1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi mạnh phú tư

107 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những lí do trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư” với mong muốn được khảo sát một số phương diện tiêu biểu của nghệ thuật

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ THANH

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT

TRONG VĂN XUÔI MẠNH PHÚ TƯ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Thất Dụng

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kì công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của đề tài……… 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

CHƯƠNG 1: ĐIỂM NHÌN VÀ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI MẠNH PHÚ TƯ 9

1.1 Điểm nhìn trần thuật 9

1.1.1 Trần thuật khái quát với điểm nhìn bên ngoài 10

1.1.2 Trần thuật theo điểm nhìn bên trong 18

1.2 Các phương thức trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư 24

1.2.1 Trần thuật theo ngôi thứ nhất và trần thuật theo ngôi thứ ba 25

1.2.2 Sự đan xen các dạng thức trần thuật 33

CHƯƠNG 2: KẾT CẤU TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI MẠNH PHÚ TƯ 35

2.1 Kết cấu theo tuyến tính thời gian 37

2.2 Kết cấu đảo trình tự thời gian 41

2.3 Kết cấu trần thuật theo diễn biến tâm lí của nhân vật 47

2.4 Kết cấu mở - kết thúc để ngỏ 53

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI MẠNH PHÚ TƯ 59

Trang 4

3.1 Ngôn ngữ trần thuật 59

3.1.1 Ngôn ngữ người trần thuật 60

3.1.2 Ngôn ngữ nhân vật 64

3.2 Giọng điệu 77

3.2.1 Giọng thương cảm, xót xa 78

3.2.2 Giọng trữ tình, đằm thắm 85

3.2.3 Giọng suồng sã tự nhiên 90

3.2.4 Giọng trải nghiệm 93

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi loại hình văn học đều có một phương thức biểu hiện riêng Thơ được nói bằng thứ ngôn ngữ biểu cảm và trùng điệp, còn trong văn xuôi là sự lựa chọn ngôi trần thuật, cách tổ chức điểm nhìn, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu của mỗi nhà văn sao cho hiệu quả… để tạo nên cảm nhận riêng, cách nhìn, cách đánh giá độc đáo về hiện thực thế giới bên ngoài và bao nỗi khắc khoải nội tâm của con người

Trần thuật là một phương diện cơ bản của nghệ thuật tự sự - một phương thức biểu đạt thông dụng mà văn học lựa chọn để khám phá và phản ánh đời sống Nghệ thuật trần thuật giúp người nghiên cứu đi sâu phát hiện những đặc sắc nghệ thuật kể chuyện của mỗi nhà văn Trên cơ sở đó, người đọc tiếp nhận và giải mã cấu trúc bên trong tác phẩm, đồng thời có thể đánh giá những sáng tạo, những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển văn xuôi Việt Nam nói chung

Từ những năm 30 của thế kỷ XX văn học hiện thực phê phán ra đời và đánh dấu một mốc quan trọng, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Một đội ngũ nhà văn khá đông đảo, vô cùng nhiệt huyết làm trụ cột cho một trào lưu văn học như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Mạnh Phú Tư, Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Đình Lạp,… Họ đã làm ra những cách tân nghệ thuật "khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa ai có” (Nam Cao)

Xuất hiện trong trào lưu văn học đó, Mạnh Phú Tư cũng có cái nhìn như các nhà văn cùng thời là miêu tả cuộc sống tối tăm, khổ cực không lối thoát của người nông dân và cuộc sống bế tắc mòn mỏi của người trí thức tiểu

tư sản Song bên cạnh đó, Mạnh Phú Tư có một địa hạt riêng và một cách thức thể hiện riêng “Nếu như Nguyễn Công Hoan sở trường về những mảnh sống trào lộng, Vũ Trọng Phụng thiên về những u nhọt xã hội, Ngô Tất Tố

Trang 6

tìm những bóng tối của cuộc đời, Nguyên Hồng quen với thế giới của bọn tội lỗi, thì chỗ đứng để nhìn của Mạnh Phú Tư gần với Nam Cao hơn Mạnh Phú

Tư không tìm những đề tài, những cốt truyện kỳ dị, ghê gớm, khốc liệt hay gây cấn Nhà văn dường như chẳng cần thám hiểm, săn tìm gì cả Ông lấy ngay những sự việc mà ai cũng biết, cũng có thể chứng kiến Ông không dắt độc giả đi du lịch đâu xa, đến những nơi bí mật kỳ lạ nào hết, mà ông đưa họ

đi chơi trong cuộc sống xung quanh họ, ngay ở đường phố của họ, ngay trong những ngôi nhà của họ Và trong cuộc đi chơi ấy không hề buồn tẻ chán phèo

mà đầy hứng thú” [59, tr.5-6] Mạnh Phú Tư đã kịp thời nhặt một mảnh đời rất bình thường của những con người và cuộc sống xung quanh ấy đặt dưới

“kính lúp nghệ thuật” cho xem, ta mới giật mình thấy cả một thế giới phức tạp không đơn giản như ta tưởng Văn xuôi Mạnh Phú Tư không chỉ hấp dẫn người đọc ở câu chuyện kể mà còn ở nghệ thuật trần thuật Chính vì những lí

do trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư” với mong muốn được khảo sát một số phương diện tiêu

biểu của nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi của ông và khẳng định về sự đóng góp của nhà văn vào thành tựu chung của văn học Việt Nam hiện đại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những công trình, bài viết nói về Mạnh phú Tư và tác phẩm của ông

Mặc dù Mạnh Phú Tư xuất hiện trên văn đàn từ năm 1930 – 1945, nhưng nhà văn đã ra đi rất sớm “ở cái tuổi mà theo lẽ thường đang rất sung sức, sung sức cả tuổi đời lẫn tuổi nghề” Chính vì vậy, bạn đọc và các nhà nghiên cứu ít chú ý đến tác phẩm của ông Những công trình, bài viết về tác phẩm và tác giả Mạnh Phú Tư không nhiều, qua sự thống kê của chúng tôi thì

có những công trình sau đây:

Ngay từ khi cầm bút, Mạnh Phú Tư đã may mắn thu hút được sự quan tâm của nhà phê bình văn học có tên tuổi Vũ Ngọc Phan Trong công trình

Trang 7

nghiên cứu đồ sộ Nhà văn hiện đại, tác giả đã đề cập tới 79 nhà văn và Mạnh

Phú Tư được xếp vào những “nhà tiểu thuyết phong tục” Vũ Ngọc Phan đã dành hẳn 16 trang để viết về tác phẩm của Mạnh Phú Tư và nhận xét một số

tiểu thuyết như: Làm lẽ, Nhạt tình, Sống nhờ, Một thiếu niên…ở trong đó, ông

nói rõ được những cái đạt được cũng như những hạn chế trong những tác phẩm của Mạnh Phú Tư

Vào năm 1983, nhà xuất bản Văn học cho tái bản lại lần thứ hai cuốn

tiểu thuyết Sống nhờ, trong phần lời giới thiệu, nhà xuất bản đã đưa ra những nhận xét đánh giá một cách cô đọng, súc tích về giá trị của tác phẩm: “Sống nhờ khai thác những mẫu thuẫn dai dẳng bên trong những gia đình nông dân

do chế độ tư hữu và tâm lí cổ hủ của người sản xuất nhỏ gây ra…” [58, tr.30]

Trong cuốn Từ điển văn học – tập 2, của nhà xuất bản Khoa học xã hội

1984, tác giả Nguyễn Hoành Khung cũng đã có những lời đánh giá nhận xét như sau:

Sống nhờ không phản ánh hiện thực trên bình diện đấu tranh giai

cấp và chưa đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn Việc thể hiện người nông dân trong tác phẩm còn lệch lạc, hạn chế Tác phẩm chủ yếu đi vào những quan hệ gia đình ở nông thôn, nghiêng về sinh

hoạt, phong tục và ở phương diện này, Sống nhờ là một tiểu thuyết

đặc sắc, có tính chân thực cao Tác phẩm không chỉ gợi lên niềm thương cảm xót xa đối với một đứa trẻ mồ côi mà còn phơi trần và lên án lối sống tư hữu sau lũy tre [16, tr.312]

Phan Cự Đệ trong Tuyển tập Phan Cự Đệ - tập 2, có những nhận xét về giá trị nội dung về các tác phẩm văn học hiện thực trong đó có tác phẩm Sống nhờ, Làm lẽ, Nhạt tình như sau:

Tiểu thuyết hiện thực phê phán mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của những người tiểu tư sản nghèo sống gần gũi quần chúng

Trang 8

lao động Qua các tác phẩm như: Những ngày thơ ấu, Sống nhờ, Cỏ dại ta thấy xót thương cho những trẻ em sống bơ vơ côi cút trong xã

hội cũ, thiếu thốn từ miếng cơm manh áo cho đến tình yêu thương của mọi người Tiểu thuyết hiện thực phê phán cũng lớn tiếng bênh vực những người phụ nữ bị vùi dập trong một xã hội chà đạp lên

quyền sống của con người (Bỉ vỏ, Tắt đèn, Làm lẽ, Nhạt tình) Cuối

cùng, bao trùm lên tất cả là một lòng yêu thương, một thái độ tình cảm bênh vực cho quyền lợi những người nghèo khổ, nhất là những người nông dân cùng quẫn sau lũy làng [5, tr.116]

Trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, tác giả Nguyễn Đăng

Mạnh viết rất rõ về nội dung hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Mạnh

Phú Tư là Làm lẽ và Sống nhờ như sau:

Hai tác phẩm này đều viết về nông thôn, nhưng tác giả chủ yếu

đi vào đời sống của tầng lớp trung lưu và thường xoáy vào những vấn đề thuộc quan hệ gia đình Ý nghĩa xã hội của tác phẩm thu hẹp trong việc lên án lễ giáo phong kiến hủ bại và những thói tham lam

ác độc, những tật đố kị nhỏ nhen giữa vợ cả, vợ lẽ, mẹ chồng nàng dâu, giữa anh em, chị em, và họ hàng làng xóm sau lũy tre xanh

Làm lẽ dường như nằm trong hệ thống chủ đề của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Thoát ly…)

Khác chăng là ở chỗ tác phẩm này ít nhiều có gắn bó vấn đề phụ nữ với vấn đề quan hệ giàu nghèo bất công trong xã hội cũ Để tăng sức

tố cáo của tác phẩm, tác giả có dụng ý đặt nhân vật vợ lẽ vào một hoàn cảnh phải chịu đủ thứ đau khổ, nhục nhã dưới uy quyền của người vợ cả Nhưng nhược điểm của tác phẩm là nhấn mạnh vào tính nhẫn nhục của kẻ bị áp bức, khiến người đọc có cảm tưởng như người nông dân lao động ngày xưa quá hèn yếu, thậm chí không có

Trang 9

bi kịch căng thẳng một cách ngu xuẩn Nạn nhân đau khổ nhất của những mối bất hòa đó là một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải

“sống nhờ” hết cửa này đến cửa khác, từ bà nội đến bà ngoại, từ cô này đến chú khác…

Đọc Sống nhờ ta lại thấy vấn đề day dứt, ám ảnh nhất đối với

Mạnh Phú Tư vẫn là tình trạng người phụ nữ bị đày đọa bởi những tập tục phong kiến Bên cạnh những trang cảm động viết về tâm sự đứa trẻ mồ côi, tác phẩm còn có nhiều trang đặc sắc viết về tình cảm một người mẹ trẻ góa bụa bị mẹ chồng rình mò “giám sát” không cho

đi bước nữa Đến khi người quả phụ liều lĩnh trốn đi theo tiếng gọi của hạnh phúc tình mẹ con lại bị cắt đứt một cách vô lý và tàn nhẫn

Trong các tác phẩm của Mạnh Phú Tư, Sống nhờ là cuốn truyện

có nội dung hiện thực phong phú nhất, đồng thời cũng giàu chất trữ tình nhân đạo chủ nghĩa chân thật và thắm thiết nhất [30, tr.54-55]

Tác giả Bích Thu trong cuốn Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam của

nhà xuất bản Văn học, năm 2001 đưa ra những ý kiến tác giả và tác phẩm của

Mạnh Phú Tư, đặc biệt là hai tiểu thuyết Làm lẽ và Sống nhờ như sau:

Trang 10

Mạnh Phú Tư là một trong những nhà văn hiện thực có khuynh hướng tiến bộ cách mạng Ông thường quan tâm đến chủ đề hôn

nhân và gia đình trong sáng tác của mình Với Làm lẽ, Mạnh Phú Tư

đã bộc lộ niềm thông cảm sâu xa với số phận người phụ nữ đồng thời lên án chế độ đa thê đã bóp nghẹt quyền sống và hạnh phúc của

họ Cốt truyện Làm lẽ đơn giản ít hành động Tác giả chủ yếu miêu

tả ngôn ngữ, lời nói của nhân vật, với những đường nét ngoại hình hơn là đi sâu khai thác diễn biến tâm lí nhân vật [2, tr.644-645]

Khi nói về tiểu thuyết Sống nhờ, Bích Thu viết: “Nghệ thuật trong Sống nhờ đã đến độ chín khi thể hiện thế giới nội tâm phong phú và phức tạp của con người Sống nhờ là tiểu thuyết nổi trội hơn cả trong những tác phẩm của Mạnh Phú Tư Với Sống nhờ nhà văn đã tạo được vị trí nhất định trong

dòng văn học hiện thực Việt Nam” [2, tr.893]

Bài viết giới thiệu về tác giả và tác phẩm Mạnh Phú Tư do giáo sư

Hoàng Như Mai thực hiện trong cuốn Nhạt tình, ông viết: “Trước nay, qua Làm lẽ, Nhạt tình, Gây dựng, Sống nhờ…xuất bản trước 1945 và Cách mạng nhà quê, Rãnh cày nổi dậy viết trong thời kì cách mạng tháng Tám, ai nấy đều

công nhận Mạnh Phú Tư là một cây bút hiện thực đặc sắc” [59, tr.5]

Tác giả Trần Mạnh Thường với công trình Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX, trong đó tác giả có viết về Mạnh Phú Tư Đó là một bài viết

đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn

Rải rác một số bài viết về Mạnh Phú Tư và tác phẩm của ông trong

một số công trình như: Văn học Việt Nam (1900 – 1945) của tác giả Phan Cự

Đệ, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 của tác giả Nguyễn

Đăng Mạnh

Đây là những tài liệu quan trọng cung cấp cho chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Trang 11

2.2 Những ý kiến về văn xuôi và nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư

Như đã đề cập, Mạnh Phú Tư ra đi khi tuổi đời còn trẻ, tác phẩm của ông cũng không có nhiều Duy chỉ về phần tiểu thuyết thì tác phẩm của ông cũng gây tiếng vang trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945, tiểu

thuyết Làm lẽ, Nhạt tình, Sống nhờ, Gây dựng, Một thiếu niên…Còn truyện ngắn thì Mạnh Phú Tư cũng có những tác phẩm nổi trội như: Người vợ già, Anh hồi sinh…

Và cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư Người thực hiện đề tài được mạnh dạn là người đầu tiên tham gia nghiên cứu văn xuôi của ông trên phương diện trần thuật Hi vọng rằng đề tài sẽ góp thêm một tiếng nói mới bổ ích cho quá trình đi tìm nghệ thuật trong văn xuôi của Mạnh Phú Tư

và văn học hiện thực 1930 – 1945

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết và truyện ngắn của Mạnh Phú Tư

trong cuốn Tuyển tập văn xuôi của Mạnh Phú Tư, Nxb Thanh niên (2010)

- Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này, chúng tôi tập trung đi vào khảo sát một số phương diện của nghệ thuật trần thuật như: Điểm nhìn và phương thức trần thuật, kết cấu trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản:

- Phương pháp thống kê, phân loại: khảo sát và thống kê những tư liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sau đó phân loại xem chúng nằm những luận điểm nào của đề tài

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được áp dụng để làm rõ những đóng góp của Mạnh Phú Tư đối với nền văn học Việt Nam Chúng tôi

Trang 12

lấy những tác phẩm của các tác giả cùng thời có nội dung liên quan đến đề tài

để so sánh nhằm làm nổi bật vấn đề cần nghiên cứu Hơn nữa phương pháp so sánh đối chiếu sẽ làm phong phú thêm cho luận văn

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích tác phẩm văn học giúp phân loại nội dung để làm rõ vấn đề Trong quá trình phân tích, người viết trình bày lần lượt các nội dung theo các vấn cụ thể Từ đó rút ra những nhận định khái quát, kết luận lại vấn đề cần nghiên cứu

- Ngoài ra chúng tôi sử dụng lý thuyết tự sự học và thi pháp học: để soi chiếu, tìm hiểu, giải mã cấu trúc văn bản nhằm phát hiện ý nghĩa nghệ thuật của nó

5 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu “nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư”, người viết mong muốn góp thêm được tiếng nói khoa học trong lĩnh vực nghệ thuật trần thuật của nhà văn Mạnh Phú Tư Qua đó, giới thiệu với bạn đọc kĩ lưỡng hơn về một cây bút đáng chú ý của văn học hiện thực phê phán 1930-1945

Ngoài ra đề tài còn cung cấp thêm một cách đọc hiểu văn xuôi Mạnh Phú Tư dưới góc nhìn lý thuyết tự sự học và thi pháp học

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai thành ba chương như sau:

Chương 1 Điểm nhìn và phương thức trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư

Chương 2 Kết cấu trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư

Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư

Trang 13

CHƯƠNG 1 ĐIỂM NHÌN VÀ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT

TRONG VĂN XUÔI MẠNH PHÚ TƯ1.1 Điểm nhìn trần thuật

Trong tác phẩm văn học tự sự, việc lựa chọn một phương thức tự sự là rất quan trọng, đặc biệt là lựa chọn điểm nhìn trần thuật Một tác phẩm văn học phải được kể theo một phương thức hay một điểm nhìn nào đó thì tác

phẩm văn học mới có giá trị trường tồn với thời gian Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì điểm nhìn là: “Vị trí người đó trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật

trong tác phẩm (…) Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ sự thay đổi điểm nhìn” [12, tr.113] Trần Đình Sử cũng quan niệm: “điểm nhìn là vị trí và trạng thái của người trần thuật dùng để quan sát và kể chuyện Nó liên kết tác giả, người kể chuyện, người nghe chuyện (người đọc ẩn tàng) và người đọc thực

tế thành một hệ thống” Và điểm nhìn là “cái dùng để quan sát, đánh giá, bao gồm cả khoảng cách, cả phương diện vật lý, tâm lý, văn hóa” Phùng Văn Tửu cũng quan niệm rằng: “điểm nhìn là kĩ thuật chọn chỗ đứng để nhìn và kể” [62, tr.212] Iu.Lotman khẳng định rằng: “Hiếm có yếu tố nào lại liên quan trực tiếp đến việc xây dựng bức tranh thế giới như điểm nhìn nghệ thuật” [21, tr.454]

Khi bàn về chức năng điểm nhìn nghệ thuật, Manfred Jahn nói: “điểm nhìn mang ý nghĩa của sự lựa chọn và giới hạn thông tin trần thuật của việc nhìn các sự kiện và cấu trúc của sự kiện từ điểm nhìn của một người nào đó và của việc tạo ra cái nhìn đồng cảm hay mỉa mai ở người quan sát” [26, tr.41] Như vậy điểm nhìn không đơn thuần chỉ sự quan sát bằng thị giác mà điểm nhìn còn gắn với tâm lí, quan điểm, lập trường của nhà văn, thể hiện quan niệm của nhà văn khi nhìn về cuộc sống đó như thế nào Điểm nhìn là vị trí

Trang 14

của người kể chuyện được nhà văn lựa chọn để quan sát, đánh giá, thâu tóm câu chuyện trong tác phẩm

Căn cứ vào các vị trí khác nhau của người kể chuyện sẽ có những điểm nhìn trần thuật khác nhau Về vấn đề này, các nhà nghiên cứu Brooks, Warren, Graimas, Bouillon, Fredman, Uspenski, Genette…có nhiều ý kiến khác nhau nhưng qua sự nhận xét của chúng tôi thì có các loại điểm nhìn sau đây:

- Điểm nhìn biết hết, điểm nhìn “toàn tri”, rất biến hóa, có mặt khắp nơi, hầu như không bị hạn chế nào

- Điểm nhìn bên trong, điểm nhìn “hạn tri”, tức là nhìn theo tri thức, tư tưởng, tình cảm của một hay nhiều nhân vật để trần thuật một sự kiện hay toàn bộ câu chuyện

- Điểm nhìn bên ngoài là góc nhìn không phải của bất cứ nhân vật nào trong truyện, gần giống với một loại nhưng không đi sâu biểu hiện tư tưởng, tình cảm nội tâm mà chỉ tả và kể lại một sự kiện hoặc ngôn ngữ cử chỉ, hành động, ngoại hình và hoàn cảnh của nhân vật trong truyện

Tóm lại, điểm nhìn nghệ thuật là “tâm điểm” của tự sự học Trong tác phẩm văn học việc lựa chọn một loại điểm nhìn nghệ thuật nào đó thì cũng là xuất phát từ dụng ý nhà văn

1.1.1 Trần thuật khái quát với điểm nhìn bên ngoài

Văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 là giai đoạn văn học phát triển mạnh mẽ với nhiều cây bút nổi tiếng như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Mạnh Phú Tư…đạt đến trình độ sắc bén về nghệ thuật viết truyện Họ đã khái quát mọi bức tranh cuộc sống, vạch rõ u nhọt của xã hội Điều đáng lưu ý hơn cả là bao trùm lên toàn bộ tác phẩm chặng đường này là một bầu không khí u ám với khung cảnh xơ xác, vắng vẻ, tiêu điều ở làng quê Đặc biệt, nhà văn Mạnh Phú Tư đã đưa “cái hàng ngày” vào tác

Trang 15

phẩm để làm nổi bật đời tư bên trong của tác phẩm

Xuất thân trong một gia đình nông dân, có một thời thơ ấu bất hạnh mồ côi cha từ khi còn trong bụng mẹ, năm tuổi mẹ đi bước nữa, phải sống cùng anh em nội ngoại Do hoàn cảnh gia đình, tuổi thơ gắn liền với miền quê nghèo nên Mạnh Phú Tư có cái nhìn rất cận cảnh về người dân quê và cả những phong tục tập quán của họ Nhà văn đứng đằng sau nhân vật để viết nên những câu chuyện rất thật của đời sống dân dã Ông nhìn con người bằng một lăng kính thiện cảm và đầy yêu thương đối với người dân lam lũ vất vả Ông thường đi sâu vào số phận con người trong quan hệ gia đình bị chi phối bởi những phong tục, những thành kiến hủ bại Với điểm nhìn bên ngoài Mạnh Phú Tư đã vạch trần bản chất vô nhân đạo của xã hội thực dân phong kiến, phê phán cái xấu, cái ác tồn tại trong quan hệ giữa con người với nhau

Trong tiểu thuyết Làm lẽ, Mạnh Phú Tư là người chứng kiến kể lại câu

chuyện về số phận bi thảm của người phụ nữ dưới xã hội phong kiến đương thời Mở đầu tác phẩm giới thiệu về nhân vật của mình: “Trên chiếc sân đất

nề, gồ ghề và rắn cứng, Trác đội chiếc nón chóp rách khom lưng quét thóc Nàng phải dển hai bàn chân để tránh bớt sức nóng của sân đất nện Thỉnh thoảng, nàng đứng ngay người cho đỡ mỏi lưng, rồi đưa tay áo lên lau mồ hôi ròng ròng chảy trên mặt (…) trái hẳn với chân nàng đen đủi vì dầm bùn phơi nắng suốt ngày” [60, tr.7] Mạnh Phú Tư đã kể lại cuộc đời của người phụ nữ tên Trác sống trong cảnh lẽ mọn phải chịu đủ mọi nhọc nhằn cay đắng dưới

sự hành hạ áp bức tàn bạo của người vợ cả Bằng con mắt quan sát tinh tế, sự bao quát tuyệt vời cùng với một trí tưởng tượng, sáng tạo phong phú, nhà văn

đã phác họa lên một bức tranh sinh động về đời sống xã hội đương thời Nhà văn như nhà quay phim tài ba quay hết các cảnh tủi nhục, khổ cực của một cuộc đời làm lẽ: “ngày nọ qua ngày kia, hết chuyện ấy sang chuyện khác, mợ Phán tìm đủ cách để hành hạ như thế…” [60, tr.65] Đến khi Trác sinh đứa

Trang 16

con trai đầu lòng, sự hành hạ của mợ phán tăng lên gấp bội, cũng chỉ lòng ghen ghét Trác có con với chồng bà Từ đó, mợ phán ra tay hành hạ đứa con của Trác cho hả dận Cuộc đời không may mắn của người con gái xinh đẹp nết na ấy cứ xuôi chảy theo thời gian hàng ngày Trác không có sự âu yếm yêu thương của chồng, bởi chồng nàng cũng sống dưới quyền của mợ phán Với tư cách là người kể chuyện Mạnh Phú Tư đã có cái nhìn khách quan về số phận nhân vật Trác Cuối tác phẩm nhà văn đã phải viết lên những lời cay đắng hơn cho số phận của nàng Khi chồng nàng chết cũng là những giọt nước mắt nàng khóc cho chồng nhưng quan trọng hơn là nàng khóc cho số phận bi thảm và bất hạnh của mình Nàng không biết rồi sẽ nương tựa vào ai nữa, mẹ nàng cũng đã chết, anh trai nàng thì nghèo đói, nàng rùng mình run

sợ Với cái nhìn khách quan vào cuộc sống của xã hội đương thời cộng với tâm lí, số phận nhân vật, nhà văn đã viết lên những trang đầy lệ, ông đã khóc cho số phận của nhân vật mình: “Trác cảm động, hai mắt đầy lệ, ôm chặt con vào lòng và khẽ nói:

- Rõ khổ cho con tôi!

Chẳng hiểu đó là câu nói nàng thành thực nói ra để tỏ lòng thương con, hay chỉ là câu nói mượn, nàng thốt ra để mô tả chính cái cảnh đau thương của nàng” [60, tr.70]

Cũng điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện, Mạnh Phú Tư đã sáng

tác nhiều tác phẩm mang giá trị thời đại như Nhạt tình Đó là một câu chuyện

rất thông thường trong xã hội thời Pháp thuộc Một ông Phán mê người vợ lẽ

cô đầu hắt hủi ruồng bỏ vợ cả Vợ cả phải đưa con về ở với mẹ già, mẹ con làm ăn khổ sở nuôi nhau Cô gái đầu vất vả quá lăn ra chết Người con trai thứ hai vừa đi làm kiếm ăn vừa cố gắng học và thi đỗ Thông phán Với điểm nhìn bên ngoài Mạnh Phú Tư đã miêu tả rất thành công một anh công chức hiền lành vì mê gái trở nên vũ phu với vợ cả: “ông Sinh ở trên xe bước xuống với

Trang 17

không biết bao cái tức tối thù ghét trong lòng đối với vợ cả Nhưng ông không dám hành hạ vợ ngay vì ông còn nghe lời Nga, giấu giếm không để bà Sinh biết rằng nào nàng đã ngầm mách” [60, tr.117] Hay cả những đoạn ông Sinh hành hạ bà Sinh đến mức thậm tệ như:

Đấm chán rồi ông ôm đầu vợ, lật ngửa mặt tát hết bên trái sang

bên phải Bà Sinh bị đánh bất ngờ không còn phương kế để tự giữ mình, đành cứ để cho chồng đánh đập Bà Sinh tìm đường lối chạy thì phía trong giường là bức tường, phía ngoài giường thì bị chồng chắn lối Bà đành chỉ ôm đầu chịu tát, sau mấy cái tát đau quá, máu

me ở mồm bà và ở mũi chảy ra đỏ loét cả một chiếc áo dài trắng của

bà [60, tr.108]

Bên cạnh đó, người kể chuyện còn nhìn nhận được sự hiền thục nhẫn nhục của người vợ cả và người con gái hiếu hạnh nết na, người con trai ngoan ngoãn đức độ, người vú già trung hậu thật thà, người bạn gái tốt bụng Đó là những tính cách nhận vật gần gũi, chân thật mà độc giả vừa thương vừa phục

Ở nhiều tác phẩm khác Mạnh Phú Tư cũng có điểm nhìn bên ngoài như

tiểu thuyết Gây dựng, người kể chuyện kể về sự tần tảo nuôi con Suy nghĩ,

toan tính gây dựng hạnh phúc gia đình cho con trai và con gái của bà Mở đầu tác phẩm nhà văn đã giới thiệu rất rõ điều đó: “Từ ngày Thúc đi làm, bà Cang vẫn cố tìm cách dò la manh mối để hỏi cho Thúc – con giai bà – một người

vợ Điều này cũng làm cho bà quan tâm như việc gả chồng cho Vinh con gái bà” [60, tr.192] Bao nhiêu cuộc dò la manh mối, toan tính thì cuối cùng bà Cang cũng đã lo toan được cho con trai và con gái được yên bề gia thất Đến đây Mạnh Phú Tư đã nhìn nhân vật một cách khách quan, nhà văn đã quay hết một vở kịch trên sân khấu với cái nhìn cận cảnh để cho nhân vật bà Cang cố xoay xở mãi rồi đến lúc cũng hoàn thiện một cách trọn vẹn

Trang 18

Đến với truyện ngắn thì Mạnh Phú Tư hầu như có điểm nhìn bên ngoài

để nhân vật bộc lộ hết mọi tính cách của mình Ở tập truyện Người vợ già, tác

giả đã kể lại một câu chuyện đau thương của một người vợ già hơn chồng hai tuổi, sống trong một gia đình đầy bạo hành, sự ghét bỏ, sự ruồng rẫy của người chồng:

Trong bữa cơm hôm nay, cũng như mọi bữa cơm khác, Trân vẫn ngồi vào bàn ăn với hết tất cả những điều tức bực khó chịu của mình Nếu chẳng có chuyện lôi thôi về món ăn của đứa con như trên đây Trân lại gắt gỏng vì một hai điều nhỏ nhặt khác, nào cơm không được chín tới, nào bát còn nhiều bụi, nhiều chất nhờn Trước những lời oán trách của chồng người vợ chỉ yên lặng chẳng hề cãi lại nửa nhời, tuy biết mình luôn bị mắng oan [60, tr.572]

Mạnh Phú Tư đã lên án nạn bạo hành trong gia đình lúc bấy giờ, phê phán sự gia trưởng phong kiến trong xã hội, đó là sự gia trưởng quyền uy của người chồng trong gia đình Người chồng kiếm được đồng lương nên về nhà coi vợ và con không ra gì, còn xem đó là nơi để anh ta trút giận và bực tức khi

đi làm về, là nơi mà anh ta không hề thấy sự hạnh phúc của gia đình Đó là cái của nợ, cái gánh nặng trên đôi vai của mình Mạnh Phú Tư đã rất tài tình để cho nhân vật bộc lộ hết sự xấu xa của nó và ngược lại ông cũng chưa có tiếng nói bênh vực người phụ nữ trong xã hội đó Ở những truyện ngắn khác hầu như nhà văn đều có những điểm nhìn bên ngoài, tác giả kể lại câu chuyện đời

tư, thường ngày của nhân vật trong các tác phẩm như: Một kẻ thù, Yêu thầm,

Lọ thuốc độc, Cô em út, Đội ban truyền, Người mẹ, Anh hồi sinh

Truyện ngắn Một kẻ thù, Lọ thuốc độc, những cơn gió heo may là

những truyện được tác giả trần thuật theo điểm nhìn bên ngoài, đều nói về nhân vật thanh niên trí thức trong xã hội cũ Nhưng ở mỗi truyện nhà văn có

cái nhìn khác nhau Truyện Một kẻ thù, nhà văn nhìn nhận thế hệ thanh niên ở

Trang 19

một phương diện khác, đó là tác giả kể về những nhân vật thanh niên với những mối quan hệ tình yêu, phản ánh được lòng ích kỉ, đố kị tầm thường của Trung khi thấy Vân và Nhu yêu nhau Trung ra tay tìm cách để hai người xa nhau rồi mình chiếm lấy tình yêu của Nhu Thế nhưng cái lòng ích kỉ đó không đem lại hạnh phúc cho Trung, mà ngược lại, nhà văn đã để cho nhân vật tự sám hối về những hành động của mình: “Người mà anh còn tưởng nhớ đến, còn để lại trong óc anh một kỷ niệm mà có lẽ không bao giờ quên chính

là Vân, một kẻ thù cũ của anh

Nghĩ vậy Trung buồn buồn hthương hại, và lấy làm lạ rằng mình đã có thể có ác tâm đánh bại một người bạn trước một bà phán già tròn trĩnh và một thiếu nữ cao dài ốm yếu!” [60, tr.588] Qua tác phẩm nhà văn muốn gửi gắm cho bạn đọc những bài học và những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống

Còn ở truyện ngắn Lọ thuốc độc và Những cơn gió heo may là những câu

chuyện nhà văn kể về tầng lớp thanh niên trí thức nghèo túng, lại thất nghiệp dẫn đến bế tắc trong xã hội cũ Suy nghĩ của họ đều là chạy thoát cuộc sống hiện tại u ám chật hẹp, nghèo nàn để tìm cho mình một chân trời mới Qua

đó Mạnh Phú Tư lên án cái xã hội đã bọt nghẹt quyền sống và cả những hoài bão của họ

Yêu thầm là một truyện ngắn mà nhà văn kể về một nhân vật nữ với

một tình yêu đẹp và thầm kín Tình yêu của Vân dành cho một cậu giáo dạy học ngay tại nhà mình, với một nét mặt, nụ cười và cả một tấm lòng đầy yêu thương nàng dàng cho chàng Nhà văn muốn ca ngợi con người và tình yêu của Vân –dẫu thầm kín nhưng thật chân thành và sâu sắc

Khi viết về trẻ em, nhà văn cũng có cái nhìn bên ngoài để viết lên hai

tác phẩm Cô em út và Người mẹ Cô bé Bích, Hùng và Nga là những đứa trẻ

được sống trong hạnh phúc gia đình người thân, được chăm sóc chu đáo nên

tính cách của chúng cũng khác so với nhân vật Dần trong Sống nhờ Ở mỗi

Trang 20

tác phẩm nhà văn lại có cách kể khác nhau, truyện Cô em út là kể về cô bé

Bích rất ngây thơ nhưng thông minh và hiếu động muốn khám phá mọi thứ xung quang của người lớn đang làm, ở đó cô đã tự học làm người lớn Còn

truyện Người mẹ nhà văn kể về Nga và Hùng là hai đứa trẻ có phần bất hạnh

hơn, mẹ chết sớm, hai em quen sống trong vòng tay của mẹ nên các em khao khát tình mẫu tử khi mẹ không còn nữa Những trang văn rất đẹp dịu dàng khi viết về giấc mơ của hai chị em được gặp mẹ và được mẹ âu yếu trong vòng tay yêu thương, được mẹ đưa ra phố mua quà, bánh kẹo Giấc mơ mà các em tưởng là sự thật, nhưng tỉnh giậy buồn và hụt hẫng không thấy mẹ đâu Tác giả ca ngợi công đức của ngươi mẹ và tình mẫu tử đẹp và đầy yêu thương

Anh hồi sinh là một trong những truyện ngắn thành công của Mạnh Phú

Tư khi về cuộc sống, hoàn cảnh chiến đấu của các anh chiến sĩ Với điểm nhìn bên ngoài nhà văn đã có cái nhìn rất khách quan về các anh chiến sĩ chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, rừng thiêng nước độc, trèo đèo lội suối rất vất vả, cơm không có để ăn, quần áo rách nát Hoàn cảnh các anh thật tội nghiệp, đoàn quân có mười người thì có một anh Tài chết vì đói nhưng sau đó sống lại Vì thế các anh đặt cho cái tên mới rất ngộ nghĩnh mà cũng phán ánh được tinh thần chiến đấu bất khuất – đó là anh Hồi sinh Cái tên ấy đã làm niềm vui cho anh, để anh chiến đấu với những ngày còn lại:

- Chiều nay đến lượt anh Hồi sinh gác

- Có người hỏi anh Hồi sinh

- Anh Hồi sinh dạo này hăng lắm (…)

- Hoan hô anh Hồi sinh, hoan hô tinh thần chiến đấu của anh Hồi sinh

Ngay từ nửa đêm ấy, anh Hồi sinh ra đi [60, tr.666]

Điểm nhìn của tác giả trong một số tác phẩm được thể hiện qua điểm nhìn của người kể chuyện Với điểm nhìn này, người kể chuyện đã thể hiện

Trang 21

cái nhìn toàn cảnh về đời sống, văn hóa xã hội, phong tục tập quán của người

dân quê vùng bắc bộ lúc bấy giờ, đặc biệt qua các tác phẩm như Làm lẽ, Sống nhờ, Những cơn gió heo may Qua tác phẩm Sống nhờ, tác giả đã có cái nhìn

khách quan về cuộc sống thôn quê rất vất vả lam lũ kiếm từng miếng cơm manh áo để tồn tại Đáng chú ý hơn là nhà văn đã cho chúng ta thấy cảnh đói queo quắt của người nông dân ta thời xưa, thấm thía được nỗi nghèo khổ của con người:

Cái nạn thiếu gạo cả đến các giống vật trong nhà cũng phải chịu lây Lợn, gà đều bị đói cả Những con lợn đói quá gầm thét suốt ngày Gà vịt tầm lục khắp các xó, các góc nhà Có cái gì có thể ăn được là chúng cũng moi ra được Đàn chó nằm cả ngày không buồn sủa, không còn biết lấy gì cho chúng ăn được Người ta giết thịt dần

mà ăn Hai chú tôi vác móng đi đào củ chuối ở ngoài vườn mỗi bữa thái nhỏ chừng nửa củ nấu với nước mắm ăn vã [60, tr.418]

Đồng thời nhà văn cũng có cái nhìn khái quát về thiên nhiên qua tác

phẩm Những cơn gió heo may Mạnh Phú Tư đã cho người đọc thấy được

bức tranh nơi thôn dã khi khí hậu thay đổi: “Năm nay sao mà gió heo may đến sớm thế! Vừa mới mấy ngày qua, trời còn tiết hè oi ả, mà bỗng nay đã thay đổi hẳn…những cơn gió heo may mới đột khởi mà trời đã thấy lành lạnh gần về sáng kéo chiếc khăn bông trùm lên người đã thấy cái ấm áp dễ chịu” [60, tr.634] Đó là cơn gió heo may bất chợt đến làm cho con người và ảnh vật thôn quê thay đổi Cây cối mất đi sự non tươi, lá vàng rụng nhiều Trước sự thay đổi đó, nhà văn đã có cái nhìn khách quan về cảnh vật nơi đây:

“Những cơn gió heo may cứ thổi! lá vàng lác đác rụng Những chiếc lá tre nhọn sắc, cùng với cành lá xoan ngoài đầu vườn tạt tới nền nhà, phủ gần cả hai bên bờ hè Mấy cây tre lên mái nhà dưới nắng hanh thỉnh thoảng liên tiếp nhau nổ thành một thứ tiếng không có ngân vang gì” [60, tr.636] Mọi sự

Trang 22

miêu tả và trần thuật trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ một tọa độ nhất định trong không gian và thời gian Điểm nhìn trần thuật chi phối việc tổ chức không gian và thời gian trong tác phẩm Do vậy, tác giả định vị được không gian cần miêu tả trong tác phẩm Chính vì thế, Mạnh Phú Tư đã phác thảo được không gian làng quê đồng ruộng rất rõ qua các tác phẩm như

Sống nhờ, Những cơn gió heo may Đó là những tiếng ếch nhái kêu ngoài bờ

rào ở ven nhà Rồi thỉnh thoảng lại điểm thêm những tiếng cầm canh ở các điểm lân cận Đồng thời nhà văn đã khái quát hết được những phong cảnh đẹp

của đất nước, nơi nghỉ mát lí tưởng Đồ Sơn qua hai tác phẩm Một kẻ thù và Quyến rũ Trong truyện ngắn Quyến rũ tác giả miêu tả cảnh đẹp ở Đồ Sơn

như: “… Đồ Sơn bỗng trở thành một cái tỉnh nhỏ hơn là một nơi nghỉ mát hẻo lánh, yên tĩnh” [60, tr.589]

Mạnh Phú Tư đề cập đến vấn đề thuộc về đời tư, cuộc sống hàng ngày nhưng nó cũng có giá trị khái quát xã hội trong việc phản ánh hiện thực Như vậy, con đường đến với văn học của Mạnh Phú Tư không chỉ còn là sự tình cờ ngẫu nhiên mà mang quy luật tất yếu của một trái tim đa cảm và một tấm lòng nhân hậu trước cuộc sống Chính điều đó đã làm cho mỗi tác phẩm của nhà văn đều có giá trị và thấm nhuần tinh thần nhân đạo chủ nghĩa chân thật

1.1.2 Trần thuật theo điểm nhìn bên trong

Bên cạnh trần thuật theo điểm nhìn bên ngoài – điểm nhìn của người kể chuyện, thì Mạnh Phú Tư còn xây dựng điểm nhìn bên trong Theo lý thuyết

tự sự học, người kể chuyện mang điểm nhìn bên trong khi người kể chuyện là nhân vật của câu chuyện, khi ấy nhà văn chuyển giao điểm nhìn cho các nhân vật của mình Người kể chuyện đã mất đi vai trò “toàn năng” do đã trao điểm nhìn cho nhân vật và nhân vật lại soi rọi mọi sự kiện tình huống bằng cái nhìn nội tâm tự thân anh ta Lúc này, người kể chuyện đã hướng từ điểm nhìn bên ngoài vào điểm nhìn bên trong nhân vật để nhân vật có thể tự bộc lộ cảm xúc,

Trang 23

đánh giá, nhận xét về chính bản thân mình hoặc các hiện tượng bên ngoài nó

Đó là kiểu nhân vật tâm lí, nhân vật tính cách Theo nhà nghiên cứu tự sự học Manfred Jahn, thì điểm nhìn bên trong là kĩ thuật trình bày một điều gì đó từ điểm nhìn một nhân vật trong câu chuyện Nhân vật qua cái nhìn của ai đó mà hành động được bộc lộ một cách chính xác hơn Câu chuyện, do đó mang tính chất chủ quan, những sự kiện, những biến cố dần dần hiện lên qua những gì nhân vật thấy, cảm nhận, suy ngẫm và bộc bạch thái độ, tình cảm, cảm xúc

Theo sự phân tích ở trên thì trong văn xuôi của Mạnh Phú Tư có một số

tác phẩm trần thuật theo điểm nhìn bên trong như: Sống nhờ, Một thiếu niên…Sở dĩ tác phẩm của Mạnh Phú Tư trần thuật theo điểm nhìn bên trong là

do những tiểu thuyết này xây dựng theo lối tự truyện Trong hai tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư, người đọc dễ dàng nhận thấy nhất là người kể chuyện theo ngôi thứ nhất – xưng tôi Theo lí thuyết của G.Genette là điểm nhìn bên trong thì có ba dạng cơ bản Ở dạng thức thứ nhất, người kể chuyện kể tất cả mọi chuyện (người kể chuyện thuộc dạng cố định) Ở dạng thức này, người kể chuyện là một nhân vật xưng tôi đóng vai trò kể chuyện từ đầu đến cuối Ví

như những tác phẩm thuộc văn học đương đại: T mất tích – Thuận, Cõi người rung chuông tận thế - Hồ Anh Thái, Thiên thần sám hối – Tạ Duy Anh, Ba người khác – Tô Hoài…Đây là những câu chuyện viết thuần túy ở ngôi thứ

nhất Người kể chuyện và nhân vật là một “tôi” tự kể chuyện của mình, kể những chuyện liên quan đến cuộc đời của mình Ở dạng thức thứ hai là nhiều người kể chuyện trong một lúc, đây là hình thức kể chuyện đa thanh trong tiểu

thuyết những năm đầu thế kỉ XXI Các tác phẩm tiêu biểu như: Cơ hội của Chúa – Nguyễn Việt Hà, có bốn người kể chuyện xưng tôi, Phố Tàu – Thuận,

có hai người kể chuyện xưng tôi, Nàng Savitri và tôi – Hồ Anh Thái, có hai

người kể chuyện xưng tôi Ở dạng thức khác, nhiều người kể chuyện cùng kể lại một câu chuyện duy nhất (người kể chuyện thuộc dạng đa thức) Ở dạng

Trang 24

thức này “tôi” không phải là người kể chuyện “biết tuốt” mọi chuyện Do đó, nhà văn phải tổ chức nhiều cái tôi để kể chuyện, sự xuất hiện nhiều cái tôi cùng kể một chuyện tạo ra nhiều điểm nhìn khác nhau khiến tiểu thuyết trở thành một văn bản đa thanh

Tác phẩm của Mạnh Phú Tư khi đối chiếu với lí thuyết tự sự học thì

như ta đã biết, tác phẩm có giá trị hơn cả là Sống nhờ, đây là cuốn tiểu thuyết

tự truyện, mang tính hồi kí được kể bằng ngôi thứ nhất, tự thuật lại cuộc đời thời thơ ấu của một nhân vật Dần – hình ảnh của bản thân tác giả Mạnh Phú

Tư đã để cho nhân vật kể chuyện tự do bộc lộ đời sống nội tâm, phơi bày ra những ý nghĩ thầm kín trong tâm hồn, nhà văn gửi gắm điểm nhìn, gửi gắm những tư tưởng, quan điểm của mình qua nhân vật Dần Nhân vật Dần tự kể

về cuộc đời của mình – đó là Dần mồ côi bố ngay từ khi đang còn nằm trong bụng mẹ Người mẹ góa còn rất trẻ của Dần không sống nổi trong cảnh nhà chồng ghét bỏ, hắt hủi, đã đành để Dần ở lại “đi bước nữa” Mẹ Dần được coi

là “đi theo trai”, bị khinh ghét và không được phép gặp Dần, không những thế lại bị cấm không được coi đó là con của mình…Dần đã mồ côi cha lại mất

mẹ, bắt đầu cuộc “sống nhờ” đầy tủi nhục Với cách trần thuật theo điểm nhìn bên trong, mở đầu câu chuyện nhân vật đã tự giới thiệu về lai lịch của mình:

“Tôi sinh vào giờ Dần Bà tôi lấy ngay cái giờ đó để đặt tên cho tôi Người bảo như thế cho tiện về sau, khi nào muốn lấy số tử vi hoặc có ốm đau xem bói cũng để dễ nhớ giờ Vừa mới lọt lòng mẹ, tôi đã là đứa trẻ mồ côi Mẹ tôi

có thai tôi được ngoài năm tháng thì cha tôi chết” [60, tr.284] Từ đó Dần tiếp tục kể về cuộc đời mồ côi của mình Dần phải sống trong sự ghẻ lạnh của người thân hai bên gia đình nội ngoại Dần mồ côi vào đúng cái tuổi em đang cần nhất những tình cảm yêu thương của mọi người Em không được cha dạy

dỗ, chở che, phải tự mình tự lập trước cuộc sống Không có mẹ chăm sóc, nâng niu, bênh vực, Dần trải nghiệm cuộc đời từ khi còn non nớt, trẻ dại

Trang 25

Những người yêu thương em lần lượt ra đi: cha mẹ, rồi đến cô Bà nội quá già yếu không còn uy lực với các chú nên Dần thường bị hành hạ Họ mắng nhiếc đánh đập nó ngay trong bữa ăn Những cái quát nạt, những ánh mắt hằn học

và cả sự ghẻ lạnh hắt hủi Tất cả làm cho Dần run sợ Mọi người trong gia đình không ai muốn chứa Dần: “Xem có nuôi được thì nuôi mà không thì để cho nó theo mẹ nó hay cho nó về bà ngoại nó” Tác giả để cho Dần kể về cuộc đời tủi nhục và thiếu tình thương cốt nhục Dần sống bên họ nhưng không một ngày no đủ hạnh phúc Dần như một món đồ bị đưa đẩy từ nơi này đến nơi khác, mỗi nơi nó đều bị khai thác, vắt kiệt nếu muốn có được bữa cơm ăn Dần còn bé bỏng quá không thể làm việc hiệu quả như tôi tớ nên những người trong gia đình đã nhận ra rằng Dần không phải là một công cụ tay sai trong nhà Chính vì thế Dần suốt ngày khăn gói đổi chủ Dần lại chuyển sang bên ngoại thì bà dì của Dần cũng tìm cách hành hạ cho khỏi bớt thiệt:

Quét nhà, quét sân đó là những công việc thường thường Tôi sợ nhất là những buổi xay thóc Dì tôi dao cho một thùng thóc đầy có ngọn Cái cối xay nặng quá, có khi cố hết sức mà cái cối vẫn không thể đi hết được một vòng Mỗi lần tôi chỉ đổ vào cối chỉ độ chừng một bát thóc mà cũng không kéo nổi Thỉnh thoảng chiếc tràng xay lại đập đánh bịch và ngực tôi (…) Trời nắng chang chang, dì tôi bắt tôi đóng một hố nấu, đội một cái nón rách đeo chiếc giỏ đan đằng sau lưng rồi theo dì tôi ra đồng Nước trong ruộng nóng đến rát cả chân Tôi vẫn cứ lõm bõm lội, lần theo những bờ con… [60, tr.356]

Và người dì ấy giải thích cho những công việc quá sức ấy bằng câu nói độc ác, không bằng người dưng: “ăn của người ta thì phải làm chứ Ai đầy tớ nhà mày Không làm thì đừng có nằm mà hốc Cút về nhà chú nhớn, chú bé nhà mày” [60, tr.357] Nhà văn còn gửi gắm cuộc đời bé thơ của mình quan nhân vật Dần, đó là những kỉ niệm đẹp của một đứa trẻ hiếu động ham chơi,

Trang 26

to mò mọi thứ xung quanh Dần cùng đám bạn rủ nhau đi khắp làng, chơi đủ trò, đi hái trộm quả từ trong các vườn rồi đi đánh bẫy chim…Đặc biệt em rất nhớ người mẹ của mình, dù ở đâu hay lúc nào nỗi nhớ và niềm khao khát được gặp mẹ luôn hiện hữu trong con người em Mạnh Phú Tư đã kể lại những lần hai mẹ con gặp nhau thật là cảm động, khiến độc giả cũng phải rơi

lệ khi đọc những dòng chữ ấy Ở cái tuổi bé thơ, em đã biết thương yêu mọi người, em thương hai bà sớm hôm mong cháu côi thành đạt để bớt khổ Dần

đã nghe lời bà thu xếp lên tỉnh xa để học may ra cứu vãn được cuộc đời bất hạnh của mình Em học yên ổn được một thời gian thì hai bà viết thư báo cho

em là không thể nuôi em ăn học được nữa vì quê nhà quá nghèo không kiếm đâu ra tiền nữa Những giọt nước mắt của Dần cuối tác phẩm đã cho người đọc thấy được cuộc đời của Dần không có gì sáng sủa hơn Từ cái nhìn bên trong nhà văn đã thể hiện một năng lực quan sát tinh tế, một vốn sống phong phú và sự hiểu biết tường tận cuộc sống của trẻ thơ mồ côi Những dòng độc thoại nội tâm của nhân vật vì thế được viết lên bằng chứng tâm hồn đồng điệu

và những tình cảm yêu thương con người của nhà văn Đây là yếu tố góp phần tạo nên giá trị của tiểu thuyết đúng như Thạch Lam từng nhận định: “nhà tiểu thuyết có tài là nhà văn đã diễn tả đúng và thấu đáo cái tâm lí uyển chuyển của con người”

loại tự truyện, kể theo ngôi thứ nhất – nhân vật tôi Nhân vật tôi kể lại cuộc đời thiếu niên sống tự lập nuôi thân Từ khi sống trong sự ghẻ lạnh của những người anh em họ hàng Dần rất tinh ý, có con mắt nhận xét rất tường tận, bao nhiêu những thói rởm đời, những tính đê hèn, tham lam, ích kỉ của chú thím

và dì cậu xung quanh Dần đã bất bình với người này người nọ nên chàng đã già nua trước tuổi Cuối cùng chàng đã từ giã những người thân đê hèn ấy lên

Hà Nội và các tỉnh xa để kiếm sống bằng nghề gõ đầu trẻ và các nghề khác

Trang 27

Với điểm nhìn bên trong Mạnh Phú Tư đã để cho nhân vật tự thuật lại cuộc đời khổ cực, vất vả bon chen Chính vì thế nhà văn Vũ Ngọc Phan đã nhận xét

một cách tinh tế về tiểu thuyết Một thiếu niên như sau:

Một thiếu niên là một truyện có thể dễ hay lắm, vì cảnh ngồi dạy

học hết nhà nọ đến nhà kia, gặp hết người bạn này đến người bạn khác cuộc đời của gã Gil Blan đi nếm cơm đủ các nhà, rồi đem truyện người nhà ra kể lại Nhưng Dần chỉ biết xét nhận tỉ mỉ khi ở nhà quê, đến khi ra thành thị, anh chàng hóa ra bỡ ngỡ nên nhìn đời bằng con mắt không được tinh tường cho lắm Hầu hết những nhân vật mà Dần

thuật lại trong Một thiếu niên đều mập mờ nông cạn, về tính tình hay

về hình dáng, không một lời nào của Dần có thể ghi lấy vài cái đặc điểm ở những nhân vật chàng đã sống hay đã gặp [37, tr.242]

Những người bạn Dần gặp và chơi chỉ là những người bạn qua đường,

an ủi chàng khi buồn tủi, khó khăn, hầu hết họ cũng là những người thất nghiệp, bế tắc dẫn đến sa ngã trong cuộc sống, khiến Dần cũng phải ghe sợ khi anh chứng kiến những cảnh ấy Để cuối cùng gần hết tác phẩm anh ta thốt lên những lời nói thấm thía của một kẻ trải nghiệm cuộc đời gian nan vất vả:

Chuyến này thì tôi nhất định trở về quê, sống như một người nhà quê một trăm phần trăm Tôi đã chán hết mọi cái rồi Không còn mường tưởng đến cái gì nữa, công danh không, sự nghiệp không! (…) sống một mình Một cái nhà tre, nuôi thêm một thằng nhỏ hay muốn cho đông thì nuôi thêm dăm ba con chó Lo gì chuyện ấy Lúc nào hào hứng thì bắt gà trong chuồng ra giết thịt, đánh chén Có say rượu không có vợ mà đánh thì vác gậy đánh thằng ở, đánh đàn chó… [37, tr.241-242]

Qua tác phẩm nhà văn đã phác thảo được bức tranh cuộc sống thành thị bởi những bát nháo, ngổn ngang những tệ nạn xã hội, khiến con người cũng

Trang 28

phải hùa theo để sống cho hết quãng đời còn lại Tác giả phản ánh lối sống sa ngã không giới hạn của tầng lớp thanh niên trí thức lúc bấy giờ

Như vậy, với điểm nhìn bên trong nhà văn đã xây dựng nhân vật Dần

mồ côi từ khi chưa lọt lòng mẹ cho đến khi em phải sống nhờ vào những

người họ hàng được thể hiện trong Sống nhờ, sau này phải sống tự lập trong Một thiếu niên Đó là một cuộc đời mồ côi buồn tủi bất hạnh và đáng thương

của nhân vật Dần

1.2 Các phương thức trần thuật trong văn xuôi Mạnh Phú Tư

Để sáng tác ra các tác phẩm văn học thì mỗi nhà văn cần phải có các phương thức trần thuật khác nhau Đối với tác phẩm tự sự thì phương thức kể chuyện hay còn gọi là phương thức trần thuật là rất quan trọng Phương thức trần thuật là khái niệm liên quan đến cách tổ chức, kể chuyện tác phẩm tự sự theo một mô hình nào đó Đó là sự bố trí ngôi kể, điểm nhìn của người kể chuyện Do đó, người trần thuật theo ngôi nào thì chịu giới hạn điểm nhìn,

quan sát Theo Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “hình tượng ước lệ về

người trần thuật trong tác phẩm văn học chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm (…) Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người

và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh” [12, tr.22] Như vậy, người kể chuyện là sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật, là công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện một tác phẩm văn học có nhiều sự kiện, nhiều tình tiết xung đột hấp dẫn, có giá trị nghệ thuật cao hay không là nhờ vai trò của người kể chuyện Mặt khác người kể chuyện còn có chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật Gorki khẳng định: “trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn, những con người được tác giả thể hiện đều hành

Trang 29

động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc hiểu rõ cần phải hiểu như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau những hành động của những nhân vật được miêu tả” [46, tr.204] Ngoài ra, người kể chuyện còn thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về cuộc sống, về nghệ thuật

Lý thuyết tự sự cho rằng có ba loại hình trần thuật Ứng với ba loại hình trần thuật là sáu hình thức trần thuật cơ bản sau: “trần thuật ngôi thứ ba

có ba dạng: kể chuyện khách quan thuần túy, kể kèm bình luận đánh giá và kể mang tính chất cảm thụ chủ quan Và trần thuật theo ngôi thứ nhất cũng có ba dạng: cách kể bàng quan đứng ngoài, cách kể có bình luận đánh giá và cách

kể mang màu sắc chủ quan” [40, tr.271]

Vì vậy xưng ngôi là tiêu chí để phân chia các phương thức trần thuật

1.2.1 Trần thuật theo ngôi thứ nhất và trần thuật theo ngôi thứ ba

* Trần thuật theo ngôi thứ nhất

Theo lý thuyết tự sự học thì ngôi kể chính là sự hiện thực hóa nhân vật Người kể chuyện với tư cách là các thành phần trực tiếp tham gia vào hệ thống hình tượng của tác phẩm tự sự Nói cách khác, ngôi kể chính là sự hóa thân của người kể chuyện vào từng nhân vật để trực tiếp tham gia vào câu chuyện Người kể chuyện sẽ chi phối các ngôi kể Khi người kể chuyện đứng

ở ngôi thứ nhất trực tiếp tham gia vào các sự kiện diễn biến câu chuyện chúng

ta có ngôi kể chủ quan hóa Tuy nhiên dù ở ngôi kể nào chúng cũng là ước lệ đại diện cho một cách nhìn, một tư tưởng nhất định có quan hệ mật thiết với hình tượng tác giả

Trong văn xuôi Mạnh Phú Tư có một số tiểu thuyết trần thuật theo ngôi thứ nhất với người kể chuyện xưng “tôi” Tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư vì thế mang tiểu thuyết tự truyện Các nhân vật trong tiểu thuyết trực tiếp kể chuyện

về mình Đặc biệt là hai tiểu thuyết Sống nhờ và Một thiếu niên Xuyên suốt

Trang 30

hai tác phẩm được kể theo ngôi thứ nhất – mang dáng dấp tác giả tự kể về

mình Trong Sống nhờ, người kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi”

Đó là những lời tự thuật của nhân vật Dần – một cậu bé đang còn rất nhỏ tuổi,

mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải sống nhờ vào anh em họ hàng Chưa sinh ra nhân vật tôi đã phải chịu cảnh mồ côi cha, rồi sau đó Dần lại rơi vào hoàn cảnh bất hạnh hơn nữa là mẹ đi lấy chồng Từ đây cuộc đời Dần đã chấm hết tình yêu thương của cha mẹ Dần phải đi ở nhờ cho những người thân để kiếm được miếng cơm manh áo Cái cảnh ở nhờ của Dần có lẽ còn khổ hơn những đứa đi

ở khác, ngoài làm việc nặng nhọc, em còn bị mắng mỏ, miệt thị, đánh đập thường xuyên Chính vì thế Dần càng nhớ và mong gặp mẹ, em càng ghét những người thân của mình Chỉ có bà nội ngoại thương Dần nhưng cũng không bù đắp hết được những ngày buồn tủi của em Khác với nhân vật tôi tự

kể về cuộc đời thơ ấu của mình trong truyện Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng và Cỏ dại của Tô Hoài Nhân vật tôi trong Những ngày thơ ấu còn có

cha, có mẹ hiểu được tình phụ tử, mẫu tử Nhân vật tôi là chú bé Hồng tự kể

về cuộc đời của mình với sự ghẻ lạnh của người cô và người bà, nhân vật tôi trở thành đứa bé bơ vơ Thông qua người kể chuyện xưng tôi – Dần, người đọc thấy được thế giới nội tâm đau đớn, buồn tủi, bất hạnh luôn ao ước tình thương của một đứa trẻ mồ côi Nhân vật tôi đã trở thành nạn nhân của lối sống tư hữu và các mối quan hệ trong gia đình Không những thế qua lời kể của Dần chúng ta còn nhận ra sự bi đát, bất hạnh của người phụ nữ góa bụa trong xã hội phong kiến Đó là mẹ của Dần, những tập tục hủ bại đã đẩy người phụ nữ công dung ngôn hạnh lâm vào hoàn cảnh đường cùng, cuối cùng phải chết trong bệnh tật và mỉa mai của mọi người Đồng thời nhà văn cũng cho người đọc thấy được bức tranh xã hội với những quan niệm lạc hậu phong kiến đã làm cho con người trở nên ích kỉ hẹp hòi, coi trọng tiền bạc, miếng ăn hơn là tình thương con người

Trang 31

Giống như Sống nhờ, người kể chuyện trong Một thiếu niên cũng kể ở

ngôi thứ nhất xưng “tôi”- Dần Anh kể về cuộc đời của mình khi từ giã những người thân không có tình thương lên Hà Nội và các tỉnh xa để sống Mới đầu anh tìm các mối dạy học trong các gia đình để kiếm tiền Công việc dạy học của anh cung không suôn sẻ, Dần gặp phải những gia đình không ra gì, họ keo kẹt, bớt xén tiền lương của anh từng xu một, có gia đình họ lại không trả tiền lương cho anh Với đồng tiền dạy học ít ỏi, không đủ nuôi thân Dần tỏ ra chán nản và sợ hãi trước cuộc sống đầy rẫy những bất công Dần chuyển sang nghề viết văn, anh viết nhiều bản thảo nhưng không có nhà xuất bản nào in cho anh Dần lại ra sức suy nghĩ, tập viết thật nhiều bài văn, bài báo để học hỏi kinh nghiệm của người cầm bút Đã thế các bạn của anh lại không đem đến một chút động lực gì cho anh, đa số họ sống không giới hạn và không có hoài bão Do vậy mà anh không ấn tượng với một người bạn nào hết, cũng là những người bạn chơi qua đường rồi vụt tắt

Nhìn chung hai tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư đều được kể theo ngôi thứ nhất xưng “tôi” Chỉ qua hai tiểu thuyết mà chúng ta thấy được phong cách viết của nhà văn Đó là một cách viết vừa lạnh lùng, những cũng rất nồng nàn đầy tính nhân văn sâu sắc Cái tôi kể chuyện trong tác phẩm Mạnh Phú Tư đều là sự hóa thân của nhân vật cô đơn, bất hạnh trong cuộc đời Để

đi sâu vào những trạng thái tâm lý phức tạp của con người, Mạnh Phú Tư chọn cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất xưng “tôi” Chỉ người kể chuyện với điểm nhìn bên trong mới có thể kể lại tất cả những trải nghiệm như nhân vật

Dần trong Một thiếu niên, những gì riêng tư nhất, những đau đớn khổ cực, yêu thương và thù hận như Dần trong Sống nhờ

Có thể nói tác giả sử dụng phương thức trần thuật theo ngôi thứ nhất

trong hai tiểu thuyết Sống nhờ và Một thiếu niên như ta đã phân tích ở trên thì

thấy rằng phương thức trần thuật ngôi thứ nhất xưng tôi gần như cuộc đời

Trang 32

Mạnh Phú Tư Nhà văn Mạnh Phú Tư sinh ra trong gia đình nông dân Mồ côi cha từ khi ông chưa lọt lòng mẹ Khi ông lên sáu tuổi thì mẹ đi bước nữa, gửi ông cho ông bà nuôi nhưng thực tế “sống nhờ” các ông chú và cậu Tuổi thơ của ông trải qua bao gian nan vất vả, sống trong cảnh đơn côi thiếu trong sự chăm sóc của cha mẹ Lớn lên ông cũng được cắp sách tới trường nhưng cuộc sống gia cảnh khó khăn, nhưng việc học cũng dang dở, thất nghiệp Ông phải

đi làm gia sư, tranh thủ viết báo, viết văn để kiếm sống Điều đó, cũng được

nhà văn thuật lại trong tiểu thuyết Một thiếu niên

* Trần thuật theo ngôi thứ ba

Theo lý thuyết tự sự học thì truyện kể ở ngôi thứ ba là: “truyện kể có người kể chuyện hàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật, hoặc truyện kể có người

kể chuyện hàm ẩn theo điểm nhìn của mình và người kể chuyện ngôi thứ ba hay người kể chuyện là nhân vật là người kể chuyện hàm ẩn” [46, tr.145] Mặt khác, theo G.Genette, người kể chuyện dị sự là người kể chuyện ở ngôi thứ ba Câu chuyện được kể lại bởi một người không phải là nhân vật trong truyện Người trần thuật nằm ngoài biến cố, sự kiện của câu chuyện mà được

nó kể lại, đây là kiểu trần thuật giấu mặt, không công khai, lộ diện, trần thuật theo điểm nhìn của tác giả hoặc nhân vật, tùy theo mức độ trần thuật Người

kể chuyện đứng đằng sau nhân vật để “bài trí, tổ chức, sắp xếp” lại câu chuyện Người kể chuyện dị sự đứng bên ngoài quan sát và kể lại câu chuyện nên khả năng bao quát mọi biến cố, mọi thời khắc trong câu chuyện là rất lớn Ngoài ra, người kể chuyện dị sự còn có khả năng nhập thân vào nhân vật để các nhân vật tự bộc lộ cảm xúc, tình cảm, thái độ, quan điểm…

Khi sử dụng cách kể ở ngôi thứ ba, tác giả nhằm nhấn mạnh khoảng cách giữ các nhân vật và người trần thuật Trần thuật ngôi thứ ba thường mang lại màu sắc khách quan cho tác phẩm (…) Kiểu trần thuật này giúp nhà văn có điều kiện quan sát một cách tỉnh tảo những gì xảy ra xung quanh mình

Trang 33

để có thể kể lại sự việc hoàn toàn khách quan Mặt hạn chế của phương thức trần thuật là sự việc chỉ được nhìn nhận một chiều theo cách nhìn bên trong Lối kể này trước đây rất phổ biến, người sử dụng nó đạt hiệu quả cao phải kể đến Nam Cao và Vũ Trọng Phụng Những bậc thầy truyện ngắn và tiểu thuyết này đã quan sát nhìn nhận cuộc sống bằng con mắt khách quan, lạnh lùng, phân tích mổ xẻ tất cả để rút ra những kết quả mang giá trị chân lí

Văn xuôi Mạnh Phú Tư đã phát huy thế mạnh của các dạng thức trần thuật ngôi thứ ba Hầu hết văn xuôi Mạnh Phú Tư đều trần thuật theo ngôi thứ

ba – người kể chuyện dị sự Trong cách kể chuyện đã có những “biến tấu” làm cho câu chuyện được kể một cách tự nhiên, khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật coi như bị rút ngắn, thậm chí xóa nhòa Nhà văn đã sử dụng linh hoạt hơn trong hình thức kể chuyện của mỗi tác phẩm

Làm lẽ là tiểu thuyết trần thuật theo ngôi thứ ba, đây là thành công nhất

của Mạnh Phú Tư khi viết về phụ nữ trong xã hội phong kiến Câu chuyện kể

về nhân vật Trác – cô gái thôn quê xinh đẹp, nết na hiền dịu, chăm chỉ cả việc nhà lẫn việc đồng áng, mà lại là người con gái rất hiếu thảo với mẹ Thế nhưng lại đi lấy chồng phải làm lẽ cho một ông Phán bốn mươi tuổi Sở dĩ lấy

lẽ cậu Phán đã có bảy tám đứa con vừa trai vừa gái, chỉ vì mẹ nàng tham muốn có chỗ vay mượn Lấy lẽ cậu Phán là do sự mối lái của bà Tuân – mẹ

mợ Phán, bà muốn cho con gái của bà bớt gánh nặng việc gia đình và mợ Phán đỡ phải nuôi con sen Trác làm việc như một cỗ máy, ngày hai buổi đi chợ, làm cơm, quét nhà, giặt giũ và ăn với thằng nhỏ Mợ Phán và các con của

mợ thi nhau hành hạ đánh đập nàng trong khi cậu Phán đi vắng, những lúc cậu Phán ở nhà cậu cũng thờ ơ vì sợ mợ Phán ghen ghét Một thời gian sau Trác có một đứa con trai do lén lút canh khuya của cậu Phán và nó cũng không có ý nghĩa gì đối với gia đình đó Nàng làm lẽ được sáu năm thì cậu Phán chết, nhưng nàng không thấy thương tâm lắm vì cậu Phán cũng chẳng

Trang 34

có cảm tình gì đối với nàng Trong Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan viết:

“Làm lẽ là tác phẩm đầu tay của Mạnh Phú Tư, tập tiểu thuyết được giải thưởng của Tự lực văn đoàn 1939 (…) Cái cảnh làm lẽ trong truyện Làm lẽ là

một cảnh tôi đòi – người ta mua một người vợ - để đỡ đần công việc – chứ không phải cái cảnh sung sướng, được kén chọn về một gia đình hiếm hoi để hòng sinh con trai nối dõi tông đường…” [52, tr.513]

Tiểu thuyết Nhạt tình cũng kể về số phận của người phụ nữ sống trong

cảnh chồng chung của mẹ con bà Sinh Đối lập với cuộc sống bị chà đạp khổ

sở mất tự do của mẹ con người vợ cả - bà Sinh thì ả cô đầu tên Nga làm vợ lẽ

đã xúi dục nịnh hót chồng – ông Sinh hành hạ mẹ con bà Sinh khiến họ có nhà mà không thể ở, phải đưa nhau về quê sống bên người bà ngoại đã già

yếu Trong Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX cho rằng: “Làm lẽ và Nhạt tình viết về cuộc sống tủi nhục nỗi đau nhân phẩm bị chà đạp của người

phụ nữ trong cảnh chồng chung khá phổ biến dưới chế độ phong kiến mà bà chúa thơ Nôm từng lên án “chém cha cái kiếp lấy chồng chung” [52, tr.513]

Ở đây nhà văn Mạnh Phú Tư đã cảm thông sâu sắc thân phận của người phụ

nữ mất tự do và phẩm giá, đồng thời ông cũng gay gắt lên án chế độ đa thê chà đạp lên cuộc sống hạnh phúc của lứa đôi

Trong tiểu thuyết Gây dựng, Mạnh Phú Tư cũng sử dụng ngôi thứ ba

để trần thuật lại câu chuyện của bà Cang toan tính trăm bề để dựng vợ gả chồng cho con trai, con gái Cuối cùng bà Cang cũng lo liệu chu tất được cho hai đứa con của bà Đoạn cuối tác phẩm nhà văn khái quát rất rõ điều đó với ngôi thứ ba:

Sự tin tưởng ở số kiếp như đã làm bà được yên tâm Bà thấy lòng bớt khó chịu và bà lại nghĩ thầm: - chẳng qua là số kiếp cả!

Thế là bà không còn bận lòng gì về Thanh nữa Bà bắt chéo hai tay, quéo sau lưng; rồi thủng thỉnh bước một bà điềm tĩnh mơ màng

Trang 35

đến cái đám cưới của con gái bà nay mai, bừa bộn nào bánh dầy, nào bánh chưng, nào chè, nào lợn quay…và rồi thiên hạ sẽ bao nhiêu người ca tụng cái tài gây dựng của bà Họ sẽ thì thầm bảo nhau:

- Thực là đảm đang có một! [60, tr.283]

Ở thể loại truyện ngắn Mạnh Phú Tư cũng rất thành công khi trần thuật

theo ngôi thứ ba Tập truyện ngắn Người vợ già, kể về một gia đình trung lưu

sống ở thành thị, chồng là ông Phán do người vợ và mẹ già nuôi ăn học mới

có chức quyền ấy Khi Trân – chồng của người vợ già đi làm kiếm tiền và người vợ chỉ ở nhà nội trợ và nuôi dạy con Ấy thế tưởng đâu gia đình êm ấm nhưng rõ khổ, người vợ suốt ngày bị chồng hành hạ đủ điều, từ cơm không ngon canh không ngọt đến cả việc nuôi dạy con gái nữa Người vợ dù cố gắng trong từng lời nói và cố gắng làm mọi việc tươm tất để mong sao vừa lòng của chồng Nhưng hỡi ơi cuộc sống vợ chồng không mặn nồng như bao vợ chồng khác Cuối tác phẩm tác giả trần thuật lại cuộc đánh vợ con tàn nhẫn để

hả lòng:

Trân rời đứa con, quay lại tát liền vợ một cái và quát:

- Đánh chết nó và đánh chết cả mày nữa cho thoát nợ!

Nói xong câu đó, chàng bỗng thấy lòng tháo cởi, người nhẹ nhàng, sung sướng Vì hình như đó là câu chàng vẫn rất kín tận đáy lòng và nay chàng mới có dịp buông thả Chàng yên lặng ngồi suy nghĩ: chàng mang máng thấy rằng có lẽ những tiếng trên đây, chàng đã dùng để thổ lộ hết cái ao ước tàn bạo, cái ích kỉ chua chát của lòng chàng hơn là để tỏ sự giận dữ trong chốc lát, vì không bằng lòng vợ

và con [60, tr.578]

Đến truyện ngắn Một kẻ thù, Mạnh Phú Tư cũng trần thuật theo ngôi

thứ ba, kể về cuộc sống thanh niên thời bấy giờ gồm Trung, Vân và cô Nhu

Trang 36

con gái bà Phán Kể về sự ghen ghét, đấu đá công kích lẫn nhau để yêu một người con gái vừa gầy vừa xấu Nhưng thật ra đó chỉ là làm cho thỏa lòng ghen ghét đố kị nhau mà thôi, chứ Trung không yêu Nhu thật lòng Trung dành được tình cảm của Nhu, làm cho Nhu phải bỏ Vân là do chàng đố kị với Vân – một kẻ thù Nhưng cuối tác phẩm chàng cảm thấy hối hận đối với hành động của mình: “Trung thu sắp quần áo ra về Hai mẹ con bà Phán đều có vẻ buồn bực Nhu buồn nhiều Vì đã phải xa cách tình nhân và buồn hơn nữa là thấy tình nhân vẫn thản nhiên trước sự chia rẽ nàng vẫn chưa hiểu Còn Trung, khi đặt chân lên xe để ra ô tô, lòng bình thản, không hề nhớ tiếc mẹ con bà Phán Mối ác cảm anh có ngay từ khi mẹ con bà Phán mới đến ở trọ nay lại trở lại trong lòng anh” [60, tr.588] Ra đi chàng cảm thấy thương và nhớ tới người bạn cùng ở trọ, còn để lại trong óc anh một kỉ niệm không bao giờ quên chính là Vân một kẻ thù của anh

Trong tác phẩm Những cơn gió heo may thì từ đầu truyện đến cuối

truyện tác giả hầu như kể chuyện ở ngôi thứ ba Kể về Hồ là một chàng thanh niên ra Hà Nội kiếm sống và thấy chán cảnh đô thị hạ thành, nên chàng quyết định trở về quê nhà sống một mình trong căn nhà tre với một thằng nhỏ và một con chó Kiki Cuộc sống ở đây rất trong lành, có vẻ rất hợp với chàng vì chàng không phải sống cuộc sống bon chen nữa Những cơn gió heo may đến khiến cảnh vật nơi thôn giã buồn tiu ngỉu, lá vàng cứ thế rụng nhiều làm chàng trở nên buồn bã, chán cảnh sống nơi đây, lòng chàng cứ thế se lại, nhớ

về những hoài niệm đã xa: “chàng thấy băn khoăn nhớ tiếc và bỗng chàng thấy ở nơi thôn giã này chàng đã tự đầy mình Cái cô quạnh đã lọt vào lòng chàng” Những cái lá vàng rơi làm chàng thấy buồn và buồn hơn cả cái màu tang tóc nữa Tự nhiên chàng thấy khó chịu với mọi thứ và trở nên cáu gắt

và vũ phu với thằng nhỏ và con chó Cuối cùng chàng không thể chịu được cái cảnh buồn heo hắt ấy Chàng quyết định ra đi để tìm niềm vui: “gió heo

Trang 37

may vẫn còn thổi Nhưng Hồ khoan thai đặt bước ngẩng mặt đón những cơn gió heo may ấy Chàng không còn e sợ trước những xào xạc của chúng nữa” [60, tr.640]

Các tác phẩm khác như Một kẻ thù, Yêu thầm, Lọ thuốc độc, Đội ban truyền, Cô em út, Người mẹ, Anh hồi sinh là những truyện ngắn được kể theo

ngôi thứ ba

Tóm lại với phương thức trần thuật theo ngôi thứ ba, Mạnh Phú Tư đã khái quát hết được bức tranh cuộc sống của người thôn quê qua các tiểu thuyết tâm lí và các truyện ngắn của ông Đồng thời, ông đi sâu vào số phận con người trong quan hệ gia đình bị chi phối bởi những tập tục, những thành kiến hủ bại Mạnh Phú Tư phản ánh sự thật ấy trên tinh thần phê phán sâu sắc

và lòng nhân đạo nồng nàn

1.2.2 Sự đan xen các dạng thức trần thuật

Văn xuôi Mạnh Phú Tư không chỉ sử dụng hai dạng thức trần thuật trên

mà ông còn sử dụng đan xen các dạng thức trần thuật Đó là ông phối hợp đồng thời các cách kể chuyện để tác phẩm của ông thêm phần hấp dẫn và có giá trị cao Ở một số tác phẩm nhà văn phối hợp sử dụng hình thức ngôi thứ

ba của người kể chuyện biết tuốt và hình thức trần thuật xưng tôi chủ quan Dạng trần thuật này minh chứng cho sự đổi mới nghệ thuật truyện ngắn từ đơn đến đa thanh, một trong những thành tựu đáng ghi nhận của nhà văn Kể chuyện ở hình thức đan xen này vừa đảm bảo tính khách quan của câu chuyện, người kể chuyện toàn năng kể lại vừa có thể đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật Bên cạnh đó hình thức trần thuật đan xen này bổ sung cho hai dạng trần thuật trên

Trong truyện ngắn Quyến rũ Mạnh Phú Tư đan xen giữa hình thức kể

chuyện ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất xưng tôi Đó là nhân vật xưng tôi kể về một nhân vật khác là Giang: “Giang, một vai chính trong câu chuyện tôi sắp

Trang 38

kể, đi nghỉ mát… Chàng là một học sinh ban Tú tài trường Bảo hộ Mọi năm khác, nghỉ hè chàng chỉ về ở nhà quê với ông chú Hoặc đi Tam Đảo chừng nửa tháng Thường thường thì chàng nằm bẹp ở Hà Nội với bà mẹ để giúp mẹ trong việc buôn bán” [60, tr.589] Nhân vật tôi kể về Giang đang đi học, nhưng đến mùa hè lại đi nghỉ mát ở Đồ Sơn Chàng có thân hình đẹp, nước da trắng hồng, nụ cười tươi Chàng thường xuyên tập thể dục nên có cái bụng thon và bắp thịt ở cánh tay xinh tròn Hai mắt của chàng đẹp, trong sáng…Tất

cả những điều đó khiến chàng có một vẻ xinh trai rất dễ gây cảm tình với những người xung quanh chàng Chính vì thế chàng bị một ả giang hồ quyến

rũ Lúc đầu chàng không hề để ý đến cô ta, nhưng cô ta tìm mọi cách để quyến rũ chàng Lúc đầu cô ta cất lên những bài thơ tình tứ nói về tình yêu để Giang để ý đến tiếng nói của ả, sau đó là những ngày dài trời mưa ngồi cạnh Giang đánh bài: nào là liếc mắt đưa tình, nói những giọng ngọt ngào, đánh bài giúp Giang thắng cuộc… Bằng những âm mưu và hành động ấy, Giang đã mắc bẫy của cô ta và đã yêu say đắm Như vậy, nhân vật tôi đứng ngoài để kể câu chuyện một cách tường tận và khách quan

Bên cạnh đó, hầu hết các tác phẩm nhà văn sử dụng đan xen giữa lời kể chuyện của nhà văn và lời nói của nhân vật Đây cũng là hình thức đan xen trong cách kể chuyện của Mạnh Phú Tư

Trang 39

CHƯƠNG 2 KẾT CẤU TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI MẠNH PHÚ TƯ

Một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là những chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận Tất cả những yếu tố,

bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định gọi là kết cấu Nói cách khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động, phức tạp của tác phẩm văn học Kết cấu là yếu tố tất yếu của mọi tác phẩm Nếu khái niệm cốt truyện nhằm chỉ sự liên kết những sự kiện, hành động, biến cố trong tác phẩm tự sự

và kịch thì kết cấu là một khái niệm rộng hơn nhiều Kết cấu có nhiệm vụ góp phần thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm Trong lao động sáng tạo văn học, có thể coi chủ đề tư tưởng là mục tiêu nhằm hướng tới của nhà văn trong quá trình phát hiện và xây dựng kết cấu Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá kết cấu một tác phẩm chính là hiệu quả diễn đạt nội dung của nó Mặt khác, kết cấu có nhiệm vụ tổ chức hệ thống các tính cách nhân vật, sự kiện, các biến cố, hình ảnh, cảm xúc làm cho những yếu tố đó gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại ngay từ bên trong tác phẩm, làm cho nó trở thành một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn không thể chia cắt được

Như vậy, kết cấu của tác phẩm bao giờ cũng tăng cường sức mạnh nghệ thuật của tác phẩm văn học, tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc Phân tích kết cấu tác phẩm, người đọc có thể so sánh nó với các hình thức, thủ pháp kết cấu chung nhưng điều quan trọng là phải xuất phát từ bản thân tác phẩm và xem

nó có thể hiện tốt nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm hay không Kết cấu

chính là sự tổ chức các nhân tố nghệ thuật đã được xác định vào bố cục văn bản cụ thể

Trang 40

Kết cấu nghệ thuật trần thuật trong văn học truyền thống thường là cách

tổ chức các yếu tố nghệ thuật có trong tác phẩm theo trình tự trước sau của quy luật thời gian Tất cả các sự kiện đều diễn biến dưới sự chi phối tuyệt đối bởi quy luật tuyến tính của thời gian Sự kiện nào diễn ra trước sẽ được trình bày trước, sự kiện nào diễn ra sau thì nhất thiết phải trình bày sau Khi nghiên cứu về vấn đề này, Hoàng Dũng khẳng định: “Một đặc điểm nổi bật khác của văn chương tự sự truyền thống, là kể chuyện theo thời gian một chiều Ðây là quy tắc thép, không có lấy một ngoại lệ, trong văn chương dân gian và cả trong văn chương bác học”

Còn trong văn học hiện đại thì kết cấu trần thuật thường là kết cấu đảo trật tự thời gian Mọi trình tự thời gian bị đảo lộn, bị đồng hiện, đan xen, thâm nhập lẫn nhau… để phục vụ diễn biến của quy luật tâm lý và dụng ý nghệ thuật của nhà văn Đây là một nét đột phá trong thi pháp văn xuôi hiện đại, ưu thế đầu tiên của phương thức kết cấu này là giúp nhà văn có thể linh hoạt trong quá trình diễn tả tất cả các yếu tố nghệ thuật ở mọi thời điểm khác nhau Tính giới hạn của thời gian bị phá bỏ, cùng một lúc có thể biểu đạt một cách

tự nhiên các sự kiện đã diễn ra trong một quá khứ rất xa xôi hay những dự định ở tương lai sẽ đến Bằng phương thức này, các phạm trù thời gian, không gian trong tác phẩm không còn là các yếu tố có tính độc lập tương đối nữa mà

nó dần biến chuyển thành một yếu tố mới có sự quyện hòa vi diệu và dần trở thành một thành tố mới phức tạp hơn mà giới chuyên môn gọi là “không thời gian” Các nhà văn cũng thường sử dụng kết cấu tâm lí Ðây là hình thức kết cấu dựa theo qui luật phát triển tâm lí của các nhân vật trong tác phẩm Loại kết cấu này xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các trào lưu văn học khẳng định vai trò của cá nhân trong xã hội Kết cấu này thường dựa vào trạng thái tâm lí có ý nghĩa nào đó để sắp xếp các sự kiện, nhân vật, cốt truyện Trong

Sống mòn, Nam Cao đã sắp xếp nhiều mẫu chuyện vặt vãnh, quẩn quanh

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Thái Phan Vàng Anh (2010), “Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Khoa học, Đại hoc Huế, số 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
[2] Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
[3] Lê Tuấn Anh (2011), Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Luận văn Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Đà Nẵng – Trường Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Lê Tuấn Anh
Năm: 2011
[4] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[5] Phạm Đình Ân – Thủy Liên (tuyển chọn, 2000), Tuyển tập Phan Cự Đệ, tập 2, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
[6] Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại”, Tạp chí văn hóa, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại”, "Tạp chí văn hóa
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[7] Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 – Những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 – Những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[8] Đỗ Hữu Châu (2007), Giáo trình ngữ dụng học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
[9] Đặng Anh Đào (2004), Sự phát triển của nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng chú ý, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng chú ý
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
[10] Phan Cự Đệ (chủ biên), (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[11] Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
[12] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[13] Nguyễn Thị Hằng (2010), Nghệ thuật trần thuật trong tập truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trần thuật trong tập truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2010
[14] Hoàng Ngọc Hiến (2004), Kể lại nội dung và viết lại nội dung, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể lại nội dung và viết lại nội dung
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
[15] Nguyễn Văn Hiến (2006), Một vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Văn Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[16] Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), (1984), Từ điển văn học, tâp 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984
[17] Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), (2001), Từ điển văn học, bộ mới, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2001
[18] Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
[19] Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[21] I.U.M.Lotman (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: I.U.M.Lotman
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w