạt tính kháng oxi hóa mạnh Trong đó chất 2S,3S–3,5,7,3′,5′–pentahydroxyflavan (1.7) có tác dụng kháng sinh đáng kể đối với dòng tế bào HL–60 với IC50 là 0,2 ± 0,01 và CNE–1 với IC50 là 1,0 ± 0,1 μM áp đảo so với các hợp chất tham khảo trong các khảo nghiệm (cisplatin) [32] Tại Việt Nam, Giang Thị Kim Liên và cộng sự đã báo cáo kết quả thăm dò hoạt tính sinh học các dịch chiết từ quả cọ xẻ như sau: các dịch chiết n.hexan và MeOH có hoạt tính ức chế sinh trưởng đối với vi khuẩn Gram (+) Staphylococcus aureus với nồng độ IC50 lần lượt là 46,77 và 209,71 μg/ml Ở hoạt tính chống oxi hoá, dịch chiết từ quả cọ xẻ trong MeOH có hoạt tính ức chế hoạt động của enzym peroxydaza với IC50 là 61,22 μg/ml Ở hoạt tính gây độc tế bào, dịch chiết MeOH của quả cọ xẻ có hoạt tính đối với 3 dòng tế bào ung thư thử nghiệm là: KB (ung thư biểu mô), MCF – 7 (ung thư vú) và Hep.G2 với các giá trị IC50 lần lượt là 68,04; 88,30 và 101,25 μg/ml [8]
1.2.2 Chi Cọ Dầu (Elaeis Jacq Select Strip Amer Hist.)
Chi cọ dầu chỉ có một đại diện đó là cây cọ dầu [9]
Cây Cọ Dầu (Elaeis guineensis Jacq.)
Cây này còn có tên là cọ dừa tên nước ngoài là oil palm (Anh),
Trang 34palmier à huile (Pháp) Cây thân cột, cao 10-20 m Thân thẳng có nhiều cuống cụt, ngắn tua tủa do lá rụng để lại, đôi khi như những chiếc gai to, dẹt Lá to dạng lông chim, mọc tập trung ở ngọn thân, cuống lá có gai nhọn
do lá chét biến đổi Quả hình trứng, tụ họp dày đặc thành từng buồng lớn nặng từ 10-20 kg, màu vàng hoặc đỏ, vỏ ngoài mỏng, cùi quả nạc chứa dầu, hạt có nhân cũng chứa nhiều dầu
Cọ dầu là cây nhiệt đới, mọc hoang dại ở dọc bờ biển, phía tây Châu Phi từ Guinea đến Congo, Uganda và Tanzania Hiện nay cây cọ dầu được trồng ở Châu Mỹ (Brazin, Peru, Cuba, Venezuela và ở Châu Á (Malayxia, Indonexia, Philipin, Thái Lan, Ấn Độ và Việt Nam)
Ở Việt Nam cọ dừa được người Pháp đưa vào trồng từ trước năm
1950, có nhiều ở Hương Sơn ( Hà Tĩnh), Phú Hộ (Phú Thọ) và một số nơi khác Cây ưa ánh sáng, có khả năng chịu được khí hậu khô nóng Cây trồng
ở ven biển các tỉnh miền trung, sau 4-6 năm bắt đầu có hoa, quả Mỗi cây
có thể cho 1-4 buồng, mỗi buồng từ 1000-2000 quả Người ta dùng quả và hạt cây cọ dầu Dầu quả và dầu hạt có vị béo, ngọt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng
Dầu cọ dầu là loại dầu béo, ngon, được dùng làm dầu ăn và thuốc bổ dưỡng chữa bệnh thiếu vitamin A Ngày uống 5ml, hoặc dùng dưới dạng chế biến thành các món ăn Dùng liều 15-20 ml để nhuận tràng Dầu cọ cũng được dùng làm dung môi để chế thuốc, mỹ phẩm, làm xà phòng, thuốc gội đầu, sản xuất magarin Trong số những cây cho dầu như lạc, đậu tương, hướng dương, hạt cải thì cây cọ dầu có năng suất cao nhất (1537 kg dầu/ha) [10], [13] Sản lượng cọ dầu trên thế giới hiện nay khoảng 1,5 triệu tấn/năm
Về thành phần hóa học: Quả cọ dầu chứa 29% dầu, 8% chất xơ Người ta dùng phương pháp ép để lấy dầu từ cùi cọ dầu (từ vỏ quả ngoài còn tươi) 30-70% Ngoài ra còn dầu từ nhân (44-53%) Người ta ép hoặc dùng dung môi để chiết Dầu cùi cọ dầu loại tốt có mùi và vị dễ chịu đặc
Trang 35biệt Màu sắc có thể thay đổi từ vàng cam đến vàng sẫm Ở nhiệt độ thường dầu ở dạng đặc, ở trên 40oC dầu trở nên lỏng có tỉ trọng d15 0,9209-0,9250,
1.2.3 Chi Dừa (Cocos L.)
Các loài trong chi dừa mọc đơn độc, ra hoa nhiều lần, hoa đơn tính, cùng gốc, thân trần, có vòng sẹo lá Quả hình bầu dục rộng hay hình trứng rộng, ba góc không rõ, màu xanh mờ, nâu, cam sáng, vàng đến màu ngà khi chín Vỏ quả trong có 3 lỗ, lỗ có nắp
Trên thế giới chi dừa chỉ có một loài, được trồng khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới ẩm Nguồn gốc loài cây này có thể ở tây Thái Bình Dương Dừa ở Việt Nam là cây nhập nội
Cây Dừa (Cocos nucifera L.)
Cây Dừa có thể cao đến 20 m, thân có sẹo vòng lá Cây có hoa, quả quanh năm Mọc ở vùng ẩm, sáng, chịu mặn, ở độ cao đến 900 m Dừa được trồng phổ biến khắp nơi ở Việt Nam, còn có ở Ấn Độ, Xrilanka, Thái Lan, Campuchia, Malayxia, Châu Phi và Châu Mỹ
Sau khi trồng 4-6 năm dừa bắt đầu cho quả: Thời gian cho quả có thể kéo dài đến 3-4 chục năm Thu hoạch dừa tập trung vào tháng 6 đến tháng
Trang 3610
Cây Dừa có nhiều giá trị sử dụng Than hoạt tính làm từ gáo dừa có tác dụng hấp thụ rất mạnh, vỏ sọ dừa cầm chảy máu mũi, ngừng nôn, giảm đau Nước dừa bổ, giải nhiệt, trị sởi, sán xơ mít, dùng đường tiêm trị tiêu chảy Rễ có tác dụng lợi tiểu, trị lậu, ho gió, đau gan, chữa chảy máu, kinh nguyệt không đều Dầu dừa dùng trong công nghiệp thực phẩm hay công nghiệp xà phòng: dùng trị bỏng, được dùng như kháng sinh tự nhiên, có tác dụng giảm béo Dầu dừa còn dùng làm nguyên liệu sản xuất diezen sinh học biodiezel Cùi dừa có tác dụng ích khí, bổ dưỡng, nhuận tràng, lợi tiểu, làm thực phẩm Vỏ thân dừa dùng lấy sợi, là lợp nhà, thân già dùng làm sàn
Về thành phần hóa học: Cùi dừa chứa hơn 60% dầu, khoảng 1% axit béo Cùi dừa non chứa protein (xấp xỉ 3,5%), lipit (xấp xỉ 1,7%), gluxit (xấp xỉ 2,6%), xenlulose (3,5%), lượng nhỏ vitamin B1, B2, PP và C Cùi dừa già chứa nhiều các chất như trên hơn và còn thêm xấp xỉ 28% axit béo như axit palmitic (xấp xỉ 4%), axit linoleic (xấp xỉ 9%)….Dầu dừa chứa các axit béo như sau: lauric (48%), myristic (17%), palmitic (8%), capric (7%), oleic (5%), stearic (4%), linoleic (2,5%), caproic (0,5%) Tỉ trọng của dầu dừa ở các nhiệt độ khác nhau như sau:d150,926, d250,9188,
30
d 0,9150, d601,4410-1,4420 Chỉ số xà phòng là 251-263 Nước dừa chứa 95% nước, 0,1% protein, 0,1% mỡ, 0,4% chất vô cơ, 4% cacbohydrat, một số muối khoáng, axit amin và một số vitamin
Sọ dừa (gáo dừa) chứa 20%lignin, 27% pentosan, 26% xenlulose, 3,5% uronic anhydric
Tác dụng sinh học: Người ta đã chứng minh rằng nước dừa cho chuột cống trắng uống làm tăng lượng nước tiểu 80% so với lô chứng Dịch chiết cồn-nước 1:1 của lá dừa cô khô cho chuột cống trắng uống ở liều 200 mg/kg có tác dụng lợi tiểu rõ rệt Dầu dừa có tác dụng hạn chế các chất độc đối với gen như azaserin, benzopyren, dimethylnitrosamin,
Trang 37dimethylhydrazin Trong số các triglycerid của dầu dừa thì trilaurin là thành phần có tác dụng chống độc với gen mạnh nhất Điều này đã được chứng minh bằng thực nghiệm Trong thời kì chiến tranh, các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu sử dụng nước dừa non, thêm glucose hoăc NaCl với lượng thích hợp để làm các dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch Ngoài ra còn dùng làm dung môi để pha chế một số thuốc tiêm như novocain, streptomycin Khói từ xơ dừa có tác dụng chữa viêm xoang
1.2.4 Chi Thốt Nốt ( Borassus L.)
Trên thế giới chi thốt nốt có 7 loài, phân bố ở châu Phi, Ả Rập, Ấn
Độ, Đông Nam Á, Niu Ghinê và Oxstrâylia Việt Nam có một loài
Thốt nốt là cây đơn độc, ra hoa nhiều lần, hoa đơn tính, khác gốc, thân có vòng sẹo lá
Cây Thốt Nốt (Borassus flabellifer L.)
Cây cao 25 m, quả hình cầu, đường kính 10-15 cm Cây này chịu khô, hạn và úng ngập tốt, mọc trên đất cát ven sông, biển, đôi khi ở trên núi, ở độ cao 500-800 m Ở Việt Nam thốt nốt được trồng từ Tây Ninh đến Kiên Giang Cây còn thấy ở Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Đông Nam Á, Niu Ghinê, Oxtrâylia và Châu Phi
Cây thốt có nhiều giá trị sử dụng Cuống cụm hoa có tác dụng lợi tiểu, trừ giun, chữa đau bụng do sốt rét, sốt sưng lá lách Nhựa thốt nốt có tác dụng nhuận tràng, tiêu viêm Đường thốt nốt có tác dụng giải độc strychnin Cây non và rễ có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, chữa vàng da, lị Cụm hoa non cho nước ngọt, dùng làm đường, nước giải khát hay rượu Ở Vân Nam Trung Quốc người dân dùng rễ thốt nốt trị viêm gan, vỏ thân cây thốt nốt đốt lấy than dùng làm thuốc đánh răng Quả thốt nốt ăn được, thân
để làm cột nhà, ghe, thuyền, lá dùng lợp nhà, làm nón, làm dây buộc, làm giấy viết
Về thành phần hóa học : Nhựa cây thốt nốt chứa axit succinic, quả thốt nốt chứa polisaccarit có liên kết 1-4 Thịt quả chứa các chất đắng
Trang 38flabeliferin I và II, dịch ép của vỏ quả ngoài chứa polisaccarit gồm các đường đơn galatose, glucose, arabinose, xylose và rhamnose
1.2.5 Chi Mây (Calamus)
Theo Phạm Hoàng Hộ [6] thì chi Mây (Calamus) là một chi lớn trong
họ cau của Việt Nam, có 24 loài khác nhau được phân bố từ Bắc đến Nam Các loài trong chi mây thường mọc đơn độc hay thành cụm, có gai, ra hoa nhiều lần, hoa đơn tính khác gốc, thân thẳng hay leo Lá xếp gập xuống dưới, xẻ thùy hình lông chim thành các thùy lá đơn, nếp gấp, xếp đều hay thành nhóm, đôi khi theo nhiều mặt phẳng, bẹ có lông, có gai xếp vòng hay rải rác Cuống có gai, sống lá đôi khi kéo dài thành roi, có gai rải rác hay thành nhóm Thùy có nhiều lông, gai hay vảy Cụm hoa ở nách lá thường
có roi, cụm hoa đực phân nhánh 3 lần, cụm hoa cái 2 lần, cuống có gai Quả có núm nhụy tồn tại ở đỉnh, vỏ quả ngoài có vảy xếp đều, hạt một (hiếm khi 2,3)
Trên thế giới có tới 370 loài mây, chúng phân bố ở Châu Phi, Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Niu Ghine, Úc Giá trị sử dụng chủ yếu của các loài trong chi mây là để đan lát, làm dây buộc, làm đồ thủ công mỹ nghệ, bàn ghế Về thành phần hóa học thì các loài mây hầu hết chưa được nghiên cứu
Ở Việt Nam một vài loài mây được trồng trong rừng hoặc đồi núi đất
để sản xuất sợi, lạt buộc, đan lát, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ Trong các loài mây ở Việt Nam có những loài thân leo cao đến hơn 50 m, lóng dài đến 1m, lá dài 2 m, như loài Calamus scipionum Lour Loài mây nam bộ (Calamus cochinchinensis Becc.) là dây leo dài đến 20 m, thân to có đường kính từ 1-3 cm Cây mây song (Calamus rudentum Louri.) dài hơn 30 m, thân to (2-4 cm), mọc nhiều ở miền Nam Việt Nam Cây mây đan (Calamus teniuis Roxb.) là dây leo dài 20 m, thân mảnh, quả tròn, to (10-
13 mm), có thể ăn được Người ta có thể dùng quả mây đan để trị bệnh bạch đái hạ Cây mây bắc bộ (Calamus tonkinensis) có thân dài đến 10m,
to 1-1,5 cm mọc trong rừng từ Quảng Ninh đến Bà Rịa-Vũng Tàu
Trang 39Sau đây chúng tôi xin giới thiệu 3 loài chọn lọc trong chi mây của Việt Nam
a Cây Mây Đồng Nai (Calamus dongnaiensis Pierre ex Becc.) Cây này được phát hiện lần đầu tiên ở Đồng Nai Việt Nam Cây mọc thành từng cụm, thân đứng, cao 1-3 m, không có cơ quan leo Lá có nhiều thùy lá, xếp thành nhóm trên một mặt phẳng Hai thùy cuối cùng dính nhau
Bẹ lá có gai rải rác, cuống lá có gai thẳng, ngắn, dài 1,5 cm, đơn độc hay thành đôi, sống lá có gai dài 1,5-2 cm, cụm hoa đực dài 1,6-2 m, cụm hoa cái dài 0,4 m, lá bắc không có gai móc
Cây mây đồng nai mọc rải rác trong rừng ở độ cao trên 1000 m, ở vùng Đồng Nai, Lâm Đồng ( Đà Lạt), Phú Yên, còn có ở Trung Quốc Quả mây đồng nai ăn được Thân dùng để đan lát Chưa thấy có nghiên cứu nào
về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây mây đồng nai được công bố
b Cây Song Mật (Calamus platyacanthus Warb ex Becc.)
Cây này còn có tên là cây mây gai dẹp, nam lượng Cây mọc thành cụm, thân leo, dài 30-40 m, đôi khi tới hàng trăm mét, đường kính 8-10 cm
Lá dài 3 m, xẻ thùy lông chim thành các thùy lá, mọc xếp thành nhóm
2-6, bẹ lá có gai dẹp màu vàng cỡ 8-101,8-2 mm, gai mọc lật ngược về phía gốc Cụm hoa đực và cụm hoa cái phân nhánh hai lần, lá bắc hình ống dài 20cm, có gai rải rác Nhánh con cụm hoa đực dài 1-4 cm, mang 9-15 hoa đực, nhánh con cụm hoa cái dài 1-4 cm, mang 4-12 hoa cái Quả hình trứng, cỡ 1,5-2,20,8-1,4 cm, vỏ quả có 18 hàng vảy dọc, vảy có mép màu nâu, mép răng cưa Quả chín có màu vàng nhạt Cây ra hoa vào tháng 4-5,
có quả vào tháng 6-11 Cây mọc ở độ cao từ 400-900 m trong rừng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh Cây phân bố ở Lai Châu, Sơn La, Bắc Kạn, Thái Nguyên đến Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Đồng Nai, Khánh Hòa, còn thấy ở Trung Quốc Quả cây này ăn được, thân dùng để đan lát Chưa thấy có công bố nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh
Trang 40học của cây này Cây song mật đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam [2] Cần được nghiên cứu và bảo vệ
c Cây Mây Nambarien (Calamus nambariensis Becc.)
Đây là cây thân leo dài đến 20 m, đường kính không bẹ từ 1-3 cm, có
bẹ từ 1,5-6 cm Lá dài 1,5-2,5 m, sống lá kéo dài thành roi dài 1m, xẻ thùy hình lông chim, bẹ lá có gai, các gai dài ngắn xếp xen kẽ nhau, gai ngắn hơn 4 cm Cụm hoa dài 0,65-1,3 m, không có roi, thẳng, cụm hoa đực phân nhánh ba lần, cụm hoa cái phân nhánh hai lần Nhánh con cụm hoa đực dài 1cm, mang 8 hoa, quả hình bầu dục hay gần hình cầu cỡ 2,52 cm, vảy quả màu vàng nhạt, có rãnh sâu Cây ra hoa từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Cây mọc rải rác trong rừng thường xanh, ở độ cao đến 1600m, thấy có
ở Tuyên Quang Còn có ở Ấn Độ , Trung Quốc, Thái Lan, Lào Quả ăn được, thân dùng để đan lát Đây là loài mới được phát hiện [1], bổ sung cho
hệ thực vật Việt Nam Chưa có tài liệu nào được công bố về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây này
1.2.6 Chi Cau (Areca L.)
Theo Phạm Hoàng Hộ [6] thì chi cau ở Việt Nam có 3 loài bao gồm: cau (Areca catechu L.), cau lào (Areca laosensis Becc.) và cau rừng (Areca triandra Roxb.) Trên thế giới chi cau có khoảng 20 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương Vùng nhiệt đới Ấn Độ-Malaisia là nơi tập trung nhiều loài của chi cau nhất
a Cây Cau (Areca catechu L.)
Cây cau có tên khoa học là Areca catechu L.[3] là một cây trồng phổ biến ở khắp nơi trong nước ta để lấy quả ăn trầu và xuất khẩu Cây này còn
có tên gọi khác là binh lang, tân tang, mạng láng (Tày), Pơlang (K’Ho) Tên nước ngoài là areca-nut palm, betel - nut palm, areca palm, penang palm, catechu palm (Anh), are’quier, noix d’arec (Pháp)
Mô tả: Cau có thân mọc thẳng đứng, cao 15-20 m, thân hình trụ rỗng, có nhiều vòng đốt là vết tích của những tàu lá rụng Gốc thân hơi