Biến đổi khí hậu và các biểu hiện của nó như nước biển dâng, nhiệt độ tăng,bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan… đã ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự giúp đỡ nhiệt tình củathầy giáo PGS.TS Đậu Thị Hòa là người trực tiếp hướng dẫn cùng các thầy cô giáo
bộ môn đã giúp đỡ em về mọi mặt để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Bên cạnh đó
em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa Lí – trường ĐHSP – Đại học
Đà Nẵng đã tạo điều kiện và tận tình chỉ bảo em trong quá trình hoàn thành khóaluận
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ củaphòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế, phòng Thống kê quận Ngũ HànhSơn đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu để em thực hiện khóa luận tốtnghiệp này
Trong quá trình thực hiện đề tài, do có nhiều hạn chế về thời gian, kinh nghiệm nênkhông tránh khỏi sai sót Rất mong sự góp ý của các thầy, cô giáo giảng dạy đểkhóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu hiện đang là môt vấn đề được dư luận hết sức quan tâm Đặcbiệt trong những năm gần đây khí hậu luôn có những biến đổi dị thường trên phạm
vi toàn cầu cũng như từng khu vực, từng địa phương ở Việt Nam Một số biểu hệncủa biến đổi khí hậu ở Việt Nam: đã xuất hiện là nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn
so với mùa hè, lượng mưa giảm về mùa khô và tăng nhanh vào mùa mưa, sự giatăng của tần suất các cơn bão…
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, có bờ biển khá dài, vì vậy ảnhhưởng của biến đổi khí hậu là không tránh khỏi Trong những thập kỉ gần đây,Thành phố Đà Nẵng đã xuất hiện những biểu hiện về biến đổi khí hậu (những biếnđộng trong nhiệt độ, lượng mưa, sự xuất hiện trái mùa của bão, lũ và đặc biệt làtriều cường lên cao và những đột hạn hán kéo dài) Điều này đã gây ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản của địa phương vì đây làngành có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần xóa đói giảm nghèo, cungcấp dinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho nhân dân và từng bước nâng cao kimngạch xuất khẩu của thành phố
Bên cạnh đó thì quận Ngũ Hành Sơn là một quận có hoạt động đánh bắt vànuôi trồng thủy hải sản khá phát triển Trong những năm gần đây hoạt động đánhbắt và nuôi trồng thủy sản ở đây đã có những bước phát triển đáng kể và đạt đượcnhiều thành tựu lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế của quận trongnhững năm gần đây
Biến đổi khí hậu và các biểu hiện của nó như nước biển dâng, nhiệt độ tăng,bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan… đã ảnh hưởng
cả trực tiếp và gián tiếp đến các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và đờisống của người dân ven biển Biến đổi khí hậu và công tác ứng phó với biến đổi khíhậu nhằm hạn chế tối đa các tác động của chúng đến ngành đánh bắt và nuôi trồngthủy sản của quận, đây cũng là một thách thức vô cùng lớn trong thời gian tới màngành thuỷ sản phải đối mặt Xuất phát từ vấn đề trên tôi đã chọn đề tài “Nghiêncứu tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hảisản và đời sống của người dân ven biển quận Ngũ Hành Sõn – thành phố Ðà Nẵng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động đánh bắt, nuôi trồngthủy sản và đời sống của người dân ven biển quận Ngũ Hành Sơn - thành phố ĐàNẵng
Trang 5- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạtđộng đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và đời sống của người dân ven biển.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về cơ sở lí luận của vấn đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam và địa bànnghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản của quận NgũHành Sơn
- Nghiên cứu sự tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động đánh bắt, nuôitrồng thủy hải sản tại quận Ngũ Hành Sơn
- Khảo sát sự tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế và đời sống của người dânven biển
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạtđộng đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và đời sống của người dân ven biển
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề về việc tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động đánh bắt, nuôitrồng thủy hải sản và đời sống của người dân ven biển đã được nhều cơ quan, cánhân cũng như các phưõng ti ện truyền thông quan tâm
Tuy nhiên những nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt độngđánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và đời sống của người dân ven biển mới chỉ dừnglại ở mức các bài báo cáo, các chuyên đề:
- “Thiên tai vùng ven biển” của tổng cục khí tượng thủy văn Việt Nam
- “Báo cáo về tác động của biến đổi khí hậu lên ngành thủy sản và nuôi trồng thủysản” của Tổ chức Nông – Lương Liên Hợp Quốc (FAO)
- “Biến đổi khí hậu và tác động ở việt Nam” của viện khoa học và công nghệ
- “Nghiên cứu sự biến đổi của thời tiết, khí hậu và ảnh hưởng của nó đến sản xuất
và đời sống của thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây”, luận văn tốt nghiệpcủa sinh viên Dương Thị Ni – trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (2010)
Vì vậy, trên cơ sở những vấn đề đã được nghiên cứu trên, tôi đã lấy làm căn cứcũng như tài li ệu tham khảo để bổ xung hoàn chỉnh cho vấn đề mà mình đangnghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển của ngành đánh bắt và nuôi trồngthủy hải sản
- Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế và đời sống của người dân ven biển
Trang 65.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại quận Ngũ Hành Sơn – thành phố
Đà Nẵng Đây là khu vực có hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản khá phổbiến Tuy nhiên do đời sống của người dân ở đây còn thấp nên việc chịu tác độngcủa biến đổi khí hậu là rất lớn
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung phân tích những tác động của biến đổi khíhậu đến hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và đời sống của người dân venbiển thành phố Đà Nẵng
6 Một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Theo quan điểm này thì hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản chịuảnh hưởng bởi nhiều nhân tố về cả tụ nhiên và kinh tế - xã hội: điều kiện thời tiết –khí hậu (bão, hoạt động gió mùa), sự phát triển của cơ sở vật chất phục vụ đánh bắt
và nuôi trồng,… đồng thời nó lại có sự tác động qua lại với các ngành kinh tế khác
Vì vậy khi nghiên cứu về sự tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động đánh bắt
và nuôi trồng cũng cần có cái nhìn tổng quát tất cả các nhân tố, đặt chúng trong mốiquan hệ tác động qua lại với nhau để đưa ra những nhận định chính xác, mang tínhkhoa học cao
6.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Trong đề tài, quan điểm này rất quan trọng bởi hiểu rõ về lịch sử mới nhậnthấy được các diễn biến, tiến trình của quá tring tác động, sự thay đổi qua thời giancủa các yếu tố khí hậu nhằm đánh giá đúng mức độ tác động
6.1.3 Quan điểm thực tiễn
Đề tài là một vấn đề mang tính thực tiễn cao Nó xuất phát từ những vấn đềthực tiễn: sự thay đổi của các yếu tố khí hậu làm ảnh hưởng đến các hoạt động đánhbắt, nuôi trồng của ngư dân ven biển Đồng thời mục đích đề ra của đề tài là ứngdụng những biện pháp hạn chế tác động vào thực tiễn địa phương Vì vậy đề tàiluôn bám sát thực tiễn, coi thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá các tác động
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu là một phươngpháp truyền thống được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiêncứu địa lí nói riêng Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình nghiêncứu vì:
Trang 7- Phương pháp này thể hiện việc thu thập thông tin, tài liệu từ nhiều nguồn khácnhau: sách, báo, Internet…
- Trên cơ sở các thông tin tài liệu thu thập được phân tích, tổng hợp chúng để đưa ranhận xét khái quát nhất
Trang 8BẢN ĐỒ QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
Đến ngày 02 tháng 3 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số24/2005/NĐ-CP về việc chia phường Bắc Mỹ An thành 02 phường: Mỹ An vàKhuê Mỹ Do vậy, hiện nay quận Ngũ Hành Sơn có 04 phường: Mỹ An, Khuê Mỹ,Hòa Hải và Hòa Quý
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIỄN
Thời tiết luôn luôn biến động, tuy nhiên sự biến động đó chỉ dao động quanhgiá trị trung bình
b Khí hậu
Khí hậu là giá trị trung bình nhiều năm của thời tiết, hay nói cách khác khí hậu
là quy luật của thời tiết
Khí hậu mang tính chất bền vũng tương đối, vì khí hậu của một khu vực cóthể khác nhau giữa năm này qua năm khác và giữa các mùa trong năm nhưng trongmột chu kỳ dài thì nó lại ít có sự khác biệt rõ nét
c Sự biến đổi khí hậu
“BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnhhưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của hệ sinhthái tự nhiên và đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe
và phúc lợi của con người (Theo công ước chung của LHQ về BĐKH)
Một số nguyên nhân làm biến đổi thời tiết, khí hậu
Có rất nhiều nguyên nhân làm cho thời tiết, khí hậu Trái đất bị biến đổi nhưnghiện nay sự BĐKH trên Trái Đất theo các nhà khoa học khoảng 90% là do conngười gây ra và quan trọng nhất đó là:
- Hiệu ứng nhà kính: Trong quá trình phát triển công nghiệp con người đã thải rabầu khí quyển hàng tỷ tấn các chất độc hại, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóathạch (than, dầu mỏ khí đốt…) và các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụkhí nhà kính như: sinh khối; rừng; các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác lànguyên nhân chủ yếu gây ra hiệu ứng nhà kính
- Dân số tăng: Dân số tăng liên tục cũng là một nhân tố gây BĐKH Thế giới, vìcàng nhiều người sinh sống trên Trái Đất sẽ càng thải ra nhiều lượng khí CO2 gâyhiệu ứng nhà kính Hiện Trên Trái Đất có hơn 7 tỷ người sinh sống, dự đoán tớinăm 2050 sẽ tăng lên hơn 9 tỷ người Tuy nhiên nếu hạn chế được dân số ở mức 8
tỷ người thì sẽ giảm bớt khoảng 2 tỷ tấn CO2
- Tình trạng chặt phá rừng bừa bãi: Như chúng ta được biết rừng là “lá phổi xanh”của bầu khí quyển, rừng hấp thu khí CO2 và nhã khí O2 làm trong lành bầu khí
Trang 10quyển và giảm sự gia tăng nhiệt do hiệu ứng nhà kính Rừng còn giữ cân bằng nhiệt
và cân bằng ẩm trên Trái Đất, đảm bảo cho các quá trình trong khí quyển diễn rabình thường Tuy nhiên hiện nay rừng trên Thế giới đang bị tàn phá nghiên trọng.Mất rừng không chỉ mất đi nguồn CO2 ở trong khí quyển mà nó còn sản sinh themkhí CO2 do đốt rừng gây ra Rừng suy giảm không chỉ ảnh hưởng đến những khuvực mất rừng mà nó còn ảnh hưởng đến toàn cầu gây mất cân bằng nhiệt và cânbằng ẩm trên Trái Đất gây rối loạn trong khí quyển làm cho bão lũ, hạn hán xảy rangày càng nhiều hơn Các cơn bão khi đổ bộ vào đất liền nếu không có rừng phòng
hộ thì sức tàn phá của nó sẽ khủng khiếp hơn
Ngoài ra, các chất khí độc hại sinh ra trong quá trình sản xuất của con người cũng làmột trong những nguyên nhân làm cho thời tiết, khí hậu biến đổi:
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thốngkhí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sảnphẩm phẩm của quá trình sản xuất HCFC-22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê
1.2 KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃHỘI CỦA QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
Quận Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam của thành phố, nằm ở tọa độ16000' 30" VB- 16000'83"VB, 108015'9" KĐ- 108025'25"KĐ
Phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp với huyện Hoà Vang và quận Cẩm Lệ;phía Bắc giáp với quận Hải Châu và quận Sơn Trà; phía Nam giáp với huyện ĐiệnBàn của tỉnh Quảng Nam
Với vị trí địa lí gần như nằm giữa trung điểm của nước ta đã làm cho cácthành phần tự nhiên hầu như mang tính chất chuyển tiếp giữa miền Bắc và miềnNam Trong đó yếu tố khí hậu là yếu tố thể hiện rõ nét nhất tính chất chuyển tiếp
đó, vì vậy nó có tác động và chi phối lớn đến các thành phần tự nhiên khác
Trang 111.2.2 Điều kiện tự nhiên
a, Địa hình
Địa hình của Ngũ Hành Sơn tương đối bằng phẳng, đất đai khá đồng nhất vềtính chất vật lý, hoá học Cấu tạo địa chất chủ yếu là cát, thành phần hạt thô hơn sovới cùng loại ở khu sát biển Ngoài ra lớp cát mịn được phân bố rộng khắp trongvùng, với chiều dày biến động từ 4 đến 11m, có kết cấu chặt vừa
b, Khí hậu
Quận Ngũ Hành Sơn nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm giómùa và ảnh hưởng khí hậu ven biển của miền Trung Khí hậu ở đây mang tính chấtchuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trọi là khí hậunhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: một mùa mưa kéo dài từtháng VIII đến tháng XII và một mùa khô kéo dài từ tháng I đến tháng VII, thỉnhthoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Mùa mưatrùng với mùa đông và mùa khô trùng với mùa hạ
Nhiệt độ trung bình là 25,60C; cao nhất vào các tháng VI,VII,VIII trung bình
từ 28 -300C; thấp nhất trong các tháng mưa VIII trung bình từ 18 -230C Do đặcđiểm địa hình có đồng bằng phía Tây và đèo Hải Vân chắn ngang nên khí hậu khuvực Đà Nẵng nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng không bị khắc nghiệt nhưkhí hậu phía Bắc đèo Hải Vân Ảnh hưởng của gió Tây Bắc không lớn Ngũ HànhSơn có nắng ấm gần như quanh năm; chỉ mưa vào các tháng 9, 10 và 11, nhưng vìnằm trong khu vực gió mùa nên lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn thườngcao hơn một số nơi khác
Theo thống kê nhiều năm, lượng mưa hàng năm của Ngũ Hành Sơn cụ thểnhư sau: lượng mưa trung bình năm là 2066mm, lượng mưa lớn nhất là 3307mm(1964), lượng mưa thấp nhất là 1400 mm (1974), lượng mưa ngày thấp nhất là322mm Lượng mưa trong năm thường phân bố không đều giữa các mùa và cáctháng Thường thì mưa lớn tập trung vào các tháng 9,10,11,12 và chiếm khoảng70% tổng lượng mưa của cả năm
Độ ẩm trung bình trong năm dao động từ 75% đến 90% Độ ẩm trung bìnhnăm là 82%, độ ẩm cao nhất trung bình là 90%, độ ẩm thấp nhất trung bình là 75 %
và độ ẩm thấp nhất tuyệt đối là 18% (tháng 4.1974)
c, Chế độ thuỷ văn
Về chế độ thuỷ văn: Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn có 3 con sông chảy qua, đó
là sông Hàn, sông Cổ Cò (nhân dân địa phương thường gọi là sông Bãi Dài, sôngDài hay Trường Giang, còn trong các sách của triều Nguyễn thường ghi là Lộ CảnhGiang) và sông Vĩnh Điện Sông Hàn là hợp lưu của sông Vĩnh Điện, sông Cổ Cò
Trang 12và sông Cẩm Lệ tại khu vực ngã sông, nơi tiếp giáp giữa phường Hoà Cường củaquận Hải Châu, xã Hoà Xuân của huyện Hoà Vang và phường Khuê Mỹ của quậnNgũ Hành Sơn và đổ nước ra Vũng Thùng, hình thành nên cảng sông Hàn và cảngbiển Tiên Sa Sông Vĩnh Điện, dài 17 km, là một nhánh của con sông Thu Bồn chảytheo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đổ ra sông Hàn Sông Vĩnh Điện chủ yếu phục
vụ cho giao thông hàng hoá giữa các huyện Bắc Quảng Nam với thành phố ĐàNẵng Sông Cổ Cò, là con sông nổi tiếng trong lịch sử ngoại thương của xứ ĐàngTrong trước đây, nối liền tiền cảng Đà Nẵng với thương cảng Hội An sầm uất vàocác thế kỷ XVI, XVII Sau này, sông Cổ Cò bị bồi lấp, gãy đứt thành nhiều đoạn.Trên địa bàn Ngũ Hành Sơn, sông Cổ Cò tách thành hai nhánh là sông Cổ Cò vàsông Cầu Biện Sông Cổ Cò hiện dài 3,5km, rộng 10m, bị bồi lấp nhiều, chưa cóđiều kiện để nạo vét nên đáy sông bị bồi lấp rất khó khăn cho ghe thuyền đi lại, nhất
là vào mùa khô Sông Cầu Biện dài 2km, rộng 20m, hiện tại bị lấp nhiều, một sốđoạn đã bị chặn lại để nuôi trồng thuỷ sản
Chế độ thuỷ triều của Biển Đông ở khu vực này là chế độ bán nhật triều; mỗingày lên xuống 2 lần với biên độ dao động khoảng 0,5m Độ nhiễm mặn do nướcbiển xâm thực tùy thuộc vào mùa mưa và lượng mưa hàng năm Lượng mưa cànglớn độ nhiễm mặn càng nhỏ, ngược lại, lượng mưa càng ít, độ nhiễm mặn càng lớn,ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh
d, Thổ nhưỡng – sinh vật
Thổ nhưỡng:
Với diện tích 3858,93 ha, Quận Ngũ Hành Sơn có các loại đất khác nhau như:Cồn cát và đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu vàđất xám, đất đỏ vàng, đất xói mòn trơ sỏi đá
Trong các nhóm đất trên có 2 nhóm đất chính là đất cát và đất phù sa Nhómđất phù phân bố chủ yếu ở ven các con sông chảy qua địa bàn quận
- Sinh vật
Với vị trí nằm chuyển tiếp giữa khu vực phía Bắc và khu vực phía Nam nêngiới sinh vật ở đây cũng có nét đặc trưng so với các vùng khác trên lãnh thổ, đó là
sự đa dạng và phong phú về thành phần loài
Trên cơ sở nguồn tài nguyên khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và nguồn tàinguyên đất đai nêu trên, Ngũ Hành Sơn có nguồn tài nguyên rừng và thảm thực vậttương đối đa dạng, gồm rừng trồng ở dọc biển và rừng tự nhiên ở khu vực núi NonNước - Ngũ Hành Sơn Thảm thực vật tự nhiên trên núi Ngũ Hành Sơn đa dạng vềchủng loại: thường xanh quanh năm và có độ che phủ tương đối lớn
Trang 13Rừng trồng tập trung nhất là ở vùng phía đông, chạy dọc bờ biển từ Hoà Hải
ra đến Mỹ An với cây trồng chủ yếu là dương liễu và bạch đàn Mục đích của rừngtrồng là phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn rửa trôi đất, làm rừng phòng hộven biển kết hợp với sản xuất lâm nghiệp
- Tài nguyên biển:
Vùng biển của Quận nằm trong ngư trường lớn biển Bắc Quảng Nam vớinguồn hải sản có giá trị kinh tế, thuận lợi cho các sinh vật biển gồm các loài cá,tôm, mực và các loại đặc sản khác như nghêu, bào ngư, rong biển sinh sôi nảy
nở Do ở vị trí cuối sông đầu biển, các con sông Cổ Cò, cầu Biện của Ngũ HànhSơn ở trong môi trường nước mặn lợ độc đáo, một vùng nuôi trồng thủy sản xuấtkhẩu giàu tiềm năng
1.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội
Quận được thành lập từ khi thành phố Đà Nẵng tách ra từ tỉnh Quảng Nam
-Đà Nẵng thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương vào năm 1997 trên cơ sởmột phường của thành phố Đà Nẵng (cũ) và 2 xã của huyện Hòa Vang Quận đượcchia làm 4 phường: Mỹ An, Khuê Mỹ, Hòa Quý và Hòa Hải
Bảng 1.1: Tình hình Dân số quận Ngũ Hành Sơn
Diện tích tự nhiên(Km2)
Dân số trung bình(người)
Mật độ dân số(người/km2)
Trang 14a, Giá trị sản xuất ngoài quốc doanh
Bảng 1.2 Giá trị sản xuất ngoài quốc doanh của quận Ngũ Hành Sơn
giai đoạn2009 – 2011 (đơn vị : tỷ đồng)
Giá trị sản xuất ngoài quốc doanh 316,37 382,56 466,87
Công nghiệp – Xây dựng 166,32 200,98 225,89
Thương mại – Dịch vụ 119,75 156,25 216,75
Theo niên giám thống kê của quận qua các năm, giá trị sản xuất ngoài quốcdoanh của quận từ 2009 đến 2011 có xu hướng tăng: từ 316,37 năm 2009 lên 66,87năm 2011 Trong đó Thương mại - Dịch vụ là ngành có giá trị tăng nhanh nhất
b, Dân sô, lao động, việc làm và thu nhập
- Dân số
Về dân số có: 51.914 người (2005) với mật độ dân số: 1.171 người/km2.Hiện nay, dân số tăng lên 65.095 với 16.470 hộ, trong đó số luợng người trong độtuổi lao động là42.893 người, chiếm 65,89 % so với tổng dân số của quận
Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm là 1,20%
Bảng 1.3 Tình hình dân số của quận Ngũ Hành Sơn
(Đơn vị tính: người)
Năm Toàn quận Chia theo phường
Mỹ An Khuê Mỹ Hòa Hải Hòa Quý
Trang 15-Lao động
Biểu đồ 1.1: Tình hình lao động quận Ngũ Hành Sơn qua các năm
Nguồn: Niêm giám thống kê quận Ngũ Hành Sơn1.3 TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÁNHBẮT, NUÔI TRÔNG THỦY HẢI SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT
1.3.1 Các tác động của BĐKH đối với hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản trên Thế giới
Thời gian gần đây rất nhiều kết quả của các công trình khoa học nghiên cứu
về BĐKH và tác động của nó đã được công bố Nguy cơ phải đối mặt với ngập lụtvùng duyên hải và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt gia tăng là kết luận thu đượctrong Báo cáo phát triển con người 2007/2008 Theo bản báo cáo thì Uỷ ban liênchính phủ về BĐKH (IPCC) dự kiến các hiện tượng thời tiết sẽ diễn ra thườngxuyên hơn, hạn hán và lũ lụt là tác nhân chính gây ra các thảm hoạ liên quan đếnkhí hậu đang liên tục gia tăng Với kịch bản trái đất tăng 20C, các vùng biển nónglên sẽ gây ra những trận lốc xoáy có sức tàn phá dữ dội Diện tích khu vực phải chịuhạn hán tăng lên, môi trường sống bị huỷ hoại, làm triệt tiêu những thành quả đạtđược, những tiến bộ trong y tế và dinh dưỡng Mực nước biển trong thế kỷ 21 chắcchắn sẽ dâng cao do lượng phát thải trong quá khứ Khi nhiệt độ tăng sẽ đẩy nhanhquá trình nước biển dâng, dẫn đến mất dần nơi cư trú của người dân của các nướcnhư Băngladet, Ai Cập và Việt Nam Như vậy sẽ có khoảng 180 đến 230 triệungười nữa phải hứng chịu nạn ngập lụt ở vùng ven biển
Ngoài ra, theo kết quả của công trình nghiên cứu của nhóm các nhà khoa họcĐức, công bố trên tạp chí Khoa học (Science, Mỹ) số ra ngày 14/12/2007 cho biếthiện tượng khí hậu Trái Đất ấm lên có thể làm mực nước biển dâng nhanh hơn mức
Trang 16dự kiến trong thế kỷ này và tác động của tình trạng biến đổi khí hậu đối với các đạidương là "không thể lường trước được" Theo nghiên cứu này đến năm 2100, donhiệt độ Trái Đất tăng lên, nước biển sẽ dâng cao thêm 1,44m, tức là gần gấp đôi sovới mức tăng dự đoán của giới khoa học Nguy cơ lũ lụt nghiêm trọng sẽ xảy ra ởnhững vùng đất thấp trên thế giới, trong khi một số khu vực như thành phố NewYork và London sẽ phải hứng chịu những đợt bão tàn phá Trước đó, giới khoa họccho rằng cứ mỗi thập kỷ, mực nước biển lại dâng cao thêm 3 cm và đến năm 2100,mực nước biển có thể sẽ tăng thêm từ 9 đến 88 cm Trưởng nhóm nghiên cứu trên,Giáo sư Stefan Rahmstorf thuộc trường Đại học Postdam cho biết nguyên nhânkhiến mực nước biển dâng lên là do sự tan băng, và tình trạng nhiệt độ Trái Đất ấmlên khiến tốc độ băng tan ở hai cực trở nên nhanh hơn.
Trên đây là những kết luận một cách rất tổng quát về hậu quả của BĐKH vànhững nguy cơ có thể xảy ra khi có BĐKH của các nhà khoa học Đức Nghiên cứunày đã đưa ra được các giả thuyết với các mực nước biển có thể dâng tương ứng vớimức gia tăng nhiệt độ
1.3.2 Các tác động của BĐKH đối với hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản tại Việt Nam
a Các tác động của biến đổi khí hậu với khai thác hải sản tại Việt Nam
Sự thay đổi khí hậu có tác động đến các hệ sinh thái biển, làm biến độngchủng quần và nguồn lợi cá biển vì vậy làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống củacộng đồng ngư dân khu vực ven biển Hiện tượng san hô chết hàng loạt trong 20năm qua do một số nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do nhiệt độ ở các vùngbiển đã tăng lên
Các ảnh hưởng tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với môi trường và các hệthống kinh tế xã hội có thể được đánh giá qua sự nhạy cảm, mức độ thích nghi vàmức độ dẽ bị tổn thương của hệ thống Tại Việt Nam, hiện chưa có các nghiên cứuđầy đủ về tác động của biến đổi khí hậu đối với khai thác hải sản Tuy nhiên, vớinhững nguy cơ và thách thức đang tiềm ẩn đối với lĩnh vực khai thác thuỷ sản, cácảnh hưởng tiềm tàng của biến đổi khí hậu có thể sẽ rất lớn Các ảnh hưởng này phầnnào đã được thể hiện qua số liệu thống kê về thiệt hại do bão gây ra đối với cộngđồng ngư dân ven biển trong những năm gần đây
Theo số liệu thống kê của Bộ Thuỷ sản từ năm 2001-2006: “tình hình thiên taingày càng có diễn biến phức tạp, tần suất ngày một tăng, tính ác liệt ngày một lớntrên tất cả các loại hình: bão, nước biển dâng, triều cường, lũ lụt, lũ quét …xảy radồn dập và không theo quy luật”
Trang 17Bảng 1.4 Thống kê ảnh hưởng của bão đối với ngành thuỷ sản
Ápthấpnhiệt đớitrênBiểnĐông
Áp thấpnhiệt đới ảnhhưởng trựctiếp đến Việtnam
Thiệthại liên quanđến cộngđồng ngưdân ven biển
Ư
ớc tínhgiá trịthiệthại
- 4 ngưdân chết
9
7 tỉđồng
hư hỏng40người chết
-Số lượng các cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam không chỉ có xu hướng tănglên mà mức độ ảnh hưởng ngày càng nhiều Năm 2006, 10 cơn bão với cường độmạnh, các đợt gió mùa Đông Bắc kéo dài và các hiện tượng thời tiết bất thường
Trang 18khác đã tác động đáng kể đến hoạt động thuỷ sản và gây ra thiệt hại cho người vàtàu cá hoạt động trên biển, đặc biệt cơn bão số 1 (Chanchu) gây thiệt hại rất lớn chongư dân khai thác vùng biển xa bờ Ngoài ra, thiệt hại về người và vật chất đối vớicộng đồng ngư dân ven biển cũng là rất đáng kể khi cơn bão số 9 (Durian) đổ bộvào bờ.
b Ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
- Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển của ViệtNam Những năm gần đây NTTS của nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ
và đạt đựơc nhiều thành tựu to lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước Ngành có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần xoáđói giảm nghèo, cung cấp dinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho nhân dân, và từngbước nâng cao kim ngạch xuất khẩu của đất nước Đến năm 2003, NTTS và cáchoạt động thuỷ sản chiếm tới 5,1% tổng số lao động trên toàn quốc; đến cuối năm
2006, sản lượng nuôi trồng đạt 1.526.000 tấn, tăng khoảng 14% so với năm 2005.Nuôi trồng thuỷ sản tập trung chủ yếu ở đồng bằng Nam bộ, và sau đó là đồng bằngsông Hồng (Biểu đồ 1.3)
Biểu đồ 1.2: Tổng sản lượng NTTS cả nước và giá trị xuất khẩu
của Việt Nam 1990 – 2005
Trang 190 200
Biểu đồ 1.4: Diện tích mặt nước NTTS phân theo các khu vực trong cả
nước từ năm 1995 – 2005
- Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng và phát triển củasinh vật nói chung và các loài nuôi trồng thủy sản nói riêng Mỗi loài có khoảngnhiệt độ thích ứng riêng Khả năng chống chịu của chúng nằm trong khoảng giớihạn nhất định Ví dụ nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của tôm súgiới hạn trong khoảng 25 – 320C, nếu nhiệt độ cao hơn 320C hoặc thấp hơn 250C thì
sự phát triển của tôm sẽ bị ảnh hưởng như tôm chậm lớn
Nhiệt độ nước trong các ao hồ phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết và từng địaphương (Biểu đồ 1.5) Khi nhiệt độ không khí tăng lên làm cho nước nóng lên, tuynhiên biến động nhiệt độ nước trong các ao hồ chậm hơn so với không khí Ở Việt
Tây Bắc Bắc Trung Bộ Duyên hải Nam Trung Bộ Tây Nguyên
Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 20Nam, đặc biệt là các tỉnh miền Trung, hiện tượng nắng nóng đã làm cho nhiệt độnước tăng lên quá mức chịu đựng của nhiều loài sinh vật, trong đó có các loài nuôi.Nước nóng đã làm cho tôm cá chết hàng loạt, đặc biệt nghiêm trọng đối với các ao
hồ có độ sâu nhỏ Đối với các vực nước có độ sâu cao, vực nước lớn hoặc chảy thì
sự thay đổi về nhiệt độ hiện xảy ra chậm hơn và nước ít bị nóng hơn Vì vậy việcnuôi lồng bè trên các vực nước lớn như sông suối, biển thường ít bị ảnh hưởng của
sự tăng nhiệt độ quá mức và lâu dài, còn các vực nước tù và nhỏ thường dễ bị ảnhhưởng nghiêm trọng hơn
Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong các ao hồ.Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lượng oxi trongnước trong giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá mức của các loài thực vậtthủy sinh, hoặc quá trình phân hợp chất hữu cơ Sự suy giảm hàm lượng oxi làmảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi, tôm có thể bị chết hoặcchậm lớn Điều này dễ nhận thấy qua hiện tượng hiện tượng phù dưỡng của các aonuôi; cá nổi đầu vào buổi sáng trong các ao nuôi; thủy triều đỏ và tảo chết hànghoạt ở các vùng ven biển
Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy racho các loài nuôi Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khỏe của các loài nuôi, môi trườngnước bị xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gâyhại Trong những năm gần đây do môi trường nuôi bị suy thoái kết hợp với sự thayđổi khắc nghiệt của thời tiết đã gây ra hiện tượng tôm sú chết hàng loạt ở hầu hếtcác tỉnh, như bệnh do nhóm vi khuẩn Vibrio gây ra, bệnh do virus (MBV, HPV vàBP) Các bệnh này thông thường xảy ra và lan truyền rất nhanh và rộng, khó chữanên mức độ gây rủi ro rất lớn
Bên cạnh những ảnh hưởng bất lợi, tăng nhiệt độ cũng là điều kiện thuận lợicho nuôi trồng thủy sản Sự tăng lên của nhiệt trong khoảng cho phép tăng năngsuất sơ cấp cho các ao nuôi, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của các loài thủysinh là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài nuôi Ở các tỉnh miền Bắc, nuôi trồngthủy sản bị giới hạn bởi nhiệt độ mùa xuân và ngọt hóa của nước vào mùa hè Nhiệt
độ nước tăng vào xuân thúc đẩy sự phát triển của sinh khối thủy vực, người dân cóthể thả con giống sớm hơn, cho nên có thể tránh được rủi ro tôm cá chết do độ mặncủa nước giảm đột ngột
Biểu đồ 1.5: Nhiệt độ trung bình tháng của một số tỉnh trong cả nước
Trang 21Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên Huế
Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Ngãi Bình Định Phú Yên
- Ảnh hưởng của hạn hán và lũ lụt
Nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công cho pháttriển nuôi trồng thủy sản Hiện tượng nắng nóng kéo dài đã làm cạn kiệt nguồnnước ngọt, làm tăng mức độ bốc hơi nước trong các ao nuôi Đối với các ao nuôigần nguồn cung cấp nước hoặc nuôi lồng bè trong vực nước lớn (sông suối, biển)thì ảnh hưởng này không lớn, nhưng đối với ao nuôi cách xa nguồn nước thì nuôitrồng thủy sản bị ảnh hưởng rất nghiêm trong Miền Trung là nơi có số ngày nắng,mức độ bốc hơi nước lớn nhất cả nước, cho nên hạn hán xảy ra nghiêm trọngnhất.Nhiều ao nuôi tôm cá đã bị bỏ hoang vì không có nước để cung cấp trong quátrình nuôi Một số ao nuôi chưa đến thời gian thu hoạch đã bị cạn kiệt nguồn nướctrong ao, nên người dân phải thu hoạch sớm hoặc bỏ nuôi Tôm cá chưa đến kíchthước thương phẩm bán với giá quá rẻ hoặc làm thức ăn cho gia súc và gia cầm
Nắng lắm ắt phải mưa nhiều, gây ra hiện tượng lũ lụt ở nhiều nơi Lượng mưatrung bình khác nhau ở mỗi vùng (Biểu đồ 1.6) Lũ lụt đã ảnh hưởng rất nghiêmtrọng ở nhiều địa phương trong cả nước Nhiều nơi có thể được xem là nơi thuận lợiphát triển nếu hiện tượng khô hạn xảy ra, nhưng chính nơi đây là nơi dễ bị rủi ronhất nếu lũ lụt xảy ra Khô hạn có thể cung cấp nước, nhưng lũ lụt thì rất khóchống Nhiều ao nuôi đã được chuẩn bị bao đê kiên cố, cao để chống nước dân caovào mùa mưa, nhưng không thể chống được lũ lụt Đối với nghề nuôi thủy sản mặn
lợ, độ mặn lại là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loàinuôi Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt rakhỏi ngưỡng chịu đựng làm cho tôm cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn Lũ xãy ra cònlàm cho độ mặn các vực nước gần bờ như các cửa sông giảm xuống, nghề nuôinhuyễn thể, tôm cá, rong đề bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 22Biểu đồ 1.6: Lượng mưa trung bình tháng của một số tỉnh trong cả nước
Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên Huế
Đà Nẵng Quảng Nam
- Hiện tượng giông bão
Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên Việt Nam phải chịu ảnh hưởng của hiệntượng bão và áp thấp nhiệt đới Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to gió lớn Bão
đã gây ra những cơn sóng giữ dội có thể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các
ao nuôi, lồng bè trên biển, vì vậy tổn thất là điều khó tránh khỏi Sự tàn phá của bão
và áp thấp nhiệt đới còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái của vùng nuôi – cần thời giandài mới có thể phục hồi So với sự thay đổi nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đớithưởng khó có thể dự đoán, ngược lại mức độ ảnh hưởng của nó ảnh hưởng nghiêmtrọng hơn rất nhiều Có thể nói rằng, hiện tượng khắc nghiệt của biến đổi khí hậunày ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề không chỉ riêng nuôi trồng thủy sản Đối vớivùng ven biển, nơi mà cộng đồng cư dân sống chủ yếu dựa vào hoạt động nuôitrồng thủy sản, nếu băo xảy ra th́ thiệt hại về kinh tế là điều khó tránh khỏi, sinh kếcủa họ sẽ bị mất
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA BDDKH CHUNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VÀ SẢN XUẤT CỦANGƯỜI DÂN VEN BIỂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.4.1 Tác động của BĐKH chung đến đời sống và sản xuất của người dân ven biển trên Thế giới
Theo báo cáo của Nhóm công tác II (WG II) thuộc IPCC diễn ra tại Brussel
-Bỉ từ ngày 02 đến 06 tháng tư năm 2007 Cuộc họp này có sự tham gia của cácthành viên, các nhà khoa học, các tổ chức Liên hợp quốc Cuộc họp đã đưa ra k ếtluận toàn cảnh về tác động của BĐKH, những tác động có hại của BĐKH lên conngười và đưa ra phương thức thích ứng Theo kết quả của báo cáo này, các bằngchứng quan sát được ở khắp các châu lục và đại dương cho thấy các hệ thống tựnhiên đang bị ảnh hưởng do tác động của BĐKH, đặc biệt do tác động của sự gia
Trang 23tăng nhiệt độ Báo cáo này đã chỉ ra tác động của BĐKH khí hậu lên nguồn nước,phương thức quản lý nguồn nước; tác động lên hệ sinh thái, lương thực và các sảnphẩm rừng,… đối với hệ thống vùng duyên hải và các vùng đất thấp thì báo cáo này
đã chỉ ra các kết quả cụ thể như sau:
Duyên hải là vùng dự kiến gặp nhiều nguy cơ ngày càng tăng như lở bờ, gây
ra do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Tác động càng trầm trọng hơn do áplực ngày càng tăng của con người vào các vùng duyên hải Các dải san hô dễ bị tổnhại do sự biến đổi khí hậu do khả năng thích ứng kém Sự gia tăng nhiệt độ bề mặtbiển từ 1 - 30C sẽ gây ra hiện tượng tẩy trắng san hô hoặc chết hàng loạt trừ khi san
hô có khả năng thích nghi với thay đổi nhiệt độ và khí hậu
Các vùng đất duyên hải ngập nước bao gồm vùng nước ngập mặn và rừngđước có thể chịu tác động tiêu cực của hiện tượng nước biển dâng Hàng triệungười có thể phải chịu cảnh lũ lụt hàng năm do nước biển dâng vào năm 2080.Nguy cơ các vùng đất thấp và đông dân kém thích nghi phải chịu những thách thứckhác như bão, sụt lún Cư dân thuộc các châu thổ rộng lớn của châu Á và châu Phi
sẽ chịu tác động nhiều nhất, còn các đảo nhỏ đặc biệt dễ bị tổn hại do biến đổi khíhậu gây ra
Việc thích ứng với biến đổi khí hậu của các khu vực duyên hải thuộc các quốcgia đang phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn hơn các nước phát triển do hạn chế trongnăng lực thích ứng
Báo cáo cũng chỉ ra những tác động của BĐKH đến các ngành kinh tế Theobáo cáo thì ngành công nghiệp, các cộng đồng dân cư vùng duyên hải và đồng bằngngập lũ ven sông Bởi đây là nơi mà nền kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với nguồntài nguyên nhạy cảm với sự BĐKH, dễ bị tác đông của hiện tượng khí hậu cựcđoan
Các cộng đồng dân cư nghèo đặc biệt dễ bị tổn hại, nhất là những cộng đồngtập trung tại các khu vực có nguy cơ cao Những cộng đồng dân cư này có khả năngthích ứng kém và phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên nhạy cảm với khí hậu nhưnguồn cung cấp lương thực và nước tại chỗ
Tại các khu vực thời tiết cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều cả về tần xuất vàmức độ, các tổn hại về kinh tế và xã hội sẽ càng tăng cao Tác động của biến đổi khíhậu sẽ ảnh hưởng từ khu vực và ngành trực tiếp bị tác động lan sang các khu vực vàngành khác do các mối liên hệ rộng lớn và phức tạp
Báo cáo này cũng đưa ra tác động của BĐKH với những số liệu cụ thể về tácđộng của nó tới từng khu vực trên thế giới Trong đó thì vẫn là các vùng duyên hải
Trang 24và cộng đồng dân cư sống ven biển sẽ phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng
và năng nề nhất của việc nước biển dâng
Báo cáo này dựa trên sự nghiên cứu của các nhà BĐKH khí hậu trên toàn thếgiới từ trước đến nay Nó đã đưa cái nhìn tương đ ối hoàn chỉnh về tác động củaBĐKH Vì vậy để hạn chế cũng như giảm nhẹ tác động của nó thì cần sự hợp sức
và phối hợp của tất cả các cộng đồng dân cư cũng như của các quốc gia trên toànthế giới
1.4.2 Tác động của BĐKH chung đến đời sống và sản xuất của người dân ven biển ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng BĐKH nghiên trọngnhất BĐKH đã và đang tác động nặng đến đời sống, sản xuất, môi trường, hạ tầng
cơ sở, sức khỏe cộng đồng ở nước ta đặc biệt là người dân ven biển – khu vực bịảnh hưởng mạnh mẽ nhất Với đường bờ biển dài 3260 km, diện tích vùng đặcquyền kinh tế hơn 1 triệu km2, Ở nước ta trong những năm gần đây, số lượng ngườimất nhà cửa và kinh tế lâm vào khó khăn sau mỗi trận bão, lũ lụt… là rất lớn Điểnhình là cơn bão số 4 năm 2008 đã làm 162 người chết, làm sập, hỏng 11.500 cănnhà, trường học, gây ngập úng 27.200 ha lúa và hoa màu, làm sạt trôi và bồi lấp 2,3triệu khối đất đá trên các công trình giao thông, thủy lợi và các khu nuôi trồng thủysản, làm chết 28.000 gia súc, gia cầm, thiệt hại lên tới 1.900 tỉ đồng Hậu quả củathiên tai không chỉ dừng lại ở đó, ảnh hưởng của chúng còn tồn tại sau một thờigian dài, chất lượng sống con người ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu ăn, thiếu nhà
ở, y tế và giáo dục không đảm bảo
Mới đây, theo báo cáo của Uỷ ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định,BĐKH gây tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóngnhiệt/nóng, bão, lũ lụt, hạn hán… nhiều bệnh, dịch gia tăng dưới tác động của sựthay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh sống, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian,như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, các bệnh đường ruột và các bệnh khác…Những bệnh này, đặc biệt phát tán nhanh ở các vùng kém phát triển, đông dân cư và
có tỉ lệ đói, nghèo cao thuộc các nước đang phát triển Nước ta, trong thời gian quacũng đã xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (cúm gia cầm, bệnh lợn taixanh…), nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) vàgây ra nhiều thiệt hại đáng kể
Về giao thông vận tải, thông tin liên lạc bị gián đoạn, các cơ sở hạ tầng, mạngthông tin bị hư hại nghiêm trọng sau những trận thiên tai Việc củng cố, khắc phụcsau các sự cố do BĐKH gây ra hết sức khó khăn, tốn kém nhiều thời gian và kinhphí
Trang 25CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNHĐÁNH BẮT, NUÔI TRỒNG THỦY HẢI SẢN Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
2.1 MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA BĐKH VÀ HỆ QUẢ CỦA NÓ TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
Cũng như các địa phương thuộc Thành phố Đà Nẵng và khu vực duyên hảiMiền Trung, quận Ngũ Hành Sơn trong những năm gần đây Đã và đang chụi ảnhhưởng của BĐKH rất mạnh mẽ như: sự nóng lên của Trái Đất, nước biển dâng, diễnbiến của khí hậu ngày càng khắc nghiệt mà điển hình là tình hình phức tạp của bão
lũ trong những năm vừa qua
Bản đồ tự nhiên quận Ngũ Hành Sơn
Trang 262.1.1 Biến động qua nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa
a Biến động qua chế độ nhiệt
Nhiệt độ không khí có tầm quan trọng rất lớn đối với sự sống trên Trái Đất nóichung và hoạt động kinh tế của con người nói riêng ngay trong các nhân tố của khíhậu thì nhiệt độ không khí là yếu tố phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ giữa các yếu
tố hoàn lưu, khí áp, mây, mưa
Sự biến đổi của nhiệt độ trong một ngày và trong một năm phụ thuộc vào sựquay của Trái Đất và sự biến thiên của thông lưu bức xạ Mặt Trời Song nhiệt độluôn có sự thay đổi từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác nhưngluôn xoay quanh giá trị trung bình nhiều năm Những biến động trong chế độ nhiệtcòn phản ánh một cách rõ nét nhất qua tính chất bất ổn định của hoạt động gió mùa.Nhiệt độ trung bình
Nhiệt độ trung bình của quận Ngũ Hành Sơn trong những năm gần đây luôn
có sự dao động so với trung bình nhiều năm
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình hàng năm của quận Ngũ Hành Sơn từ 2008
Trang 27độ trung bình hàng năm đạt từ 25 – 270C, hầu như các tháng trong năm đều có nhiệt
độ trên 200C Điều này chứng tỏ quận Ngũ Hành Sơn ít chịu ảnh hưởng của khốikhông khí lạnh miền Bắc (do bức chắn địa hình là dãy Bạch Mã tạo nên) làm chokhí hậu ở đây không có mùa đông lạnh và kéo dài nhý các tỉnh ở phía Bắc Cũngchính vì vậy mà biên độ dao động nhiệt trong năm cũng nhỏ hơn: biên độ nhiệt năm
2012 là 8.30C; Biên độ nhiệt năm 2011 là 9.80C
Tuy nhiên trong những năm gần đây nhiệt độ trung bình tại quận Ngũ HànhSơn luôn có sự biến động giữa các năm và giữa các tháng trong năm Biên độ nhiệt
có sự dao động lớn giữa các tháng Nhiều năm trong mùa đông nhiệt độ hạ xuốngdưới 200C như: tháng II (2008) nhiệt độ hạ xuống chỉ còn 19.40C, tháng I (2011) là19.70C
Nhiệt độ trung bình của các tháng trong mùa hè (tháng VI,VII) trong nhữngnăm gần đây đều cao hơn giá trị trung bình nhiều năm gần 10C Đặc biệt trongnhưng năm trở lại đây nhiều tháng có nhiệt độ rất cao trên 300C, cao nhất là năm
2012 với nhiệt độ trung bình của tháng VI lên tới 30.60C
Như vậy ta có thể thấy rằng, mặc dù nhiệt độ trung bình giữa các năm biếnđộng không lớn nhưng nền nhiệt giữa các tháng trong năm, giữa năm này với nămkhác luôn có sự biến động
Trang 28Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện sự biến động nhiệt độ trung bình ở quận
Ngũ Hành Sơn (đơn vị: 0 C)
b Biến động qua chế độ mưa
So với yếu tố nhiệt độ thì mưa là yếu tố biến động mạnh mẽ hơn nhiều, đây làmột yếu tố thời tiết biến động rất lớn theo không gian và thời gian vì nó phụ thuộcnhiều vào hoàn lưu khí quyển, nhiệt độ không khí và địa hình
Mưa là yếu tố khí hậu liên quan đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của conngười Mưa lớn và kéo dài sẽ gây ra lũ lụt, ngập úng; mưa ít dẫn đến khô hạn, nướcmặn dễ xâm nhập sâu vào vùng cửa sông làm môi trường đất bị biến đổi nghiêntrọng ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của con người đặc biệt là hoạt độngsản xuất nông nghiệp
Dao động lượng mưa lớn thường tập trung ở những vùng mưa nhiều và trungtâm mưa lớn Nếu lượng mưa trung bình trên 2500mm thì dao động lượng mưakhoảng ± 500mm, lượng mưa trung bình từ 2000 – 2500mm thì dao động ±40mm,
từ 1000 – 2000mm thì dao đọng ±30mm
Trong diễn biến hàng năm của mưa thì mức độ dao động còn phụ thuộc nhiềuvào các nhân tố khí tượng khác như: hoạt động của hoàn lưu, các yếu tố phi chu kỳ(bão, dải hội tụ nhiệt đới…)
Bảng 2.2: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm của quận Ngũ Hành