1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm tuổi thơ dữ dội của phùng quán

58 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN --- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC Đề tài: KHẢO SÁT TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TÁC PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙN

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đề tài:

KHẢO SÁT TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TÁC PHẨM

TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể quý thầy cô trong khoa Ngữ Văn - trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô Trương Thị Diễm, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Đồng thời, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố, mẹ, các em của

em - những người đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Với vốn kiến thức còn hạn hẹp, thời gian thực hiện khóa luận có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự chỉ bảo, những ý kiến góp ý, phê bình của quý thầy cô Đây sẽ là hành trang quý báu giúp em hoàn thiện kiến thức của mình sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và

số liệu trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất kì hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này!

Đà nẵng, ngày tháng năm

Tác giả (Kí và ghi rõ họ tên)

Võ Thị Nhung

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Phùng Quán là một nhà văn lớn, có tầm ảnh hưởng đến nhiều thế hệ độc giả và là một người con trung hiếu của quê hương Thừa Thiên - Huế Ông là một nhà văn bắt đầu viết trong khoảng thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng được biết đến nhiều hơn sau Đổi mới Ông nổi tiếng bởi các tác phẩm nói về người Vệ quốc quân và bởi biến cố liên quan đến chính trị trong sự nghiệp văn chương của mình Ông có hàng chục tác phẩm được nhiều

thế hệ bạn đọc mến mộ Đặc biệt, tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội là một khúc tráng

ca của tuổi trẻ Thừa Thiên - Huế trong chống Pháp Ra đời năm 1986, bàng bạc trong suốt gần tám trăm trang viết của ông là tình cảm ngợi ca quê hương đất nước, ngợi ca cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ngợi ca những người anh hùng

và xen lẫn ngợi ca một thời vang bóng của cuộc đời ông Không một mảy may vương vấn những nhỏ nhen trần thế, ông vẫn viết bằng lý tưởng đã nuôi dưỡng tâm hồn ông từ thuở ấu thơ; vẫn nuôi những ước mơ đẹp đến nao lòng Cuốn tiểu thuyết của Phùng Quán được xem là viên ngọc quý của văn học thiếu nhi Việt Nam, chất chứa tâm hồn, tình cảm của một nhà văn lớn, nói lên tiếng nói của thế hệ trẻ một thời Đúng như Nguyễn Khắc Viện nhận xét: “ Với một Gavroche, Vitor Hugo đã viết nên những trang bất hủ Trẻ em của chúng ta đã anh dũng, hồn nhiên tham gia cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ cùng với cha, anh; không kém gì những Gavroche trên chiến luỹ cách mạng Pháp Thế mà sách vở viết về mặt này còn quá ít Nhà văn Việt Nam còn mắc nợ các em rất nhiều Với

TUỔI THƠ DỮ DỘI, Phùng Quán đã bắt đầu trả nợ một cách chính đáng Sách

dày 800 trang mà người đọc không bao giờ muốn ngừng lại, bị lôi cuốn vì những nhân vật ngây thơ có, khôn ranh có, anh hùng có, vì những sự việc khi thì ly kỳ, khi thì hài hước, khi thì gây xúc động đến ứa nước mắt Tôi chỉ mong làm sao

Trang 5

cho tất cả các em thiếu nhi Việt Nam được đọc sách này” (Trích từ sách Nguyễn

Khắc Viện – Tác phẩm, tập chuyên đề văn học)

Có lẽ không phải bây giờ mà mãi về sau, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn Những trang văn của Phùng Quán cho đến ngày nay, bất chấp biến động thời cuộc, vẫn mang lại những giá trị lịch sử - thẩm mĩ thực sự có ý nghĩa với độc giả

Sinh ra trên đất Huế, ngôn ngữ Huế đã ngấm vào máu thịt Phùng Quán,

nuôi dưỡng tâm hồn ông Trong Tuổi thơ dữ dội, lớp từ ngữ địa phương Huế đã

góp phần rất lớn cho sự thành công của tiểu thuyết Phùng Quán

Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống cách dùng từ địa phương trong các sáng tác văn chương nói chung, trong tác phẩm Phùng Quán nói riêng vẫn chưa được chú ý đúng mức Chính vì vậy mà người viết lựa chọn

đề tài “Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội của Phùng

Quán”

2 Lịch sử vấn đề

Còn quá ít công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm Tuổi thơ

dữ dội Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện mới có công trình nghiên cứu liên

quan đến đề tài này đó là: “Đặc trưng ngôn ngữ hội thoại trong tiểu thuyết Tuổi

thơ dữ dội của Phùng Quán” của Dương Thị Thanh Huyền (Khóa luận tốt

nghiệp Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng – 2011)

Như vậy có thể nói rằng, việc khảo sát từ địa phương trong tác phẩm

Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là một vấn đề rất thú vị, hấp dẫn và có phần

mới mẻ Chúng tôi thực hiện khóa luận này với hi vọng làm rõ hiệu quả nghệ

Trang 6

thuật của việc sử dụng lớp từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội và

thấy được nét tài hoa của ngòi bút Phùng Quán

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khóa luận này nghiên cứu là: Từ địa phương trong tác phẩm

Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: vốn từ địa phương trong tác phẩm Tuổi

thơ dữ dội của Phùng Quán xuất bản năm 2006, Nhà xuất bản Văn học

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ

dội của Phùng Quán, khóa luận hướng vào những mục đích cụ thể sau:

- Bằng việc thống kê các từ địa phương được sử dụng trong tác phẩm

Tuổi thơ dữ dội, chúng tôi khái quát nên bức tranh về từ địa phương Thừa Thiên

- Huế, về các lớp từ được sử dụng trong tác phẩm, trên cơ sở đó, phân tích, nhận xét, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng từ địa phương trong tác phẩm

Tuổi thơ dữ dội

- Bước đầu tìm hiểu việc sử dụng ngôn ngữ (đặc biệt là sử dụng từ ngữ địa phương) của nhà văn Phùng Quán, chúng tôi muốn giúp ích cho việc thưởng thức, nghiên cứu, giảng dạy văn chương Phùng Quán nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện khóa luận này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:

Trang 7

- Phương pháp khảo sát thống kê: Dựa vào tác phẩm để khảo sát các từ ngữ địa phương sau đó đưa ra bảng thống kê các từ địa phương được sử dụng theo một số tiêu chí cần thiết

- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh đối chiếu giữa từ địa phương Huế với ngôn ngữ toàn dân và các vùng phương ngữ khác

- Phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật được đặc biệt chú ý để tìm hiểu nội dung văn bản và hiệu quả sử dụng các từ ngữ địa phương

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ đa chiều với ngữ cảnh môi trường giao tiếp, tác giả, độc giả

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp, thủ pháp bổ trợ khác nữa khi cần thiết như phương pháp khái quát tổng hợp, mô hình hoá

6 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa lí luận: Đề tài này đề cập đến một lớp từ được sử dụng trong

ngôn ngữ nghệ thuật, qua đó góp phần làm rõ hiệu quả nghệ thuật của việc sử

dụng lớp từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội và thấy được cái tài

tình của ngòi bút Phùng Quán

Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài làm sáng rõ về ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn

Phùng Quán qua tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội - đó là sử dụng ngôn ngữ đời thường,

sử dụng lớp từ địa phương, vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày vào trong ngôn ngữ nghệ thuật một cách khéo léo, vừa phải, hợp lí, mang lại hiệu quả nghệ thuật cao

Trang 8

Hy vọng rằng đề tài này sẽ có đóng góp nhất định vào việc giảng dạy ngữ văn trong nhà trường, nhất là ở bậc phổ thông

7 Bố cục Khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề có liên quan đến đề tài Chương 2: Khảo sát từ địa phương trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội

của Phùng Quán

Chương 3: Dụng ý nghệ thuật của Phùng Quán trong việc sử dụng

từ địa phương

Trang 9

Chương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN

1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương Phùng Quán

1.1.1 Vài nét về cuộc đời Phùng Quán

Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế

Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn

101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân) Sau đó ông tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, Đoàn Văn công Liên khu IV

Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội)

Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955 Về quá trình viết tác phẩm này, trong Hồi ký Tôi đã

trở thành nhà văn như thế nào do Nhà Xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí

Minh xuất bản năm 2007, ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân văn –

Giai phẩm bằng hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí (1957) Phùng

Quán bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi

Trang 10

Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một

số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống Vì thế, bạn bè văn nghệ thường gói gọn cuộc đời ông thời kỳ này bằng sáu chữ:

cá trộm, rượu chịu, văn chui

Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được xuất

bản và nhận Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam hai năm sau đó Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ

nổi tiếng như: Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe,

Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội Năm 2010, sau khi vợ ông là nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm mất, thể theo nguyện vọng của ông lúc sinh thời, gia đình và bạn bè đã đưa hài cốt ông bà về an táng tại quê nhà: xã Thủy Dương, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế

Năm 2007, Phùng Quán được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm

1.1.2 Khái quát về sự nghiệp văn chương Phùng Quán

Phùng Quán (1932–1995) là một nhà văn, nhà thơ Việt Nam Ông bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc kháng chiến chống Pháp và khẳng định được

văn tài với Vượt Côn Đảo nhưng ông được biết đến nhiều hơn sau Đổi mới

Sau đây là những tác phẩm chính của ông:

nghệ thuật, 2007

Trang 11

Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, Thơ, 1955 - Giải thưởng Nhà

nước về Văn học nghệ thuật, 2007

học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988 Năm 1990 được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim, Giải thưởng Bộ Quốc phòng 2000, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007

2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng

cung & Phùng Quán viết Trăng hoàng cung (tiểu thuyết tình 13 chương của

Phùng Quán và Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh) kể về những câu chuyện xung quanh thi phẩm này

2006, tái bản bổ sung 2009

Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2007

Phùng Quán còn đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn

bè, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2007

1.2 Khái quát về phương ngữ tiếng Việt

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thấy cần thiết phải xác định rõ một số khái niệm liên quan sẽ được sử dụng Trên cơ sở trình bày các ý kiến của các

Trang 12

tác giả đi trước, chúng tôi đi đến lựa chọn những quan niệm làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài này

1.2.1 Khái niệm phương ngữ

Khái niệm phương ngữ là một khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học Thuật ngữ này tồn tại song song với một số từ khác ít mang tính thuật ngữ hơn như: phương ngôn, tiếng địa phương, giọng địa phương… Trong khóa luận này, chúng tôi dùng thuật ngữ phương ngữ Theo tác giả Hoàng Thị Châu,

phương ngữ là biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là

phương tiện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội, về nghề nghiệp, còn gọi là tiếng địa phương [15, tr 24] Phương ngữ được chia ra phương ngữ

lãnh thổ và phương ngữ xã hội Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến

ở một vùng lãnh thổ nhất định Nó luôn là một bộ phận của một chỉnh thể ngôn ngữ nào đó Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong âm thanh, từ ngữ, ngữ pháp Những khác biệt này trong trường hợp tiếng Việt là không lớn,

vì vậy những người nói những phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn hiểu được nhau Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định Trong tiếng Việt, loại phương ngữ này bao giờ cũng

có từ xã hội, làm định ngữ, và do bộ môn Ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu

Như vậy, phương ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự biểu

hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một địa phương

cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác [10, tr 29] Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra

trên hai mặt cấu trúc và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ

Trang 13

âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp Phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy Chính vì vậy, phương ngữ khác với ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, nhưng về căn bản cái mã chung - hệ thống cấu trúc ngữ pháp,

từ vựng, âm vị giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân là khá tương đồng Tóm lại, nói tới phương ngữ là nói tới một hiện tượng phức tạp của một ngôn ngữ không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc cũng như phương tiện thể hiện mà bản thân

nó cũng là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ xã hội và lịch sử trong và ngoài ngôn ngữ

1.2.2 Đặc điểm phương ngữ tiếng Việt

Phương ngữ tiếng Việt được chia thành nhiều vùng khác nhau Có nhiều

ý kiến về số vùng phương ngữ tiếng Việt Theo Hoàng Thị Châu và nhiều người khác, tiếng Việt có ba phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Có thể nêu sơ lược để dễ hình dung về đặc điểm của các phương ngữ tiếng Việt như sau:

1.2.2.1 Đặc điểm về ngữ âm

Nếu ta lấy hệ thống âm vị tiếng Việt được phản ánh qua chính tả làm chuẩn để khảo sát sự khác nhau của ba phương ngữ nói trên, thì có thể nêu những đặc trưng ngữ âm chủ yếu như sau:

* Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Bắc:

- Hệ thống thanh điệu: có 6 thanh, đối lập từng đôi về âm vực và âm điệu

- Hệ thống phụ âm đầu: có 20 âm vị, không có những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi, tr, tức là không phân biệt s/x, r/d/gi, tr/ch Lẫn lộn l/n (vùng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình)

Trang 14

- Hệ thống âm cuối: có đủ các âm cuối ghi trong chính tả Có 3 cặp âm cuối ở thế phân bố bổ túc là: [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước [i, ê, e], [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa [ư, ơ, â, a, ă], [-ngm…,-kp…] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi [u, ô, o]

* Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung:

- Hệ thống thanh điệu có 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng

- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi [s, z, t] (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr) Trong nhiều thổ ngữ có hai phụ

âm bật hơi [ph, kh] thay cho 2 phụ âm xát [f, x] trong phương ngữ Bắc

- Trong hệ thống âm cuối, đôi phụ âm [-ng,-k] có thể kết hợp được với các nguyên âm trước, giữa và sau Tuy vậy, trong những từ chính trị - xã hội mới xuất hiện gần đây, vẫn có các cặp âm cuối [-nh,-ch] và [-ngm…,-kp…]

* Đặc điểm ngữ âm phương ngữ Nam:

- Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một Xét về mặt điệu tính, thì đây là một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung

- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm, có các phụ âm uốn lưỡi như phương ngữ Trung [s, z, t] chữ viết ghi là s, r, tr Ở Nam Bộ r có thể phát âm rung lưỡi [r] So với các phương ngữ khác, thì phương ngữ Nam thiếu phụ âm [v], nhưng lại có thêm [w] bù lại, không có âm [z] được thay thế bằng âm [j]

- Âm đệm [-u-] không gặp trong phương ngữ Nam

Trang 15

- Mất đi rất nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung Thiếu đôi âm cuối [-nh, -ch]

- Đôi âm cuối [-ng…, -k…] trở thành những âm vị độc lập

1.2.2.2 Đặc điểm về từ vựng và ngữ nghĩa

Để thấy được đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, ta phải phân biệt hai lĩnh vực khác nhau là sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng Việt và nguồn gốc khác nhau của chúng Những từ khác nhau do biến đổi ngữ âm tạo nên những từ khác âm bộ phận Các từ này khác nhau chỉ một hai bộ phận, có thể

ở phụ âm đầu, ở nguyên âm, ở phụ âm cuối hay ở thanh điệu Bởi vì một từ biến đổi về ngữ âm không phải biến đổi tất cả các bộ phận cùng một lúc mà biến đổi một trong những bộ phận này thôi, trong khi các bộ phận kia vẫn giữ nguyên, cho nên đây là cơ sở để khẳng định rằng, các bộ phận này là âm vị, rằng âm tiết có thể phân đoạn được Tuỳ theo bộ phận khác âm, ta có thể chia

ra những từ khác phụ âm đầu, những từ khác nguyên âm và những từ khác phụ

âm cuối, thanh điệu,…

* Đặc điểm về từ vựng:

Từ cùng gốc:

- Từ thể hiện quá trình xát hoá: Biến thể cổ b, đ ở phương ngữ Trung

tương ứng với v, z ở phương ngữ Bắc Ví dụ: Bui/ vui, bá/ vá, ban/ vai, bo/ vo,

bưa/ vừa… đa/ da, đưới/ dưới, đao/ dao, đốc/ dốc…

- Từ thể hiện quá trình xát hoá và hữu thanh hoá: Biến thể cổ ở phương ngữ Trung tương ứng với biến thể mới ở phương ngữ Bắc Ví dụ: ph, th, kh/ v,

z (d), G(g): ăn phúng/ ăn vụng, phở đất/ vỡ đất, phổ tay/ vỗ tay…; nhà thốt/

Trang 16

nhà dột, mưa thâm/ mưa dầm, thu/ dấu…; khải/ gãi, khở/ gỡ, khỏ/ gõ, khót/gọt… ch, k,/j(gi), G(g): chi/ gì, chừ/giờ; gấu/ gạo, cỏ cú/cỏ gấu, trôốc cúi/ đầu gối…

- Hiện tượng hữu thanh hoá thường xảy ra cùng với việc hạ thấp thanh điệu: thanh không thành thanh huyền, thanh sắc thành thanh nặng, thanh hỏi thành thanh ngã Phụ âm vô thanh đi với thanh cao ở phương ngữ Trung còn

phụ âm hữu thanh đi với thanh trầm gặp ở phương ngữ Bắc: Sắc/ nặng: ăn

phúng/ ăn vụng, nhà thốt/ nhà dột… Không/ huyền: ga/ gà, chi/ gì, mưa thâm/ mưa dầm,… Hỏi/ ngã: phở/ vỡ, phổ/ vỗ, khở/gỡ…

- Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ toàn dân có thể tìm thấy

trong phương ngữ Bắc nhưng không nhiều hiện tượng như phương ngữ Trung:

dăn deo/ nhăn nheo, duộm/ nhuộm, dức đầu/ nhức đầu, con nhôộng/ con nhộng…

- Những từ khác nguyên âm thể hiện quá trình biến đổi từ nguyên âm đơn sang nguyên âm đôi theo hai khuynh hướng:

+ Nguyên âm đôi mở dần trong phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam:

e/ei, a/ ươ, o/ uo: méng/ miếng, mẹng/ miệng, lả/ lửa, nác/ nước, mạn/ mượn,

lái/ lưới, ló/ lúa, nót/ nuốt, lòn/ luồn, mói/ muối…

+ Nguyên âm đôi mở dần trong các phương ngữ khác: i/ iê, u/âu: con chí/

con chấy, ni/ nầy, mi/ mầy, nu/ nâu, bu/ bâu, tru/ trâu, trú/ trấu …

- Những từ khác phụ âm cuối biểu hiện ở một số thổ ngữ Thanh Hoá:

phụ âm cuối -n biến đổi thành -j: cằn cấn/ cày cấy, kha cắn/ gà gáy…; cái vắn/

cái váy, ban/ vai, con mõn/ con muỗi, cái chũn/ cái chổi…

Trang 17

Từ khác gốc (không có quan hệ ngữ âm):

Có những phương ngữ có hai hay nhiều từ khác hẳn nhau nhưng lại đồng

nghĩa, thí dụ: trái và quả, bông và hoa Những từ này là do xuất phát từ những

nguồn gốc khác nhau Có thể thấy, các từ này tập trung chủ yếu vào một từ loại

là danh từ VD: Thuyền ở phương ngữ Bắc Lúc đầu người Việt nói nôốc

(Khơme) Từ thuyền là gốc Hán - Việt Từ nôốc phổ biến ở phương ngữ Trung

(chủ yếu là vùng Bắc Trung Bộ (từ Nghệ An đến hết Thừa Thiên- Huế) Một

vài sự so sánh khác:

PNB PNT PNN

quả dứa trấy dứa trái gai

quả roi trấy đào trái mận

bát đọi chén

thuyền nôốc ghe

cá quả cá tràu cá lóc

* Đặc điểm về ngữ nghĩa: Xét về mặt ngữ nghĩa thì phương ngữ Bắc có ưu điểm là ngôn ngữ đã được thừa hưởng truyền thống văn học viết Ngôn ngữ văn học Việt Nam được xây dựng trên nền tảng phương ngữ Bắc Kết quả là nó có được một vốn từ vựng phong phú hơn các khu vực khác, ở chỗ tương ứng với một từ ở phương ngữ Trung và phương ngữ Nam để chỉ một trạng thái hay một tính chất, một cảm xúc thì có cả một loạt từ Phương ngữ Nam là phương ngữ mới và những người sử dụng có nguồn gốc khác nhau ( Hoa, Khơ-me)

Trang 18

PNN PNB

lạnh lạnh, rét, giá, buốt

ốm gầy, còm, còi, cọc

thương yêu, mến, thương

Từ chỉ đơn vị (chỉ loại) trong phương ngữ Nam dùng rất khái quát Ở

Bắc Bộ người ta nói: miếng cơm, ngụm nước, mẩu giấy, thì ở Nam bộ dùng chung một từ miếng Sự khái quát hoá về nghĩa trong phương ngữ Nam được

đền bù lại bằng hàng loạt phó từ và trạng từ để tăng cường sự thể hiện mức độ cho tính từ và động từ Ngôn ngữ văn chương cần sự phân biệt tế nhị về sắc thái từng nghĩa một, do đó dù là người địa phương nào, nói như thế nào trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng đã cầm bút viết, là viết trước hết bằng từ vựng của ngôn ngữ toàn dân rồi sau đó mới thêm những từ địa phương để tô điểm cho ngôn ngữ nghệ thuật của mình

1.2.2.3 Đặc điểm về ngữ pháp

Trong tiếng Việt, về mặt ngữ pháp hầu như rất ít sự khác biệt Có chăng những sự khác biệt ấy thường nằm ở cấp độ từ và cũng chỉ ở một số từ loại, như đại từ, tiểu từ tình thái,… Sau đây là một vài nét khu biệt điển hình trong các hệ thống đại từ:

* Hệ thống đại từ chỉ định và nghi vấn:

PNB PNT PNN

này ni nầy

Trang 19

thế này ri vầy

ấy nớ đó

kia tê đó

đâu, nào mô đâu, nào * Hệ thống đại từ xưng hô:

PNB PNT PNN

tôi tui tui

tao tau tao, qua

chúng tôi bầy tui tụi tui

mày mi mầy

cô ấy o nớ cổ

chị ấy ả nớ chỉ

anh ấy eng nớ ảnh …

* Đại từ hoá danh từ:

Thêm dấu hỏi (thanh hỏi) để biến danh từ thành đại từ là một phương ngữ thức ngữ pháp sử dụng rộng rãi trong phương ngữ Nam Ngoài đại từ nhân

xưng như trên đã dẫn ra: ổng, bả, cổ, chỉ, ảnh,… còn hình thành những đại từ chỉ không gian: trỏng (trong ấy), ngoải (ngoài ấy), trển (trên ấy), đại từ chỉ thời gian: hổm (hôm ấy), nẳm (năm ấy)… Các biến đổi này thấy ở Thanh Hoá, và

Trang 20

chủ yếu là từ Nam Trung Bộ trở vào Những từ có tần số xuất hiện cao như: ấy,

với, chứ lại cũng được rút ngắn trong phương ngữ Bắc, nhưng không tạo thành

một phương thức ngữ pháp nêu trên: ấy thành í, với thành mí, chứ lại thành chứ

lị Tóm lại, phương ngữ tiếng Việt luôn vận động và phát triển, đa dạng và

phong phú Trong sáng tác văn học, việc sử dụng vốn từ địa phương thường dễ bắt gặp ở nhiều tác phẩm, cả văn xuôi và thơ vì mỗi tác giả đều sinh ra và lớn lên ở một vùng đất nhất định Tuy vậy, từ ngữ địa phương khi đưa vào tác phẩm văn học cần phải chọn lọc vì nếu không nó sẽ gây sự khó hiểu đối với độc giả không thuộc vùng đất ấy Nhà thơ Phùng Quán sinh ra ở Thừa Thiên - Huế là một nhà thơ rất nhạy cảm với các từ địa phương nên trong sáng tác của mình tác giả đã đưa từ ngữ địa phương vào trong tác phẩm mà không làm cho người đọc khó hiểu Mà ngược lại, từ địa phương được Phùng Quán sử dụng mang lại

hiệu quả nghệ thuật cao

Trang 21

Chương 2:

KHẢO SÁT TỪ ĐỊA PHƯƠNG

TRONG TÁC PHẨM TUỔI THƠ DỮ DỘI

10 Làm răng Làm sao, làm thế nào 7

Trang 23

cóc khô chi Làm cái gì 6

Trang 24

68 Chiều ni Chiều nay 4

89 Coi thường Xem thường 3

Trang 26

135 Lộn trở vô Quay trở vào 2

thôi Thế nào cũng được 3

Trang 27

154 Cây sầu đâu Cây xoan 2

159 Dộng đầu xuống Đập đầu xuống 3

Trang 28

190 Ních Ăn 5

193 Chuyện ni Chuyện này 5

194 Chết cóc khô chi Chết làm sao được 1

205 Cơ chi Nếu như, ước gì, nếu mà 7

207 Vô duyên òm Vô duyên quá 1

Trang 29

223 Ngồi tréo mãy Ngồi vắt chân chữ ngũ 1

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm