Trong thế kỷ XIX và XX các công trình nghiên cứu về cá được công bố ngày càng nhiều và lĩnh vực nghiên cứu cũng được mở rộng như về phân loại học, sinh học, sinh thái và phân bố của các
Trang 1ỌC N N
ỌC SƯ P M KHOA SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nghiên cứu thành phần loài cá ở vùng cửa sông
Thu Bồn – Quảng Nam
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Tường Vi Chuyên ngành : Cử nhân Sinh Môi Trường Người hướng dẫn : Bùi Thị Ngọc Nở
à Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sông Thu Bồn với diện tích lưu vực rộng 10,350km2, là một trong những lưu vực sông nội địa lớn nhất Việt Nam, bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh thuộc huyện Dak Glei, tỉnh Kon Tum với hệ thống các sông chằng chịt ở hạ lưu và chảy ra biển ở Cửa Đại (Hội An) Sông có độ dốc lớn, hằng năm thường xuyên
có lũ xuất hiện, gây ngập lụt và xói lỡ ở nhiều nơi, lưu lượng khá lớn, lưu lượng dòng chảy trung bình vào mùa mưa có thể đến 850m3/s[8], do vậy phần hạ lưu của sông đã tạo nên khu vực đất ngập nước rộng lớn, quan trọng và đáng chú ý nhất là khu vực các xã Cẩm Thanh, Cẩm Nam, Cẩm Kim, Cẩm Hà và vùng phụ cận với hơn 1200ha diện tích mặt nước Các nhánh sông Ba Chươm, sông Cổ
Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn đã tạo ra đa dạng các cồn gò như Thuận Tình, cồn Tiến, cồn 3 xã, gò Hí, gò Già
Hệ sinh thái nơi đây rất đa dạng, từ những vùng đầm phá nước lợ rộng lớn đến các vùng nuôi trồng thủy sản đầy tiềm năng, nơi đây còn sở hữu các khu vực bãi lầy ngập triều, đồng bằng ven sông, rừng ngập mặn, các thảm thực vật
và quần thể san hô Về phương diện sinh vật, các hệ sinh thái nêu trên có sự đa dạng sinh học rất cao, là nơi cư trú, sinh sống của nhiều loài động vật biển có giá trị, nhất là các loài tôm, cua, ghẹ và động vật thân mềm Các thảm cỏ biển là nơi sinh sống và bắt mồi, ẩn nấp của ấu thể nhiều loài hải sản[9] Hệ sinh thái đặc trưng là hệ sinh thái rừng ngập mặn với các rạn san hô và các thảm cỏ biển, với 500ha diện tích đất ướt thuộc các xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim và vùng quanh thị xã Hội An, đặc biệt là rừng dừa nước Bảy Mẫu xã Cẩm Thanh Nhưng hiện nay, diện tích rừng dừa nước ở đây đã bị thu hẹp đến 40% nếu so với thực tế những năm 1990 Đây là hậu quả của quá trình phát triển nuôi tôm ào ạt, thiên tai lũ lụt, xói lở bờ sông và quá trình đô thị hóa, các hoạt động kinh tế - xã hội khác… Giống như dừa nước, các thảm cỏ biển cũng bị suy giảm nghiêm trọng,
Trang 3với hơn 50% diện tích phân bố Hiện tại, khi thủy triều xuống thấp, người dân bắt trùn biển đã đào xới cỏ biển làm hủy diệt môi trường sống của các loài thủy sản[33]
Bên cạnh đó còn có nhiều nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi thủy sản, song nguyên nhân chủ yếu là do khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường và
sự tàn phá sinh cảnh của các loài thủy sản Nguyên nhân sâu xa vẫn là do trình
độ hiểu biết của ngư dân về các kiến thức pháp luật liên quan đến bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và khai thác nguồn lợi hải sản bền vững còn hạn chế và cơ chế quản
lý khai thác nguồn lợi này từ các cơ quan chức năng chưa thật sự hiệu quả Và hậu quả là trong những năm gần đây nhiều loại cá kinh tế vốn là đối tượng khai thác truyền thống là nguồn thực phẩm quý giá đã bị suy giảm nghiêm trọng và
hệ sinh thái bị tổn thương Điều này đã và đang gây những ảnh hưởng không tốt đến đời sống của ngư dân và sự phát triển ngành khai thác thuỷ sản của vùng
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thành
phần loài cá ở vùng cửa sông Thu Bồn – Quảng Nam”
2 Mục tiêu đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu nghiên cứu thành phần loài cá của vùng để cung cấp thêm dữ liệu nhằm làm cơ sở cho việc lập kế họach quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông Thu Bồn
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu cho ban các cơ quan, ban, ngành lập
kế hoạch quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở đây và là thông tin ban đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về thành phần loài, nguồn lợi cá,… trong tương lai
Trang 4C ƢƠN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ẶC ỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã 3 sông Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam Phần đất liền của thành phố có hình thể gần giống như một hình thang cân, đáy là phía Nam giáp huyện Duy Xuyên với ranh giới chung là sông Thu Bồn, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Điện Bàn, phía Đông là bờ biển dài 7 km Cách đất liền 18 km là cụm đảo Cù Lao Chàm, bao gồm nhiều hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Ông, Hòn Tai, Hòn Lá, Hòn Khô, Hòn Nồm với diện tích chiếm một phần tư thành phố Hội An Các hòn đảo này quần tụ thành hình cánh cung hướng mặt ra Biển Đông, được hình tượng hoá như người hoa tiêu khổng lồ, như bức bình phong che chắn cho đất liền Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 6.171,25 ha, phần diện tích đất liền 4.850 ha chiếm 73,50% (trong đó diện tích đất 3.669 ha
và diện tích mặt nước 1.180,3 ha), diện tích hải đảo 1.654 ha chiếm 26,50%
Hội An là vùng cửa sông - ven biển và là nơi hội tụ của các con sông lớn của xứ Quảng như sông Thu Bồn - Vu Gia theo trục Đông – Tây (đoạn sông Thu Bồn chảy qua Hội An được gọi là sông Cái hoặc sông Hội An, với chiều dài qua địa phận thành phố là 8,5 km)[17]
1.1.2 ặc điểm địa hình
Địa hình Hội An nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc thoải trung bình 0,015o Địa hình các vùng đồng bằng của Hội An chia thành ba vùng:
- Vùng cồn cát tập trung ở phía Tây Bắc, trải dài từ dốc Lai Nghi địa bàn
phường Thanh Hà, sang xã Cẩm Hà, qua phường Cẩm An, chạy dọc biển xuống phường Cửa Đại, kết nối với vùng cát phía Đông huyện Điện Bàn (giáp các xã Điện Nam, Điện Dương)
Trang 5- Vùng thấp trũng gồm các phường Cẩm Phô, Minh An, Sơn Phong, Cẩm
Nam, Cẩm Châu và xã Cẩm Kim bờ Nam sông Thu Bồn
- Vùng mặt nước sông ngòi gồm phần lớn diện tích xã Cẩm Thanh[17]
* Các hệ sinh thái chính: các hệ sinh thái chính bao gồm: hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái dưới nước, hệ sinh thái đầm phá và rừng ngập mặn
Phần hạ lưu cửa sông: đăc trưng là hệ sinh thái rừng ngập mặn với các rạn san hô và các các thảm cỏ biển, với 500 ha diện tích đất ướt thuộc các xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim và vùng quanh thị xã Hội An - Tỉnh Quảng Nam[18]
1.1.3. ặc điểm khí hậu
Hội An nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ cao và ít biến động, tuy nhiên do nằm gần biển nên khí hậu tương đối mát mẽ Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Vào mùa mưa thì thường mưa nhiều
và khí hậu rất ẩm ướt, do nằm cạnh biển nên thường hay bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão vào các tháng cuối năm[34]
b Lượng mưa
Hội An có 2 mùa khô và mùa mưa rõ rệt: Mùa khô kéo dài trong 8 tháng (từ tháng 2 đến tháng 9), mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau
Trang 6- Lượng mưa trung bình năm: 2066mm
-Tổng số ngày mưa trung bình trong năm là: 147 ngày
+ Lượng mưa trung bình lớn nhất trong năm 3315mm
+ Lương mưa trung bình nhỏ nhất trong năm là 2212 mm
+ Tổng số ngày mưa trung bình trong năm 120 ngày
- Lượng mưa ngày lớn nhất: 332mm
- Tháng có số ngày mưa trung bình nhiều nhất: tháng 10
- Tháng có lượng mưa lớn nhất là vào tháng 10- 11
c Độ ẩm, gió, bão
Độ ẩm + Độ ẩm trung bình hàng năm 82%
+ Độ ẩm cao nhất 90% + Độ ẩm thấp nhất 75%
Gió Gió mùa Đông Bắc: trung bình từ tháng 10 năm nay đến cuối tháng 4 năm sau thường có những đợt không khí lạnh từ phía Bắc tràn về và gây ra gió mùa Đông Bắc Mỗi năm trung bình có từ 9 - 10 đợt
Gió Tây Nam: thường xuất hiện vào cuối tháng 3 đến cuối trung tuần tháng 9 thường mang lại thời tiết khô nóng, thịnh hành mạnh nhất của gió này là vào tháng 6,7,8
Gió Đông Nam vào các tháng 4, 5,6
- Hướng gió thịnh hành mùa hè: Đông
- Hướng gió thịnh hành mùa Đông: Bắc và Tây Bắc
- Tốc độ gió trung bình: 3,3m/s
- Tốc độ gió mạnh nhất: 40m/s
Trang 7 Bão Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11 Các cơn bão thường kéo theo những trận mưa lớn gây ra lũ lụt cho toàn khu vực, theo thống
kê nhiều năm thì số cơn bão đổ bộ vào Đà Nẵng, Hội An chiếm 24,4% tổng số các cơn bão đổ bộ vào đất liền từ vĩ tuyến 17 trở vào
1.1.4 iều kiện thủy hải văn
Quá trình phát triển đường bờ khu vực cửa Thu Bồn chịu tác động tổng hợp của yếu tố sông - biển Nằm trong vùng có chế độ mưa và dòng chảy mang tính cực hạn rất lớn với mùa mưa ngắn chỉ khoảng 4 tháng, nhưng lượng dòng chảy chiếm tới 80% tổng lượng dòng chảy năm Thêm vào đó địa chất bề mặt vùng đồng bằng thuộc loại cát từ trung bình đến thô nên mùa lũ bị mang theo dòng nước ra biển Trong khi 8 tháng mùa khô dòng chảy trong sông rất nhỏ, khi đó yếu tố biển mạnh hơn rất nhiều lần yếu tố sông Dòng bùn cát theo dòng chảy dọc bờ do sóng tạo ra bồi lấp cửa và diễn biến phức tạp, gây khó khăn không nhỏ cho vận tải khu vực cửa sông và thoát lũ đầu mùa…
a Chế độ sóng
Bờ biển vùng cửa sông Thu Bồn có hướng Tây Bắc - Đông Nam, nên dễ nhận thấy khả năng ảnh hưởng của các hướng sóng và gió vào mùa đông thường cao hơn rất nhiều so với các hướng sóng gió mùa hè Các hướng sóng và gió thịnh hành ở đây vào mùa đông là Bắc, Đông Bắc và Đông Đặc biệt sóng gió hướng Bắc và hướng Đông là hai trong số ba hướng sóng gió thịnh hành nhất trong khu vực Tia sóng gió hướng Bắc và Đông tạo với đường bờ một góc khoảng 45°, có tác động mạnh tới quá trình chuyển dịch bùn cát dọc bờ; tia sóng hướng Đông Bắc đổ gần như trực diện vào đới bờ, có khả năng gây ra áp lực phá huỷ cao khi đổ vỡ và là tác nhân động lực chính trong quá trình di chuyển bùn cát từ ngoài khơi vào bờ và ngược lại
Các hướng sóng này có ảnh hưởng mạnh khi có bão hoạt động trong thời gian mùa hè và gió Đông Bắc thổi mạnh liên tục theo từng đợt dài trong mùa
Trang 8đông Theo số liệu quan trắc khí tượng - hải văn tại bán đảo Sơn Trà (nằm cách cửa Đại 25 km về phía Bắc), trong khu vực nghiên cứu sóng do gió hướng Đông
có tần suất xuất hiện chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 30%)
Khi tia sóng hướng Đông chuyển vận từ ngoài khơi vào vùng ven bờ bị khúc xạ do ma sát đáy và chuyển dần sang hướng sóng Đông Bắc Mặt khác cửa sông Thu Bồn nằm khuất hướng sóng này sau đảo Cù Lao Chàm, nên mức độ tác động của sóng hướng Đông bị giảm đáng kểở đới ven bờ thuộc cửa Đại
b Chế độ thuỷ triều
Vùng ven biển Cửa Đại có chế độ thủy triều tương đối phức tạp: đây là vùng chuyển tiếp giữa chế độ bán nhật triều không đều (ở phía Bắc) và chế độ nhật triều không đều (ở phía Nam) Thuỷ triều có độ lớn khoảng 2,2m, trung bình 0,8 ÷ 1,2m và thấp nhất khoảng 0,1m
Ngoài dao động mực nước do thuỷ triều, khu vực ven biển Cửa Đại còn xuất hiện nước dâng do gió mùa đông bắc, do bão và áp thấp nhiệt đới với trị số lên tới khoảng 1.0 - 1.2m Dòng chảy ven bờ gồm dòng chảy do sóng, do chênh lệch mực nước triều và do sông đổ ra (dòng dư) vv Nhưng khi xét ảnh hưởng của chúng tới sự vận chuyển bùn cát thì người ta thường chỉ xét đến dòng chảy
do sóng Do tính thuận nghịch, dòng chảy ven bờ vào thời kỳgió mùa Đông Bắc thường có hướng từ Bắc tới Nam, trong khi vào thời kỳ gió mùa Tây Nam, dòng chảy ven bờ lại có hướng từ Nam lên Bắc Diễn biến mỗi đoạn bờ phụ thuộc vào cán cân bùn cát giữa 2 mùa và sự thay đổi của cán cân bùn cát trong thời kỳ nhiều năm tạo nên sự tiến triển của đường bờ
c Độ mặn
Vùng nước lợ là vùng nước cửa sông, ven biển và vùng rừng ngập mặn, đầm, phá Nơi đây có sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ các dòng sông đổ ra Do được hình thành từ hai nguồn nước nên diện tích vùng nước lợ phụ thuộc vào mùa (mưa hoặc khô) và thủy triều Nồng độ muối vùng này luôn thay đổi Về mùa khô, do nước sông xuống thấp, nước biển thâm nhập
Trang 9sâu vào lục địa gây nên độ nhiễm mặn (trung bình 12‰) Trong thời gian khảo sát độ mặn thay đổi từ 13-20‰, và ít biến động ở các kênh rạch khu vực xung quanh Hội An
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ
1.2.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá vùng cửa sông trên thế giới
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, con người cũng đã phân biệt
và đặt tên cho các loài cá có giá trị mà mình tìm thấy trong tự nhiên Thời kỳ
xã hội nguyên thuỷ sống bằng săn bắt hái lượm con người cũng đã phân biệt
và đặt tên cho các loài cá Năm 384-322 (trước công nguyên), người đầu tiên
có công trình nghiên cứu về cá được công bố là Aristode, ông đã giới thiệu được
115 loài cá thông qua cuốn sách “Lịch sử động vật” của mình, đánh dấu bước ngoặc lớn trong lịch sử nghiên cứu cá, ngư loại học được hình thành thực sự và
có nhà khoa học ghi chép lại để cùng hiểu biết và sử dụng chung Từ đó đến nay, nhiều công trình khoa học vô cùng quí giá của rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng như: C Linnaeus (1707,1778); G Cuvier ; A Valenciennes (1828-1848); P Bleeker (1819-1878); A Giinther (1830-1914); J Richardson (1844-1845); Ds Jordan (1854-1931); L S Berg (1876-1950); Pravdin (1964), Bănărescu [32] Nhìn chung, tình hình nghiên cứu và phân loại cá trên thế giới rất phát triển
Tuy nhiên trong thời gian sau đó rất ít công trình nghiên cứu về cá được công bố mãi cho đến nữa sau thế kỷ XVI, sau thời kì Phục Hưng của Châu Âu, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên khác, các công trình nghiên cứu về cá mới có những bước phát triển đáng kể Do yêu cầu của nghề
cá và nhờ các ngành khoa học khác hỗ trợ nên việc nghiên cứu ngư loại ngày càng phát triển một cách có hệ thống cả chiều rộng lẫn chiều sâu.Nghiên cứu về
Trang 10phân loại cá phải kể đến các tác giả: P.Artedi, G.Cuvier và A.Valenciennes, P.Bleeker, A.Gunther D.S.Jordan, L.C.Berg, Y.Taki, WalterJ.Rainboth,…
Năm 1765, nhà tự nhiên học Thụy Điển C Linnaeus (1705-1778) đã cho xuất bản cuốn sách “Systema nature”, trong cuốn sách này ông đã đề ra “Cách gọi tên các loài sinh vật theo hai chữ” và đã giới thiệu được 2.600 loài cá Ngoài
ra còn có các tác giả như: G Cuvier và A Valenciennes với cuốn sách “Lịch sử
tự nhiên về cá” gồm 21 tập xuất bản liên tục trong 20 năm (1828-1848); P Bleeker người Hà Lan (1819-1874) với cuốn sách “Atlasichthyologiques Inder Orientales Neerlandaises” (Sưu tập nghiên cứu cá ở phía Đông Hà Lan) gồm 9 tập; A Gunther (1830-1914) với cuốn “Thống kê về cá ở viện bảo tàng Anh” gồm 8 tập… Cho đến nay, nhiều tập sách phân loại trên vẫn có giá trị[32]
Trong thế kỷ XIX và XX các công trình nghiên cứu về cá được công bố ngày càng nhiều và lĩnh vực nghiên cứu cũng được mở rộng như về phân loại học, sinh học, sinh thái và phân bố của các loài cá và đóng vai trò để phát triển bền vững nghề cá sau này Thời kỳ này có các nhà khoa học nổi tiếng như: D.S.Jodan (1854-1931) giới thiệu khu hệ cá ở Bắc và Trung Mỹ G.A.Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu 6.834 loài cá ở viện bảo tàng Anh; L.C.Berg (1876-1950) nhà khoa học Nga nổi tiếng với việc công bố cuốn sách “Phân loại các dạng cá hiện đại và hoá thạch” và “Cá nước ngọt Liên Xô và các vùng lân cận’’ Năm 1949, cùng với sự ra đời của cuốn sách “Nguyên tắc phân loại động vật” của E.Mayer(1953), đã đánh dấu một bước ngoặc lớn trong lĩnh vực nghiên cứu và phân loại cá và giúp hình thành nên hệ thống phân loại cá như hiện nay
Ở khu vực Đông Nam Á lĩnh vực nghiên cứu thành phần loài cá ở vùng cửa sông, ven biển cũng được các nhà khoa học của các nước quan tâm và đã có một số công trình nổi bật
Đặc biệt là ở Trung Quốc đã có rất nhiều nghiên cứu về cá như Vương Dĩ Khang biên soạn năm 1958 (Nguyễn Bá Mão dịch năm 1963) với cuốn sách
“Ngư loại phân loại học” đã đưa ra khoá phân loại và mô tả 1.800 loài cá phân
Trang 11bố ở khu vực ven bờ và biển Nam Trung Quốc[12] Walter J Rainboth (1996)
đã nghiên cứu khu hệ cá sông Mêkông và đã mô tả được 500 loài[46] Hệ thống phân loại cá đầy đủ nhất được công bố trong thời gian này bởi 2 tác giả Rass và Lindberg (1971) Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác như Kottelat (1998, 2000,
2001, 2003) nghiên cứu khu hệ cá Đông Dương[41], [42]
Ở một số nước khác trong khu vực trong thời gian này cũng đã góp phần tạo nên hệ thống nghiên cứu và phân loại cá đa dạng như ngày nay và có thể kể đến một vài tác giả tiêu biểu như : Geoger H.P de Bruin, Bary.C.R và Andre.B
đã nghiên cứu về nguồn lợi hải sản ở Sri Lanka trong đó đã phân loại và mô tả
691 loài cá biển[39] Gần đây nhất, Kimura.S và Keiichi M.(2003) trong cuốn sách “Fishes of Bitung, northern tip of Sulawesi,Indonesia” đã mô tả bằng hình ảnh 768 loài cá thương mại và cá rạn san hô ở vùng ven biển thành phố Bitung, phía Bắc Sulawesi, Indonexia[47] và cuốn sách “Fishes of Libong Island, west coast of Southern Thailand” đã đưa ra bộ Atlas hình ảnh của 128 loài cá thu được từ thảm cỏ biển và rừng ngập mặn thuộc đảo Libong phía Nam Thái lan
Hiện nay việc nghiên cứu và phân loại cá đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nhiều hơn và một số công trình nghiên cứu để bổ sung về thành phần loài và phân bố cá ở một số nơi trên thế giới vẫn đang được tiến hành thông qua các phương tiện thông tin do một số tổ chức có uy tín cung cấp,
có thể kể đến như: Fishbase(2004) (http://fishbase.org/), trang web này do trung tâm ICLARM và FAO lập ra với danh mục 25.000 loài cá và phân bố của chúng trên thế giới Công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học đầy đủ nhất từ trước đến nay được tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) công bố về danh mục của các loài cá trên thế giới và những tra cứu thống nhất của chúng trong 2.500 trang sách[36],[37],[38]
Cho đến nay các nghiên cứu mới nhất đã xác định được 29.500 loài cá trên thế giới thuộc 6 lớp cá và 62 bộ, 484 họ và được thống kê từ 21000 tài liệu tham khảo với 71000 tên động vật và 28000 ảnh cá (Fishbase, 2006)[48]
Trang 121.2.2 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá vùng cửa sông ở Việt Nam
a Thời kỳ trước năm 1945
Ngư loại ở nước ta bắt đầu phát triển từ nửa cuối thế kỷ XVIII cùng với
sự xâm nhập của các nhà khoa học Phương Tây như: J Henry (1865); H E Sauvage (1881-1884, 1887, 1878) Từ đó đến nay khoa học Ngư loại nước nhà có những bước phát triển mạnh mẽ, có thể so sánh với một số nước đang phát triển trên thế giới Điển hình có các nhà khoa học đầu ngành: phân loại
cá biển có: Nguyễn Nhật Thi, Bùi Đình Chung, Lê Trọng Phấn, Nguyễn khắc Hường ; phân loại cá nước ngọt có: Mai Đình Yên, Nguyễn Thái Tự, Nguyễn Hữu Dực, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Hảo[32],…
Theo Bộ thủy sản (1996), công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt
ở nước ta là của H.E Sauvage (1881) trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá
Á châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”, tác giả đã thống kê 139 loài
cá chung cho toàn Đông Dương, mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta và một số loài mới ở Campuchia[5] Sau công trình nghiên cứu này thì việc nghiên cứu thành phần loài cá ở Việt Nam mới được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn
Mở đầu cho nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng đó là tiến sĩ Gilbert Tirant với công trình nghiên cứu về cá ở khu vực sông Hương vào năm 1883 (Tirant,1929)[44] Qua nghiên cứu ông đã mô tả được 70 loài cá nước lợ thu được từ khu hệ sông Hương và ông đã tìm ra được 8 loài mới trong số này Và hai năm sau đó ông tiếp tục công bố một công trình nghiên cứu khác của mình Lần này công trình nghiên cứu của ông tập trung ở phía Nam Việt Nam và Campuchia (Tirant,1929)[45] Trong nghiên cứu của mình ông đã nghiên cứu và tìm ra được đặc điểm sinh học và nghề cá của 221 loài thuộc bộ cá Nhám, cá Đuối, cá Chép, cá Trích và một số loài khác
Trang 13Những năm về sau có nhiều công bố về thành phần loài cá ở nhiều thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như H E Sauvage (1884)
“Đóng góp cho khu hệ cá Bắc Bộ” ông đã thu thập và định loại được 10 loài cá
ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới; E Vaillant đã thu thập được 6 loài và mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài ở sông Kỳ Cùng (1904); J Pellegrin (1906,
1907, 1928, 1932) trong đó quan trọng hơn cả là kết quả phân tích mẫu thu thập
ở Hà Nội của đoàn Thường trực khoa học Đông Dương gồm 29 loài, có 2 loài mới (1907) và 33 loài mới (1934); P Chevey (1930, 1932 a, b, 1935,1936,
1937) với đề tài “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt
Nam”[35], một công trình nghiên cứu khá tổng hợp về cá nước ngọt, công trình
này giới thiệu các loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam gồm 98 loài trong 17
họ, trong đó tác giả đã thông báo bắt được Cá Chình Nhật (Anguilla Japonica) ở
sông Hồng Đây là công trình nghiên cứu cá đầy đủ nhất về cá của thời kỳ này
vì trước đó cũng có một số công trình tổng hợp nhưng chưa đầy đủ của P Chabanaud (1924), A Gruvel (1925), R Bourret (1927) và P.Chevey (1929) Sau này còn có các công trình nghiên cứu của J Pellegrin & P Chevey (1934,
1936 a, b, 1938, 1941) đã sưu tập và phân tích cá ở Nghĩa Lộ, gồm 20 loài (1934), mô tả 5 loài ở Bắc Bộ và công bố danh mục gồm 20 loài cá ở Việt Nam
(1936), mô tả loài Hemiculter crempfi (1938)
Có thể coi thời kỳ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX (1945) là thời kỳ các nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta đều do người nước ngoài tiến hành Các mẫu chuẩn phần lớn được lưu giữ tại Bảo tàng tự nhiên Paris Thời kỳ này mới dừng lại ở mức mô tả, thống kê thành phần loài, còn nghiên cứu về sinh học và nguồn lợi cá chưa thực hiện được
b Thời kỳ từ 1945 - 1975
Từ năm 1945, phần lớn các cuộc khảo sát, các công trình nghiên cứu đều được các tác giả Việt Nam thực hiện, tuy nhiên cũng có một thời gian dài từ năm 1945 – 1954 bị gián đoạn vì chiến tranh
Trang 14Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, các nhà Ngư loại học ở nước
ta từ Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I Bắc Ninh, Viện Nghiên cứu thủy sản II TP Hồ Chí Minh, Viện nghiên cứu thủy sản III Nha Trang và các trường: ĐH Nha Trang, Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ, ĐH Sư phạm 1 Hà Nội, ĐH Tổng hợp Hà Nội, ĐH Vinh kết hợp nghiên cứu với các nhà Ngư loại học nước ngoài đã tiến hành điều tra nghiên cứu phân loại cá ở 46 vực nước quan trọng nằm rải rác khắp cả nước, đại bộ phận ở các sông chính, suối lớn, các hồ chứa: lớn, vừa, nhỏ và hồ tự nhiên, các vùng cửa sông, ao, đầm
và đập nước
Giai đoạn 1955-1975: công tác điều tra cơ bản sinh vật ở nước nói chung
và cá nói riêng ở miền Bắc Việt Nam do các cơ quan như Trạm nghiên cứu cá nước ngọt thuộc Tổng cục Thủy sản (nay là Bộ Thủy sản), Khoa Sinh vật Trường đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường đại học Thủy sản thực hiện Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về khu hệ cá thời kỳ này ở miền Bắc có: Đào
Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới sông Bôi” gồm 44 loài; Đào Văn Tiến và Mai Văn Yên (1959) “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia
(nhánh của sông Hồng)” gồm 54 loài cá; Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên
(1961) “Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962) “Sơ bộ điều
tra thành phần nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng”; Nguyễn
Văn Hảo (1964) “Dẫn liệu nguồn lợi cá hồ Ba Bể”; Hoàng Duy Hiệp và Nguyễn Văn Hảo (1964) “Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông Thao”; Mai Đình Yên
(1966) điều tra khu hệ cá sông Hồng với 92 loài và phân loài cá nước ngọt
Trong thời kỳ này ở miền Nam Việt Nam cũng có một số công trình do cán bộ khoa học người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanoir (1964); Kawamoto, Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa (1972) đã đưa ra danh sách cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long gồm 93 loài[40]
Trang 15c Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Các kết quả nghiên cứu tiêu biểu trong giai đoạn đầu sau năm 1975 gồm: Nguyễn Hữu Dực (1982), thành phần cá sông Hương, đã thống kê được 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983), khu hệ cá sông Lam có 157 loài; Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991): thành phần loài cá sông Thu Bồn 85 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992), thành phần loài các sông: Tiền, Hậu, Vàm Cỏ, Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài) Võ Văn Phú (1995),t hành phần loài cá ở các đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài)[32]
- Ở khu vực miền Bắc có nhiều công trình có giá trị nghiên cứu ở các khu hệ cá khác nhau Năm 2002, nghiên cứu về khu hệ cá sông Đà của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự đã phát hiện có 174 loài cá thuộc 85 giống, 19 họ, 6 bộ,
trong đó bộ cá Chép (Cypriniformes) có thành phần phong phú nhất với 123 loài thuộc 59 giống chiếm 70,6% tổng số loài; tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluniformes)
với 28 loài thuộc 12 giống chiếm 16% tổng số loài [4]
Theo kết quả của cuộc khảo sát tiến hành từ ngày 25 đến 28 tháng 6, năm
2006 của Nguyễn Hữu Dực về “Thành phần loài cá ở vùng cửa sông Hồng, Khu
bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, Thái Bình” cho thấy tổng số loài cá ở cửa sông
Hồng (phần nằm trong bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) đã được ghi nhận có 186 loài, với 104 chi và 54 họ của 15 bộ khác nhau, bộ cá Vược
(Perciformes) chiếm số lượng nhiều nhất Trong số các loài, có nhiều loài được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 như Bostrichthys sinensis nasussis (Lacepede) - mức CR; Clupanodon thrissa (Linnaeus) - mức EN; Nematolosa
nasus (Bloch); Elops saurus (Linnaeus) và Konosirus punctatus (Temminck &
Schlegel) mức VU Khoảng 43,1% loài (81 loài) có giá trị kinh tế cao như họ
Clupeidae, Cynoglossidae, Gobiidae, Sparidae và Geridae[6]
Trang 16Từ năm 2007 - 2011, nhóm nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) cùng thực hiện
đề tài “Thành phần loài cá vùng cửa sông Văn Úc thành phố Hải Phòng” và kết
quả nghiên cứu cho thấy có tổng cộng 104 loài cá đại diện cho 40 họ và 13 bộ
đã được xác định, cho thấy mức độ đa dạng về đơn vị phân loài cấp bộ và họ, trong đó bộ cá Vược chiếm ưu thế tuyệt đối với 60 loài (57,7% và 52,5% trong tổng số loài và họ tương ứng), sau đó đến bộ cá Trích (13 loài, chiếm 18.84%)
và bộ cá Bơn (8 loài, chiếm 7,7%) Trung bình, mỗi một bộ có 3,1 họ và 8 loài; mỗi họ có 2,6 loài; và 5 bộ (38,5%) chỉ có một loài Đã xác định được 41 loài cá (39,4%) có giá trị kinh tế, vùng cửa sông Văn Úc giữ vai trò quan trọng trong các cộng đồng địa phương Đồng thời nghiên cứu cũng xác định được 4 loài cá nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; trong đó có các loài cá di cư sinh sản từ biển vào sông có giá trị kinh tế rất cao trong quá khứ như cá Mòi cờ hoa, Mòi cờ chấm đang ở trong tình trạng cạn kiệt không thể cho khai thác được nữa, riêng
cá Cháy đang lâm vào tình trạng bị tiêu diệt[11]
- Ở khu vực miền Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài cá vùng cửa sông và gần đây nhất là công trình nghiên cứu vào năm 2012 của Tống Xuân Tâm và cộng sự thực hiện nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận được 178 loài cá, thuộc 111 giống, 56 họ, 19 bộ Trong đó có 13 loài cá nuôi làm thực phẩm; 16 loài cá nuôi làm cảnh; 3 loài có giá trị làm thuốc; 9 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) Bổ sung cho công trình nghiên cứu trước đây 45 loài, 39 giống, 18
họ, 5 bộ[31]
- Riêng ở khu vực miền Trung với hệ thống sông ngoài chằng chịt, vấn đề nghiên cứu khu hệ cá và nguồn lợi thuỷ sinh vật đã được các tác giả quan tâm thực hiện từ sau năm 1975 và chủ yếu các công trình nghiên cứu tập trung ở các đầm phá ven biển
Trang 17Từ năm 1976-1977, tại Phá Tam Giang có công trình nghiên cứu nổi bật
như Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sy về “Nguồn lợi thuỷ sản các đầm phá phía
nam Sông Hương và những vấn đề khai thác hợp lý nguồn lợi đó”[15] Hoàng
Đức Đạt, Võ Văn Phú, Lê Văn Miên (1977) tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu
về khu hệ cá ở Phá Tam Giang Công trình của Võ Văn Phú (1995) đã bổ sung
thêm vào kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở Phá Tam Giang gồm 163 loài Cũng nghiên cứu tại khu vực này nhưng năm 1996, Lê Văn Miên chỉ xác định được
135 loài, sau đó 2 năm, năm 1998, Nguyễn Văn Tiến và cộng sự ghi nhận được
230 loài ở phá Năm 2005, Võ Văn Phú tiếp tục bổ sung thêm 8 loài cho toàn khu hệ cá ở đây[21]
Cũng trong năm 2005, theo kháo sát của Địa chí Thừa Thiên Huế về hệ sinh thái động vật đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đã xác định được 163 loài cá, thuộc 95 giống, 60 họ nằm trong 17 bộ khác nhau Trong khu hệ đầm phá, ưu
thế nhất là bộ cá Vược (Perciformes) gồm 30 họ (chiếm 50%) và 86 loài (chiếm 52,76%) Tiếp theo là bộ cá Đối (Mugiliformes) với 14 loài chiếm 8,95%, bộ cá Chép (Cypriniformes) và bộ cá Chình (Anguilliformes) mỗi bộ có 10 loài chiếm
6,13% Những bộ còn lại có số loài không nhiều vào khoảng được 5% tổng các loài đã điều tra ở đây Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn xác định được nhóm
cá nước lợ là nhóm có số loài đông nhất và là nhóm chủ yếu của khu hệ cá đầm
phá Đại diện nhóm này gồm các loài cá thuộc các họ: Clupeidae, Engraulidae (bộ Clupeiformes), Atherinidae (bộ Atheriniformes), Hemirhamphidae (bộ
Beloniformes), Mugilidae (bộ Muguiliformes), Theraponidae, Leiognathidae, Gobiidae, Siganidae (bộ Perciformes)[10]
Theo những nghiên cứu trên, ở phá có nhiều loài cá có tên trong sách Đỏ
Việt Nam: cá Chình Hoa (Anguilla marmorata), cá Chình Nhật Bản (Anguilla
japonica), cá Mòi Cờ (Clupanodon thrissa), cá Mòi Cờ chấm (Konosirus punctatus), cá Quả (Ophicephalus striatus) Trong đó, các loài cá như Chình
hoa, Chình Nhật Bản, Mòi Cờ và Mòi cờ chấm, là những loài cá di cư
Trang 18Gần đây nhất trong cuốn “Đa dạng sinh học ở phá Tam Giang - Cầu
Hai” của Tôn Thất Pháp (chủ biên), Nguyễn Văn Hoàng (2009) đã công bố
nhóm cá gồm 168 loài thuộc ngành dây sống (Chordata), bổ sung thêm 6 loài
mới cho công trình khảo sát trước đó của Địa chí Thừa Thiên Huế[19]
Công trình nghiên cứu có đóng góp quan trọng về khu hệ cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế như công trình của Võ Văn Phú (1997) và nhóm nghiên cứu
trường đại học Khoa học đại học Huế về “Thành phần loài về khu hệ cá đầm
phá tỉnh Thừa Thiên Huế” Nghiên cứu đã xác định được 163 loài với bộ cá
Vược (Perciformes) chiếm ưu thế là 86 loài (52,76%)[20] Đặc biệt, khối lượng
cấu tạo nên thành phần loài khu hệ cá đầm phá Thừa Thiên - Huế chủ yếu là nhóm loài cá cửa sông ven biển và cá ven bờ thềm lục địa nhiệt đới
Ở khu hệ cá sông Hương, Võ Văn Phú và Phan Quốc Hùng (2005) xác định được 121 loài cá, bổ sung 61 loài cho kết quả nghiên cứu năm 2003 của dự
án SAPROF II, dự án xác định được 60 loài, trong đó có 4 loài quý hiếm được liệt kê trong sách Đỏ Việt Nam Đến nay, số lượng loài ở sông Hương xác định được lên tới 186 loài thuộc 129 chi, 60 họ và 17 bộ Trong đó, nhóm cá có giá trị kinh tế cao được xác định là 87 loài và có 9 loài có tên trong sách Đỏ Việt Nam (4 loài bậc R, 4 loài bậc V và 1 loài bậc T)
Năm 2008, thành phần loài cá ở hệ thống sông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế được nghiên cứu bởi Võ Văn Phú và Trần Thụy Cẩm
Hà, trường Đại học Khoa Học, Đại học Huế đã ghi nhận được 154 loài, 103 giống, 51 họ thuộc 14 bộ khác nhau Số loài phong phú nhất thuộc về bộ Cá
Vược (Perciformes) với 22 họ (chiếm 43,14%), 39 giống (chiếm 37,86%), 67 loài (chiếm 43,51%) Các họ cá chiếm ưu thế về loài là Cyprinidae (35 loài),
Gobiidae (13 loài), Baliitoridae (7 loài), Eleotridae (6 loài), Lutijanidae (5 loài)
Sự ưu thế về thành phần loài của bộ cá Vược trong khu thể hiện tính chất nước
lợ điển hình Tác giả cũng xác định được 14 loài có giá trị kinh tế của vùng, 8
Trang 19loài cá quý hiếm được ghi vào sách Đỏ Việt Nam (2000) với các bậc khác nhau
và 7 loài cá nuôi nhập nội cho sản lượng kinh tế cao di nhập vào[24]
Đến năm 2009, Võ Văn Phú và Nguyễn Duy Thuận tiến hành nghiên cứu
về thành phần loài cá ở hệ thống sông Ô Lâu đã xác định được 109 loài, 76 giống, với 31 họ thuộc 11 bộ khác nhau Số loài phong phú nhất thuộc về bộ cá
Chép (Cypryniformes) với 47 loài (chiếm 43,12%)[29]
Ở các vùng khác như ở đầm Thị Nại (Bình Định ), Nha Phu (Khánh Hoà) việc nghiên cứu nguồn lợi thủy sinh vật được Nguyễn Đình Mão tiến hành vào năm 1978,1979,1980 Nổi bật trong số đó là năm 1998, trong luận án của mình Nguyễn Đình Mão đã công bố danh mục các loài cá trong 3 đầm Thị Nại, Ô Loan và Nha Phu gồm 184 loài thuộc 115giống, 76 họ[5] Ở khu vực Đầm Lăng
Cô ,Võ Văn Phú ,Trần Hồng Đinh(2000) đã công bố khu hệ cá ở đây gồm 151 loài thuộc 88 giống, 50 họ và 12 bộ[28]
Năm 2004, Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chinh, Hồ Thị Hồng công bố công trình xác định được thành phần loài khu hệ cá miền Trung thuộc hệ sinh thái cửa sông, đầm phá ven biển Hà Tĩnh (cửa Hội, cửa Sót, cửa Khẩu, cửa Nhượng), Quảng Bình (hệ thống sông Nhật Lệ), Quảng Trị (sông Thạch Hãn), Thừa Thiên Huế (đầm phá Tam Giang - Cầu Hai) và tỉnh Phú Yên (đầm Ô Loan) khá phong phú Đã xác định được 200 loài, thuộc 117 giống với 68 họ thuộc 17 bộ Bộ cá
Vược (Perciformes) có số loài chiếm ưu thế nhất (với 104 loài, chiếm 52,0%) Tiếp theo là các bộ cá Chép (Cypriniformes) có 19 loài, bộ cá Đối (Mugiliformes) có 14 loài, bộ cá Trích (Clupeiformes) 12 loài, các bộ còn lại có
số loài không nhiều[8] Cũng trong năm này, Nguyễn Thị Thuý Loan đã mô tả
42 loại cá ở hạ lưu sông Cu Đê và những tác động từ việc nuôi trồng thuỷ sản đến chất lượng nước đến sự biến động về thành phần loài cá khai thác ở hạ lưu sông Cu Đê, thành phố Đà Nẵng[14]
Hồ Thị Thanh Tâm, Võ Văn Phú (2006) đã công bố danh mục thành phần cá vùng hạ lưu sông Hàn thành phố Đà Nẵng với 108 loài thuộc 74 giống,
Trang 2045 họ và 15 bộ Chiếm ưu thế nhất là bộ cá Vược với 25 họ (55,55%), 40 giống (54,05%), và 60 loài (55,55%) Sự chiếm ưu thế về thành phần loài của bộ cá Vược trong khu hệ thể hiện tính chất nước lợ điển hình của vùng hạ lưu Sông Hàn[23]
Đến năm 2007, Võ Văn Phú và cộng sự tiếp tục công bố danh mục thành phần loài cá ở đầm Ô Loan tỉnh Phú Yên với 108 loài thuộc 67 giống, 46 họ và
13 bộ[9] Một năm sau, cũng tại đây, công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Phi
Loan (2008), trường Đại học Phú Yên về “Thành phần loài cá ở đầm Ô Loan,
tỉnh Phú Yên”, đã xác định được 134 loài, trong đó đã bổ sung 26 loài mới cho
đầm Ô Loan và số loài chiếm ưu thế nhất thuộc về bộ cá Vược Trong 134 loài
đã ghi nhận được 15 loài cá có giá trị kinh tế, 4 loài cá quý hiếm được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam
Trong giai đoạn này, Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chỉnh, Hồ Thị Hồng
cũng nghiên cứu về “Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá một số cửa sông ven
biển Miền Trung”, qua bốn năm nghiên cứu các tác giả thống kê toàn bộ cấu
trúc các loại cá hiện đang cư ngụ tại các lưu vực sông gần cửa biển đã xác định được 200 loài cá thuộc 117 giống các loại, 68 họ cá, 17 bộ khác nhau Trong đó
có 5 loài ghi trong sách đỏ của Việt Nam[27]
Theo một báo cáo trong Chương trình bảo vệ nguồn lợi hải sản đến năm
2020, các nhà nghiên cứu đã xác định được hiện nay khu hệ cá cửa sông của
nước ta có 615 loài thuộc 120 họ, 29 bộ với các đặc điểm sau: bộ cá có số loài
lớn nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 53 họ và 339 loài Một số họ đóng vai trò quan trọng cho nghề cá cửa sông là Megalopidae, Clupeidae, Engraulidae,
Mugilidae, Polynemidae, Serranidae, Carangidae, Leiognathidae, Nemipteridae, Lutjanidae, Sciaenidae, Gobbiidae [4]
Nhìn chung, trong nước ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài cá vùng cửa sông được các nhà khoa học tiến hành và công bố
Trang 21Một trong số đó đã góp phần tạo nên một dữ liệu hữu ích để phục vụ các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là lĩnh vực quản lý và khai thác thuỷ sản bền vững
1.2.3 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá ở vùng cửa sông Thu Bồn
Ở Hội An thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu về cá, công trình nghiên cứu được xem là nguồn dữ liệu đầu tiên về cá ở đây là công trình năm
1991 của Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực, đã xác định được 85 loài cá ở sông Thu Bồn[32] Thời gian sau đó có rất ít công trình nghiên cứu về cá ở vùng sông này
Đến năm 20008, trong đề tài “Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước (chủ
yếu là dừa nước ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn (Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ, phục hồi” của Nguyễn Hữu Đại và Donal Macintosh, đã ghi nhận được
18 loài có giá trị kinh tế cao thuộc các họ cá Đối, Cá Dìa, Cá Liệt, Cá Căng, Cá Bống, Cá Hồng, Cá Mú, Cá Rô Phi…Trong đó nguồn lợi cá Đối quan trọng nhất, sau đó là cá Dìa, cá Mú, cá Liệt, cá Bống[7]
Tiếp đó là cuộc khảo sát về hoạt động đánh bắt cá biển của ngư dân vùng
hạ lưu sông Thu Bồn, Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2009), đã xác định được
19 loài cá có giá trị kinh tế cao thuộc các họ: cá Đối, cá Dìa, cá Ong Căng, cá Liệt, cá Mú, cá Bống… Trong đó quan trọng nhất là họ cá Đối, sau đó là họ cá Dìa và họ cá Mú, bổ sung 1 loài cho kết quả nghiên cứu của Mai Đình Yên năm
2008 [16]
Năm 2010, Võ Văn Phú và cộng sự nghiên cứu về thành phần loài cá ở
hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia, tỉnh Quảng Nam đã xác định được 197 loài[22] Sau đó, Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú lại tiếp tục nghiên cứu về
đề tài “Thành phần loài cá thuộc bộ cá Nheo (Siluriformes) ở hệ thống sông Thu
Bồn - Vu Gia tỉnh Quảng Nam” đã ghi nhận được thành phần loài của các loài
cá thuộc bộ Siluriformes sông Thu Bồn - sông Vu Gia rất đa dạng và đã xác định được 16 loài thuộc 10 chi và 6 họ Trong đó, các loài ở họ Clariidae là
Trang 22phong phú nhất với 4 loài, sau đó là họ Siluridae và Bagridae với 3 loài;
Cranoglanidae, Bagaridae và Ariidae với 2 loài[1]
Nhìn chung tình hình nghiên cứu về thành phần loài cá ở vùng sông Thu Bồn đã được nghiên cứu tương đối nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về thành phần loài cá riêng vùng cửa sông thì chưa được nghiên cứu Vì vậy công trình nghiên cứu này được sử dụng như những dẫn liệu ban đầu cho việc quy hoạch và quản
lý cá bền vững ở đây
Trang 23C ƯƠN 2: Ố TƯỢNG, NỘI DUNG V P ƯƠN
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Ố TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 ối tượng nghiên cứu
Cá vùng cửa sông Thu Bồn
2.1.2 ịa điểm nghiên cứu
Vùng cửa sông Thu Bồn – Quảng Nam
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 15/1 đến 15/5/2013
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Danh mục và cấu trúc thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn 2.2.2 Đặc trưng về đa dạng sinh học của khu hệ cá
2.2.3 Các loài cá kinh tế 2.2.4 Các loài cá quý hiếm 2.3 P ƯƠN P ÁP N ÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực đia
Tiến hành thu mẫu cá 1 lần /1 tuần
Việc thu mẫu được tiến hành bằng cách:
+ Đánh bắt trực tiếp cùng với ngư dân: cùng tham gia đánh bắt với ngư dân để thu mẫu
+ Thu mẫu tại các bến cá chợ cá: mỗi tuần 1 lần vào lúc 5h sáng đến các bến cá, chợ cá thu các mẫu ngư dân vừa được đánh bắt ngay tại địa điểm nghiên cứu và gặp các chủ nậu mua lại cá họ thu mua từ các ngư dân
+ Đặt các bình có pha sẵn hóa chất định hình để nhờ các hộ ngư dân khai thác thủy sản ở vùng cửa sông này thu thập thường xuyên trong thời gian nghiên cứu Sau đó thu góp mẫu cá tại ngư dân mỗi tháng hai lần
Trang 24Nếu như mẫu cá thu được thuộc những mẫu cá lớn hoặc cá đắt tiền thì phân loại tại chỗ và chụp ảnh (không mua vì không đủ kinh phí )
- Thời gian lấy mẫu từ tháng 15/2 đến tháng 1/5/2013
- Tiến hành xử lý mẫu cá sau khi thu được (nếu cần) thì phải xử lý ngay khi đang còn tươi, ghi rõ thời gian, địa điểm thu mẫu, cố định trong formol 4%
để đem về phân loại Những mẫu cá không phân loại được sẽ được gởi vào Viện Hải Dương Học phân loại
2.3.2 Phương pháp phân loại cá
Định loại các loài cá bằng phương pháp so sánh hình thái Mỗi loài cá đều có tên khoa học và tên Việt Nam Phân loại mẫu cá theo tài liệu định loại
của Vương Dĩ Khang (1958); Mai Đình Yên (1978 và 1992)
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsolf Excel
Trang 25C ƢƠN 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1 DANH MỤC VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ VÙNG CỬA SÔNG THU BỒN
3.1.1 Danh mục thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn
Qua kết quả 10 đợt thu mẫu cá trực tiếp từ các nghề khai thác thủy sản trong vùng hạ lưu sông Thu Bồn - Quảng Nam, chủ yếu là các loại nghề khai thác ở vùng cửa sông, trong khu rừng dừa nước và ven sông Ngoài ra, mẫu thành phần loài còn được thu trực tiếp tại các điểm lên cá, chợ cá (chợ Bà Lê, chợ Cẩm Nam, chợ phố Hội An) và các người thu mua trong khu vực nghiên cứu Phân tích toàn bộ số mẫu thu được của các đợt khảo sát, xác định được thành phần loài cá trong vùng hạ lưu sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam bao gồm
145 loài thuộc 17 bộ, 59 họ khác nhau, trong đó có 8 loài cá độc: 6 loài thuộc bộ
cá Nóc (Tetraodontiformes), 1 loài cá Bống lát (Yongeichthys nebulosus) thuộc
bộ cá Vược (Ferciformes) và 1 loài cá May (Gyrinocheilus aymonieri) ở bộ cá Chép (Cypriniformes)
Kết quả phân tích các mẫu khảo sát được trình bày ở bảng sau
Bảng 3.1: Danh mục thành phần loài cá khai thác ở vùng cửa sông Thu
Bồn – Quảng Nam
STT Tên khoa học Tên Việt Nam
I OSTEOGLOSSIFORMES BỘ CÁ THÁT LÁT (1) Notopteridae Họ cá Thát lát
1 Notopterus notopterus (Pallas, 1769) Cá Thát lát
II ELOPIFORMES BỘ CÁ CHÁO BIỂN (2) Megalopidae Họ cá Cháo lớn
2 Megalops cyprinoides (Broussonet, 1782) Cá Cháo lớn
III ANGUILLIFORMES BỘ CÁ CHÌNH
(3) Muraenesocidae Họ cá Dƣa
Trang 263 Muraenesox cinereus (Forsskål, 1775) Cá Dưa xám
4 Muraenesox bagio (Hamilton, 1822) Cá Lạc
5 Congresox talabonoides (Bleeker) Cá Tựa lạc
11 Sardinella gibbosa (Bleeker, 1849) Cá Trích xương
12 Sardinella fimbriata (Valenciennes, 1847) Cá Trích
13 Herklosichthys quadrimaculatus (Ruppell) Cá Trích vẩy xanh
(6) Engraulidae Họ cá Trỏng
14 Stolephorus commersonii (Lacepède) Cá Cơm thường
V GONORYNCHIFORMES BỘ CÁ MĂN SỮA (7) Chanidae Họ cá Măng sữa
15 Chanos chanos (Forskal) Cá Măng
VI CYPRINIFORMES BỘ CÁ CHÉP
(8) Cyprinidae Họ cá Chép
16 Puntius semifasciolatus (Gunther) Cá Cấn
17 Carassius auratus (Linnaeus) Cá Diếc mắt đỏ
18 Cyprinus centralus (Nguyen & Mai) Cá Dầy
Trang 2719 Puntioplites falcifer (H M Smith, 1929) Cá Dảnh
20 Cyprinus carpio (Linnaeus) Cá Chép
21 Carassioides cantonensis (Heincke) Cá Dưng
27 Gyrinocheilus aymonieri Cá may
VII SILURIFORMES BỘ CÁ NHEO
30 Arius areus (Hamilton) Cá Úc
31 Arius sinensis (Lacépède) Cá Úc Trung Hoa
(14) Plotosidae Họ cá Ngát
32 Plotosus lineatus (Thunberg) Cá Ngát
(15) Siluridae Họ cá Nheo
33 Wallago attu (Bloch & Schneider, 1801) Cá leo
VIII ANTHERINIFORMES BỘ CÁ SUỐT
Trang 28(16) Atherinidae Họ cá Suốt
34 Hypoatherina temminckii (Bleeker, 1853) Cá Suốt dài
IX AULOPIFORMES BỘ CÁ MỐI
(17) Synodontidae Họ cá Mối
35 Saurida tumbil (Bloch, 1795) Cá Mối thường
36 Trachinocephalus myops (Forster, 1801) Cá Mối đầu to
X BELONIFORMES BỘ CÁ NHÁI
(18) Hermihamphidae Họ cá Lìm Kìm
37 Hyporhamphus limbatus (Valenciennes) Cá Kìm bắc
38 Rhynchorhamphus geogrii (Valenciennes) Cá Kìm môi dài
XI SYNBRANCHIFORMES BỘ CÁ MANG LiỀN (19) Synbranchidae Họ Lươn
39 Monopterus albus (Zuiew) Lươn đồng
40
Ophisternon bengalense (M'Clelland,
XII SCORPAENIFORMES BỘ CÁ MÙ LÀN (20) Platycephalidae Họ cá Chai
41 Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758) Cá Chai Ấn Độ
42 Rogadius serratus (Cuvier, 1829) Cá Chai mang gai
XIII DACTYLOPTERIFORMES
BỘ CÁ CHUỒN
ẤT (21) Dactylopteridae Họ cá Chuồn đất
Trang 29(23) Centrolophidae Họ cá đen
45
Psenopsis anomala (Temminck &
Schlegel, 1844) Cá Chim gai (cá tín)
53 Terapon jarbua (Forsskal) Cá Ong căng
54 Pelates quadrilineatus (Bloch) Cá Căng 4 sọc
(28) Apogonidae Họ cá Sơn
55 Apogon semilineatus (Temminck &
Schlegel, 1842) Cá Sơn nữa sọc
56 Archamia fucata (Cantor, 1849) Cá Sơn sọc đỏ
Trang 30(29) Ambassidae Họ cá Sơn biển
57 Ambassis buruensis (Bleeker, 1856) Cá Sơn biển bu ru
58 Ambassis gymnocephalus (Lacepède,
1802) Cá Sơn đầu trần
59 Ambassis miops (Günther, 1872) Cá Sơn biển viền vây
60 Ambassis dussumieri (Cuvier, 1828) Cá Sơn xương
(30) Cepolidae Họ cá Dao đỏ gai
61 Acanthocepola krusensternii (Temminck
& Schlegel, 1845) Cá Dao đỏ
67 Alectis ciliaris (Bloch, 1787) Cá Ông lão
68 Decapterus maruadsi (Temm&Sch, 1844) Cá Nục sồ
69 Parastromateus niger (Bloch, 1795) Cá Chim đen
(34) Leiognathidae Họ cá Liệt
70
Leiognathus nuchalis (Temminck et
Schlegel, 1845) Cá Liệt chấm lưng
71 Secutor ruconius (Hamilton, 1822) Cá Liệt vằn lưng
72 Leiognathus fasciatus (Lacepede, 1803) Cá Liệt gai lưng dài
Trang 3173 Equulites elongatus (Günther, 1874) Cá Liệt dài
74 Leiognathus equulus (Forsskål, 1775) Cá Liệt lớn
75 Leiognathus bindus (Valenciennes, 1835) Cá Liệt vây hồng
(35) Gerreidae Họ cá Móm
77 Gerres filamentosus (Cuvier) Cá Móm vây gai dài
78 Gerres oyena (Forsskal) Cá Móm chỉ bạc
79 Gerreomorpha japonicus (Bleeker) Cá Móm Nhật Bản
80 Gerres longirostris (Lacepède, 1801) Cá Móm gai ngắn
(36) Lutjanidae Họ cá Hồng
81 Lutjanus johni (Bloch) Cá Hồng chấm
82 L argentimaculus (Forsskal) Cá Hồng bạc
83 Ludjanus johni Cá Hồng vẩy ngang
84 Lutjanus lutjanus Bloch 1790 Cá Hồng đỏ
85 Lutjanus goldiei (Macleay, 1882) Cá Hồng thân đen
86 L russelli (Bleeker) Cá Hồng chấm đen
(37) Pomadasyidae Họ cá Sạo
87 Pomadasys argenteus (Forsskal, 1775) Cá Sạo bạc
88 Plectorhinchus gibbosus (1802)
(38) Acanthopagridae (Sparidae) Họ cá Tráp
89 Acanthopagrus berda (Forsskal) Cá Hanh đen (Cá Tráp)
90 Acanthopagrus schlegeli (Bleeker) Cá Tráp đầu đen to
91 Evynnis cardinalis (Lacepède, 1802) Cá miễn sành 2 gai
92 Acanthopagrus berda (Forsskål, 1775) Cá Tráp đuôi xám
(39) Priacanthidae Họ cá Trác
93 Priacanthus macracanthus (Cuvier, 1829) Cá Trác đuôi ngắn
(40) Sciaenidae Họ cá ù
Trang 3294 Sciaena dussumieri (Valenciennes) Cá Sửu (cá Đù)
95 Chrysochir aureus (Richardson, 1846) Cá Đù mõm nhọn
(41) Monodactylidae Họ cá Chim trắng
96 Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758) Cá Chim tràng
(42) Mugilidae Họ cá ối
97 Mugil cephalus (Linnaeus) Cá Đối mục
98 Valamugil cunnesius (Valenciennes, 1836) Cá Đối lá
99 Moolgarda pedaraki (Valenciennes) Cá Đối nhọn
100 Liza melinoptera Cá Đối cồi
(43) Pomacentridae Họ cá Rô biển
101 Stegastes nigricans (Lacépède) Cá Rô biển
104 Butis butis (Hamilton) Cá Bống cấu
107 Oxyurichthys lonchotus (Jenkins, 1903)
108 Oxyurichthys tentacularis Cá Bống van mắt
Trang 33111 Oxyurichthys ophthalmonema Cá Bống tượng
112 Yongeichthys nebulosus (Forsskål, 1775) Cá Bống lát
119 Siganus guttatus (Bloch, 1787)
Cá Dìa bông (cá Dìa công)
120 S oramin (Bloch & Schneider) Cá Dìa cam (cá Kình)
121 S fuscescens (Houttuyn, 1782) Cá Dìa trơn
(49) Anabantidae Họ cá Rô đồng
122 Anabas testudineus (Bloch) Cá Rô đồng
(50) Channidae Họ cá Quả
123 Channa striata (Bloch) Cá Qủa
(51) Cichlidae Họ cá Rô phi
124 Oreochromis niloticus (Linnaeus) Cá Rô phi vằn
125 Oreochromis mossambicus (Peters, 1852) Cá Rô phi đen
127
Alticorpus peterdaviesi (Burgess &
Axelrod, 1973) Cá Rô phi
(52) Osphronemidae Họ cá tai tƣợng
Trang 34128 Trichogaster microlepis (Günther, 1861) Cá Sặc điệp
130 Pseudorhombus arsius (Hamilton) Cá Bơn vĩ chấm hoa
131 Tephrinectes sinensis (Lacépède) Cá Bơn vĩ chấm
132
Engyprosopon grandisquama (Temminck
& Schlegel, 1846) Cá Bơn vẩy to
133
Bothus myriaster (Temminck & Schlegel,
(55) Soleidae Họ cá Bơn
134 Zebrias zebra (Bloch) Cá Bơn sọc
135 Euryglossa siamensis (Sauvage) Cá Bơn lá mít
136 Brachirus annularis (Fowler, 1934) Cá Bơn vằn khuyên
137
Brachirus orientalis (Bloch & Schneider,
1801) Cá Bơn lưỡi trâu ok
(56) Cynolossidae Họ cá bơn cát
138 Cynoglossus bilineatus (Lacepede, 1802)
XVI LOPHIIORMES BỘ CÁ LƢỠI DONG (57) Antennariidae Họ cá Lƣỡi dong
139 Antennarius striatus (Shaw, 1794) Cá Lưỡi dong vân
XVII TETRAODONTIFORMES BỘ CÁ NÓC
(58) Monacanthidae Họ cá Bò một gai
140 Monacanthus chinensis (Osbeck) Cá Nóc một gai
(59) Tetraodontidae Họ cá Nóc
Trang 35141
Lagocephalus spadiceus (Richardson,
142 Chenolonodon patoca (Hamilton, 1882) Cá Nóc giấy
143 Takifugu oblongus (Bloch, 1786) Cá Nóc vằn
144 Aithron hispidus (Linnaeus)
145 Họ: Tetraodontidae Cá Nóc
3.1.2 Cấu trúc thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn
Ở mỗi hệ sinh thái, cấu trúc thành phần loài sinh vật được sắp xếp trong giống, họ, bộ luôn luôn khác nhau tạo nên tính đặc trưng riêng Vùng cửa sông Thu Bồn nằm trong cảnh quan có địa hình rất phong phú, có sự giao hòa giữa nước mặn, lợ, ngọt Do vậy, cấu trúc thành phần loài cá thể hiện rất rõ rệt về tính đa dạng ở các bậc taxon
Kết quả thể hiện ở bảng sau:
Trang 36Bảng 3.2: Cấu trúc thành phần loài cá khu vực cửa sông Thu Bồn – Quảng
Qua bảng trên cho thấy, bộ cá Vược (Perciformes) là bộ có thành phần
loài lớn nhất, cụ thể: gồm 32 họ (chiếm 54,24 % tổng số họ) với 61 giống (chiếm 53,98 % tổng số giống) và 86 loài (chiếm 59,31 % tổng số loài) Chiếm
tỷ lệ cao thứ hai là bộ cá Chép (Cypriniformes), gồm 3 họ (chiếm 5,08 % tổng
Trang 37số họ) với 12 loài (chiếm 8,28% tổng số loài) Bộ cá Bơn (Pleuronectiormes)
gồm 3 họ (chiếm 5,08% tổng số họ) với 9 loài (chiếm 6,21 % tổng số loài) Bộ
cá Trích (Clupeiformes) gồm 2 họ (chiếm 3,39 % tổng số họ) với 7 loài (chiếm 4,83 % tổng số loài) Hai bộ là bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) và bộ cá Nheo (Siluriformes), mỗi bộ đều có 6 loài (chiếm 4,14% tổng số loài), nhưng bộ cá
Nheo có đến 5 họ (chiếm 8,47% tổng số họ), còn 6 loài thuộc bộ cá Nóc thuộc 2
họ (chiếm 3,39% tổng số họ) Tiếp sau đó là bộ cá Chình (Anguilliformes) gồm
2 họ (chiếm 3,39% tổng số họ) với 5 loài (chiếm 3,45% tổng số loài) Các bộ cá
Nhái (Beloniformes), bộ cá Mang liền (Synbrathiformes), bộ cá Mù làn (Scorpaeniformes), bộ cá Mối (Aulopiformes) đều có 1 họ (chiếm 1,69 % tổng
số họ) và mỗi họ đều có 2 loài (chiếm 1,38 % tổng số loài) Bộ cá Cháo biển
(Elopiformes) gồm 2 họ (chiếm 3,57 % tổng số họ) với 2 loài (chiếm 1,47% tổng số loài) Sáu bộ còn lại là bộ cá Thát Lát (Osteoglossiformes), bộ cá Cháo biển (Elopiformes), bộ cá Măng sữa (Gonorynchiformes), bộ cá Suốt (Antheriniformes), bộ cá Lưỡi dong (Lophiiormes) và bộ cá Chuồn đất (Dactylopteriformes), mỗi bộ chỉ có 1 họ (chiếm 1,69 % tổng số họ) và mỗi họ
chỉ có 1 loài (chiếm 0,69 % tổng số loài)
Sự ưu thế về thành phần loài của bộ cá Vược trong khu vực cửa sông Thu Bồn thể hiện tính chất nước lợ điển hình
3.1.3 So sánh thành phần loài cá của vùng cửa sông Thu Bồn với các khu hệ khác ở Việt Nam
Để đánh giá độ đa dạng về thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn, chúng tôi so sánh về thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn với một số cửa sông khác ở Việt Nam Kết quả thể hiện ở bảng:
Trang 38Bảng 3.3: So sánh thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn với các khu hệ
khác ở Việt Nam
STT Khu hệ cá Bộ Họ Giống Loài Tác giả công bố
1 Cửa sông Văn Úc –
Hải Phòng 13 40 71 104
Nguyễn Xuân Huấn (2011)
2 Phá Tam Giang - Cầu
Hai - Thừa Thiên Huế 17 62 100 171
5 Cửa sông Hàm Luông
– Bến Tre 13 40 59 70
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre
(2009)[30]
6 Cửa sông Thu Bồn 17 59 113 145
Qua bảng trên có thể thấy rằng thành phần loài cá vùng cửa sông Thu Bồn khá đa dạng, không chỉ đa dạng về bộ (gồm 17 bộ) mà còn đa dạng về giống (có số giống cao nhất trong các khu hệ là 113 giống) So với phá Tam Giang – Cầu Hai, cả hai khu hệ đều có 17 bộ, thì vùng cửa sông Thu Bồn có số loài và số họ thấp hơn nhưng so sánh về giống thì đa dạng hơn, nhiều hơn 13 giống So sánh với 4 khu hệ còn lại là cửa sông Văn Úc, hạ lưu sông Hàn, đầm
Ô Loan và cửa sông Hàm Luông thì số bộ, họ, giống, loài ở vùng cửa sông Thu Bồn đều cao hơn hẳn, số loài ở vùng cửa sông Thu Bồn cao gấp 2 lần số loài cá
ở vùng cửa sông Hàm Luông – Bến Tre
Trang 393.2 ẶC TRƢN VỀ A D NG SINH HỌC CỦA KHU HỆ CÁ
Ở VÙNG CỬA SÔNG THU BỒN
3.2.1. a dạng về các bậc Taxon
Qua kết quả cho thấy, khu hệ cá vùng cửa sông Thu Bồn với 145 loài đã thể hiện được tính đa dạng sinh học cao về loài Không những thế, tính đa dạng còn thể hiện ở các bậc taxon cao hơn, nếu tính bình quân thì mỗi bộ có 3,47 họ; 6,65 giống và 8,53 loài; mỗi họ có 1,92 giống, 2,46 loài và mỗi giống chứa 1,28 loài
a Về taxon bậc họ:
Hình 3.1: Đa dạng bậc họ của các bộ cá khu vực cửa sông Thu Bồn –
Quảng Nam
Bộ có nhiều họ nhất là bộ cá Vược (Perciformes) với 32 họ, chiếm 54,24
% Kế tiếp là bộ cá Nheo (Siluriformes) với 5 họ, chiếm 8,47% Hai bộ cá Chép (Cypriniformes) và bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) mỗi bộ đều có 3 họ, chiếm
Trang 405,08% Tiếp theo là bộ cá Chình (Anguilliformes), bộ cá Trích (Clupeiformes) và
bộ cá Nóc (Tetraodoniformes): mỗi bộ đều có 2 họ, chiếm 3,39% Cuối cùng, 10
bộ còn lại chỉ có duy nhất 1 họ và chỉ chiếm 1,69% là các bộ cá Thát lát
(Osteoglossiformes), bộ cá Măng sữa (Gonorynchiformes), bộ cá Cháo biển (Elopiformes), bộ cá Suốt (Antheriniformes), bộ cá Nhái (Beloniformes), bộ cá Mang liền (Synbrathiformes), bộ cá Mù làn (Scorpaeniformes), bộ cá Lưỡi dong (Lophiformes), bộ cá Chuồn đất (Dactylopteriformes), bộ cá Mối (Aulopiformes)