Vai trò của hoạt động kể chuyện sáng tạo đối với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .... Thực trạng nhận thức của giáo viên về phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - MẦM NON
Đă Nẵng, Thâng 05 năm 2014
Trang 3Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết cho phép em được gửi lời cám ơn chân thành nhất đến quý thầy cô giáo trong khoa GD Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ, dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận Em xin cám ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể các cô giáo trường Mầm non 20.10,19.5, Tuổi Thơ và Hoa Phượng Đỏ đã nhiệt tình, tạo mọi điều kiện để giúp đỡ
để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Thị Diệu
Hà – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên em trong suốt thời gian vừa qua
Do bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học nên mặc dù bản thân
em đã có nhiều cố gắng song khóa luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu từ quý thầy cô và các bạn để khóa luận có thể được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Vũ Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 6
1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 8
2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 9
2.1 Một số vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ 9
2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 9
2.1.2 Các bộ phận của ngôn ngữ 10
2.1.3 Chức năng của ngôn ngữ 10
2.1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói 12
2.1.5 Tư duy và ngôn ngữ 14
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 – 6 tuổi 15
2.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ mạch lạc 15
2.2.2 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 19
2.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 – 6 tuổi 22
Trang 52.2.4 Vai trò của việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi 23
2.3 Hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non 30
2.3.1 Khái niệm kể chuyện 30
2.3.2 Khái niệm sáng tạo 31
2.3.3 Khái niệm kể chuyện sáng tạo 32
2.3.4 Bản chất của chuyện kể sáng tạo 33
2.3.5 Đặc điểm kể chuyện sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 34
2.3.6 Các hình thức dạy trẻ kể chuyện sáng tạo 34
2.4 Vai trò của hoạt động kể chuyện sáng tạo đối với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 36
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 39
1 Mục đích điều tra 39
2 Nội dung điều tra 39
3 Đối tượng điều tra 39
4 Phương pháp tiến hành 39
5 Thời gian điều tra: 10/02/2014 đến 21/03/2014 41
6 Tiêu chí và thang đánh giá 41
7 Kết quả khảo sát 43
7.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo 43
7.2 Thực trạng giáo viên sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo 48
7.3 Thực trạng mức độ biểu hiện khả năng ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo 49
Kết luận chương 2 53
Trang 6CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ MẠCH LẠC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN
SÁNG TẠO VÀ THỰC NGHIỆM 55
1 Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi 55
1.1 Khái niệm biện pháp 55
1.2 Cơ sở xây dựng biện pháp dạy trẻ 5 - 6 tuổi kể chuyện sáng tạo nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 55
1.2.1 Dựa vào mục tiêu giáo dục trí tuệ cho trẻ 5 – 6 tuổi 55
1.2.2 Dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi 56
1.2.3 Căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục mầm non 57
1.3 Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo 58
1.3.1 Biện pháp 1: Kể chuyện theo dàn ý 58
1.3.2 Biện pháp 2: Kể chuyện tiếp nối theo chuyện kể của cô 60
1.3.3 Biện pháp 3: Trẻ cùng nhau sáng tác tập thể một câu chuyện 62
1.3.4 Biện pháp: Kể sáng tạo truyện cổ tích 64
2 Thực nghiệm sư phạm 68
2.1 Khái quát quá trình thực nghiệm 68
2.1.1 Mục đích thực nghiệm 68
2.1.2 Nội dung thực nghiệm 68
2.1.3 Phạm vi thực nghiệm 68
2.1.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 70
2.1.5 Tiến hành thực nghiệm 71
2.1.6 Kết quả thực nghiệm 72
Tổng kết chương 3 79
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 81
1 KẾT LUẬN 81
1.1 Về lý luận 81
1.2 Về thực tiễn 81
Trang 72 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 82
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 82
2.2 Đối với cán bộ quản lí giáo dục mầm non 82
2.3 Đối với giáo viên và các trường mầm non 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 81 Lý do chọn đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của con người Theo quan điểm của triết học Mác – Lê nin thì ngôn ngữ được xem là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý và tư duy của con người trong xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ không thể thiếu để trao đổi thông tin giữa con người với nhau, là phương tiện để con người thể hiện tình cảm, thái
độ với thiên nhiên, với mọi người, với các mối quan hệ xã hội Không trao đổi bằng ngôn ngữ con người không thể tổ chức được hoạt động cần thiết để tạo ra của cải vật chất Không có ngôn ngữ không thể có sản xuất xã hội và tức là xã hội không thể tồn tại được
Đối với trẻ em, nhất là trẻ mầm non, ngôn ngữ có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển cơ sở ban đầu của nhân cách E.I.Chikhiêva, nhà giáo dục Nga nổi tiếng xem xét công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ yếu của hoạt động trong trường mẫu giáo, là tiền đề cho mọi sự thành công
khác E.I.Chikhiêva khẳng định: "Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, là chìa khóa
để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng văn hóa của dân tộc, của nhân loại Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải bắt đầu từ rất sớm, từ khi các cháu chưa cắp sách đến trường" [10, tr.49].Như vậy, việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ phải được tiến hành từ khi trẻ bước vào trường mầm non
Trong chương trình chăm sóc giáo dục mầm non hiện nay, nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ bao gồm: dạy trẻ phát âm chuẩn, đúng chính âm; phát triển vốn từ cho trẻ; dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Trong đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Trẻ em có thể giao tiếp bằng từ, bằng câu nhưng chỉ nhờ có ngôn ngữ mạch lạc trẻ em mới có thể giao tiếp một cách có kết quả, có hiệu quả cao nhất Ngôn ngữ mạch lạc giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với mọi người xung quanh, phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy lôgic, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ
Trang 9tham gia vào hoạt động vui chơi, học tập và chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông Như vậy, có thể nói, ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện vạn năng để đứa trẻ thể hiện suy nghĩ của mình một cách đầy đủ, toàn vẹn và có hiệu quả nhất khi giao tiếp
Giai đoạn trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là giai đoạn bản lề để chuẩn bị cho trẻ tới trường tiểu học, là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời trẻ Trước ngưỡng cửa bước ngoặt đó, trẻ cần phải được chuẩn bị chu đáo và toàn diện để đảm bảo cho sự "chín muồi" khi đến trường, sự chuẩn bị về ngôn ngữ mạch lạc càng trở nên cấp thiết Để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở trường mầm non, giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp, nhiều hình thức khác nhau, trong đó hình thức kể chuyện đặc biệt là kể chuyện sáng tạo là một hình thức thích hợp cho việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển lời nói cho trẻ Thông qua hoạt động này, trẻ học cách sử dụng trí tưởng tượng của mình, sáng tạo thành một câu chuyện, truyền đạt nó một cách mạch lạc Kể chuyện sáng tạo hình thành ở trẻ kỹ năng bày tỏ thứ tự, rõ ràng, logic, trôi chảy
ý nghĩ của mình Như vậy dạy trẻ kể chuyện sáng tạo là một trong những hoạt động góp phần thực hiện mục tiêu phát triển ngôn ngữ mạch lạc có hiệu quả nhất
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, nhất là trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, trong những năm vừa qua, các trường mầm non trên cả nước nói chung và các trường mầm non trên địa bàn quận Hải Châu – thành phố Đà Nẵng nói riêng đã đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Tuy nhiên, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo mặc dù được tiến hành thường xuyên nhưng việc tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn Theo như quan sát, khi tham gia vào hoạt động kể chuyện sáng tạo, trẻ chưa thực sự phát huy được tính sáng tạo, chủ động của mình, trẻ có kể được chuyện nhưng chưa thực sự sáng
Trang 10tạo, sự diễn đạt của trẻ cũng chưa được lưu loát, mạch lạc Đó là do giáo viên chưa có nhiều biện pháp phong phú, đa dạng nhằm thu hút, kích thích trẻ tham gia tích cực vào hoạt động kể chuyện sáng tạo
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo" để nghiên cứu tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp hữu hiệu nhằm thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách có hiệu quả nhất
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo
- Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo
- Trên cơ sở đó xây dựng một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi kể chuyện sáng tạo nhằm phát triển ngôn ngữ mach lạc cho trẻ
3 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo ở một số trường mầm non thành phố Đà Nẵng
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
Trang 115 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên lựa chọn và sử dụng một số biện pháp hợp lý khi tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thì sẽ góp phần phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
6.2 Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo
6.3 Xây dựng một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi kể chuyện sáng tạo nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ và thực nghiệm sư phạm
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể hóa lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Dự giờ quan sát cách tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo của giáo viên cho trẻ 5-6 tuổi nhằm đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với giáo viên tìm hiểu về những thuận lợi và khó khăn trong việc
tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi
ở một số trường mầm non của thành phố Đà Nẵng về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trang 12Dự giờ, trao đổi trực tiếp với giáo viên tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm được tiến hành nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả của các tác động sư phạm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi
7.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức toán học để xử lý số liệu
8 Cấu trúc khóa luận
Phần mở đầu: bao gồm
- Lý do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Giả thuyết khoa học
- Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
+ Chương 3: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo và thực nghiệm
Phần kết luận và kiến nghị sư phạm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về ngôn ngữ :
Đầu tiên phải kể đến hướng nghiên cứu về vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình phát triển và giáo dục trẻ Đây là hướng nghiên cứu nổi bật nhất xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng: D B Encônhin,
L X Vưgốtxki, V X Mukhina, K D Usinxki, A Xôkhin quan tâm chú ý nghiên cứu tìm hiểu Vai trò của ngôn ngữ được các tác giả khẳng định là công cụ nhận thức thế giới, là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất và là “ cơ sở của
mọi sự phát triển tư duy, trí tuệ Theo X Vưgốtxki: “khi trẻ em gặp phải những
khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của người lớn và của bạn
bè có năng lực cao hơn, những người này đã giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này những quá trình tư duy trong một xã hội nhất định được truyền giao sang trẻ, mà ở đó ngôn ngữ là phương thức đầu tiên trao đổi các giá trị xã hội”, Vưgôtxki coi ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự
phát triển tư duy của trẻ
Trang 14Trên cơ sở khẳng định vai trò của ngôn ngữ đối sự phát triển của trẻ em, xu hướng thứ hai nghiên cứu đặc điểm sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 0 – 6 tuổi (tiêu biểu là V I Iadenco, E I Tikhêêva, P A.Xokhin, K Hainodich) Các tác giả
đã phân chia quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em thành các giai đoạn: 0 – 12 tháng, 12 – 36 tháng, 36 – 72 tháng Với mỗi giai đoạn, các tác giả đã nghiên cứu từng nội dung cụ thể của nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ ở trẻ: đặc điểm phát triển vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Đặc biệt, những kết quả nghiên cứu gần đây của nhà khoa học Phùng Đức Toàn và nhóm cộng sự của ông ở Trung Quốc đã cho thấy: Ngay từ trong bào thai, trẻ đã có khả năng nghe và phân biệt được âm thanh ở bên ngoài và có phản ứng với cường độ âm thanh khác nhau Do đó, các nhà khoa học cho rằng: Việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ cho trẻ có thể được tiến hành ngay khi trẻ còn trong bào thai
Hướng nghiên cứu thứ ba là về phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thể hiện qua các công trình nghiên cứu của các tác giả:
Tác giả E.I Tikheeva đã đề ra các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu về thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ thông qua các hoạt động chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe, để hình thành và phát triển kỹ năng kể chuyện cho trẻ Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với khoa học giáo dục mầm non
Tác giả Ph A Sôkhin và các cộng sự trong tác phẩm "Sự phát triển ngôn
ngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo"cho rằng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện: Kể lại
tác phẩm văn học, kể chuyện theo tranh, theo đồ chơi, theo kinh nghiệm, kể chuyện sáng tạo có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu ngôn ngữ trong mối liên hệ với các đặc điểm tâm, sinh lý, môi trường sống, hầu hết các tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của ngôn ngữ văn học trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, nhận thức và là
Trang 15phương tiện quan trọng trong quá trình đứa trẻ giao tiếp Từ đó, đưa ra các phương pháp, biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Những kết quả trên là cơ sở rất quan trọng đối với các nhà giáo dục học mầm non trong việc nghiên cứu, xây dựng mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp và biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Trên cơ sở kế thừa các quan điểm nghiên cứu về ngôn ngữ của các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới, từ những năm 80 của thế kỷ trước, chúng
ta đã có những cuốn giáo trình đầu tiên về PTNNTE được sử dụng trong các trường đào tạo giáo viên mầm non: Tập thể tác giả Lương Kim Nga, Phùng
Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Khoa với cuốn Tiếng việt, văn học và phương pháp
giáo dục (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1988); Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh,
Hồ Lam Hồng với giáo trình Tiếng việt và phương pháp phát triển lời nói cho
trẻ em (Trung tâm nghiên cứu Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, Hà Nội, 1993);
Nguyễn Xuân Khoa với tác phẩm Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 – có thể coi đây là cuốn giáo trình
đại học đầu tiên ở nước ta thuộc lĩnh vực này); Hà Nguyễn Kim Giang với các
tác phẩm: Kể sáng tạo truyện cổ tích cho trẻ mẫu giáo (NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1999) Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học – một số vấn đề lí luận
và thực tiễn (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002),
Ngày nay, ngày càng có nhiều người nghiên cứu về phát triển lời nói cho
trẻ em Bùi Kim Tuyến với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Xây dựng nội
dung, biện pháp phát triển hoạt động ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (Mã số B 98-
49-59) Một số luận văn, luận án về PTNN ở trường mầm non: các luận án tiến
sĩ: Lưu Thị Lan – “Những bước phát triển của ngôn ngữ trẻ mẫu giáo”; Hà Nguyễn Kim Giang – “Phương pháp kể sáng tạo truyện cổ tích thần kì cho trẻ
mẫu giáo”; Nguyễn Thị Oanh – “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn”; Hồ Lam Hồng – “Những đặc điểm tâm lí trong hoạt
Trang 16động kể chuyện của trẻ mẫu giáo”; Trương Thị Kim Oanh – “Một số biện pháp
tổ chức, hướng dẫn chơi giúp trẻ dân tộc thiểu số nói tiếng Việt”; Võ Phan Thu
Hương – “Biện pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi nói đúng ngữ pháp”; Phan Thị Lan Anh –
“Sử dụng trò chơi để phát triển khả năng tiền đọc – viết cho trẻ mầm non”,… Một số luận văn thạc sĩ: Đỗ Thị Xuyến – “Một số biện pháp nâng cao mức độ
hiểu từ của trẻ 5 – 6 tuổi” (1998); Lê Thị Xoa – “ Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động làm quen với thiên nhiên” (1998), Huỳnh Ái Hồng – “Một số biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo chủ
đề nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại thành phố
Hồ Chí Minh” (1997); Ân Thị Hảo – “Một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện văn học nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc” (2003); Nguyễn Lê Thương –
“Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi hiểu nghĩa từ trong tác phẩm văn
học” (2004)… Nhiều khóa luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Giáo dục Mầm
non trường ĐHSP Hà Nội cũng là kết quả của nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em và các phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đề cập, đi sâu đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ở các khía cạnh khác nhau, rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, nghiên cứu lĩnh vực phát triển ngôn ngữ mạch lạc thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo vẫn chưa nhiều
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động
kể chuyện sáng tạo” để nghiên cứu, tôi mong muốn công trình nghiên cứu này
sẽ góp phần tìm ra những biện pháp mang lại hiêu quả cao nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo
2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
2.1 Một số vấn đề lý luận chung về ngôn ngữ
2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau:
Trang 17Dưới góc độ ngôn ngữ học: Ngôn ngữ là hệ thộng tín hiệu đặc biệt có
phạm vi sử dụng vô cùng to lớn và có những đặc trưng riêng Ngôn ngữ là công
cụ để biểu hiện, để tích lũy và mở rộng các khái niệm tư duy, nhận thức và là phương tiện để hình thành ý thức của con người Cho nên ngôn ngữ phục vụ cho mục đích bình thường hằng ngày và cả những mục đích cao cả của cuộc sống
Dưới góc độ tâm lý học: Ngôn ngữ là một quá trình tâm lý: Ngôn ngữ là
quá trình con người sử dụng thực tiễn tiếng nói để giao tiếp với người khác Trong quá trình giao tiếp con người biểu hiện ý nghĩ và cảm xúc nhờ tiếng nói,
do đó hiểu nhau để cùng nhau tiến hành hoạt động
Dưới góc độ sinh lý học: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự
hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não cho nên việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh nói chung
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ là hệ thống các âm thanh, các
từ ngữ và các quy tắc kết hợp chúng, làm phương tiện giao tiếp chung cho một cộng đồng Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất [5, tr.67]
Tóm lại, nói một cách chung nhất, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ
ngữ được con người lập nên do nhu cầu giao tiếp và nhận thức hiện thực
2.1.2 Các bộ phận của ngôn ngữ
Ngôn ngữ gồm 3 bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, tức là hệ thống các quy tắc qui định sự ghép thành câu Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình
vị, từ, câu , ngữ đoạn, văn bản Đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ là âm vị, một hình vị có các âm vị, một từ có thể có nhiều hình vị
2.1.3 Chức năng của ngôn ngữ
Ngôn ngữ có ba chức năng
Chức năng chỉ nghĩa
Ngôn ngữ được dùng để chỉ chính sự vật, hiện tượng tức là làm vật thay thế chúng Nói cách khác, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng có thể tồn tại khách quan, làm cho con người có thể nhận thức được ngay cả khi chúng không
Trang 18có trước mặt, tức là ở ngoài phạm vi của nhận thức cảm tính Các kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người cũng được cố định lại, tồn tại và truyền đạt lại cho các thế hệ sau là nhờ ngôn ngữ Chính vì vậy chức năng chỉ nghĩa của ngôn ngữ còn được gọi là chức năng làm phương tiện tồn tại, truyền đạt và nắm vững kinh nghiệm xã hội - lịch sử loài người Những điều nói trên cho thấy ngôn ngữ của con người khác hẳn tiếng kêu của con vật và về bản chất, con vật không có ngôn ngữ
Chức năng thông báo
Chức năng thông báo còn gọi là chức năng giao tiếp Nhờ có ngôn ngữ con người có thể thông báo cho nhau, giao tiếp với nhau Nhờ có chức năng này
mà con người biết được họ cần xử sự, hành động như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trường hoặc quan hệ xã hội Thông qua nội dung nhip điệu của ngôn ngữ, con người có thể biểu đạt hoặc tiếp nhận những trạng thái cảm xúc tình cảm cá nhân Tuy nhiên khả năng biểu cảm của ngôn ngữ rất đa dạng, phong phú và phức tạp Cùng một nội dung, nhưng với nhịp điệu và âm điệu diễn tả khác nhau người ta có thể biểu đạt những tình cảm cảm xúc khác nhau
Do đó khi đánh giá chức năng thông báo của ngôn ngữ chúng ta cần chú ý đến tính biểu cảm của ngôn ngữ Vì nó có thể điều chỉnh mạnh mẽ hành vi của con người
Chức năng khái quát hoá
Ngôn ngữ không chỉ một sự vật, hiện tượng riêng rẽ, mà chỉ một lớp, một loại các sự vật, hiện tượng có chung thuộc tính bản chất, chính nhờ vậy, nó
là một phương tiện đắc lực của hoạt động trí tuệ (tri giác, tưởng tượng,trí nhớ, tư duy )
Hoạt động trí tuệ bao giờ cũng có tính chất khái quát, và không thể tự diễn
ra, mà phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ Ở đây ngôn ngữ vừa là công cụ tồn tại của hoạt động trí tuệ, vừa là công cụ để cố định lại các kết quả của hoạt động này, do đó hoạt động trí tuệ có chỗ dựa tin cậy để tiếp tục phát triển, không bị lặp lại và không bị đứt đoạn Chức năng khái quát hoá của ngôn
Trang 19ngữ còn được gọi là chức năng nhận thức hay chức năg làm công cụ hoạt động trí tuệ
Trong ba chức năng của ngôn ngữ, chức năng thông báo là chức năng cơ bản nhất, chi phối các chức năng khác Bởi lẽ, chỉ có trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, con người mới đồng thời phát ra và thu nhận thông tin, qua đó thu nhận được tri thức về hiện thực khách quan Khi thu nhận được các tri thức
về hiện thực khách quan, con người mới có cơ sở từ đó hình thành động cơ, tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục đích thỏa mãn nhu cầu mong đợi Thực chất chức năng khái quát là một quá trình giao tiếp, ở đây là giao tiếp với chính mình Còn chức năng chỉ nghĩa là điều kiện để thực hiện hai chức năng còn lại
2.1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
2.1.4.1 Hoạt động lời nói
Lời nói không chỉ là phần âm thanh nghe được; phần âm thanh này chỉ
là kết quả của một quá trình hoạt động có sử dụng ngôn ngữ để thực hiện một mục đích nào đó của con người Quá trình này được gọi là hoạt động lời nói [7, tr.14]
Hoạt động lời nói là quá trình con người sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt
và tiếp nhận kinh nghiệm xã hội, lịch sử hay để thiết lập sự giao tiếp, hoặc để lập kế hoạch (chương trình) hành động Như vậy, tính mục đích của hoạt động lời nói là rất khác nhau Đó có thể là hoạt động để truyền đạt thông tin, kiến thức mới; có thể là hoạt động để giải quyết một nhiệm vụ tư duy nào đó Nếu ngôn ngữ là phương tiện hay công cụ giao tiếp thì hoạt động lời nói chính là quá trình giao tiếp ngôn ngữ này
Hoạt động lời nói khi thực hiện mục đích giao tiếp hay khi tư duy về thực chất là một quá trình hình thành và thể hiện ý nghĩ nhờ ngôn ngữ Do đó, hoạt động lời nói còn có thể được hiểu là một quá trình hình thành và thể hiện ý nghĩ nhờ ngôn ngữ
Như vậy, hoạt động lời nói là một hoạt động của con người Vì thế, nó cũng có đủ các đặc trưng của hoạt động; có mục đích, có nhu cầu, có động cơ,
Trang 20có các hành động bộ phận hợp thành Điểm khác biệt của hoạt động lời nói khác
ở chỗ nó là hoạt động nằm trong tất cả các hoạt động khác của con người Lời nói không có mục đích tự thân (nói để mà nói); nó bao giờ cũng bị chi phối bởi động cơ và mục đích của hoạt động chung (nói để hiểu nhau; nói để điều khiển quá trình sản xuất tốt hơn…)
Hoạt động lời nói là một quá trình con người sử dụng ngôn ngữ để thực hiện một mục đích cụ thể nào đó nên có tính chất cá nhân riêng biệt của từng người Tuy vậy, nó có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, với tính chất xã hội, tính
chất chung của ngôn ngữ Có thể nói quan hệ của ngôn ngữ và lời nói là quan
hệ của cái chung và cái riêng
2.1.4.2 So sánh ngôn ngữ và lời nói
F.de Saussure đã phân biệt lời nói và ngôn ngữ như sau:
STT Ngôn ngữ (cái chung) Lời nói (cái riêng)
1
Là sản phẩm chung của cộng
đồng, mang tính xã hội
Là sản phẩm của từng cá nhân, mang tính cá nhân
2 Tính khái quát cao Tính cụ thể
3 Có tính ổn định, lâu dài Tính nhất thời, luôn thay đổi
4 Dạng tiềm năng Dạng hiện thực, dạng kết quả
Ví dụ: cho tập hợp số từ: (mẹ /đi /chợ /về / chưa) cùng các dấu câu, kiểu câu (các quy tắc tạo câu) tiếng Viêt có thể tạo ra một số câu khác nhau như:
Trang 21Lời nói là cần thiết để cho ngôn ngữ có thể hiểu được và gây được tất cả hiệu quả của nó Lời nói không những cần thiết để ngôn ngữ được xác lập mà còn cần thiết để ngôn ngữ biến hóa và phát triển
2.1.5 Tư duy và ngôn ngữ
Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy con người Ngôn ngữ và tư duy
cùng xuất hiện một lúc Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và chỉ có con
người – động vật cao cấp mới có tư duy Không có ngôn ngữ thì không có tư duy Nói cách khác, chúng ta không thể tư duy nếu không có ngôn ngữ (không thể tư duy bằng các công thức toán học, đường nét, nốt nhạc mà chỉ có thể tư duy bằng ngôn ngữ) Bởi thế, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thường so sánh mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy gắn liền với nhau, như hai mặt của một tờ giấy, như hình với bóng
Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ Vì khi giao tiếp, con người cần phải nói với nhau một cái gì đấy (tư tưởng, tình cảm…) Như vậy ngôn ngữ không phải là các tổ hợp âm thanh đơn thuần, mà thực chất là nơi tàng trữ những kinh nghiệm của loài người Chức năng tư duy của ngôn ngữ là độc lập với chức năng giao tiếp, bởi vì, ngôn ngữ không phải chỉ cần đến khi chúng ta nói năng, giao tiếp, mà cần đến ngay cả khi chúng ta suy nghĩ thầm lặng, khi độc thoại nội tâm
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào, câu nào
mà không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng Ngược lại, không có ý nghĩ, tư tưởng nào mà không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng: một ý nghĩ, tư tưởng chỉ rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ Quá trình di tìm từ, câu cần thiết để nói cũng là quá trình làm cho ý nghĩ, khái niệm trở nên rõ ràng và có thể hiểu được Chừng nào chưa được biểu hiện bằng ngôn ngữ, thì ý nghĩ vẫn còn mơ hồ và chưa rõ ràng
Ngôn ngữ không chỉ tồn tại ở dạng tiếng nói mà còn tồn tại ở dạng biểu
tượng âm thanh trong óc, dạng chữ viết trên giấy Khi nghe, biểu tượng âm
thanh xuất hiện Khi nói, biểu tượng chuyển động phát âm xuất hiện Khi nhìn,
Trang 22biểu tượng thị giác về từ xuất hiện Chức năng tư duy của ngôn ngữ không chỉ xuất hiện khi ngôn ngữ được phát thành lời, mà cả khi im lặng suy nghĩ hoặc viết ra giấy
Như vậy, ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chỗ dựa để suy nghĩ và ghi lại kết quả suy nghĩ của con người Ngôn ngữ và tư duy thống nhất với nhau, không có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là vỏ âm thanh trống rỗng, thực chất là không có ngôn ngữ
Hai chức năng giao tiếp và tư duy được thực hiện không tách rời nhau mà gắn bó chặt chẽ với nhau: Khi tư duy, hoạt động giao tiếp vẫn diễn ra không ngừng, và ngược lại khi giao tiếp, hoạt động tư duy vẫn diễn ra liên tục (để kiểm tra, điểu chỉnh thông tin)
Ngôn ngữ và tư duy có những điểm khác biệt Ngôn ngữ là vật chất còn tư duy là tinh thần Đơn vị của tư duy (khái niệm, phán đoán, suy lí…) không đồng nhất với đơn vị của ngôn ngữ (đơn vị, hình vị, câu…) Tư duy có tính nhân loại, còn ngôn ngữ có tính dân tộc Tóm lại, ngôn ngữ và tư duy là thống nhất nhưng
không không đồng nhất Chức năng của ngôn ngữ đối với tư duy là ngôn ngữ thể
hiện tư tưởng và trực tiếp tham gia vào việc hình thành tư tưởng
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 – 6 tuổi
2.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ mạch lạc
Thuật ngữ “mạch lạc” thường được hiểu là sự nối tiếp theo một trật tự
hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt
Khái niệm “lời nói mạch lạc” được các tác giả xem xét ở nhiều góc độ
khác nhau, được đặt ra trong mối tương quan với trình độ phát triển kỹ năng ngôn ngữ nói chung của con người ở các giai đoạn lứa tuổi khác nhau
Trước hết, đứng về mặt lí thuyết ngôn ngữ thì lời nói mạch lạc là vấn đề của ngữ pháp văn bản Nó không thuộc về ngữ âm, từ vựng hay cú pháp Rèn luyện khả năng nói mạch lạc cho trẻ tức là giúp trẻ sử dụng đơn vị giao tiếp ngôn ngữ ở cấp độ hoàn chỉnh nhất Nếu như vậy, các nhà sư phạm phải đi từ những vấn đề của ngữ pháp văn bản Dạy lời nói mạch lạc cho trẻ là dạy sử dụng
Trang 23ngôn bản trong giao tiếp ngôn ngữ Trẻ phải tự mình tạo ra được ngôn bản, tất nhiên là ở dạng còn đơn giản nhất Có nghĩa là, cái ngôn bản được tạo ra ấy phải đảm bảo các đặc trưng của ngôn bản với tư cách một đơn vị giao tiếp ngôn ngữ
hoàn chỉnh Đó là hai đặc trưng cơ bản: tính hoàn chỉnh và tính liên kết
Tính hoàn chỉnh của ngôn bản bao gồm hai mặt là hoàn chỉnh về nội dung
(có chủ đề tập trung, triển khai chủ đề hợp lí và có tính nhất quán về mục tiêu của chủ đề); hoàn chỉnh về hình thức chủ yếu là có kết cấu rõ ràng
Tính liên kết của ngôn bản thể hiện ở cả hai mặt hình thức và nội dung
Liên kết nội dung bao gồm liên kết chủ đề và liên kết logic; còn liên kết hình thức nói về các phương thức liên kết các câu, các đoạn câu (các phương thức: lặp, thế, nối, phối ứng từ ngữ, tỉnh lược, đối, nêu câu hỏi…)
Các nhà giáo dục học, tâm lí học, ngôn ngữ học đã nghiên cứu về lời nói mạch lạc và đưa ra những ý kiến khác nhau:
Theo L.X Rubinxtein thì tính mạch lạc là “tính tương tự, tương xứng gần
giống nhau mà người nói hoặc viết cần phải dùng đến nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc hiểu” Ngôn ngữ mạch lạc là ngôn ngữ có thể hiểu hoàn
toàn, hiểu một cách trọn vẹn trên cơ sở chính nội dung thể hiện của nó Do vậy, ông cho rằng phát triển lời nói mạch lạc là phát triển tư duy, phát triển kỹ năng thể hiện ý nghĩ
Theo D.B Enconhin “Lời nói mạch lạc như sự bày tỏ bằng ngữ nghĩa đầy
đủ đảm bảo sự giao tiếp và hiểu biết lẫn nhau Lời nói mạch lạc trong trẻ mẫu giáo là kết quả của sự phát triển lời nói chung”
A.M Leusina cho rằng ngôn ngữ mạch lạc có đặc tính ở chỗ nội dung của
nó được mở ra trong bản thân bài văn và trở nên dễ hiểu đối với người nghe, không bị lệ thuộc vào sự cân nhắc này nọ hoặc hoàn cảnh này nọ
Theo A.M Bôrôđich: “Lời nói mạch lạc là lời nói mở rộng có ý nghĩa
(những câu liên kết với nhau một cách lôgic) giúp cho con người giải thích và hiểu nhau”
Trang 24Haliday và Hasan (1978) nhắc đến mạch lạc trong khi nói đến dấu vết của
tình huống trong văn bản “… chất văn bản bao gồm nhiều hơn, không chỉ là sự
có mặt của những quan hệ nghĩa phụ thuộc của một yếu tố khác để giải thích được nó Nó gồm cả một chừng mực nào đó của mạch lạc trong các ý nghĩa được diễn đạt Không chỉ hoặc không phải chủ yếu là ở nội dung, mà ở sự lựa chọn toàn bộ Từ các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ đó, bao gồm cả các thành tố liên cá nhân (xã hội - biểu cảm - ý chí) khác - các thức, các tình thái, các độ mạnh và những hình thái khác nữa và người nói nhồi nhét vào trong tình huống nói” [7, tr.128]
Theo tác giả Cao Đức Tiến, lời nói mạch lạc là sự trình bày chi tiết có lôgic, có trình tự chính xác ý nghĩ của mình, nói đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung định tính
Tác giả Diệp Quang Ban đã xem xét ý kiến của nhiều tác giả về vấn đề mạch lạc và liên kết trong văn bản Ông đã đề cập đến tính mạch lạc trong văn bản và trong diễn ngôn và đã đi đến kết luận về vai trò của mạch lạc trong văn bản như sau: Mạch lạc là một khái niệm phức tạp và bao gồm nhiều yếu tố trừu tượng không xác định Ông đã đưa ra một số hiện tượng dễ quan sát nhất đối với mạch lạc:
- Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài – chủ đề Sự vi phạm tính thống nhất đề tài - chủ đề được cụ thể hóa thành sự vi phạm tính hợp lí của
sự triển khai mệnh đề
- Mạch lạc thể hiện trong tính hợp lí (lôgic) của sự triển khai mệnh đề
- Mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lí (lôgic) giữa các câu (mệnh đề)
- Mạch lạc thể hiện trong khả năng dung hợp nhau giữa các hoạt động ngôn ngữ
- Mạch lạc được giải thuyết theo nguyên tắc cộng tác
Tác giả Diệp Quang Ban đã trích dẫn định nghĩa về mạch lạc của tác giả Numan (1993): Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó hiểu ngôn được tiếp nhận như là
có “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có
Trang 25liên quan nhau Tác giả cũng kết luận về vai trò của mạch lạc trong văn bản như sau: Bản thân mạch lạc cũng là vấn đề mức độ, nó có tư cách quy định đối với mức độ là văn bản của một văn bản thông qua phương tiện liên kết, và như vậy
có thể thấy rằng một công cụ quan trọng của liên kết là làm phương tiện hình thức cho mạch lạc Mạch lạc là yếu tố quy định sự triển khai văn bản (tính năng động), dẫn văn bản theo những định hướng và mục tiêu đã định
Tóm lại, lời nói mạch lạc không được tạo nên bởi phép cộng đơn thuần của các phát ngôn mà tồn tại bởi sợi dây liên kết (liên kết nội dung và liên kết hình thức) được biểu hiện bởi tư duy lôgic về một chủ đề nhất định và bởi phương thức liên kết lời nói với nhau nhằm thực hiện các chức năng giao tiếp
Như vậy, ngôn ngữ được gọi là mạch lạc khi có đủ những yếu tố sau:
- Các câu phải đúng ngữ pháp và có ý nghĩa
- Nội dung thông báo phải đầy đủ, khúc chiết, chính xác, hợp lí và có chủ đề xác định
- Có dùng các phép liên kết một cách hợp lí
- Các hoạt động ngôn ngữ được thực hiện trong các câu phải dung hợp với nhau và thể hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
- Có sắc thái biểu cảm trong lời nói
Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết thì ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo xuất hiện do nhu cầu trẻ muốn mô tả lại cho người khác nghe những gì trẻ nhìn thấy mà không thể dựa vào các tình huống cụ thể trước mắt Nhu cầu giải thích, phân trần cho bạn hay người lớn về một vấn đề nào đó nhằm mục đích thuyết phục người nghe Để đạt được mong muốn đó, trẻ phải cố gắng diễn đạt suy nghĩ của mình một cách rõ ràng theo đúng trình tự, thể hiện được ý cơ bản và mối liên hệ của các sự việc, sự vật, hiện tượng… có nghĩa là trẻ phải nắm được
kĩ năng diễn đạt mạch lạc ý nghĩ của mình Theo tác giả, lời nói mạch lạc của trẻ
là lời nói thể hiện tính chặt chẽ, khúc chiết, có trình tự, có tính liên kết…
Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo được tác giả Lương Kim Nga xem xét qua các biểu hiện như sau:
Trang 26- Nói đúng cấu trúc câu tiếng Việt
- Lời nói có nội dung thông báo đầy đủ, lôgic, có hình ảnh
- Khi nói diễn đạt rõ ràng, ngắt nghỉ giọng đúng chỗ, giọng nói có sắc thái biểu cảm
Theo tác giả Nguyễn Xuân Khoa thì tính mạch lạc trong lời nói của trẻ thể hiện ở mối quan hệ chặt chẽ của sự liên kết nội dung và liên kết hình thức Tác
giả cho rằng “ … nắm vững lời nói lạch lạc, không có được, nếu không phát
triển khả năng tách biệt các yếu tố của nó như: câu, từ…” [3, tr.58]
Lời nói mạch lạc của trẻ được xem như là một văn bản được tạo thành từ những câu có sợi dây liên hệ chặt chẽ gọi là liên kết nội dung và liên kết hình thức Theo tác giả, có hai kiểu lời nói mạch lạc, đó là lời nói đối thoại và lời nói độc thoại
Như vậy, có nhiều cách định nghĩa về lời nói mạch lạc Ở đây, chúng tôi xin nêu ra định nghĩa của một nhà sư phạm Nga: tiến sĩ ngôn ngữ học Xôkhin, nguyên Trưởng phòng nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Giáo dục Liên Xô, tác giả nhiều cuốn sách giáo khoa, phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em Xôkhin đã định nghĩa đơn giản như sau:
“ Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác định, được thực hiện một cách lôgic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tính biểu cảm”[7, tr.130]
2.2.2 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Ở Việt Nam, giai đoạn 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ mẫu giáo, giai đoạn chuẩn bị cho bước ngoặt vào trường phổ thông Ở giai đoạn này, những cấu trúc tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành và tiếp tục phát triển
Trang 27Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ vẫn tuân theo những quy luật chung của trẻ mẫu giáo Song so với ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi và mẫu giáo 4 - 5 tuổi thì ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi mang những nét riêng
Về phát âm
Ở giai đoạn này, bộ máy phát âm của trẻ đã phát triển tương đối hoàn thiện, sự phối hợp của bộ máy phát âm ở trẻ cũng đã trở nên nhuần nhuyễn hơn Phạm vi tiếp xúc và phạm vi giao tiếp của trẻ được mở rộng nên trẻ 5 - 6 tuổi về
cơ bản đã phát âm đúng hầu hết các âm, đặc biệt là trẻ có thể phát âm được các
từ khó như: loanh quanh, nghênh ngang, lênh đênh… trẻ ở lứa tuổi này nếu phát
âm sai thì thường là do bộ máy phát âm của trẻ bị tổn thương hoặc do chịu ảnh hưởng của người lớn xung quanh trẻ
Về từ loại
Theo kết quả điều tra nghiên cứu của PTS Lưu Thị Lan và tập thể các nhà nghiên cứu ở Trung tâm nghiên cứu trẻ em trước tuổi học thì số lượng từ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở Việt Nam như sau:
1) Trẻ 61 - 66 tháng tuổi có số lượng từ tối thiểu là 525 từ và tối đa là
“mặt đất”, “sa mạc” ; các danh từ chỉ khái niệm có tính chất khái quát như:
“giao thông”, “kiến trúc”… bên cạnh đó ở trẻ cũng đã xuất hiện những động từ mới có tính hình ảnh và gợi cảm hơn như : “nhảy nhót” “đung đưa’, “tung tăng”… các động từ ghép mang ý nghĩa khác nhau nhưng có chung một gốc từ như: “ăn”, “ăn sáng” “ăn trộm”, “ăn hỏi”… Các từ mô phỏng âm thanh như
Trang 28“lộp bộp”, “leng keng”…Các cụm động từ chỉ sắc thái khác nhau của hành động cũng được xuất hiện như: “chạy vèo vèo”, “chạy vòng quanh”, “chạy lung tung|” Tính từ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cũng biểu hiện mức độ phong phú, tinh
tế, gợi cảm… các tính chất khác nhau của sự vật, hiện tượng Ví dụ: trẻ dùng nhiều mức độ khác nhau của mùi vị như: “ngọt lịm”, “chua chua”, “chua loét” hay “thơm ngào ngạt” “thơm lừng” các tính từ tượng hình như “bé tí”, “béo mầm”
Trong vốn từ của trẻ 5 - 6 tuổi, tính từ, đại từ, trạng từ, phó từ, quan hệ từ,
số từ chiếm tỉ lệ cao hơn so với lứa tuổi trước Theo số liệu điều tra của PTS Lưu Thị Lan thì trong vốn từ của trẻ 5 - 6 tuổi, tính từ tăng từ 8,7 % lên 11,64%, trạng từ tăng từ 4,46 % lên 5,14%, đại từ tăng từ 3,69% lên 4,04%, quan hệ từ tăng từ 2,43% lên 3,23% đặc điểm ngôn ngữ này cũng phù hợp với sự phát triển sự phát triển chung của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi khi mà vốn hiểu biết của trẻ rộng hơn, sâu hơn ngoài những dấu hiệu bề ngoải của sự vật , hiện tượng, trẻ còn nhận thức cả những mối quan hệ đơn giản của sự vật, hiện tượng…
Về khả năng sử dụng câu
Trong lời nói của trẻ 5 - 6 tuổi có 2 loại câu:
Câu phân loại theo cấu trúc cú pháp, bao gồm: câu đơn mở rộng, câu ghép đẳng lập, câu ghép chính – phụ
Trẻ sử dụng thành thạo câu đơn, bên cạnh đó trẻ cũng đã biết sử dụng câu ghép để diễn tả ý mình muốn nói một cách linh hoạt
Câu phân loại theo mục đích nói, bao gồm: câu nghi vấn, câu cảm thán, câu tường thuật…
Câu tường thuật là loại câu xuất hiện sớm trong lời nói của trẻ Trong câu tường thuật của trẻ 5 - 6 tuổi không chỉ thể hiện các đặc điểm bề ngoài của sự vật, hiện tượng, mà còn đi vào những mối quan hệ, các tính chất của sự vật thông qua hành động Bên cạnh đó, trẻ còn sử dụng nhiều câu nghi vấn để diễn
tả thắc mắc, câu cảm thán để bày tỏ cảm xúc của mình [8, tr.22]
Trang 292.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ mạch lạc của trẻ 5 – 6 tuổi
Ở trẻ 5 - 6 tuổi, lời nói mạch lạc đã đạt được trình độ khá cao Để trả lời câu hỏi, trẻ đã sử dụng các câu tương đối chính xác ngắn gọn và khi cần thì mở rộng Ở trẻ phát triển kĩ năng nhận xét lời nói và câu trả lời của các bạn, bổ sung hoặc sửa chữa các câu trả lời đó Vào năm thứ 6 trẻ có thể đặt các câu chuyện miêu tả theo một chủ đề nào đó cho trước một cách tương đối tuần tự và rõ ràng, nhưng trẻ vẫn còn cần đến mẫu lời nói của cô giáo; kĩ năng truyền đạt trong lời
kể, thái độ, xúc cảm của mình đối với các sự vật, hiện tượng trong câu chuyện của trẻ vẫn còn chưa phát triển đầy đủ
Nghiên cứu của tác giả Hồ Lam Hồng Một số đặc điểm tâm lí trong hoạt
động ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hình thức kể chuyện là một
công trình nghiên cứu công phu đã chỉ ra được những đặc trưng về phương diện tâm lí – ngôn ngữ trong lời nói mạch lạc của trẻ Khảo sát của tác giả đã cho chúng ta những tài liệu có giá trị về khả năng kể chuyện của trẻ 5 - 6 tuổi:
*Đặc điểm trí nhớ
Trí nhớ của trẻ 5 - 6 tuổi là trí nhớ trực quan, chủ yếu là trực quan hình ảnh Những hình ảnh trẻ nhớ được phù hợp với nội dung, ý tưởng và chủ đề câu chuyện Đặc điểm trí nhớ ngôn ngữ thể hiện ở số lượng từ trẻ nhớ lại trong một khoảng thời gian tương đương 1,5 - 2 phút và sử dụng đúng, chính xác, phù hợp với nội dung câu chuyện vào khoảng 79 - 146 từ ở chuyện kể theo chủ đề (trung bình 115 - 120 từ) và khoảng 86 - 117 từ (trung bình 100 từ) trong chuyện kể theo tranh
* Đặc điểm tư duy
Trẻ thường chọn và biểu đạt ý tưởng của mình qua cách đặt tên chuyện Trình tự diễn đạt sự kiện thể hiện khả năng suy luận, suy diễn và kết luận của trẻ Điểm nổi bật về trình tự diễn giải vấn đề ở trẻ là thường bám theo trình tự xảy ra sự việc, theo trình tự thời gian: cái gì xảy ra trước nói trước, cái gì xảy ra sau nói sau; và theo trình tự không gian thường từ ngoài vào trong, từ điểm chính nổi bật ở vị trí trọng tâm đến chi tiết phụ Nội dung trình bày câu chuyện
Trang 30của trẻ đảm bảo cấu trúc 3 phần Phần mở đầu thường là sự bao quát chung về không gian, thời gian hay là giới thiệu khái quát chung về sự vật, hiện tượng Sự triển khai vấn đề thường là sự trình bày tiến trình sự việc, những điều vướng mắc và cách giải quyết; nêu những đặc điểm của sự vật, đôi lúc có lồng thêm vào đó cảm xúc, tình cảm, thái độ chủ quan của người kể chuyện Nội dung chuyện được chọn lọc và xây dựng nên từ những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hoạt động cảu con người, đặc điểm cụ thể của sự vật Trẻ thường chủ yếu miêu
tả vật, tường thuật lại sự việc Quá trình phân tích tổng hợp ở trẻ vẫn dựa trên những hình ảnh là chủ yếu; do đó khi kể chuyện theo tranh, yếu tố trực quan giúp trẻ mở rộng câu chuyện có ý tưởng
Đặc điểm tư duy ngôn ngữ thể hiện qua việc sử dụng câu trong lời nói Trẻ thường sử dụng khoảng 7 - 12 câu trong chuyện kể theo chủ đề, mỗi câu có khoảng 10 - 13 từ, khoảng 9 - 10 câu trong chuyện kể theo tranh, mỗi câu có khoảng 9 - 11 từ
* Đặc điểm cảm xúc
Xúc cảm của trẻ thể hiện ở nhu cầu muốn được tham gia hoạt động, muốn được kể về những điều mình đã trải nghiệm, những điều mắt thấy, tai nghe, những hiểu biết, suy nghĩ và những cảm xúc của mình trước sự vật, hiện tượng Cảm xúc ngôn ngữ của trẻ được thể hiện qua ngữ điệu giọng nói, nét mặt, ánh mắt và cử chỉ, điệu bộ, tư thế trong quá trình kể chuyện Cảm xúc ngôn ngữ của trẻ được thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, câu nói thể hiện cảm xúc, tình cảm hay thái độ của cá nhân trước những sự kiện đang nói tới
2.2.4 Vai trò của việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc đối với trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi
* Phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sẽ góp phần chuẩn bị phương tiện phát triển tư duy trực quan hình tượng ở giai đoạn cao hơn, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự xuất hiện kiểu tư duy logic ở giai đoạn phát triển tiếp theo
Trang 31Ở giai đoạn tuổi mẫu giáo, trẻ tư duy chủ yếu bằng con đường trực quan (hành động và hình tượng) thế nhưng trình độ tư duy của trẻ cũng được phát triển ngày càng cao theo lứa tuổi, nó phụ thuộc vào vốn hiểu biết, phạm vi giao tiếp và khả năng ngôn ngữ của trẻ Chẳng hạn, trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đã có khả năng làm những phép suy luận, khái quát đơn giản dựa vào đồ dùng trực quan.(
ví dụ: trẻ mẫu giáo lớn xếp con chó vào nhóm các con vật đẻ con như trâu, bò, lợn… hay xếp con gà vào nhóm các con vật đẻ trứng như chim, vịt…) Lúc này,
cô giáo giúp trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để mô tả hành động của mình và lý giải tại sao lại hành động như vậy Tức là trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để giảng giải, giải thích, thể hiện mối quan hệ, liên hệ… nhằm diễn đạt suy nghĩ của mình cho người khác hiểu và công nhận Như vậy, nhờ lời nói mạch lạc của mình, trẻ đạt được sự thông hiểu và đồng tình của bạn bè, cô giáo Điều này đã tạo cho trẻ niềm tin vào chính bản thân mình và thúc đẩy hoạt động tư duy của trẻ tiếp tục phát triển Đồng thời, khi trẻ sử dụng ngôn ngữ (lời nói mạch lạc) để giảng giải, trình bày cho người khác hiểu suy nghĩ của mình thì cũng diễn ra hoạt động nhận thức trên bình diện ngôn ngữ, làm cho quá trình tư duy cụ thể hơn, rõ ràng hơn
Cuối tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - đó là tư duy sơ đồ Tuy là một kiểu tư duy trực quan nhưng tư duy trực quan sơ đồ phần nào đó thoát khỏi các sự vật, hiện tượng riêng lẻ, cụ thể, nó mang tính khái quát hơn Để thực hiện hoạt động tư duy kiểu này, trẻ phải hiểu được lời giải thích các dữ kiện có liên quan đến sơ đồ… xác định nhiệm vụ của mình, trẻ dùng ngôn ngữ để giải thích, lập luận cho người khác hiểu trình tự các bước tư duy dẫn đến kết quả… Rõ ràng, lời nói mạch lạc rất cần thiết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để phát triển tư duy trực quan sơ đồ
Tuy nhiên, muốn có lời nói mạch lạc thì những suy nghĩ của trẻ phải được sắp xếp rõ ràng, rành mạch ngay từ trong đầu, tức là cần có tư duy mạch lạc Thế nhưng lời nói mạch lạc lại là phương tiện phát triển tư duy của trẻ mẫu
Trang 32giáo 5 - 6 tuổi tới một trình độ mới, cao hơn trước đây Đó là sự xuất hiện các yếu tố ban đầu của tư duy lôgic, làm cơ sở cho giai đoạn phát triển tiếp theo
*Phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi còn góp phần giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mình một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc hơn
Cùng với sự hoàn thiện dần của tư duy, vốn hiểu biết của trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi ngày càng phong phú và sâu sắc hơn Phạm vi tiếp xúc với thế giới khách quan xung quanh trẻ được mở rộng, nhu cầu nhận thức ngày càng phát triển Trẻ không thỏa mãn với những hiểu biết bề mặt của sự vật, hiện tượng Trẻ bắt đầu muốn khám phá, tìm tòi, quan tâm đến những dấu hiệu đặc trưng, những mối quan hệ, liên hệ phụ thuộc giữa các sự vật, hiện tượng Trẻ say sưa xem xét, đối chiếu, so sánh và bước đầu làm các phép phân loại chúng…Nhận thức về thế giới xung quanh ở trẻ đã thay đổi cả về lượng lẫn về chất so với trẻ ở giai đoạn trước đó Để thỏa mãn nhu cẩu nhận thức, trẻ cần nắm kỹ năng ngôn ngữ ở mức độ cao hơn Trẻ cần các hình thức ngôn ngữ để diễn đạt các dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng Trẻ cần hình thức ngôn ngữ để thể hiện các bước nhận thức của mình như: so sánh, phân loại để giải thích thuyết phục, trao đổi sự hiểu biết của trẻ với bạn bè, với cô giáo, cha mẹ và người lớn gần gũi trẻ Hình thức ngôn ngữ đó chính là lời nói khúc chiết, rõ ràng, mạch lạc có thể giúp mọi người hiểu được ý nghĩ của trẻ một cách đầy đủ nhất
Như vậy, kĩ năng sử dụng lời nói khúc chiết, mạch lạc của trẻ 5-6 tuổi đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nhận thức của trẻ Nó giúp trẻ nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh toàn diện hơn, sâu sắc hơn Nó làm cho tri thức (vốn hiểu biết) của trẻ mẫu giáo giảm dần tính đứt đoạn, rời rạc, tủn mủn mà trở nên
hệ thống và khái quát hơn Khi trẻ nói năng rõ ràng, mạch lạc trẻ càng có nhu cầu trao đổi, trò chuyện với bạn bè, cô giáo và những người xung quanh về những gì trẻ đã nghe, đã chứng kiến, đã lĩnh hội, giãi bày suy nghĩ của mình Điều đó làm cho sự hiểu biết của trẻ được mở rộng hơn, bền chặt hơn và đầy đủ hơn Ngược lại, nếu trẻ không nắm được các hình thức diễn đạt suy nghĩ của
Trang 33mình, vốn từ nghèo nàn, nói năng ấp úng… trẻ không giãi bày được suy nghĩ, hiểu biết của mình với người khác, trẻ trở nên ngại nói, ngại tiếp xúc, ít tham gia vào các cuộc hội thoại… điều đó dẫn đến sự nhận thức của trẻ bị đóng khung, hạn chế và nghèo nàn hơn, nhu cầu nhận thức cũng vì vậy mà giảm xuống Như vậy, nếu kịp thời phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thì chúng
ta không những chuẩn bị tốt công cụ nhận thức, đáp ứng nhu cầu và khả năng nhận thức của trẻ ở mức độ cao hơn trước đây mà còn góp phần phát triển nhu cầu nhận thức-một điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ cho trẻ
*Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi được phát triển đúng đắn và kịp thời còn góp phần mở rộng phạm vi giao tiếp, phát triển tình cảm, xúc cảm và phát triển tâm lý trẻ nói chung
Giao tiếp là một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người Đối với trẻ nhỏ, giao tiếp càng có vai trò đặc biệt quan trọng Bằng con đường giao tiếp, trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có thể thỏa mãn hàng loạt nhu cầu như: nhu cầu giao lưu cảm xúc, trao đổi, giãi bày tình cảm, nhu cầu nhận thức, nhu cầu hợp tác hành động, nhu cầu hội nhập (xã hội hóa)…
Khi lời nói của trẻ được phát triển, trẻ sẽ tự tin khi tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh, tự tin bày tỏ những thắc mắc, bày tỏ những cảm xúc của mình với mọi người xung quanh Nhờ đó, tình cảm, xúc cảm, trí tuệ, nhận thức và tâm lý của trẻ cũng sẽ được phát triển
* Phát triển lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi sẽ góp phần nâng cao
kỹ năng ngôn ngữ nói chung của trẻ
Khi trẻ đã có khả năng diễn đạt mạch lạc thì có nghĩa là trẻ đã có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ Trẻ có ý thức trong việc sử dụng từ ngữ thích hợp, trẻ bắt đầu chú ý đến tính đa nghĩa của từ khi sử dụng Trong giao tiếp với người lớn, với bạn bè, hay khi nghe người lớn kể chuyện… những cấu trúc câu mới lạ
đã gây ấn tượng đối với trẻ Đặc biệt, trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đã có ý thức thể hiện ngữ điệu giọng nói phù hợp với nội dung và hoàn cảnh phát ngôn Trẻ biết dùng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương, trìu mến và ngược lại trẻ
Trang 34cũng biết dùng ngữ điệu để thể hiện sự giận giữ Điều đó chứng tỏ rằng, trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đã có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý nghĩ của mình
Chúng ta quan tâm đến việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi tức là chúng ta đang tạo điều kiện để phát triển kỹ năng ngôn ngữ nói chung cho trẻ Bởi vì, ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển tương đối cao của kỹ năng ngôn ngữ Một đứa trẻ tuy có vốn từ phong phú, nói nhiều, phát âm sõi… nhưng không có nghĩa rằng, đứa trẻ đó có thể nói năng mạch lạc, khúc chiết Thế nhưng, một khi đứa trẻ nói năng lưu loát, diễn đạt rõ ràng, khúc chiết ý nghĩ của mình thì điều đó chứng tỏ rằng đứa trẻ đó đã có một khối lượng
từ nhất định, có kỹ năng sử dụng các cấu trúc câu phù hợp với mục đích phát ngôn, phát âm đúng… nghĩa là đứa trẻ đã có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Việc phát triển lời nói mạch lạc góp phần làm cho trẻ mạnh dạn hơn, tích cực hơn với hoạt động ngôn ngữ Tính tích cực của bản thân trẻ đối với hoạt động ngôn ngữ
là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ lĩnh hội kỹ năng ngôn ngữ của trẻ
Như vậy, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có vai trò hết sức quan trọng đối với việc thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, quan hệ với bạn
bè, với những người xung quanh và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự nhận thức, phát triển trí tuệ của trẻ, phát triển tư duy và kỹ năng ngôn ngữ nói chung - góp phần chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi bước sang môi trường mới – trường phổ thông và tham gia hoạt động học tập được hiệu quả hơn Chính vì lẽ đó, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 – 6 tuổi là nhiệm vụ quan trọng nhất trong 4 nhiệm vị phát triển ngôn ngữ
2.2.5 Hình thức phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Các nhà sư phạm đã thống nhất có 5 hình thức phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ em:
- Dạy trẻ kể chuyện theo tranh
- Dạy trẻ kể chuyện với đồ chơi
Trang 35- Dạy trẻ kể lại truyện văn học
- Dạy trẻ kể chuyện theo kinh nghiệm
- Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
* Dạy trẻ kể chuyện theo tranh
Ở trường mầm non, trẻ đã được học kể chuyện theo tranh vẽ đồ vật hoặc tranh theo chủ đề
Dạy trẻ kẻ chuyện theo tranh cần chú ý sao cho phù hợp theo các độ tuổi Cần lựa chọn các bức tranh về các con vật gần gũi trẻ hay các bức tranh có chủ
đề, một bức hay tranh liên hoàn…, bên cạnh đó, các bức tranh còn phải đảm bảo tính thẩm mĩ
Trẻ 3 – 4 tuổi chỉ có thể xem tranh và có thể liệt kê các đối tượng cần miêu tả trong tranh, chú ý biện pháp trò chuyện giữa cô và trẻ về nội dung tranh, sau đó cô kể lại
Trẻ 4 – 5 tuổi vẫn nên sử dụng các câu hỏi và lời nói mẫu của cô, sau đó cho trẻ kể lại
Trẻ 5 – 6 tuổi thì cần chú ý tính tự lập, tích cực trong việc tham gia kể chuyện Lứa tuổi này cần được kể theo các bức tranh liên hoàn theo chủ đề nào
đó
* Dạy trẻ kể chuyện với đồ chơi
Là loại hình tập cho trẻ kể về đồ chơi (lứa tuổi nhỏ) và kể chuyện về đồ chơi (trẻ lớn hơn) Có thể kể về một hoặc một nhóm đồ chơi
Đối với trẻ mẫu giáo bé: dạy trẻ kể chuyện về một đồ chơi
Trẻ mẫu giáo nhỡ: có thể kể chuyện về 2 – 3 đồ chơi
Trẻ mẫu giáo lớn bên cạnh việc miêu tả các đồ chơi còn phải sáng tạo ra một câu
chuyện có cốt truyện phù hợp
* Dạy trẻ kể lại truyện văn học
Kể lại chuyện văn học là thuật lại một văn bản văn học đã có sẵn, một câu chuyện kể dân gian, một truyện ngắn do các nhà văn hiện đại sáng tác phù hợp với trẻ nhỏ Đặc trưng cơ bản của loại hình này là tính nghệ thuật của ngôn ngữ,
Trang 36tính chuẩn mực của văn bản (văn bản đã có sẵn), tuy nhiên khi kể lại truyện văn học vẫn cần đến sự sáng tạo trong lời kể
Phương pháp dạy trẻ kể lại chuyện ở mỗi độ tuổi có đặc trưng riêng của mình nhưng lại có những cái chung Kế hoạch của giờ học, kể lại chuyện văn học trong tất cả các nhóm độ tuổi đều là: cô đọc tác phẩm trước, thảo luận theo câu hỏi, cô đọc lại, kể lại rồi sau đó cho trẻ kể lại
* Dạy trẻ kể chuyện theo kinh nghiệm
Kể chuyện theo kinh nghiệm có cơ sở từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của trẻ Trẻ học sử dụng kinh nghiệm sống của mình, truyền đạt nó trong một câu chuyện mạch lạc, hình thành kĩ năng bày tỏ thứ tự, dễ hiểu, rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ của mình mà không cần đến đồ dùng trực quan Đề tài thường là những cuộc dạo chơi, tham quan, lễ hội… trẻ thể hiện những ấn tượng của mình
về cuộc sống vào chuyện kể
Có thể tiến hành dạy trẻ kể chuyện theo kinh nghiệm từ lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, trong những bước đầu tiên, cô có thể tổ chức sau khi trẻ làm quen với tranh
vẽ, đồ chơi Dần dần yêu cầu trẻ kể về những đề tài cụ thể gần gũi với chúng Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ, cô nên cho trẻ kể chuyện tập thể
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, phạm vi làm quen với các hiện tượng xã hội, với lao động của người lớn đã được mở rộng Vì thể, đề tài của chuyện kể được phức tạp hơn, có thể sử dụng một số chủ đề như: đồ chơi yêu thích nhất, đồ dùng yêu thích nhất, người bạn thân thiết nhất, nhân vật trong phim hoạt hình yêu thích nhất…
* Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
Là loại hình kể chuyện khó nhất đối với trẻ mẫu giáo, thường chỉ sử dụng cho trẻ mẫu giáo lớn
Để kể được một câu chuyện sáng tạo, đứa trẻ phải tự nghĩ ra nội dung của
nó, tạo ra cấu trúc logic, thể hiện trong hình thức lời nói tương ứng với nội dung
đó Công việc này đòi hỏi trẻ phải có vốn từ phong phú, có các kĩ năng tổng hợp (kĩ năng thắt nút, đỉnh điểm, mở nút), kĩ năng truyền đạt lại ý nghĩ của mình một
Trang 37cách chính xác, tập trung chú ý và biểu cảm Những kĩ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình học tập có hệ thống và bằng con đường luyện tập thường xuyên
Trong tất cả các hình thức trên, hình thức dạy trẻ kể chuyện sáng tạo là hình thức khó nhất, nhưng cũng là hình thức phù hợp nhất với trẻ mẫu giáo lớn Nếu như giáo viên áp dụng nhiều biện pháp dạy trẻ kể chuyện sáng tạo một cách hữu hiệu thì việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ sẽ đạt được hiệu quả như mong muốn
2.3 Hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
2.3.1 Khái niệm kể chuyện
Kể chuyện là kể lại một chuỗi sự việc có nhân vật, có cốt truyện, có các
sự kiện liên quan đến nhân vật Mỗi câu chuyện cần nói lên được một điều có ý nghĩa
Nói một cách cụ thể hơn, kể chuyện là một hình thức hoạt động ngôn ngữ của con người nhằm mục đích giao lưu, trao đổi thông tin giữa con người với nhau, trong hoạt động kể chuyện, con người sử dụng phương tiện ngôn ngữ, thực hiện các thao tác ngôn ngữ để bộc lộ nội tâm bên trong Người kể chuyện
sử dụng những ngôn ngữ hiểu biết của mình (vốn từ ngữ, cách thức phát âm, nguyên tắc sử dụng câu, phong cách trình bày…) để diễn đạt, bày tỏ và chia sẻ những suy nghĩ, tâm tư tình cảm, nhu cầu mong muốn, tâm trạng của mình… Nhự vậy, cùng một nội dung như nhau, mỗi người có cách trình bày riêng bởi sự khác biệt về ngữ điệu giọng nói, cách lựa chọn từ ngữ, cách sử dụng câu…
Kể chuyện là sản phẩm của hoạt động tâm lí, bởi nó được trình bày theo một cấu trúc nhất định, thống nhất với một ý tưởng nào đó sao cho người nghe
có thể hiểu được Cấu trúc chuyện kể được thực hiện nhờ những quá trình tâm lý bên trong: phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa, nhớ lại các biểu tượng và chọn những từ ngữ phù hợp… Rõ ràng, kể chuyện là sản phẩm hoạt động tâm lí và hoạt động ngôn ngữ của cá nhân nên nó phản ánh những đặc điểm tâm lí thông qua ngữ điệu giọng nói, cách sử dụng từ…
Trang 38Kể chuyện ở trường mầm non được xem như là một hoạt động phát triển một cách tích hợp và toàn diện các mặt nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm
2.3.2 Khái niệm sáng tạo
Hoạt động sáng tạo được hiểu là bất cứ hoạt động nào của con người, tạo
ra một cái gì mới, không kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật nào đó của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm, chỉ biểu lộ trong bản thân con người
Bộ não không chỉ là cơ quan giữ lại và tái hiện kinh nghiệm của chúng
ta Nó còn là cơ quan phối hợp chỉnh lý một cách sáng tạo và xây lên những tình thế mới và hành vi mới bằng những yếu tố của kinh nghiệm cũ đó Nếu như hoạt động của con người chỉ là hạn chế ở việc tái hiện cái cũ thì con người chỉ là một sinh vật chỉ hướng về quá khứ và chỉ biết thích ứng với tương lai trong chừng mực mà cái tương lại đó tái hiện cái quá khứ này Chính hoạt động sáng tạo của con người đã làm cho con người trở thành một sinh vật hướng về tương lai của mình
Hoạt động sáng tạo dựa trên năng lực phối hợp của bộ não chúng ta được khoa học tâm lý gọi là tưởng tượng Thường thường nói đến tưởng tượng hoặc huyền tưởng ta không hoàn toàn hiểu đúng Theo thói quen sử dụng hằng ngày
ta thường gọi tưởng tượng hay huyền tưởng là tất cả những gì không có thực, không phù hợp với hiện thực Do đó không có một ý nghĩa thực tế nghiêm chỉnh nào Nhưng thực ra, trí tưởng tượng là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào biểu hiện hoàn toàn như nhau trong mọi phương diện của đời sống văn hóa Nó làm cho một sáng tạo nghệ thuật khoa học và kỹ thuật có khả năng thực hiện
Theo quan điểm thông thường thì sáng tạo là lĩnh vực của một số ít người, những thiên tài, những tài năng đã sáng tác ra những tác phẩm vĩ đại, phát minh ra những cái mới hoặc nghĩ ra một cách làm mới
Theo quan điểm của Vưgôtxky: “Sáng tạo thưc ra không chỉ có ở những
nơi tạo ra sản phẩm lịch sử vĩ đại mà ở khắp nơi nào dù có con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi ra một cái gì mới, mặc dù nhỏ bé đến đâu chăng nữa
Trang 39so với sáng tạo của những bậc thiên tài” “tuyệt đại đa số những phát minh là do những người vô danh làm ra, như thế một quan điểm khoa học về vấn đề này buộc ta phải xem xét sự sáng tạo là một quy luật hơn là một ngoại lệ” Tất nhiên
những biểu hiện cao nhất của sáng tạo cho đến nay vẫn là một sô ít thiên tài chọn lọc trong nhân loại, nhưng trong đời sống hằng ngày xung quanh ta, sáng tạo là một điều kiện cần thiết của sự tồn tại, và tất cả những gì vượt qua ngoài khuôn khổ cũ, dù chỉ một nét của cái mới thì nguồn gốc phát minh của nó đều
do quá trình sáng tạo của con người
Sáng tạo của trẻ mẫu giáo được hiểu là quá trình trẻ tạo ra những sản
phẩm mới, cách làm mới ít nhất có ý nghĩa với bản thân đứa trẻ
Đối với trẻ mẫu giáo, sự sáng tạo được thể hiện trong mọi hoạt động: hoạt động vui chơi, học tập…
Trong hoạt động học tập, sự sáng tạo có thể được thể hiện thông qua các sản phẩm Nếu như, sản phẩm của hoạt động tạo hình là những bức tranh, những sản phẩm nặn Thì trong hoạt động phát triển ngôn ngữ, sản phẩm sáng tạo đó là những câu chuyện mà trẻ tự sáng tạo ra
Như vậy, hoạt động sáng tạo ở trường mầm non là quá trình trẻ tạo ra
những cái mới, những cách làm mới
2.3.3 Khái niệm kể chuyện sáng tạo
Kể chuyện sáng tạo (hay còn gọi là kể chuyện theo tưởng tượng) có thể được hiểu như sau:
Kể chuyện sáng tạo là hoạt động trong đó trẻ dùng trí tưởng tượng cộng với vốn kinh nghiệm đã có để tự sáng tác ra một câu chuyện và thể hiện câu chuyện đó bằng chính ngôn ngữ của mình
Hoạt động kể chuyện sáng tạo giúp trẻ mở rộng vốn từ một cách chủ động; luyện phát âm; phát triển khả năng biểu đạt, tự trình bày ý kiến bằng ngôn ngữ của mình; học cách thể hiện văn hóa nói; phát triển thói quen hội thoại; đặc biệt có hiệu quả trong việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Trang 402.3.4 Bản chất của chuyện kể sáng tạo
Chuyện kể sáng tạo được xây dựng trên trí tưởng tượng của trẻ
Tưởng tượng không phải là trò đùa vu vơ của trí tuệ, không phải là một hoạt động lơ lửng trên không mà là một chức năng cần thiết cho cuộc sống Tưởng tượng bao giờ cũng được xây dựng bằng những yếu tố lấy trong hiện thực và đã có trong kinh nghiệm của con người Những truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích đã khẳng định với chúng ta rằng những sáng tạo hoang tưởng nhất cũng không phải là không có cơ sở và không lôgic Tưởng tượng bao gồm những yếu tố của hiện thực đã được sửa đổi và chế biến Tưởng tượng sáng tạo
có thể đem lại một cái hoàn toàn mới, chưa có trong kinh nghiệm của con người
và không tương ứng với bất kì sự vật nào Một sự tưởng tượng như thế có thể trở thành hiện thực Có thể lấy bất cứ một thiết bị kĩ thuât nào làm thí dụ cho sự tưởng tượng đã kết tinh Chúng được tạo nên do trí tưởng tượng của con người, chúng không phù hợp với bất kì hình mẫu nào tồn tại trong tự nhiên, nhưng chúng trở thành hiện thực như những vật khác và tác động vào thế giới hiện thực xung quanh
Tưởng tượng còn liên hệ với cảm xúc Mọi hình thức của tưởng tượng sáng tạo đều chứa đựng những yếu tố của cảm xúc Tưởng tượng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển tình cảm của trẻ
Tưởng tượng của trẻ gắn chặt với tư duy Tưởng tượng vạch ra những con đường giúp tư duy đi lên và bổ sung cho tư duy, giải quyết cho tư duy khi tư duy gặp bế tắc
Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo ít phụ thuộc vào cái đang tri giác trong thời điểm hiện tại mà phụ thuộc rất nhiều vào vốn kinh nghiệm sống Kinh nghiệm càng nhiều thì trí tưởng tượng càng phong phú và đa dạng Tưởng tượng xuất hiện và phát triển phụ thuộc vào sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo hoạt động, nếu như hoạt động của trẻ được tổ chức một cách hấp dẫn, phong phú, lôi cuốn được trẻ thì tưởng tượng của trẻ qua đó phát triển hơn