Nhưng nhiệm vụ của luận văn này không phải là nghiên cứu tiếng Đà Nẵng nên việc khảo sát chỉ thực hiện trong một phạm vi hẹp, nơi chúng tôi thực hiện khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ LINH PHƯƠNG
KHẢO SÁT LỖI PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ LINH PHƯƠNG
KHẢO SÁT LỖI PHÁT ÂM TIẾNG ANH CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ DIỄM
Đà Nẵng – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Linh Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 NGUYÊN ÂM (NÂ) 6
1.1.1 Khái niệm và phân loại 6
1.1.2 Hệ thống NÂ tiếng Anh 7
1.1.3 Hệ thống nguyên âm tiếng Việt 10
1.2 PHỤ ÂM (PÂ) 12
1.2.1 Khái niệm và phân loại PÂ 12
1.2.2 Hệ thống PÂ tiếng Anh 13
1.2.3 Hệ thống PÂ tiếng Việt 20
1.3 SỰ THỂ HIỆN CỦA HỆ THỐNG ÂM VỊ NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM Ở TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG ĐÀ NẴNG 23
1.3.1 Quy ước về hệ thống âm vị chuẩn 23
1.3.2 Giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Đà Nẵng 23
1.4 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG, DỊ BIỆT CỦA HAI HỆ THỐNG NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG KHẢ NĂNG MẮC LỖI CUẨ HỌC SINH TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
Trang 5CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC DẠNG LỖI PHÁT ÂM NGUYÊN
ÂM, PHỤ ÂM TIẾNG ANH 28
2.1 THỰC TRẠNG DẠY PHÁT ÂM TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG 28
2.2 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH LỖI PHÁT ÂM PHỤ ÂM, NGUYÊN ÂM TIẾNG ANH 30
2.2.1 Xây dựng các dạng trắc nghiệm để khảo sát lỗi 30
2.2.2 Danh sách các từ thử ở dạng trích dẫn 31
2.2.3 Chọn đối tượng để khảo sát 36
2.2.4 Các bước tiến hành thu thập tài liệu về lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh 36
2.3 LỖI PHÁT ÂM NÂ, PÂ TIẾNG ANH 38
2.3.1 Khái niệm về lỗi phát âm 38
2.3.2 Phân loại các dạng lỗi 38
2.3.3 Lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY LỖI PHÁT ÂM NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM TIẾNG ANH VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 60
3.1 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY LỖI 60
3.1.1 Nguyên nhân chủ quan 60
3.1.2 Nguyên nhân khách quan 62
3.2 CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CÁC LỖI PHÁT ÂM NÂ, PÂ TIẾNG ANH 66
3.2.1 Biện pháp mang tính chủ quan 66
3.2.2 Biện pháp mang tính khách quan 69
3.2.3 Một số đề xuất đối với việc khắc phục lỗi phát âm 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 77
Trang 6KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG TỪ THỬ
Số hiệu
3 Khảo sát các âm vị phụ âm đơn ở vị trí đầu từ 32
4 Khảo sát các âm vị phụ âm đơn ở vị trí cuối từ 33
5 Khảo sát lỗi phát âm đối với cụm 2 PÂ xuất hiện ở vị
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dạy và học tiếng Anh từ lâu đã rất phổ biến trong nhà trường Việt Nam Đặc biệt, gần đây, với Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 (gọi tắt là Đề án 2020), Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD - ĐT) đã đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên Theo
Đề án này thì đến năm 2020, đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực để sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập, tự tin trong giao tiếp ở môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá Đề án hướng đến việc biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tiếng Anh hiện đã được đưa vào giảng dạy từ cấp tiểu học trở lên nên việc dạy tiếng Anh như thế nào để đạt hiệu quả cao là một đòi hỏi hết sức cấp thiết
Việc đảm bảo chất lượng dạy và học tiếng Anh ở bậc tiểu học là vô cùng quan trọng và giáo viên (GV) là người giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giảng dạy, giúp các em có hứng thú với giai đoạn đầu của quá trình học tập
Theo kiểu truyền thống thì GV chỉ nghiêng về dạy viết và dạy chủ yếu
là ngữ pháp chứ ít chú trọng đến luyện phát âm, giao tiếp nên dẫn đến thực trạng là người học có phản xạ kém và thiếu tự tin khi giao tiếp Để khắc phục tình trạng này, Đề án 2020 chú ý rèn cả 4 kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết cho
HS, sinh viên
Trang 11Tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ không cùng loại hình và ngữ
hệ nên có sự khác biệt khá lớn Vì vậy, ở giai đoạn đầu của quá trình học tiếng Anh, phát âm cho chuẩn là rất cần thiết Với tâm huyết của một GV dạy
tiếng Anh cấp tiểu học, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh tiểu học Đà Nẵng và một số biện pháp khắc phục
Mong muốn của chúng tôi là góp phần cải thiện vấn đề lỗi và sửa lỗi cho học sinh (HS)
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các dạng lỗi mà HSTH thường mắc phải trên cơ sở khảo sát
cách phát âm các NÂ và PÂ tiếng Anh
- Phân tích các nguyên nhân gây lỗi dựa trên những đặc điểm của hệ thống NÂ, PÂ tiếng Anh, tiếng Việt và ít nhiều có chú ý đến tiếng địa phương Đà Nẵng
- Đưa ra các giải pháp sửa lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh cho HS dưới hình thức các dạng bài tập phát âm phù hợp với trình độ, với tâm lý từng lứa tuổi của HS để từng bước cải thiện việc học phát âm của các em
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn chúng tôi quan tâm là lỗi phát âm NÂ, PÂ trong
từ (trích dẫn) tiếng Anh của HSTH Đà Nẵng (cụ thể là của học sinh lớp 4, lớp
5 của năm trường tiểu học: Trần Văn Ơn, Ngô Gia Tự, Hoa Lư, Hoàng Dư Khương, Ngô Sĩ Liên)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này chỉ khảo sát lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh của HS Những lỗi khác như lỗi trọng âm, ngữ điệu không được chúng tôi đề cập đến trong luận văn
Việc mắc lỗi phát âm của HS trong quá trình học tiếng Anh không thể
Trang 12không bị ảnh hưởng của tiếng địa phương Vì vậy, trong luận văn này, chúng
tôi dành một phần cho việc khảo sát tiếng địa phương Đà Nẵng Nhưng nhiệm
vụ của luận văn này không phải là nghiên cứu tiếng Đà Nẵng nên việc khảo
sát chỉ thực hiện trong một phạm vi hẹp, nơi chúng tôi thực hiện khảo sát lỗi
phát âm tiếng Anh của HS và chỉ dừng lại ở hệ thống NÂ, PÂ Trong phần
mô tả sự thể hiện của hệ thống NÂ, PÂ tiếng Việt qua tiếng địa phương Đà
Nẵng, chúng tôi cũng chỉ giới hạn ở việc nêu hiện tượng, mô tả NÂ, PÂ mà
không giải thích nguyên nhân
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh trong những từ riêng lẻ chứ không nằm trong ngữ lưu
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh, đối chiếu:
Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi đã đối chiếu hai ngôn ngữ Anh
– Việt ở cấp độ ngữ âm
Phương pháp khảo sát thực tế, mô tả và phân tích:
Đầu tiên chúng tôi lập bảng từ thử, thực hiện ghi âm từng HS sau đó
tiến hành quan sát trực tiếp cách phát âm của các em Dựa trên đặc điểm âm
vị học của các âm vị NÂ, PÂ tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi mô tả, phân
tích cách phát âm NÂ, PÂ của từng HS Sự thể hiện thừa, thiếu hoặc sai lệch
các đặc trưng âm vị học của NÂ, PÂ từ phía HS là cơ sở để chúng tôi xác
định và phân loại lỗi
Để xác định tỉ lệ mắc lỗi của HS chúng tôi sử dụng thao tác thống kê
Ngoài ra chúng tôi còn áp dụng phương pháp lý luận dạy học để phân tích
các nguyên nhân gây lỗi từ nhiều khía cạnh khác nhau, để từ đó đưa ra những
giải pháp khắc phục lỗi, các dạng bài tập phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Trang 135 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
trình bày thành 3 chương với nội dung như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát các dạng lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh của
học sinh tiểu học Đà Nẵng
Chương 3: Các nguyên nhân gây lỗi phát âm tiếng Anh của học sinh tiểu học Đà Nẵng và những giải pháp sửa lỗi
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Những vấn đề liên quan đến lỗi của người học ngoại ngữ đã được nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm
Ở nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu, phân tích về lỗi của
người học tiếng Anh như một ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai, ví dụ: công
trình nghiên cứu của Norris J “Language Learners and Their Errors”, công
trình “ Error Analysis and Interlanguage ” của tác giả Corder S P
Trong giảng dạy tiếng Anh, vấn đề lỗi và nghiên cứu lỗi của người Việt
Nam khi học tiếng Anh đã được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập
đến ở những phạm vi nhất định như: Phan Quang Bảo, “Difficulty Often Met
with by Hue Learner of English in Pronouncing Certain English Sounds”
(Khó khăn người học tiếng Anh ở Huế gặp phải khi phát âm một số âm vị
tiếng Anh)” [29]; Nguyễn Thị Phúc Hoa với “Some Pronunciation Problems
Facing the Learners of English Language at Hue University When Speaking
English Naturally”(Một số vấn đề phát âm sinh viên Đại học Huế gặp phải
khi nói tiếng Anh một cách tự nhiên) [36]; Lê Thị Minh Trang với “A Stydy of
Syllable Final Consonant Cluster Reduction in English F L Speech of
Vietnamese Learner” (Nghiên cứu sự lược bỏ cụm phụ âm cuối âm tiết trong
quá trình nói tiếng Anh của người Việt Nam) [49]; Lê Thị Hải Hà với luận
Trang 14văn “Errors Analysis and Its Significance to Language Teaching” (Phân tích lỗi và ý nghĩa của phân tích lỗi trong dạy tiếng) [35]; Dương Bạch Nhật với
“Designing a Syllabus of English Pronunciation of The First Year Students in Quy Nhon Teacher Training College” (Thiết kế chương trình dạy phát âm tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất tại trường Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn) [41]; Trần Thị Mai Đào với “Lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh của học sinh Việt Nam” [11]; Phan Thúy Phương với “Lỗi phát âm phụ âm tiếng Pháp của học sinh Khánh Hòa và một số biện pháp khắc phục” [20], Dương Thị Ngọc Thủy với “Khảo sát lỗi phát âm trọng âm từ tiếng Anh của học sinh Việt Nam” [24]
Điểm qua một số công trình nghiên cứu của một số tác giả kể trên về vấn đề lỗi trong việc dạy học ngoại ngữ cũng như xung quanh việc khắc phục lỗi, chúng tôi nhận thấy:
- Phần lớn các tác giả đều khẳng định vấn đề phát âm tiếng Anh chiếm một vị trí quan trọng trong quy trình dạy tiếng Anh
- Một số tác giả đã khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của người Việt Nam
và những vấn đề liên quan đến lỗi phát âm như: các dạng lỗi phát âm, nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất những biện pháp chung để khắc phục lỗi
Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ dừng lại ở việc khảo sát lỗi phát âm ở phụ âm (PÂ) của HS từ cấp phổ thông cơ sở trở lên chứ chưa có tác giả nào đề cập đến lỗi phát âm nguyên âm (NÂ) lẫn PÂ dành cho học sinh tiểu học (HSTH)
Trang 15CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 NGUYÊN ÂM (NÂ)
1.1.1 Khái niệm và phân loại
a Khái niệm
Âm thanh là những dao động tuần hoàn của không khí Những âm thanh phát ra nếu có chung một tần số cơ bản dao động thì thính giác của con người dễ nghe và được gọi là thanh Các NÂ do con người phát ra là những
âm thanh có chung một tần số cơ bản nào đó
Theo quan điểm thông thường nhất, NÂ là âm mà lúc phát ra thì luồng khí đi từ thanh quản lên môi không bị cản trở
Về phương diện sinh lý, tức là phương diện phát âm, âm thanh được tạo
ra do luồng không khí từ phổi đi lên qua thanh hầu, làm rung động dây thanh
Âm thanh không bị cản trở sẽ được cộng hưởng ở khoang yết hầu và khoang miệng tạo thành các nguyên âm khác nhau tùy theo độ mở của miệng, vị trí của lưỡi và hình dáng của môi
b Phân loại
- Tùy theo vị trí của lưỡi, chúng ta phân biệt: NÂ hàng trước: /i/, /e/, /E/…; NÂ hàng giữa: /«/, /Î:/, /Ã / …,và NÂ hàng sau: /µ/, /u/, /o/, /•/…
- Tùy theo độ mở của miệng, chúng ta phân biệt: NÂ hẹp: /i/, /µ/, /u/;
NÂ hơi hẹp: /e/, /F/, /o/; NÂ hơi rộng: /E/, /•/; và NÂ rộng: /a/
- Tùy theo hình dáng của môi, chúng ta phân biệt: NÂ tròn môi: /u/, /o/, /•/; NÂ không tròn môi /i/, /µ/,/F/, /E/…
Trang 161.1.2 Hệ thống NÂ tiếng Anh
a Phân loại và miêu tả NÂ tiếng Anh
Tiếng Anh có 20 nguyên âm, trong đó có 12 NÂ đơn (NÂ ngắn: /i, E, Q,
Ã, ɒ, ʊ, ə /; NÂ dài: /i:, a:, ɔ:, u:, Î:/) và 8 NÂ đôi: /eɪ, aɪ, ɔɪ, aʊ, əʊ, ɪə, eə, ʊə/
b Mối quan hệ giữa âm vị NÂ tiếng Anh và chữ viết
Mối quan hệ giữa âm và chữ viết trong tiếng Anh không phải là mối quan hệ 1 = 1, mà có nhiều cách viết khác nhau dành cho cùng một âm
Có thể trình bày hệ thống âm vị NÂ tiếng Anh và sự thể hiện của chúng trên chữ viết (không kể trường hợp ngoại lệ) qua bảng sau:
tea (trà), sea (biển) cheese (pho mát); free (tự do) believe (tin tưởng), chief (người đứng đầu)
we (chúng tôi), secret (bí mật) ceiling (trần nhà), receive (nhận được) Vietnamese (người Việt), Japanese (người Nhật)
Trang 17ou country (thôn quê), young (trẻ)
/ɑ:/ ar star (ngôi sao), march (tháng ba)
/ •/ o dog (con chó), often (thỉnh thoảng)
call (gọi), tall (cao) daughter (con gái),audience (khán giả) law (luật), draw (vẽ)
short (ngắn), sport (thể thao) board (cái bảng), oar (mái chèo)
/ʊ/
u
o
oo ould
full (đầy, no), put (đặt, để) woman (đàn bà), wolf (con sói) foot (bàn chân), book (quyển sách) could (có thể), should (nên)
/u:/
-ew ui-
calendar (lịch), particular (đặc biệt) letter (lá thư), writer (văn sĩ) doctor (bác sĩ), sailor (thủy thủ) temperature (nhiệt độ), literature (văn chương)
/ Ã/
o u+ PÂ tiếp đầu ngữ un,
um
oo
come (đến), some (một vài) but (nhưng), cup (cái tách) unhappy (không sung sướng), umbrella (cái dù)
blood (máu huyết), blood (lũ lụt)
ay
afraid (e ngại), nail (móng tay) clay (đất sét), to play (chơi)
Trang 18-ey eigh- ate
they (họ), grey (màu xám) eight (số tám), weight (trọng lượng) invitate (mời), to create (sáng tạo)
fine (tốt, đẹp), shine (chiếu sáng)
to cry (khóc), shy (e lệ) guide (sự hướng dẫn), quite (hoàn toàn) die (chết), lie (nói dối)
high (cao), light(ánh sáng)
cloud (đám mây), around (chung quanh) plow (cái cày), towel (khăn mặt)
our (của chúng ta), flour (bột mì)
/əʊ/
o oa- ol- -ow
potato (khoai tây), tomato (cà chua) coat (áo khoác), soap (xà phòng) cold (lạnh), gold (vàng)
know (biết), show (biểu diễn)
/ɪə/
ear eer ier ere
ear (tai), clear (rõ ràng) beer (bia), engineer (kỹ sư) bier (đòn khiêng), pier (bến) here (ở đây), sincere (thành thật)
/eə/
air are ear
chair (ghế tựa), hair (tóc) care (săn sóc), prepare (sửa soạn) bear (con gấu), pear (quả lê)
oor our
poor (nghèo), moor (đất hoang) tour (chuyến đi), to pour (đổ)
Trang 191.1.3 Hệ thống nguyên âm tiếng Việt
NÂ là một bộ phận của âm tiết tiếng Việt GS.Đoàn Thiện Thuật đã khẳng định: “Âm tiết tiếng Việt không phải là một khối không thể chia cắt được mà là một cấu trúc” [20, tr.71]
Đoàn Thiện Thuật [23] quan niệm âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: bậc thứ nhất bao gồm những thành tố của nó được phân định bằng những ranh giới có ý nghĩa hình thái học, bậc thứ hai bao gồm những thành tố của phần vần chỉ có chức năng khu biệt thuần túy
Âm tiết
I Thanh điệu Âm đầu Vần
II Âm đệm Âm đầu Âm cuối
Như vậy, xét theo chức năng khu biệt thì tiếng Việt có 5 tiểu hệ thống âm vị khác nhau: hệ thống âm đầu, hệ thống âm đệm, hệ thống âm chính, hệ thống âm cuối và hệ thống thanh điệu Tuy hệ thống âm đầu và
hệ thống âm cuối đều do các âm vị phụ âm đảm nhận nhưng “không tìm thấy một lý do gì để sáp nhập các âm tố đứng đầu và cuối âm tiết vào một
âm vị… Sự phân chia các âm vị ra thành các hệ thống âm vị khác nhau là dứt khoát” [12, tr.158] Vì nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu vấn đề về lỗi và sửa lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh cho HSTH Đà Nẵng nên chúng tôi sẽ chọn hệ thống NÂ, PÂ đầu và PÂ cuối cơ sở đối chiếu với hệ thống
NÂ, PÂ tiếng Anh
Trang 20a Phân loại và miêu tả NÂ tiếng Việt
a1 Phân loại
Tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi làm âm chính
Đó là: / i, e, E, E(, µ , F, F(, a, a(, U, o, •, •(/ và /ie , µF, uo/
Dựa vào các tiêu chí phân loại như vị trí của lưỡi, độ mở của miệng,
hình dáng của môi, thời gian phát âm, âm sắc ta có thể mô tả các NÂ đơn
tiếng Việt như sau:
Độ
mở
miệng
Ba NÂ đôi /ie, µF,Uo/ lần lượt thuộc về 3 dòng: dòng trước không tròn
môi, dòng sau không tròn môi và dòng sau tròn môi Xét về trường độ, 3 NÂ này
là các âm dài (đặc biệt dài); xét về âm sắc thì /ie/ có âm sắc bổng, /µF, Uo/ có âm
sắc trầm Nhưng xét về độ mở thì cả 3 NÂ này đứng ngoài đối lập về độ mở
(không thể nói nó có độ mở hẹp, hay độ mở vừa hoặc độ mở rộng) vì chúng
được phát âm “trượt” từ hẹp đến vừa chứ không cố định như các NÂ đơn
Trang 21- /ă/ : NÂ đơn, ngắn, dòng sau, không tròn môi, độ mở rộng
- /o/ : NÂ đơn, dài, dòng trước, tròn môi, độ mở vừa
- /ie/ : NÂ đôi, dòng trước, không tròn môi
b Mối quan hệ giữa âm vị NÂ tiếng Việt và chữ viết
Sự thể hiện các âm vị NÂ của tiếng Việt bằng chữ viết được trình bày ở các bảng sau:
Trang 22Về mặt cấu âm, các PÂ được tạo ra bởi luồng không khí đi từ phổi ra bị
cản trở hoàn toàn hay không hoàn toàn mà phát ra tiếng động trên lối thoát
của nó Có nhiều cách thức cản trở (được gọi là phương thức cấu âm) khác
nhau Và cùng một cách cản trở nhưng được thực hiện ở các vị trí cấu âm
khác nhau cũng sẽ cho ra những PÂ khác nhau
b Phân loại PÂ
Để phân loại PÂ người ta dựa vào các đặc điểm cấu âm và đặc điểm âm
học của chúng
* Theo tiêu chí đặc điểm cấu âm
- Phương thức phát âm: cách thức di chuyển của luồng hơi khi phát ra âm
- Vị trí cấu âm: vị trí mà luồng hơi bị cản trở khi phát ra
* Theo tiêu chí đặc điểm âm học:
Dựa vào đặc điểm tính thanh, các phụ âm được chia làm hai loại:
phụ âm hữu thanh (PÂHT) và phụ âm vô thanh (PÂVT)
Khi phát âm PÂHT, luồng khí bị chặn ở thanh quản làm rung dây thanh
rồi thoát ra ngoài Ngược lại, dây thanh sẽ không tham gia vào quá trình phát
âm các PÂVT Các PÂVT được phát âm căng và mạnh hơn các PÂHT
1.2.2 Hệ thống PÂ tiếng Anh
a Phân loại và miêu tả PÂ tiếng Anh
a1 Phân loại PÂ tiếng Anh:
Dựa trên các bộ phận phát âm, các PÂ trong tiếng Anh được chia thành:
- Âm môi răng: / f, v /
- Âm giữa răng: / T, D /
- Âm đầu lưỡi – lợi: / t, d, s, z, n, l /
- Âm cạnh lưỡi – sau lợi: /S, Z , tS, dZ /
Trang 23- Âm ngạc cứng: /j, r/
- Âm ngạc mềm và phần sau của lưỡi: / k, g, ŋ /
Dựa trên cách phát âm, các PÂ trong tiếng Anh được chia thành:
Luồng hơi bị tắc lại hoàn toàn tại một vị trí nào đó trong khoang miệng
do hai môi, đầu lưỡi hoặc gốc lưỡi và sau đó luồng hơi được xả ra với tiếng bật nổ nhẹ Có ba cặp âm tắc sau:
Trang 24- Cặp âm môi (bilibial): /p-b/
+ Hai môi mím chặt, làm không khí hai môi bị chặn lại, sau đó lại đột ngột mở ra
+ /p/ là âm VT, bật hơi, nhưng dây thanh không rung; /b/ là âm HT, dây thanh rung
- Cặp âm lợi (alveolar): /t, d/
+ Đầu lưỡi đặt phía sau hàm trên, chặn hoàn toàn luồng khí, sau đó đột ngột tách ra
+ /t/ là âm VT, bật hơi, nhưng dây thanh không rung; /d/ là âm HT, dây thanh rung
- Cặp âm môi răng (labial dental): /f, v/
+ Môi dưới (chỉ vị trí bên trong khoảng 1/3 của môi dưới) chạm nhẹ răng trên, bị chặn nhẹ, không khí thoát ra khe hở giữa môi và răng, tạo ra tiếng cọ xát
+ /f/ là âm VT, dây thanh không rung; /v/ là âm HT, khi phát âm dây thanh rung
- Cặp âm lưỡi răng: / T, D/
+ Đầu lưỡi chạm nhẹ vào phần cuối răng trên, không khí thoát ra từ khe hẹp ở giữa lưỡi và răng, tạo ra một sự cọ xát
Trang 25+ /T/ là âm VT, dây thanh không rung, bật hơi mạnh;
+ /D/ là âm HT, dây thanh rung, bật hơi nhẹ
- Cặp âm lưỡi và nướu răng: /s, z/
+ Phần đầu lưỡi nâng lên gần nướu răng (nhưng không chạm vào), không khí đi qua khe hẹp giữa đầu lưỡi và nướu răng thì tạo ra âm xát
+ /s/ là âm VT, khi phát âm phải bật hơi, dây thanh không rung; /z/ là
âm HT, khi phát âm dây thanh rung nhưng không bật hơi
- Cặp âm lợi - ngạc: /S, Z/
+ Thân lưỡi nâng lên phần phía sau nướu răng trên (nhưng không được chạm vào), phần trước lưỡi cũng nâng lên phía ngạc cứng, tạo thành một khe nhỏ hẹp
+ Hai môi phải đưa ra và hơi thu tròn lại
+ /S/ là âm VT, dây thanh không rung; /Z/ là âm HT, dây thanh rung
- Phụ âm bên /l/: Có hai cách phát âm cạnh lưỡi trong tiếng Anh, được
thể hiện bằng ký hiệu phiên âm /l/ và /É/
+ Âm /l/ xuất hiện trước nguyên âm như : let, late được gọi là âm rõ ràng
+ Đầu lưỡi và thân lưỡi chạm mạnh vào nướu răng trên, phần trước lưỡi nâng lên hướng về phía ngạc cứng, không khí thoát ra từ cạnh lưỡi
+ Âm /É/ xuất hiện trước PÂ và ở cuối từ như: milk, doll được gọi là
âm nhẹ
+ Đầu lưỡi chạm mạnh vào nướu răng trên, phần giữa thân lưỡi hạ xuống, phần sau lưỡi nâng lên, lưỡi tạo thành hình chữ U, luồng khí này tạo ra cộng hưởng, phát ra âm
+ Cả /l/ và /É/ đều là âm HT
Trang 26- Âm xát: /h, r/
+ Khi phát âm /h/, không khí tự do thoát ra từ khoang miệng mà không gặp trở ngại, nhưng khi đi qua thanh hầu thì tạo nên âm xát nhẹ Miệng mở
ra, hình dạng miệng thay đổi tùy theo NÂ ở sau
+ Khi phát âm /r/, lưỡi uốn vào gần phần sau của nướu răng trên (nhưng không chạm vào) Lưỡi có dạng hơi giống chữ U, hai bên lưỡi thu vào, chạm nhẹ hai bên của nướu răng trên, hai môi hơi nhô ra trước và thu tròn lại
+ /h/ là âm VT, dây thanh không rung; /r/ là âm HT, dây thanh rung
- Cấu âm /w/ ở vị trí của NÂ /u:/ hay /u/
- Cấu âm /j/ ở vị trí của NÂ /i:/ hay /l/ Âm /w/, /j/ đều là âm HT
Trang 27b Mối quan hệ giữa âm vị PÂ tiếng Anh và chữ viết
Hệ thống âm vị PÂ tiếng Anh và sự thể hiện của chúng trên chữ viết được trình bày qua bảng sau:
song (bài hát), sing (hát) city (thành phố), center (trung tâm) scene (cảnh), science (khoa học) dessert (món tráng miệng), kiss (nụ hôn)
z
rose (hoa hồng), disease (bệnh tật) zoo (sở thú), zebra (ngựa vằn) /p/ p pen (cây viết mực), pink (màu hồng)
/b/ b book (quyển sách), boy (nam sinh)
/v/ v various (khác nhau), van (xe tải)
/ʒ/ s leisure (nhàn rỗi), measure (đo)
Trang 28-si decision (phiên bản), Asia (Châu Á)
/tʃ /
t
ch tch
future (tương lai), nature (thiên nhiên) cheap (rẻ), check (kiểm tra)
catch (bắt, đuổi), match (trận đấu)
/dʒ/
j
g
ge dge
jeans (quần jean), joke (trò đùa) general (chung), gymnastic (thuộc về thể dục) age (tuổi), budget (ngân sách)
fridge (tủ lạnh), edge (biên, cạnh) /θ/ th thin (gầy), think (nghĩ)
/ð/ th this (đây, này), then (rồi thì)
/n/ n now (bây giờ), nine (số chín)
/N/ ng sing (hát), wing (cánh)
/h/
h
wh /h/ không được phát âm
hat (cái mũ), here (ở đây) who (ai), whom (ai, người nào) honest (thành thật), hour (giờ)
/l/
l
ll / l / không được phát âm
leave (rời), lime (quả chanh) tall (cao), bill (hóa đơn) talk (nói), half (một nửa)
wr
red (màu đỏ), reason (lý do) wrong (sai), write (viết)
Trang 291.2.3 Hệ thống PÂ tiếng Việt
a Phân loại và miêu tả PÂ tiếng Việt
a1 Phân loại
Vì nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu vấn đề lỗi và sửa lỗi phát âm nguyên âm, phụ âm (NÂ, PÂ) tiếng Anh của HSTH Đà Nẵng nên chúng tôi sẽ chọn hệ thống PÂ đầu và hệ thống PÂ cuối để làm cơ sở đối chiếu với hệ thống PÂ tiếng Anh
* Hệ thống phụ âm đầu
Theo tác giả Đoàn Thiện Thuật thì các âm đầu trong tiếng Việt hiện đại đều là PÂ và là các PÂ đơn
Tiếng Việt có 22 PÂ đầu, bao gồm: /b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s,
ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h, ʔ/ Âm vị /p/ không được coi là PÂ đầu vì tính chất không phổ biến của nó (chỉ xuất hiện trong các từ vay mượn từ tiếng Anh, tiếng Pháp)
Các PÂ này được nhận diện trong bảng tổng hợp sau:
Thanh hầu
Trang 30* Hệ thống PÂ cuối
Các PÂ cuối của tiếng Việt đều là các PÂ đóng tức là trong cách cấu
âm không có giai đoạn buông Trong nhiều trường hợp, các PÂ cuối chỉ là những khoảng im lặng
Tiếng Việt có 9 âm vị làm âm cuối, trong đó có 1 âm vị /zêro/, 6 PÂ và
/ p / : PÂ tắc, ồn, không bật hơi, vô thanh, đầu lưỡi – lợi
/ z / : PÂ xát, ồn, hữu thanh, đầu lưỡi – lợi
/ N / : PÂ tắc, vang mũi, gốc lưỡi
/ h/ : PÂ xát, ồn, vô thanh, thanh hầu
b Mối quan hệ giữa âm vị PÂ tiếng Anh và chữ viết
Sự thể hiện bằng chữ viết của các âm vị PÂ đầu được trình bày ở bảng sau:
Trang 31b1 Sự thể hiện của các âm vị PÂ đầu
b2 Sự thể hiện của các âm vị PÂ cuối
Sự thể hiện bằng chữ viết của các âm vị PÂ cuối được trình bày ở bảng sau:
Trang 321.3 SỰ THỂ HIỆN CỦA HỆ THỐNG ÂM VỊ NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM
Ở TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG ĐÀ NẴNG
1.3.1 Quy ước về hệ thống âm vị chuẩn
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trên toàn lãnh thổ cũng như trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Cho đến nay, tiếng Việt chưa xác định được “tiếng chuẩn” Để tiện cho việc nghiên cứu và căn cứ vào
ý kiến của đa số nhà khoa học, dựa vào thực tế sử dụng ngôn ngữ, chúng tôi
thống nhất với quan điểm của GS Đoàn Thiện Thuật tạm thời coi tiếng Việt như một thứ tiếng chung được hình thành trên cơ sở tiếng địa phương miền Bắc với trung tâm là Hà Nội và cách phát âm của nó là cách phát âm Hà Nội với sự phân biệt / } - c/, / § - s/, / ½ - z/ và các vần “ ưu / iu, ươu/ iêu” [25,
tr 63-64]
Đối tượng ngữ âm mà chúng tôi miêu tả trong luận văn này chính là hệ thống ngữ âm của tiếng chuẩn (hay còn gọi là tiếng phổ thông) theo quan niệm trên.
1.3.2 Giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Đà Nẵng
Căn cứ ngữ liệu trong luận văn thạc sĩ “Ngữ âm tiếng địa phương Quảng Nam” của tác giả Phạm Văn Tường thì hệ thống ngữ âm có một số đặc
trưng cơ bản sau:
- Về hệ thống PÂ đầu, tiếng địa phương Quảng Nam có 22 âm vị tương đương với số lượng âm đầu của tiếng Việt chuẩn mực
Tuy vậy, trong nội bộ hệ thống có cách phát âm lệch với tiếng phổ thông như sau:
Trang 33Âm vị Con chữ Ví dụ
Phát âm theo tiếng phổ thông
Phát âm lệch tiếng phổ thông
Ghi chú
Âm chính /a/
đã được trầm hóa bởi âm đệm /U9/
/a/ , /U9/ a, b cháo – chố /caU9/ /co/ /a/ , /U9/ -> /o/
/ ɔˇ/, /i 9/ o, i nói – núa /n ɔˇi9/ /nuo/ / ɔˇ/, /i9/ -> /uo/
/ă/ ă mặn – mẹn /măn/ /mεn/ /ă/ -> /ε/
/ă/ ă tắt – tét /tăt/ /tεt/ /ă/ -> /ε/
/a/ a làm – lồm /lam/ /lom/ /a/ -> /o/
/ă/, /i 9/ a say – sa / şăi9/ /şa/ /ă/, /i9/ -> /a/
/a/ a đã – đõa /da/ /dU9a/ /a/ -> /U9/ /a/
/ă/ ă năng – neng /nă ŋ/ /nε ŋ/ /ă/ -> /ε/
/o/ ô xốp - xớp /sop/ /s ɤp/ /o/ -> /ɤ/
/uo/ uô luộm thuộm -
- Về hệ thống vần trong tiếng địa phương Quảng Nam:
Trang 34Tiếng Quảng có 22 vần mang đặc trưng địa phương, số còn lại trùng với vần phổ thông Cùng với khuynh hướng hội quy, khuyếch tán, sự giảm thiểu là căn cứ giải thích tại sao tiếng Quảng lại "khó nghe"
Đặc biệt, tiếng Quảng Nam có một NÂ [ɒ] dòng sau, tròn môi, xuất hiện ở tất cả các loại hình âm tiết [ɒ], [ɒw], [ɒm], [ɒp], [ɒh], [ɒk], [ɒh(m)]
Ngoài ra, từ hiện tượng biến âm, rụng âm, trong hệ thống NÂ tiếng Quảng đã xuất hiện những biến thể NÂ đôi [e¶], [¶a], [Ɔ ¶], trong đó [¶a] phát
âm gần giống như NÂ dòng trước, độ mở hơi hẹp và tròn môi /f / của tiếng
Pháp, ví dụ: fleur
1.4 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG, DỊ BIỆT CỦA HAI HỆ THỐNG NGUYÊN ÂM, PHỤ ÂM TIẾNG ANH, TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG KHẢ NĂNG MẮC LỖI CUẨ HỌC SINH TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG
Sự khác biệt giữa hai hệ thống NÂ, PÂ tiếng Anh và tiếng Việt là
ở chỗ:
Hệ thống PÂ đầu tiếng Việt gồm 22 âm vị PÂ và hệ thống PÂ cuối gồm 6 âm vị PÂ Trong khi đó, tiếng Anh có 24 âm vị PÂ và chúng có thể xuất hiện cả ở vị trí đầu hoặc cuối từ Như vậy, số lượng âm vị PÂ xuất hiện ở
vị trí cuối trong tiếng Anh sẽ nhiều hơn trong tiếng Việt
Hơn nữa, các âm vị cuối của tiếng Việt đều là các âm đóng - tức trong cấu âm không có giai đoạn xả, còn trong cách cấu âm của PÂ tiếng Anh hầu như đều có giai đoạn xả Chính sự khác biệt này đã trở ngại cho việc học phát
âm tiếng Anh Theo chúng tôi, HS Việt Nam nói chung và HSTH Đà Nẵng nói riêng sẽ mắc lỗi khi phát âm các PÂ ở vị trí cuối
Tuy khác nhau về số lượng cũng như đặc trưng ngữ âm của các PÂ ở từng vị trí nhưng cả hai hệ thống PÂ đều có những âm vị được coi là "tương đương” Những âm vị /b, t, d, s, z, k, f, v, m, n, ø, l/ được coi là tương đương
Trang 35giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt, còn những âm vị /tS, dZ, T, D, Z, S, r, p, g/ có trong tiếng Anh nhưng không có trong tiếng Việt Như vậy, HS Việt Nam học tiếng Anh sẽ gặp khó khăn trong việc phát âm các âm vị trên
Tuy những âm vị /tS, dZ, T, D, Z, S, r, p, g/ của tiếng Anh không có trong tiếng Việt nhưng trong tiếng Việt phổ thông cũng như tiếng địa phương Đà Nẵng
có một số âm vị như /b, F, §, ½, r/ có vị trí cấu âm gần giống với cách cấu âm của những âm vị tiếng Anh nêu trên Cụ thể:
- /b/ là âm tắc môi HT, còn /p/ là âm tắc môi VT
Một đặc điểm khác biệt nữa là các âm vị PÂ tiếng Anh có thể đứng liền nhau tạo thành từng cụm 2, 3 PÂ trở lên, trong khi đó các âm vị PÂ tiếng Việt
không có đặc điểm này Một số cách ghép 2 hay 3 con chữ như: tr, ch, nh, ngh trong tiếng Việt chỉ là sự thể hiện bằng chữ của một âm vị mà thôi Vì
vậy, HS Việt Nam luôn có vấn đề với các cụm PÂ, đặc biệt với các em HSTH đọc còn ê a nên khi đọc các cụm PÂ trong tiếng Anh thường có xu hướng kéo dài ra
Trang 36TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong Chương 1 của Luận văn, chúng tôi đã cố gắng tạo lập một cơ sở
âm vị học về hệ thống âm vị NÂ, PÂ tiếng Anh, tiếng Việt cùng với sự thể hiện của tiếng Việt qua tiếng địa phương Đà Nẵng để từ đó so sánh, xem xét nhằm giải quyết nhiệm vụ mà Luận văn đặt ra
Sau khi xem xét hai hệ thống âm vị NÂ, PÂ tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy hệ thống này có những nét khác biệt sau:
- Tiếng Anh có 20 NÂ, trong đó có 12 NÂ đơn (NÂ ngắn: /i, E, Q, Ã,
ɒ, ʊ, ə/; NÂ dài: /i:, a:, ɔ:, u:, Î:/) và 8 NÂ đôi: /eɪ, aɪ, ɔɪ, aʊ, əʊ, ɪə, eə, ʊə/
- Tiếng Việt có 13 NÂ đơn và 3 NÂ đôi làm âm chính Đó là: /i, e, E, E(, µ , F, F(, a, a(, u, o, •, •(/ và /ie , µF, uo/
- Hệ thống PÂ tiếng Việt được chia thành hai hệ thống có chức năng riêng biệt là hệ thống PÂ đầu gồm 22 âm vị /b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ,
ŋ, ɣ, h, ʔ/ và hệ thống PÂ cuối gồm 6 âm vị /p, k, t, m, n, N/ Các âm vị PÂ cuối của tiếng Việt đều là những PÂ đóng (không có giai đoạn xả), trong khi đó hệ thống PÂ tiếng Anh gồm 24 âm vị đều có thể đứng đầu hoặc cuối từ Số lượng
PÂ đứng ở vị trí cuối trong tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt Hơn nữa, các PÂ ở
vị trí cuối từ đều là những PÂ buông (không có giai đoạn xả)
- Các PÂ tiếng Anh có thể kết hợp với nhau tạo thành những cụm 2, 3
PÂ trở lên nhưng PÂ tiếng Việt thì lại không có khả năng đó
Trang 37CHƯƠNG 2
KHẢO SÁT CÁC DẠNG LỖI PHÁT ÂM NGUYÊN ÂM,
PHỤ ÂM TIẾNG ANH
2.1 THỰC TRẠNG DẠY PHÁT ÂM TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÀ NẴNG
Qua khảo sát về tình hình dạy và luyện phát âm cho HSTH từ các GV giảng dạy tại một số trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Đa số GV đều cho rằng việc dạy và luyện phát âm tiếng Anh cho HS
ở giai đoạn đầu là rất quan trọng, bởi việc phát âm sai trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ sẽ gây nhiều khó khăn cho việc dạy và luyện kĩ năng nghe nói ở các giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, thực tế điều tra cho thấy: thời gian phân bổ cho phần luyện âm của từng đơn vị bài học của chương trình tiếng Anh ở lớp 4, lớp 5
là tương đối ít Thường thì GV chỉ dành khoảng từ 5 đến 7 phút cho một bài học để dạy và luyện phát âm cho HS ở trường tiểu học Thời gian hạn chế này đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học tiếng Anh ở bậc tiểu học
- Trong quá trình dạy phát âm, GV thường xuyên luyện phát âm cho
HS theo kiểu GV đọc mẫu, HS đọc đồng thanh từ 3 đến 4 lần, sau đó HS đọc lại một lần, rồi GV yêu cầu một vài HS đọc lại từ GV dùng máy cassette để dạy phát âm Hơn nữa, vì theo phân phối chương trình mỗi tiết chỉ kéo dài 35 phút trong khi số lượng HS lại khá đông (khoảng 40 - 45 em/lớp) nên thời gian luyện tập thực hành sẽ không đủ Trong khi đó, rất ít phụ huynh quan tâm đến việc giúp các em luyện tập phát âm ở nhà
- Một số GV có sử dụng máy cassette để dạy phát âm Tuy nhiên, để việc dạy và luyện PÂ cho HS hiệu quả hơn, cần phải có sự hỗ trợ của các thiết
bị nghe nhìn hiện đại khác Thực tế điều tra còn cho thấy, đa số các em không
Trang 38được khuyến khích hoặc không có đủ các phương tiện học tập ngoại ngữ như sách, báo, băng tiếng, băng hình
- Đa phần GV chú trọng đến khả năng HS có dùng đúng ngữ pháp trong câu hoặc khả năng viết được từ ngữ và biết được nghĩa của từ hơn là việc phát âm một cách chuẩn xác Do vậy, rất ít GV tiểu học chú trọng tới việc tạo ra môi trường tiếng cũng như việc luyện và sửa phát âm cho các em, dẫn đến việc các em phát âm còn tùy tiện và không thể tự tin giao tiếp bằng khẩu ngữ
Bên cạnh những yếu tố trên, thực trạng việc dạy phát âm ở bậc tiểu học còn bị ảnh hưởng bởi năng lực chuyên môn của GV Thực tế, một bộ phận GV chưa được trang bị các kiến thức ngữ âm cần thiết Khi bản thân GV thiếu tự tin vào khả năng phát âm của mình, hoặc chưa có kiến thức ngữ âm vững chắc thì họ không thể nhận ra lỗi phát âm của HS và luyện cho HS mình phát âm một cách chuẩn xác được Chính điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng đào tạo tiếng Anh và hạn chế sự phát triển kĩ năng giao tiếp của các em
Nói chung, tình hình dạy phát âm hiện nay đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo tiếng Anh cho HSTH theo mục tiêu giáo dục đã đề ra Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân cơ bản là do chương trình đào tạo, phương pháp dạy
và học chưa thật sự phù hợp và hơn nữa là do trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của đội ngũ GV đứng lớp đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập
và khả năng sử dụng tiếng Anh của HS hiện nay Chính những yếu tố nêu trên đã làm cho HS không có cơ hội để rèn luyện và phát triển các kĩ năng giao tiếp, dẫn đến việc các em còn mắc rất nhiều lỗi về phát âm
Nhằm khắc phục tình trạng trên và nâng cao chất lượng dạy luyện âm nói riêng, dạy và học tiếng Anh nói chung, chúng tôi đã tiến hành điều tra và
Trang 39phân tích các lỗi phát âm mà các em HSTH thường hay mắc phải để trên cở
sở đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phù hợp
2.2 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH LỖI PHÁT ÂM PHỤ ÂM, NGUYÊN ÂM TIẾNG ANH
Điểm xuất phát để nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ đích trong luận văn này là tiếng Anh chuẩn Đây là một biến thể ngôn ngữ Anh được đánh giá cao, có uy tín trong đời sống giao tiếp ở những khu vực nói tiếng Anh Biến thể này thường được gọi là tiếng Anh của Nữ Hoàng (Queen’s English hay King’s English), tiếng Anh nhà trường (Public School English), tiếng Anh miền Nam có giáo dục (Educated Southern English) và cái tên khá phổ biến của nó là lối phát âm được nhiều người chấp nhận (Received Pronunciation), viết tắt là RP Đó là giọng được nghe nhiều nhất ở thủ đô Luân Đôn và khu vực phía Đông Nam nước Anh (trừ các thổ ngữ như Cockney hay Berkshire)
Để xác định lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh của HSTH, chúng tôi chọn
cách phát âm được sử dụng trong cuốn từ điển “The Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English ” của A.S Hornby (2010) vì tính phổ
biến và hiệu quả của nó và cũng vì cách phát âm này đại diện cho cách phát
âm chuẩn RP (Received Pronunciation)
2.2.1 Xây dựng các dạng trắc nghiệm để khảo sát lỗi
Việc tiến hành khảo sát và phân tích lỗi của HS cho phép chúng ta nắm vững các dạng lỗi HS thường mắc phải, đồng thời giúp chúng ta có thể dự đoán trước những hiện tượng ngôn ngữ dễ gây khó khăn cho quá trình dạy
và học để từ đó thiết kế các hoạt động luyện âm, các dạng bài tập, các bài kiểm tra cũng như các phương pháp giảng dạy thích hợp
Về nguyên tắc có hai dạng thức của từ là:
- Dạng trích dẫn (In citation form)
- Dạng nối kết (In connected speech)
Trang 40Nhưng ở đây chúng tôi chỉ khảo sát lỗi phát âm NÂ, PÂ tiếng Anh của
HS ở dạng trích dẫn chứ chưa nghiên cứu đến cách phát âm của chúng ở dạng nối kết vì trình độ của HSTH còn nhiều hạn chế
a Danh sách các từ thử ở dạng trích dẫn - nguyên âm
Bảng 1: Khảo sát các âm vị nguyên âm đơn