1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố đà nẵng

80 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên đị a bàn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.. - Thốn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA TIỂU HỌC

- -

ĐOÀN THỊ KIỀU OANH

Khảo sát lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4

ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành

phố Đà Nẵng

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM TIỂU HỌC

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lắ do chọn đề tài

Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng sản sinh ngôn bản Môn học này có vị trắ đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ, nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là dạy học sinh sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt để giao tiếp, tư duy và học tập Thông qua phân môn Tập làm văn, học sinh vận dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ năng Tiếng việt đã được học vào việc tạo lập nên những bài văn hay, giàu tắnh nghệ thuật Ở Tiểu học, học sinh được làm quen với nhiều thể loại, nhiều kiểu bài như quan sát tranh và trả lời câu hỏi, kể chuyện, tường thuật, viết thư,Ầsong nổi bật hơn cả là thể loại văn miêu tả

Trong phân môn Tập làm vãn lớp 4, vãn miêu tả chiếm thời lýợng lớn nhất

so với các thể loại vãn khác Ngay từ lớp 2, 3, các em đã đýợc làm quen với vãn miêu tả khi đýợc tập quan sát và trả lời câu hỏi Lên lớp 4, các em hiểu thế nào

là vãn miêu tả, biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn vãn và liên kết đoạn vãn thành một bài vãn miêu tả đồ vật, cây cối hoặc con vật Ờ những đối týợng gần gũi và thân thiết với các em

Có thể nói, vãn miêu tả rất phù hợp với đặc điểm tâm lắ tuổi thõ; góp phần nuôi dýỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh; góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, lòng yêu cái đẹp và phát triển ngôn ngữ ở trẻ Học vãn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tý duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con ngýời với thiên nhiên, với

xã hội, để gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thýợng, đẹp đẽ,Ầ

Để làm đýợc một bài vãn đúng yêu cầu của đề và làm hay, học sinh phải biết sử dụng những từ ngữ, cách đặt câu, viết đoạn, viết bài đúng và có sức gợi cảm Những hình ảnh, những chi tiết đýa vào phải chân thực, sinh động, gợi cảm, nghĩa là nó còn mang tý cách của một hình týợng nghệ thuật

Vì vậy, việc thống kê và phân loại lỗi viết vãn miêu tả của học sinh lớp 4 sẽ giúp giáo viên Tiểu học nói chung và sinh viên ngành giáo dục Tiểu học nói riêng nắm bắt đýợc các lỗi thýờng gặp trong bài vãn miêu tả của học sinh Đây

Trang 3

là cõ sở, là nền tảng ðể ngýời giáo viên ðịnh ra những cách thức, phýõng pháp dạy học tốt nhất nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh và nâng cao hiệu quả giờ học

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát lỗi viết văn

miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên đị a bàn thành phố

Đà Nẵng” để nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Văn miêu tả nói chung và văn miêu tả ở Tiểu học nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Sau đây, chúng tôi điểm qua một số công trình tiêu biểu:

Nguyễn Trí - “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả”, NXB Giáo

dục, năm 1998 đề cập đến văn miêu tả gồm hai phần lớn:

Phần thứ nhất: tác giả cung cấp các tri thức cơ bản, cần thiết về văn miêu

tả nói chung, các kiểu bài miêu tả nói riêng như yêu cầu miêu tả, đối tượng miêu

tả và ngôn ngữ miêu tả

Phần thứ hai: tác giả đã đưa ra các yêu cầu về viết văn miêu tả nói chung

và các yêu cầu cơ bản về phương pháp dạy văn miêu tả theo SGK cải cách giáo dục nói riêng như đề cao tính chân thực, nhấn mạnh yêu cầu quan sát trực tiếp, chú ý yêu cầu rèn kĩ năng theo hướng học sinh

Ngoài hai phần chính trên, tác giả cũng giới thiệu thêm một số đoạn văn miêu tả hay, một số kinh nghiệm và một bài soạn dạy văn miêu tả Đồng thời, tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề cần phải sử dụng các biện pháp, phương tiện

tu từ nào khi dạy từng kiểu bài văn miêu tả.Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại

ở việc liệt kê ra các biện pháp được sử dụng trong các bài văn chứ tác giả chưa nói tới vấn đề các biện pháp đó được sử dụng trong từng bài văn như thế nào

Nguyễn Trí - “Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học”, NXB Giáo dục, năm

2001 cũng đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả trong văn học nói chung và văn miêu tả trong nhà trường nói riêng, đồng thời tác giả cũng đề cập đến phương pháp dạy học văn miêu tả trong nhà trường

Trang 4

Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng - “Văn miêu tả và

kể chuyện”, đã giới thiệu những bài viết của mình về suy nghĩ, kinh nghiệm của

bản thân khi viết văn miêu tả và văn kể chuyện Các tác giả gián tiếp nói lên vai trò, vị trí của so sánh và nhân hóa trong văn miêu tả Nhưng các tác giả cũng chỉ mới đề cập một cách sơ lược chứ chưa gợi ý, hướng dẫn cách sử dụng biện pháp

so sánh và nhân hóa như thế nào

Nguyễn Trí – “Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

ở Tiểu học”, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009 đề cập đến các kiến thức cơ

bản về văn miêu tả, phương pháp làm văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu

tả Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến những vấn đề chung của việc dạy văn miêu tả và văn miêu tả trong chương trình SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học cải cách giáo dục

Lê Phương Nga và Nguyễn Trí - “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu

học”, NXB Giáo dục, năm 2001, đã đề cập đến: văn miêu tả trong chương trình

Tập làm văn ở Tiểu học, một số vấn đề dạy – học văn miêu tả ở lớp 4, lớp 5; nghệ thuật miêu tả, dạy tiết quan sát và tìm ý ở lớp 4 và lớp 5

Ngoài ra, nhiều tác giả khác cũng đã tuyển chọn những bài văn miêu tả hay

ở bậc Tiểu học

Như vậy, văn miêu tả nói chung và văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Các tác giả đã nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện, tìm hiểu sâu về văn miêu tả và đề ra được các phương pháp dạy học văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo sát lỗi viết văn miêu tả của học sinh Tiểu học và xây dựng bài tập bổ trợ nhằm khắc phục các lỗi đó Nhưng các công trình nghiên cứu trên đây là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mục đích:

Trang 5

- Thống kê, phân loại các lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà nẵng

- Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm khắc phục lỗi viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ

sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

- Thống kê, phân loại lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Nêu lên những nhận xét trên cơ sở thống kê, phân loại lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4

- Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm khắc phục lỗi viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trường TH Hòa Sơn, Huyện Hòa Vang

Trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu

Trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê

Trường TH Tiểu La, quận Sơn Trà

Trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ

Trang 6

Trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu

5 Giả thuyết khoa học

Khảo sát lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm khắc phục lỗi viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 sẽ giúp giáo viên nắm bắt được các lỗi thường gặp trong các bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 và có những phương pháp phù hợp để rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

6.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong việc thống kê, phân loại các lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4

6.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Từ kết quả thống kê và phân loại, chúng tôi phân tích, tổng hợp các lỗi để đưa ra nhận xét chính xác về lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 và xây dựng các bài tập bổ trợ nhằm khắc phục lỗi viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

7 Cấu trúc đề tài

Phần mở đầu gồm: lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích và nhiệm vụ

nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc đề tài

Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Khảo sát lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm khắc phục lỗi viết văn miêu

tả cho học sinh lớp 4

Phần kết luận

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuyết chung về văn miêu tả

1.1.1 Khái niệm văn miêu tả

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn miêu tả:

Theo từ điển Tiếng Việt, NXB KHXH: “Miêu tả là thể hiện sự vật bằng lời

hay nét vẽ” [17, tr.134]

Đào Duy Anh cho rằng: “Miêu tả là lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện

cái chân tướng của sự vật ra” [1, tr.117]

Theo Từ điển Tiếng Việt cơ bản của Nguyễn Như Ý (chủ biên): “Văn miêu

tả là kiểu văn bản dùng lời văn tái hiện lại đối tượng được miêu tả, làm cho người đọc (nghe) có thể hình dung được sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt một cách rõ ràng và chân thực” [13, tr.114]

Theo SGK Tiếng Việt 4: “Văn miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm

nổi bật của cảnh, của người, của vật giúp người đọc, người nghe có thể hình dung được các đối tượng ấy” [16, tr.194]

Theo Đào Ngọc & Nguyễn Quang Ninh: “Văn miêu tả là loại văn thể hiện

sự vật, sự việc, con người, cảnh vật,…một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có trong đời sống Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá thẩm mĩ của người viết với đối tượng miêu tả.” [5, tr.80]

Nhìn chung, các định nghĩa đều có cái nhìn giống nhau về văn miêu

tả: Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho

người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc, con người Muốn miêu

tả được phải quan sát, tổ chức sắp xếp các chi tiết theo logíc, lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật cốt để làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả

Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả nhưng không phải bất kỳ một sự miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả Miêu tả không thể chỉ đơn thuần là việc sao chép, chụp lại

Trang 8

một cách máy móc mà phải thể hiện được cả sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn từ, trong cách thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả đối với đối

tượng được miêu tả và hơn thế là: “Bằng những ngôn ngữ sinh động đã khắc

họa lên bức tranh đó, sự vật đó khiến cho người nghe, người đọc như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật, hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà nhà văn nói đến”

1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả

Theo tác giả Nguyễn Trí, văn miêu tả có các đặc điểm sau:

a Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết

Dù đối tượng của bài văn miêu tả là gì đi chăng nữa thì bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mĩ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận của mình Do vậy từng chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan

Đặc điểm này làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trong khoa học (như trong sinh học, địa lí học, khảo cổ học,…) Miêu tả trong phân môn Tập làm văn khác hẳn các bài miêu tả trong môn Khoa học thường thức hoặc môn Tìm hiểu Tự nhiên và xã hội

Ví dụ:

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

(Hồ Xuân Hương - Đèo Ba Đôi)

Các chi tiết: lắt lẻo, cơn gió thốc, đầm đìa, giọt sương gieo của hai câu thơ trên vừa giàu tính tạo hình vừa giàu sức sống tiềm tàng mang rất rõ dấu ấn cá nhân của nhà thơ Hồ Xuân Hương

b Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình

Đây là một phẩm chất của một bài miêu tả hay, M.Gorki đã từng nói:

“Dùng từ để “tô điểm” cho người và vật là một việc, tả họ một cách sinh động,

cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta thường muốn sờ mó các

Trang 9

nhân vật trong Chiến tranh và hòa bình của Lép Tôn –xtôi”, đó là một việc khác.”

Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con người,… miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng có thể cầm nắm được, có thể nhìn, ngắm hoặc

“sờ mó” được

Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây

ấn tượng…mà nếu tước bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị

Ví dụ: Bài tả “Những cánh bướm bên bờ sông” (Tiếng Việt 4) sẽ như thế

nào nếu bị xóa đi các chi tiết: tha thẩn ở bờ sông, đen như nhung bay loang loáng, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như bơi trong nắng, líu ríu như hoa nắng, là là theo chiều gió, hệt như tàn than của những đám đốt nương Khi đó, chúng ta đọc nó tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của một người không còn sinh khí

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý tránh một khuynh hướng ngược lại là đưa quá nhiều chi tiết để bài văn miêu tả trở nên rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cần phải biết gạt bỏ đi các chi tiết thừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm

để cho bài miêu tả gọn và giàu chất tạo hình Những chi tiết sinh động lấy từ sự quan sát cuộc sống quanh ta, từ kinh nghiệm sống của bản thân Tuốc-ghê-nhi-

ép đã từng nói: “Khi tôi mô tả cái mũi màu đỏ hay mái tóc màu sáng, thì quả

nhiên mái tóc ấy màu sáng, cái mũi ấy màu đỏ thật và điều đó không có cách gì bác bỏ được! Để tôi có thể viết ra được một cái gì đấy, tôi cần được thường xuyên lẫn lộn với những con người, nắm được họ trong trạng thái sống”

c Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Đặc điểm nổi bật của văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệt, giúp ta phân biệt được văn miêu tả với các thể loại văn khác như văn bản tự sự, văn bản trữ tình hay văn nghị luận

Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc bởi trong bài viết bao giờ người viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến nhận xét, đánh giá hay bình luận của

Trang 10

người viết với đối tượng miêu tả Tình cảm đó có thể là sự yêu mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bó…với đối tượng được miêu tả

Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được sử dụng nhiều từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, …Chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ trong văn miêu tả có sự uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc của người viết Hơn thế, nó có tác dụng khắc họa được bức tranh miêu tả sinh động như trong cuộc sống thực

Hai yếu tố giàu cảm xúc và giàu hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau làm nên đặc điểm riêng biệt và làm cho những trang văn miêu tả trở nên có hồn, cuốn hút người đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ và tác động sâu sắc vào trí tưởng tượng cũng như cảm nghĩ của người đọc

Tác giả Đào Ngọc và Nguyễn Quang Ninh cũng đã chỉ ra ba đặc điểm của văn miêu tả, đó là: Văn miêu tả là một loại văn mang tính thông báo thẩm mĩ; trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng phải gắn chặt với tính chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu tả bao giờ cũng giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,…[5, tr.81]

Như vậy, hai tác giả đã nêu thêm một đặc điểm của văn miêu tả đó là: tính

sáng tạo phải gắn chặt với tính chân thật Bởi miêu tả là “vẽ lại những đặc điểm

nổi bật của cảnh vật, của người” nên sự vẽ lại đó phải đảm bảo đúng như đối

tượng đang tồn tại trong cuộc sống

Văn miêu tả phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng dựa trên những đặc điểm, tính chất chân thực như nó vốn có Một yêu cầu rất quan trọng đối với một bài văn miêu tả là phải có những cái phát hiện mới mẻ, những cái riêng của người viết về đối tượng miêu tả Đó chính sự cảm nhận theo chủ quan của mỗi người, và nó làm nên sự khác biệt giữa các bài văn miêu tả

1.2 Văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học

Văn miêu tả được đưa vào chương trình phổ thông ngay từ các lớp đầu bậc Tiểu học Từ lớp 2, lớp 3, khi tập quan sát tranh để trả lời câu hỏi, các em đã bắt

Trang 11

đầu làm quen với văn miêu tả Lên lớp 4, 5 các em được học lí thuyết và thực hành miêu tả

Do yêu cầu giảng dạy, văn miêu tả được chia thành nhiều kiểu căn cứ vào đối tượng miêu tả như văn tả đồ vật, văn tả người, văn tả vật, văn tả cây cối, văn

tả cảnh sinh hoạt, văn tả cảnh Các kiểu bài dần dần được ổn định Lí thuyết về từng kiểu bài tuy còn sơ lược nhưng đã hình thành Lí thuyết vạch ra đối tượng

và yêu cầu miêu tả, xác định nội dung miêu tả, ngôn ngữ miêu tả,…

Để việc học văn miêu tả có hiệu quả, trước hết học sinh cần vận dụng tốt

lí thuyết về từng kiểu bài Ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên học sinh được học văn miêu tả, các em gặp khó khăn cả về tri thức và phương pháp, hiểu biết và cảm xúc về đối tượng miêu tả Hầu như các em sẽ không có sự hồi tưởng về các đối tượng miêu tả nếu liền ngay trước tiết làm bài văn các em không được quan sát, nhận xét Vì thế cần xem các bài miêu tả ở bậc Tiểu học là những bài tập ban

đầu luyện các kĩ năng miêu tả

1.3 Vai trò của văn miêu tả đối với học sinh Tiểu học

Văn miêu tả phù hợp với đặc điểm tâm lí tuổi thơ (ưa quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét thiên về cảm tính…); góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, lòng yêu cái đẹp, đồng thời cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho các em…Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội, để gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ…

Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục Xô Viết cho rằng: “Việc học sinh tiếp xúc

với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy…là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ cho các em.”

1.4 Mục tiêu, nội dung dạy văn miêu tả lớp 4

1.4.1 Mục tiêu

a Yêu cầu kiến thức

- Học sinh phải hiểu thế nào là miêu tả

Trang 12

- Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, và miêu tả con vật

b Yêu cầu kĩ năng

Chương trình TLV miêu tả là một bộ phận của chương trình TLV nói chung Vì vậy, nó cũng nhằm trang bị cho học sinh những kĩ năng sản sinh ngôn, cụ thể:

Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp: Nhận diện kiểu bài miêu tả (tả

đồ vật, con vật hay cây cối); phân tích đề bài, xác định yêu cầu cần miêu tả

Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp: Xác định dàn ý của bài văn

đã cho; quan sát đối tượng cần miêu tả, tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả

Kĩ năng thực hiện hóa hoạt động giao tiếp: Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt; sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

1.4.2 Nội dung

Chương trình Tập làm văn lớp 4 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/ năm Trong đó, văn miêu tả gồm có 30 tiết, gồm 7 tiết lí thuyết và 23 tiết luyện tập thực hành

1.5 Các kiểu bài miêu tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4

1.5.1 Tả đồ vật

a Đối tượng miêu tả

Tả đồ vật là dùng lời văn có hình ảnh gợi cho người đọc như thấy cụ thể trước mắt đồ vật đó hình dạng, kích thước thế nào, màu sắc ra sao, gắn bó với người làm ra hoặc đang sử dụng nó như thế nào

Các đồ vật học sinh Tiểu học tả thường là những đồ vật quen thuộc với các

em như: cái cặp sách đi học mang bên mình, cái bàn ngồi học, tấm lịch treo, cái trống trường…

Việc miêu tả đồ vật không nhằm vào giới thiệu những tri thức thuần túy về

sự vật như: cấu tạo, công dụng, ích lợi của nó Văn miêu tả đồ vật phải tả được

Trang 13

những điểm đặc sắc của đồ vật để gợi lên mối quan hệ của nó với đời sống tình cảm con người Đồ vật được vẽ ra gắn liền với cảm xúc của người miêu tả

b Nội dung miêu tả

Mỗi đồ vật có nhiều bộ phận Đơn giản như cái bàn, quyển lịch cũng không phải chỉ có một, hai bộ phận Đến các đồ vật phức tạp có thể chuyển động được như cái xe lu, chiếc ô tô…thì các bộ phận của nó lại càng phong phú Văn miêu

tả không nhằm miêu tả cho đủ các bộ phận đó Tả các đồ vật phải tránh lối liệt

kê cho hết các bộ phận như cán bộ kĩ thuật nghiên cứu cấu tạo hoặc lắp ráp, sữa chữa Bài miêu tả đồ vật chỉ nhằm vào những chi tiết, bộ phận có thể khắc họa hình ảnh đồ vật ấy rõ nét hoặc có liên quan đến cảm xúc người viết

Khi miêu tả đồ vật, chúng ta có thể chọn một trong các trình tự sau:

c Ngôn ngữ miêu tả

Ngôn ngữ trong bài văn miêu tả đồ vật cần phải có “hồn”, nghĩa là phải làm sao cho đồ vật hiện lên trong bài văn không phải chỉ là những đồ vật vô tri vô giác mà nó cũng cần có những suy nghĩ, những tình cảm như của con người Để đạt được điều đó, trong khi miêu tả đồ vật, phương pháp nhân hóa được sử dụng tương đối rộng rãi Vì thế, chúng ta có thể sử dụng các đại từ xưng hô như: chú, bác, anh, chị, tớ, mình,…và hàng loạt các động từ, tính từ chỉ hoạt động, tính chất của con người trong bài làm văn miêu tả

1.5.2 Tả cây cối

a Đối tượng miêu tả

Trang 14

Đối tượng của kiểu bài này là cây cối ở xung quanh ta Tả cây cối là nêu ra những đặc điểm cụ thể, riêng biệt về hình dáng, hoa, quả, hương thơm…của cây

ở một thời kì phát triển nào đó, làm cho người đọc tưởng như mình đang nhìn, đang ngắm cây Ví dụ: tả cây mới mọc, lúc mới vươn cành, trổ lá, đơm hoa quả, lúc cây đã già cỗi… Hay tả cây cối qua nhiều chặng biến đổi của thời gian hay

sự thay đổi của thời tiết (cây bàng, cây hồng…qua các mùa trong năm), qua nhiều chặng phát triển (tả bãi ngô từ lúc nảy mầm tới khi thu hoạch…)

Bài tả cây cối không phải là bài học sinh vật nhằm truyền thụ các kiến thức

về các loại cây như: Cây lá kim, cây lá bản, cây thân gỗ, cây thân thảo,… mà cần gợi lên trong lòng người đọc hình ảnh của cây với vẻ đẹp của riêng nó, với những cảm xúc của người viết

b Nội dung miêu tả

Miêu tả cây cối trước tiên là tả bao quát toàn cây, tả các bộ phận của cây

Tả bao quát toàn cây là tả cây nhìn từ xa để nhận ra đặc điểm của tầm cao, dáng đứng, ngọn cây, tán lá…, và tả khi đến gần để chỉ ra những đặc điểm trội nhất của từng giai đoạn phát triển của cây: cây đang ra lá, vươn cành, trổ hoa, kết quả,…

Tả các bộ phận của cây có thể theo hai cách: tả lướt các bộ phận, mỗi bộ phận chỉ điểm một hoặc hai chi tiết đặc biệt nhất Nhưng cách làm phổ biến hơn

cả là chọn một số bộ phận và tả chi tiết Lúc này, các bộ phận được tả sẽ hiện lên đậm nét trên trang viết và gây ấn tượng mạnh cho người đọc

Ngoài ra, khi tả cây, người ta còn chú ý tả khung cảnh thiên nhiên nơi cây mọc, hoạt động của con người hay vật (chim chóc, bướm, ong,…) chịu ảnh hưởng của cây hay ảnh hưởng ngược lại cây Chính thiên nhiên, chim chóc, ong, bướm, con người làm cho bức tranh cây cối thêm sống động và gần gũi với người đọc, bài văn trở nên linh hoạt

c Ngôn ngữ miêu tả

Bài tả cây thường dùng ngôn ngữ xác thực nhưng lại giàu hình ảnh và cảm xúc Số lượng các tính từ chỉ màu sắc, phẩm chất, khối lượng, được sử dụng khá nhiều

Trang 15

Để tăng tính hình tượng và bộc lộ rõ được những tình cảm của người viết, bài văn tả cây cối thường sử dụng nhiều phép tu từ, đặc biệt là phép so sánh Phép so sánh vừa giúp cho người đọc hình dung đối tượng miêu tả một cách dễ dàng, vừa làm cho lời văn sinh động, giàu hình ảnh

1.5.3 Tả loài vật

a Đối tượng miêu tả

Đối tượng của văn miêu tả loài vật là những con vật gần gũi, thân thiết với đời sống của con người, đó là những chú ngan, bác ngỗng, chị gà, anh dế,…Nhìn chung, những con vật được miêu tả ở bài làm văn trong nhà trường thường là những con vật nuôi trong gia đình

Đối tượng miêu tả có thể là một bầy, một đàn hay một nhóm con vật: đàn

bò gặm cỏ, đàn kiến tha mồi, gà mẹ dẫn đàn con đi kiếm ăn,…Khi miêu tả cần nêu những nét bao quát về số lượng, nét nổi bật chung cho cả bầy (đàn) như: màu sắc, hình dáng, hoạt động,…sau đó có thể tả hoạt động của từng nhóm (có thể chia nhóm theo giống, theo lứa)…Tả xong cả bầy, có thể dừng lại tả vài con

có hình thù, màu sắc, tính nết khác hẳn các con khác

b Nội dung miêu tả

Tả loài vật cần chú ý cả hai mặt: tả hình dáng bên ngoài và tả hoạt động, tính nết của con vật Dù miêu tả ngoại hình hay hoạt động, tính nết của con vật, bài miêu tả đòi hỏi phải đưa những chi tiết độc đáo, tinh tế trong việc phát hiện đặc điểm riêng, mới lạ của con vật so với đồng loại của chúng

Hoạt động của con vật có nhiều loại như: di chuyển, kiếm ăn, chơi bời, Các hoạt động này thường giống nhau trong cùng một loài: con vịt nào cũng biết bơi, con bò nào cũng ăn cỏ,… Miêu tả hoạt động của con vật cần lựa chọn được những hoạt động vừa mang tính chung của giống loài, vừa mang tính cá biệt của từng con vật Các hoạt động tiêu biểu ấy tạo cho mỗi con vật có một tính nết riêng, cá thể hóa bức tranh miêu tả

Tả con vật cần chú ý lựa chọn một trình tự hợp lí nhất định Có thể tả ngoại hình rồi đến tả tính nết và hoạt động của con vật Cũng có thể tả xen kẽ hình dáng và hoạt động, tính nết của con vật Khi miêu tả hình dáng, không nhất thiết

Trang 16

phải tả lần lượt đủ mọi bộ phận, bắt đầu từ tả đầu rồi đến mình, chân…Cách làm này chỉ cốt cho đủ ý nhưng lại khô khan, rời rạc

Bên cạnh hai nội dung trên, một nội dung khác cần được chú ý trong miêu

tả loài vật là: thể hiện được tình cảm của người đối với con vật được tả Quan sát một con vật để tả bao giờ người ta cũng có nhận xét, đánh giá hoặc có tình cảm với con vật Việc bộc lộ những tình cảm, nhận xét trong bài văn miêu tả có khi trực tiếp hoặc gián tiếp

So với các biện pháp tu từ khác, biện pháp nhân hóa được dùng khá phổ biến Biện pháp này giúp cho bài văn thể hiện rõ hơn, cụ thể hơn những tình cảm của người viết đối với con vật

1.6 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

1.6.1 Đặc điểm tư duy

Tư duy của học sinh Tiểu học là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Nhờ hoạt động học tập, tư duy dần dần mang tính khái quát Khi khái quát, học sinh thường dựa vào chức năng và công dụng của sự vật hiện tượng, trên cơ sở này các

em tiến hành phân loại

Học sinh lớp 1,2 thường quan tâm đến những dấu hiệu trực quan, bề ngoài Sau quá trình học tập, lên lớp 3, 4 các em đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, nhận ra các mối quan hệ Học sinh cuối bậc học có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động thực tiễn đối với đối tượng đó Các em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Tuy nhiên, các em thường

Trang 17

gặp khó khăn khi thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức đã học và các kiến thức mới để giải quyết các vấn đề đó

1.6.2 Đặc điểm trí nhớ

Ở học sinh Tiểu học, trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic Các em nhớ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn những định nghĩa, lời giải thích dài dòng

Giai đoạn lớp 1, 2, 3: Ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm

ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tính chất của ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hoá hay xây dựng bài để ghi nhớ tài liệu Học sinh có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần Một trong những nguyên nhân

là do ngôn ngữ của học sinh còn hạn chế, đối với các em việc nhớ lại từng câu, từng chữ dễ dàng hơn dùng lời lẽ của mình để diễn tả lại một sự kiện, hiện tượng nào đó

Giai đoạn lớp 4, 5: Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ tập trung tích cực, tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của các em

Trước khi đến trường, hầu hết trẻ đều có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1, bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 4, ngôn ngữ nói đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ

Trang 18

phát triển, học sinh có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

1.6.4 Đặc điểm về tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ chưa đến trường Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, ít bền vững Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Điều này có được

là nhờ vào kinh nghiệm đã trở nên phong phú, nhờ tri thức khoa học các em lĩnh hội ở nhà trường Các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình ảnh có tính khái quát và trừu tượng hơn

Tiểu kết

Ở chương này, chúng tôi đã nghiên cứu tổng hợp, khái quát những lí thuyết cơ bản về văn miêu tả như: khái niệm về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả, văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học, vai trò của văn miêu tả đối với học sinh Tiểu học, các kiểu bài văn miêu tả trong SGK Tiếng Việt lớp 4

Đây là những cơ sở lí luận cần thiết để giúp chúng tôi nghiên cứu chương 2 và chương 3

Trang 19

CHƯƠNG 2:

KHẢO SÁT LỖI VIẾT VĂN MIÊU TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 4 Ở MỘT

SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Thống kê, nhận xét lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Tiêu chí phân loại

Dựa vào cách phân loại của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (Trung tâm Nghiên cứu giáo dục dân tộc – Bộ GD & ĐT), chúng tôi phân lỗi viết văn miêu

tả của học sinh lớp 4 thành các loại sau:

Lỗi về logic trình bày: bao gồm 5 loại lỗi

- Trình bày theo kiểu liệt kê thông tin

- Mâu thuẫn về ý

- Lạc đề, xa đề

- Lỗi bố cục

- Diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa

Lỗi về logic phản ánh hiện thực khách quan: bao gồm 4 loại lỗi

- Thông tin sai hoặc không chính xác về đối tượng miêu tả

- Thông tin không chân thực

- Thiếu thông tin

- Thông tin không phù hợp với yêu cầu của đề bài

2.1.2 Bảng thống kê, phân loại lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một

số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chúng tôi đã khảo sát được 700 bài văn và đoạn văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở 6 trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm học 2012 – 2013 (có bài văn kèm theo)

Kết quả khảo sát được thể hiện qua bảng thống kê, phân loại sau:

Trang 20

Các loại lỗi

Số lýợng (lỗi)

Tỉ lệ (%)

Diễn ðạt lủng củng, không rõ nghĩa 1531 67.74

Thông tin không chân thực 81 3.58

Thông tin không phù hợp với yêu cầu của ðề

bài

97 4.29

Tổng các lỗi về logic phản ánh hiện thực khách quan 471 20.85

2.1.3 Nhận xét lỗi viết văn miêu tả của học sinh

Qua bảng thống kê, phân loại các lỗi viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chúng tôi nhận thấy học sinh mắc khá nhiều lỗi khi viết văn miêu tả Trong số 700 bài khảo sát, chúng tôi đã phát hiện 2260 lỗi Như vậy, bình quân mỗi bài mắc 3.23 lỗi

Có hai loại lỗi khác nhau như: lỗi về logic trình bày, lỗi về logic phản ánh hiện thực khách quan Tỉ lệ giữa các lỗi không giống nhau Cụ thể:

- Lỗi về logic trình bày: học sinh mắc 1789 lỗi chiếm 79.15%

Trang 21

- Lỗi về logic phản ánh hiện thức khách quan: học sinh mắc 471 lỗi chiếm 20.85%

2.1.3.1 Lỗi về logic trình bày

Theo khảo sát của chúng tôi, lỗi logic trình bày là loại lỗi phổ biến nhất của học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.Trong số 2260 lỗi viết văn miêu tả, chúng tôi đã phát hiện có tới 1789 lỗi chiếm 79.15% tổng số lỗi, bình quân mỗi bài mắc 2.55 lỗi

Qua bảng thống kê, phân loại, chúng tôi nhận thấy lỗi về logic trình bày gồm có 5 loại lỗi chính: trình bày theo kiểu liệt kê thông tin; mâu thuẫn về ý, lạc

đề, xa đề; lỗi bố cục; diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa Hầu hết, học sinh lớp 4 thường mắc nhiều nhất các lỗi: mâu thuẫn về ý, lỗi bố cục, diễn đạt lủng củng không rõ nghĩa Sau đây, chúng tôi sẽ nhận xét cụ thể từng loại lỗi

a Lỗi về trình bày theo kiểu liệt kê thông tin

Theo kết quả khảo sát, lỗi về trình bày theo kiểu liệt kê thông tin có 56 lỗi

chiếm 2.47 % Như vậy, bình quân hơn 12 bài mới mắc 1 lỗi

Những bài văn của học sinh mắc lỗi sai kiểu này thường là liệt kê, kể lể về đối tượng miêu tả mà không có sự phân loại thông tin rành mạch, rõ ràng Ngôn ngữ các em sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ kể lể, tường thuật và không mang rõ đặc trưng của ngôn ngữ miêu tả

Ví dụ:

(1) Tả một cây mà em thích trong khu vực trường em (hoặc nơi em ở)

Bồn hoa của lớp em hình thoi Bên trong bồn hoa là đất Trên là cây hoa thiên nhiên được trồng để làm đẹp bồn hoa Còn đây là cây bàng em kể: Cây cao khoảng 2 mét Cây có rất nhiều cành Cây có tán lá Mỗi cành có rất nhiều

lá Lá có những dấu chấm màu đỏ vàng Khi sáng có những lá phải lìa cành Dáng cây to và cứng

(Ngô Thị Minh Ánh, lớp 4/4, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

“Cây bàng” trong đoạn văn trên, em học sinh mới chỉ liệt kê các bộ phận:

cành, tán lá, lá, mà em chưa miêu tả các bộ phận đó

(2) Tả chiếc cặp sách của em

Trang 22

…Cặp có hình chữ nhật Được làm bằng vải Chiếc cặp có màu nâu hơi đậm Trên mặt cặp có hình chú kị sĩ Chiếc cặp có dây đeo Bên trong có hai ngăn rộng và một ngăn hẹp Hai ngăn rộng em để sách vở còn ngăn hẹp em để

đồ dùng học tập

(Huỳnh Tấn Đạt, lớp 4/2, trường TH Trần Cao Vân, quận Thanh Khê)

Cũng như bài văn miêu tả về cây bàng ở ví dụ 1, em Đạt cũng chỉ liệt kê các bộ phận của chiếc cặp theo trình tự từ ngoài vào trong Điều này không đúng với yêu cầu của bài văn miêu tả đồ vật

(3) Tả loài hoa hoặc thứ quả mà em thích

… Quả cam tròn Vỏ của nó màu cam Múi của quả cam rất to Bên trong múi có nhiều múi nhỏ, người ta gọi là tép Cam có vị vừa chua vừa ngọt Hương

vị rất đặc biệt Khi ăn vào rất ngon

(Lê Nguyễn Văn Thành Đạt, lớp 4/3, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

Nguyên nhân của những trường hợp trên là do học sinh chưa hiểu rõ được đặc điểm, yêu cầu miêu tả của từng kiểu bài văn miêu tả dẫn đến việc liệt kê các

bộ phận của đối tượng miêu tả

Trang 23

phượng có năm cánh, nhụy màu vàng rất đẹp Đặc biệt hoa phượng chỉ nở vào mùa hè

(Hoàng Thị Thu Thảo, lớp 4/1, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

“Xù xì” có nhiều nốt nhỏ không đều nổi trên bề mặt khiến cho ta khi sờ vào

thấy không mịn Nó đồng nghĩa với từ “sần sùi” Trong câu văn trên, học sinh dùng từ “xù xì” sẽ không phù hợp (không hợp với “êm tay”) vì “vỏ cây xù xì” nghĩa là vỏ cây mà khi ta sờ vào thì sẽ không thể “êm tay” được Ở đây, học sinh đã hiểu sai nghĩa của từ “xù xì” dẫn đến câu văn, bài văn mâu thuẫn ý

(2) Mở bài trong bài văn tả cái bàn học của em

Trong gia đình của em có ba, mẹ, em và em của em Tất cả họ là người em thương nhất, nhưng đồ dùng mà em quý nhất lại chính là cái bàn của em

(Nguyễn Văn Tài, lớp 4/1, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

Ý của hai câu trong đoạn mở bài trên mâu thuẫn vì hai câu đó không có mối

quan hệ nào với nhau, đang nói đến người lại chuyển qua đồ dùng và sử dụng quan hệ từ “nhưng” là hoàn toàn không hợp lí

(3) Tả lá, thân hay gốc của một cây mà em thích

…Vào mùa xuân, thân cây đã thay đổi rất nhiều Cây đã khô còn vết sẹo nhiều nữa Cây đã xanh tốt

(Hoàng Oanh Oanh, lớp 4/2, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

Ý 2 mâu thuẫn với ý 1, ý 3 mâu thuẫn với ý 2 “Cây đã thay đổi nhiều” thì không thể “khô” và có “vết sẹo” rồi lại “xanh tốt” Học sinh chưa hiểu được

mối quan hệ logic giữa các câu văn

Ví dụ:

Trang 24

(1) Viết đoạn văn miêu tả đặc điểm bên ngoài chiếc cặp

…Trong cặp có 6 ngăn, có hai chiếc túi rất xinh, một ngăn em bỏ sách vào,

và ngăn thứ hai em bỏ sách vở hộp bút còn ngăn nhỏ em để bảng đen và các dụng cụ khác …

(Dương Tấn Lanh, lớp 4/4, trường TH Trần Cao Vân, quận Hải Châu)

Đề bài yêu cầu viết đoạn văn miêu tả đặc điểm bên ngoài chiếc cặp nhưng ở đây học sinh lại tả đặc điểm bên trong chiếc cặp

(2) Tả một cây mà em thích trong khu vực trường em hoặc nơi em ở

Trường em giao cho lớp em một cái bồn hoa gần khu vực trực của lớp em Bồn hoa rất to và có hình tròn Bên trong bồn hoa là đủ các cây hoa: cây hoa cúc, hoa hồng, hoa mười giờ,…Mỗi cây hoa khoe một vẻ đẹp khác nhau Lớp chúng em thường dọn vệ sinh cho bồn hoa nhặt rác, nhổ cỏ, bắt sâu cho cây, bón phân cho cây

Chúng em rất yêu quý bồn hoa của lớp mình Nhìn thấy bồn hoa càng ngày càng đẹp, em thấy vui lắm Chúng em sẽ chăm sóc bồn hoa thường xuyên để nó đẹp hơn

(Bùi Hữu Khánh, lớp 4/1, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

Học sinh xác định sai yêu cầu của đề bài: Tả một cây mà em thích trong

khu vực trường em hoặc nơi em ở Ở đây, học sinh không tả cây mà tả “bồn

hoa”

(3) Tả đồ chơi mà em thích

Gấu bông là một trò chơi thân thượng (thương) của chúng ta Cục gấu bong (bông) phải dư ba lần Chúng em vui cùng các bạn, các bạn đang vui cùng chúng em Em rất thích chơi gấu bong (bông) với các bạn và cùng các bạn múa hát gian (dân) ca cùng em múa hát

Em múa rất hai (hay) và các trò chơi em rất thích và vui sướng và các em vui

(Đặng Hoàng Phúc, lớp 4/2, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Ở bài văn trên, học sinh không miêu tả gấu bông mà chỉ nói về tình cảm của mình với con gấu bông Bài văn này không đúng với yêu cầu của đề bài

Trang 25

(4) Viết đoạn văn nói về lợi ích của một loại cây mà em biết

Trong sân trường em có rất nhiều loại cây nhưng em thích nhất là cây bàng Thân cây rất cao, nó như một cột điện, cành cây vươn như các thiếu nữ đang tạo dáng, lá của nó màu xanh lá, hình bầu dục…

(Nguyễn Phương Nhi, lớp 4/4, trường TH Tiểu La, quận Sơn Trà)

Đoạn văn trên, học sinh miêu tả về đặc điểm của cây bàng là sai đề, bởi vì

đề bài chỉ yêu cầu nói về lợi ích của loại cây mà em biết

(5) Viết mở bài giới thiệu chung về cây em tả

Ở trước sân nhà em có một chậu mai Dáng cây thanh mảnh, nhỏ Thân cây

có màu đà nhạt, lá cây màu xanh lá, có loại màu xanh lá chuối, gân kẻ tím Hoa thường nở vào mùa xuân Cánh hoa có màu vàng, nhụy hoa màu đỏ Cây do ba

em trồng, vào cuối năm

(Nguyễn Thị Ánh Hồng,lớp 4/1,trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Phần mở bài chỉ yêu cầu giới thiệu chung về cây em tả (là cây gì? mọc ở đâu?) Nhưng học sinh đã đi sâu miêu tả các bộ phận của cây Những đặc điểm này phải đưa vào phần thân bài mới đúng

(6) Tả một đồ chơi mà em thích

Chiều nay, em đi siêu thị cùng mẹ và mẹ mua cho em một hộp đồ chơi xếp hình Toàn bộ đồ chơi xếp hình các khối khác nhau với những màu khác nhau được bằng nhựa cứng Tất cả được xếp trong một hộp giấy cứng

Hộp giấy làm bằng nhựa cát – tông cứng, dài hơn gang tay, rộng gần gang tay, cao 5 phân Nắp bọc giấy bằng màu xanh lá cây, có một hình mẫu, nhiều màu và dòng chữ in to: TẬP XẾP HÌNH Ngày xưa, một lần chơi em đặt hộp hình ngay ngắn trên bàn, nhẹ nhàng mở nắp hộp và đặt qua một bên Trên cùng

là tập xếp hình được đóng lồng , in tới 40 hình khác để gợi ý Phía dưới là được

cả 40 hình con vịt bơi em tạo ra hình con cò đang dang cánh bay…

Những lúc rảnh rỗi (,) em lại đem hộp hình chơi tập đếm hình

(Nguyễn Thảo Nguyên, lớp 4/5, trường TH Hòa Sơn, huyện Hòa Vang)

Toàn bộ bài văn trên, học sinh miêu tả cái hộp đựng đồ chơi chứ không miêu tả đồ chơi

Trang 26

(7) Viết một đoạn văn tả lá, thân, hay gốc của một cây mà em yêu thích

Thân cây bàng màu nâu xỉn, cao, to móc lên, những cành cây dài và ng ọn (nhọn) Trên những cành cây mọc ra những chiếc lá

Lá bàng to như cái quạt mo, giữa lá có gân bàng tỉa ra Khi em ngồi dưới gốc cây bàng những tán lá luôn tỏa bóng mát cho em

(Trần Viết Ngọc, lớp 4/3, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

Yêu cầu của đề bài là miêu tả lá, thân, hoặc gốc nhưng đoạn văn trên miêu

tả cây bàng với đầy đủ ba bộ phận này nên chưa đúng với đề bài

Ví dụ:

(1) Tả một đồ chơi mà em thích

Trong các đồ chơi, em thích nhất là đồ chơi búp bê Búp bê rất xinh, đôi mắt tròn xoe, đôi môi mũm mĩm Tóc vàng óng mượt mà Con búp bê này đã sống với em lúc em còn bé Mỗi khi em buồn hay bị lỗi lầm gì (,) búp bê cũng an

ủi em, động viên em Điều đó làm em rất vui, mỗi khi em đi học em đều nhìn búp

bê Em hứa là sẽ giữ búp bê cẩn thận vì em coi búp bê là em gái

(Nguyễn Hoàng Long, lớp 4/3, trường TH Hòa Sơn, Huyện Hòa Vang) (2) Tả cây ăn quả

Ở vườn nhà ông em có nhiều cây ăn quả.( ) Nhưng em thích nhất cây thơm Cây thơm có hình dạng có gai và có màu vàng.(,) ăn rất ngon và còn nấu canh nữa Em rất thích cây thơm

(Nguyễn Thị Mỹ Linh, lớp 4/5, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Trang 27

(3) Tả một cây ăn quả mà em yêu thích

Trong vườn nhà em có rất nhiều loại cây ăn quả nhưng em thích nhất là cây sầu riêng Sầu riêng thơm (mìu) mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn Hoa sầu riên (riêng) trổ vào cuối năm Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn Hoa đậu từng chùm, màu trắng ngà Cánh hoa nhỏ như vảy

cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy, li ti những cánh hoa Mỗi cuống hoa ra một trái Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cánh trong (trông) giống những tổ kiến Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về cái dáng cây

kì lạ này Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngang thẳng đuột, thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn chiều lượn của cây xoài, cây nhãn Lá nhỏ xanh vàng, hơi khép lại, tưởng như lá héo Vậy mà khi trái chín, hương tỏa ra ngào ngạt, vị ngọt đến đam mê Em rất yêu quý cây sầu riêng vì nó đã cung cấp cho

ta một loại trái cây rất thơm ngon và bổ dưỡng Trái sầu riêng còn làm kẹo, mứt rất ngon Em sẽ luôn chăm sóc và tưới nước cho cây

(Hoàng Thị Thu Thảo, lớp 4/1, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

Các ví dụ (1), (2), (3) mắc lỗi bố cục không rõ ràng Lỗi này do các em chưa nắm được bố cục của một bài văn hoặc chủ quan trong khi làm bài Khi làm bài, các em không chia bài văn thành ba phần mà thường viết gộp lại trong một đoạn văn

Một số ví dụ khác:

(4) Viết một đoạn văn tả bao quát chiếc bút của em

Hồi đầu năm học, ba mua cho em một cây bút mực bằng nhựa trông rất đẹp

Cây bút dài bằng một gang tay Thân bút tròn, nhỏ nhắn, bằng ngón tay út Nắp bút làm bằng nhựa trong, dưới bút có một miếng cao su màu tím đ ể người viết cảm thấy êm khi viết Mở nắp ra, em thấy ngòi bút như chiếc kim khâu Ruột mực của bút đẫm một màu mực tím Em viết thử lên trang giấy nháp nét bút trơn tạo những dòng chữ đều đặn, mềm mại Khi viết xong, em đóng nắp bút lại để mực không bị nghẹt

Trang 28

Đã mấy tuần rồi mà cây bút vẫn còn dùng được Bút cùng em làm việc chăm chỉ ngày ngày và đã làm cho nét chữ của em càng tiến bộ hơn

(Phan Tăng Lộc, lớp 4/2, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ) (5) Viết một đoạn văn tả một loài hoa hay một thứ quả mà em thích

Trong các loại quả như: quả lê, quả táo,…Nhưng em thích nhất là quả dưa hấu

Bề ngoài vỏ màu xanh Quả dưa hấu hình tròn Khi cầm quả lên rất nặng Chặt quả ra ruột nó màu đỏ (,) có chấm đen li ti như cả ngàn con mắt nhìn lên Vào mùa hè ăn quả dưa hấu mát lạnh thế thì còn gì bằng

Em rất thích quả dưa hấu

(Cao Ngọc Như Ý, lớp 4/5, trường TH Hòa Sơn, huyện Hòa Vang)

(6) Viết bài văn tả một con vật nuôi trong nhà (ở vườn thú, gặp trên đường,…)

Chú lợn có bộ lông trắng như cước Nhìn từ xa, chú giống như con b ạch

mã non vài tháng tuổi Mỗi lần sục vào máng cám ăn y như một ống hút kh ổng

lồ làm sôi lên những bọt nước như bong bóng của những cơn mưa mùa h ạ Chỉ một thoáng, máng cám đã nhẵn như ai chùi Cái bụng của chú mới bệ vệ, nặng

nề làm sao! Từ máng cám đến góc truồng chỉ độ vài bước mà chú phải ì à ì ạch một lúc mới lết tới được Còn hai cái tai thì như hai cái lá mít phất qua phất lại như cám ơn mọi người đã cho chú chén những bữa no say mãn nguyện như thế Mỗi lần đi học về, em không quên ra vườn cắt rau đem vào cho chú một ôm to tướng Chú vừa nhai rào rào vừa ve vẩy cái đuôi có vẻ thích thú lắm

(Nguyễn Thị Ni Na, lớp 4/5, trường TH Hòa Sơn, huyện Hòa Vang)

Ở các ví dụ (4), (5), (6), các em mắc lỗi sai bố cục Đó là loại lỗi phổ biến trong bài viết học sinh và thường là học sinh yếu kém Nguyên nhân là do học sinh không đọc kĩ đề bài: đề bài yêu cầu viết một đoạn văn hay một bài văn, chỉ viết mở bài hay kết bài Vì vậy, đề bài yêu cầu viết bài văn thì học sinh viết đoạn văn và ngược lại

(7) Tả cây ăn quả mà em thích

Trang 29

Nhìn từ xa, cây xoài như một cái cột đình Đến gần, ta mới thấy thân cây xoài hơi sần sùi Cành lá xum xuê Quả xoài khi non có màu xanh, còn khi chính lại có màu vàng đậm Khi chín bà em thường hái đem biếu chú Tư bên cạnh nhà

em

Em rất thích cây xoài vì cây xoài này đã ra quả cho em ăn

(Trần Khánh Thư, lớp 4/1, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

(8) Tả cây bút của em

Sinh nhật của em, bố đã tặng cho em cây bút máy màu đen làm b ằng nhựa trông rất đẹp

Cây bút dài bằng một gang tay của em Thân bút tròn ngắn chỉ băng ngón tay trỏ Nắp bút màu đen, có cái cài làm bằng sắt có màu xám Mở nắp ra em thấy ngòi bút sáng bóng, có hình lá tre, có mấy chữ rất nhỏ, nên em không th ấy

rõ Mỗi lần bơm mực, em viết chữ đậm và nét bút tạo ra những dòng chữ đều đặn Khi em viết xong, em lấy khăn lau ngòi bút cho sạch, rồi em kiểm tra lại nắp bút để mũi khỏi bị toe ra trước khi em bỏ vào hộp bút

(Nguyễn Anh Tuấn, lớp 4/2, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

(9) Tả cây hoa mà em thích

Sau vườn nhà em có một cây bông cúc rất đẹp

Ai cũng nghĩ bông cúc thì phải có màu vàng, đúng như vậy không? Nếu vậy, hoa cúc trắng đơn điệu về màu sắc thế ư? Không! Vườn nhà tôi có loài hoa cúc trắng Nó không chỉ nở về mùa thu thôi mà còn nở cả quanh năm suốt tháng Nó cứ đơm bông khoe sắc mãi với đất trời Cánh hoa nhỏ li ti, hương thơm thoang thoảng dịu dàng Thế mà tôi thích nó hơn bông hoa cúc vàng đ ấy Thân cây chen chít nhau như muốn tựa vào nhau Lá mọc thành từng chùm giống như những bàn tay nhỏ xíu Cũng giống hệt như hoa cúc vàng, vẻ đẹp của hoa cúc trắng chẳng kém phần lộng lẫy, kiêu sa

(Trần Hữu Anh Khoa, lớp 4/2, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

Trong các ví dụ (7), (8), (9), học sinh đã mắc lỗi không đảm bảo về bố cục Khi làm bài, nhiều lúc học sinh quên làm phần mở bài nên bài văn chỉ có phần thân bài và kết bài (ví dụ 7) Cũng có trường hợp học sinh không làm kịp phần kết bài (ví dụ 8 và 9)

Trang 30

e Diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa

Lỗi diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa chiếm tỉ lệ cao nhất (51.1% tổng số lỗi) Trong 2260 lỗi có 1155 lỗi thuộc loại lỗi này

Nguyên nhân dẫn đến loại lỗi này là: học sinh viết câu thiếu thành phần (chủ ngữ, vị ngữ); viết câu tối nghĩa, vô nghĩa Ngoài ra, hiện tượng thừa từ, lặp

từ, sử dụng từ địa phương hoặc từ mang tính chất khẩu ngữ, sử dụng sai dấu câu hoặc không sử dụng dấu câu làm cho bài văn không mạch lạc, rõ ràng

Trong quá trình viết, nhiều học sinh chưa xác định được nội dung các ý cần triển khai, tẩy xóa nhiều trong bài,… điều này cũng làm cho câu văn lủng củng, thể hiện sự cẩu thả, không mạch lạc, trong sáng

Mặt khác, kỹ năng trình bày cũng là một thao tác hết sức quan trọng với mỗi học sinh Nhiều học sinh chưa biết cách trình bày một bài văn sao cho mạch lạc, lôgic mà thường sa vào kể lể, viết lan man

- Nguyên nhân thứ nhất là do học sinh viết câu thiếu thành phần (chủ ngữ,

vị ngữ) Ví dụ:

(1) Tả con vật mà em thích

Mỗi khi Ki Ki ăn / đều ngoe nguẩy cái đuôi như thích chí lắm Sau khi xong / lại chạy tới quấn quýt bên tôi thật đáng yêu Đôi tai của chú to và dài

Chân chú ta nhỏ nhưng chú chạy rất nhanh

(Trần Anh Thư, lớp 4/1, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

(2) Tả cây trong vườn nhà em

Cây phượng đã ở bên em suốt bốn năm học qua Nó đã trở thành người bạn

thân thiết của em Lá cây phượng nhỏ như lá me non Khi làn gió thổi qua / đã

làm cho cây phượng đu đưa và rơi xuống những chiếc lá già khô Hoa

phượng có màu đỏ chói rất đẹp và nở thành từng chùm sát vào nhau Thân cây

to, lớp vỏ bên ngoài xù xì Mỗi khi hè về, ngàn hoa phượng đua nhau khoe sắc

tô điểm cho mái trường thêm tươi đẹp Nhiều loài chim bay về đây làm tổ Tiếng hót của những chú chim họa mi nghe như bản nhạc du dương

(Hoàng Anh Khoa, lớp 4/6, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Trang 31

(3) Tả cái trống trường

… Sang năm là năm cuối của bậc Tiểu học rồi, / sắp sửa phải xa mái

trường thân yêu Đời học sinh gắn bó với biết bao nhiêu thứ ở mái trường này,

nhưng có lẽ cái trống trường sẽ làm tôi nhớ mãi

(Phan Minh Huy, lớp 4/3, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

Ở ví dụ (1), (2), (3), các câu in đậm mới chỉ có thành phần trạng ngữ và vị ngữ, chưa có chủ ngữ vì học sinh nhầm lẫn giữa trạng ngữ và chủ ngữ của câu Một số ví dụ khác:

(4) Tả cái bàn của em

Cái bàn đã theo em gần 4 năm học qua Cùng em miệt mài bên em những

bài toán khó (,) bài văn hay và những câu chuyện bổ ích Chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn trong những năm học tới

(Bùi Công Thắng, lớp 4/3, trường TH Hòa Sơn, huyện Hòa Vang)

(5) Tả cây mà em thích

….Cây phượng nở vào mùa hè Có nhiều cành, nhiều lá rậm rạp Có

những cánh hoa màu đỏ rực rất đẹp

(Ngô Viết Minh Triều , lớp 4/1, trường TH Tiểu La, quận Sơn Trà)

Ở ví dụ (4) và (5), các câu in đậm thiếu thành phần chủ ngữ vì ở đây học sinh sử dụng sai dấu câu

(6) Tả cây hoa

Hoa hồng có nhiều màu: vàng, đỏ, trắng Cánh hoa mềm mịn như nhung Trên thân cây hoa có những cái gai như những người lính bảo vệ cho công chúa Lá hoa được cấu tạo gồm nhiều chiếc lá nằm trên một cuống với đường

viền răng cưa Với mùi hương ngào ngạt, quyến rũ ong bướm Nó được trang

trí rất đẹp vào những dịp sinh nhật hoặc lễ hội

(Hoàng Văn Long, lớp 4/3, trường TH Tiểu La, quận Sơn Trà)

Câu “Với mùi hương ngào ngạt, quyến rũ ong bướm” mới có trạng ngữ chỉ

phương tiện, câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ

- Nguyên nhân thứ hai dẫn đến lỗi diễn đạt lủng củng là học sinh diễn đạt tối nghĩa, vô nghĩa Người đọc không hiểu các em muốn nói gì Loại lỗi này

Trang 32

thường thấy nhiều nhất ở những học sinh yếu, vốn từ và vốn ngữ pháp của các

em còn hạn chế Các em chỉ biết viết theo cảm tính và ngôn ngữ nói của mình

Ví dụ:

(1) Tả cái trống trường

Sau này, khi xa mái trường Tiểu học này thì tôi vẫn còn tiếng trống trường ghi ân mãi trong lòng của tôi

(Trần Nhật Hoàng, lớp 4/2, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

(2) Tả chiếc áo em mặc đến lớp hôm nay

Áo sơ – mi bằng vải ka – tê em thấy thoải mái, dể (dễ) chịu chiếc áo rất vừa vặn với em cổ em kiểu cao, dung trước áo em có một chiếc túi nhỏ xinh xinh hàng khuy em màu trắng xóa

Em rất tự hào và do chính tay mẹ may rất ấm áp và như mình lớn lên

(3) Phần mở bài và kết bài của bài văn miêu tả đồ vật

Tôi có một đồ vật rất yêu thích và nó đang ở trên trường chính là cái trống trường

Thường thường cái trống trường kêu tùng tùng để kêu tôi đến trường và có người kêu cậu thích gì nhất tôi thích cái trống trường và tới giờ ra về tôi nói với cái trống là sáng mai nhớ kêu tôi đi học nhé

(Trần Minh Trí, lớp 4/3, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

(4) Tả về cái bàn học của em

Buổi sáng đến trường em rất là vui khi ngồi vào bàn mới

Cái bàn rất đẹp lại sạch sẽ nó có một cái học bàn rất là rộng nó có thể giúp

em làm bài tập và nó kê cho em làm bài và viết chữ rất là đẹp và lại sạch sẽ nữa

và rất là yêu quý cái bàn của em

Chiều rồi mình phải về và tạm biệt cái bàn của mình để sáng mai gặp lại cái bàn của mình nếu các bạn có hàn mới hãy tả cho cái bàn của mình phải sạch sẽ nhé bạn

(Hồ Thị Hà, lớp 4/3, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

Trang 33

- Nguyên nhân thứ ba dẫn đến lỗi diễn đạt lủng củng là do các em dùng thừa từ Thừa từ không cần thiết cũng làm cho câu văn, đoạn văn trùng lặp, rườm rà, giảm hiệu quả giao tiếp

Ví dụ:

(1) Kết bài tả chiếc cặp sách của em

… Em rất thích yêu chiếc cặp vì cặp là bạn đồng hành của em mỗi khi tới

trường

(Phan Đặng Toàn, lớp 4/1, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

“Thích” và “yêu” là một phạm trù ngữ nghĩa, đều có nghĩa chỉ tình cảm

của mình đối với một người hoặc một vật gì đó Nếu dùng hai từ này trong một câu như vậy sẽ làm cho câu văn lủng củng Các em chỉ được dùng một trong hai

từ đó

(2) Tả một loài hoa mà em thích

…Không có hoa nào đẹp như hoa mai Hoa mai được mệnh danh là chị cả mùa xuân Hoa mai cũng có năm cánh như hoa đào ( ) nhưng cá nh hoa mai to hơn cánh hoa đào một chút Những nụ hoa mai không phô hồng mà ngời xanh màu ngọc bích Sắp nở, nụ mới phô vàng Khi nở, cánh hoa mai xòe ra mịn màng như lụa Những cánh hoa ánh lên một sắc vàng muốt, mượt mà Một mùi thơm lựng (lừng) như nếp hương phảng phất bay ra Vào những ngày Tết (,) hoa

mai như “người hướng dẫn viên du lịch” chào đón niềm nở mỗi khi khách đến

tới nhà em chơi…

(Lê Hoàng Long, lớp 4/2, trường TH Tiểu La, quận Sơn Trà)

“Đến” và “tới” là hai từ đồng nghĩa với nhau Hai từ đều có nghĩa là: có

tại một nơi nào đó sau một quá trình di chuyển từ nơi khác Không thể dùng hai

từ này liền kề nhau trong một câu

(3) Tả vật nuôi trong gia đình em

Con gà trống nhà em nuôi đã được gần một năm nay Thân mình nó to và được bao phủ bởi bộ lông màu đỏ thật đẹp Cái mõ (mỏ) chú ta nhọn ra, có màu vàng nhạt Trên đầu có cái mào rực rỡ như những bong hoa mào gà đang khoe

Trang 34

sắc trước nắng Chú gà rất hữu ích và có lợi cho mọi người Mỗi buổi sáng, chú

thức dậy thật sớm, cất tiếng gáy trong trẻo để báo thức mọi người ra đồng làm việc.” Hữu ích là từ Hán Việt, có nghĩa là “có lợi” Đã dùng hữu ích, còn dùng có lợi là thừa

- Nguyên nhân thứ tư dẫn đến lỗi diễn đạt lủng củng là do học sinh dùng từ

bị lặp Biểu hiện của loại lỗi này là học sinh không biết cách thay thế từ đã dùng bằng những từ đồng nghĩa hoặc những từ có giá trị tương đương mà dùng từ ngữ lặp đi lặp lại nhiều lần Lặp từ sẽ dẫn đến lặp ý, làm cho câu văn, đoạn văn trùng lặp, làm giảm hiệu quả diễn đạt Cách diễn đạt lặp ý dẫn đến các câu văn, bài văn của các em sẽ luẩn quẩn và không phát triển được ý mà mình muốn thể hiện

Ví dụ:

(1) Tả cái bàn học ở lớp hoặc ở nhà của em

Bàn được làm bằng gỗ cao su ép sấy nên nhẹ và bền Bàn có bốn chân vừa

tầm ngồi của em Mặt bàn hình chữ nhật, dài khoảng một mét, rộng khoảng bảy tấc Mặt bàn láng bóng nổi vân như lụa Phía dưới mặt bàng (bàn) có ngăn h ộc

để bỏ cặp, sách vở và đồ dùng học tập của em Phía dưới bàn có một thanh gỗ dọc nối với hai thanh gỗ ngang ở hai đầu chân ghế Cái bàn rất đẹp lại sạch sẽ

nó có một cái học bàn rất là rộng, cái bàn có thể giúp em làm bài tập và cái bàn

kê cho em viết chữ rất là đẹp và lại sạch sẽ nữa Lớp nào cũng có cái bàn rất

đẹp nhưng lớp mình bàn nào cũng đẹp…

(Trần Hữu Thiên Bảo, lớp 4/1, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Ở đoạn này, em học sinh muốn giới thiệu về cái bàn học của mình, tuy

nhiên từ “cái bàn” và từ “đẹp” được lặp lại nhiều lần trong các câu văn liền kề

nhau và các ý trùng lặp nhau

(2) Tả loài hoa hoặc một thứ quả

Em thích là quả soài (sầu) riêng quả quả soài (sầu) riêng có hình dạng rất

to và vỏ của quả soài (sầu) riêng to và có những mũi nhọn giống như tổ kiến

Hương thơm bay rất và lâu tan trong không khí, hương thơm của quả soài (sầu) riêng rất thơm và ngọt ngào, béo cái béo của trứng, ngọt cái ngọt của mặt

(mật) ong già hạn

Trang 35

Đoạn văn ngắn, chỉ có mấy câu mà cụm từ “quả sầu riêng” lặp lại đến bốn lần, khiến người đọc cảm thấy lặp đi lặp lại Trong một câu mà từ “hương

thơm” lặp lại hai lần

(3) Mở bài tả đồ chơi của em

Đồ chơi em là con rô bốt của em Con rô bốt của ba tặng em mừng sinh nhật em

(Đặng Việt Trinh, lớp 4/2, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

Hoặc đoạn văn mở bài sau:

Nhân dịp sinh nhật, chú em tặng cho em một con rô bốt Hai con mắt rô bốt rất tròn trịa, Thân rô bốt rất nhỏ, đầu rô bốt thì có hai găng ten (,) mỗi khi ai nói thì rô bốt cũng nói theo người đó Mỗi khi rô bốt hết bin (pin) thì em mở lưng con rô bốt ra bỏ bin (pin) khác vào

(Nguyễn Thị Ánh Hồng, lớp 4/1, trường TH Trần Cao Vân, quận Thanh Khê)

(4) Viết đoạn văn tả một loại quả mà em thích

Quả táo màu xanh lá cây Quả táo cũng không to lắm Quả táo tròn như

trái banh nhỏ Ở trong quả táo có màu trắng Quả táo có mùi thơm Khi ta ăn

quả táo quả táo nó rất là ngon và vừa ngọt Em rất quý quả táo này

(Nguyễn Thùy Phương, lớp 4/1, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

Ở trên, học sinh lặp lại 3 lần từ “em” và 2 lần từ “rô bốt” (đoạn 3), 5 lần từ

“rô bốt” (đoạn 3) và 7 lần từ “quả táo” (đoạn 4)

- Nguyên nhân thứ năm là do học sinh dùng từ địa phương và từ khẩu ngữ

Từ địa phương và từ khẩu ngữ chỉ nên dùng trong giao tiếp hàng ngày, nếu đưa vào bài văn thì không những sẽ làm cho bài văn không có thẩm mĩ mà còn làm cho cách diễn đạt của bài văn đó trở nên lủng củng và không rõ nghĩa

Ví dụ:

(1) Trong bài văn tả đồ chơi mà em thích

Rô bốt có màu xanh, mắt nó màu đen Tay nó cầm hai cây kiếm Mỗi lần

em bỏ bin vô là nó tự chạy, rô bốt ấy là ba mẹ em mua, hai đôi mắt của nó như

mắt thật Khi em buồn nó là người chia buồn và an ủi em Khi em vui nó chia sẻ niềm vui cùng em Nó như là người bạn tốt nhất của em

Trang 36

“Bỏ… vô” có nghĩa là để, cho vào nơi nào đó nhằm mục đích nhất định Ở

đây, các em đã dùng ngôn ngữ nói hằng ngày đưa vào câu văn khiến câu văn lủng củng và không có tính thẩm mĩ

(2) Tả cây chuối

…Nhìn từ xa, cây chuối như một chiếc ô xanh mát rượi Thân cây cao hơn đầu người, mọc thẳng không có cành, chung (quanh) là mấy (cây) con mọc

thành bụi Lại gần em rờ vào quả chuối thì mềm mại

(Nguyễn Quốc Dũng, lớp 4/7, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Rờ là từ địa phương Từ này chỉ được dùng trong lời ăn tiếng nói hàng

ngày

(3) Tả cái bàn học ở lớp hoặc ở nhà của em

Mỗi khi ngồi trước cái bàn là em cứ tự dủ mình là phải học giỏi và em sẽ

dữ (giữ) gìn nó để vào năm học mới em sẽ dùng nó

(Hồ Thị Quỳnh Như, lớp 4/3, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

Khi nói trong một số trường hợp, ta thường biến phụ âm nh thành phụ âm d (nhác thành dác, chủ nhật thành chủ dật,…), nhưng học sinh không được viết

như nói

(4) Tả vườn rau

…Em rất thích vườn rau đó vì hàng ngày mẹ em không phải tốn một đồng

xu nào để mua rau Mà mẹ còn đi chợ bán rau lấy tiền mua đồ ăn về ăn nữa

Đây là câu văn muốn nói đến lợi ích của vườn rau đối với gia đình mình, nhưng lại không biết cách dùng từ diễn đạt trong hành văn như thế nào cho đúng Học sinh đã đưa khẩu ngữ nói năng hằng ngày “chỉ dùng khi nói miệng” vào câu văn làm cho câu văn thiếu đi giá trị thẫm mĩ

- Nguyên nhân thứ sáu là học sinh đã sử dụng sai dấu câu hoặc không sử dụng dấu câu Dấu câu là một trong những phương tiện quan trọng giúp người viết thể hiện điều muốn trình bày một cách mạch lạc, chính xác nhất Học sinh không phân biệt được dấu chấm, dấu phẩy Các em dùng lẫn lộn hai loại dấu này Đôi lúc, câu văn đầy đủ C - V lại dùng dấu phẩy, ngược lại câu chưa đầy đủ thành phần thì dùng dấu chấm (ví dụ 1, 2, 3) Có những bài văn, từ đầu bài đến

Trang 37

cuối bài, các em không hề sử dụng một dấu câu nào (ví dụ 5) Ngoài ra học sinh còn mắc các lỗi khác như: không dùng dấu phẩy tách các thành phần câu, các vế câu (ví dụ 4) Nguyên nhân là do học sinh không hiểu được công dụng của dấu câu

Ví dụ:

(1) Tả đồ chơi mà em thích

Nhân dịp sinh nhật lần thứ mười của em Em được mọi người tặng quà,

trong đó có rất nhiều quà nhưng em thích nhất là trái banh da

(Trương Thị Yến Nhi, lớp 4/2, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

(2) Mở bài tả cái bàn học của em

…Năm học qua Em đạt được học sinh giỏi Mẹ em rất vui và mua cho em

một bàn mới

Khi đọc cả hai ví dụ trên với dấu câu như vậy, ta thấy câu bị hụt do học

sinh sử dụng sai dấu câu “Nhân dịp sinh nhật lần thứ mười của em Năm học

mới” chưa được gọi là câu vì đây mới chỉ là thành phần trạng ngữ của câu

(3) Tả một loài hoa hoặc một thứ quả mà em yêu thích

Nhà em có một cây xoài, rất to Bằng một bàn tay em …Em rất thích ăn

cây xoài Em sẽ luôn chăm sóc nó cẩn thẩn (thận) Để em có thể ăn xoài

(Lê Văn Tài, lớp 4/3, trường TH Hải Vân, quận Liên Chiểu)

Ở ví dụ trên, “Bằng một bàn tay em Để em có thể ăn xoài” là bổ ngữ của

câu đi trước, vì vậy không thể dùng dấu chấm ngăn cách bộ phận này

(4) Tả chiếc bút của em

Hồi vào lớp 1 em ước có một cây bút mực tím nhưng bố em bảo bao giờ lên lớp 4 rồi con hãy dùng nhé Vậy là ngày khai giảng đến em được bố mua một cây bút

(Võ Văn Sỹ, lớp 4/3, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

Ở đoạn văn này, học sinh không sử dụng dấu phẩy để ngăn cách trạng ngữ với C – V của câu

(5) Tả con mèo của nhà em (hoặc nhà hàng xóm)

Trang 38

…Đôi mắt mèo giống như hạt cườm long lanh như hai hòn bi đưa đi đưa lại Mũi của nó lúc nào cũng ưa ước (ươn ướt) bàn chân của nó đi rất thon nh ẹ nhàng dưới chân có một nêm thịt nên đi rất nhẹ nhàng dưới lòng ngón chân có những móng vuốt để bắt chuột

(Lê Văn Hải, lớp 4/1, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

Ở đây, học sinh không hề sử dụng dấu câu nào để ngăn cách các thành phần câu

2.1.3.2 Lỗi về logic phản ánh hiện thực khách quan

Theo kết quả khảo sát, lỗi về logic phản ánh hiện thức khách quan có 471 lỗi, chiếm tỉ lệ 20.85% tổng số lỗi

Nguyên nhân dẫn đến sai lỗi này là do học sinh không quan sát kĩ đối tượng hoặc thiếu những tri thức phổ thông cần thiết, thiếu vốn thực tế về đối tượng miêu tả

Lỗi về logic phản ánh hiện thức khách quan gồm có các loại lỗi như sau:

a Thông tin sai hoặc không chính xác về đối tượng miêu tả

Lỗi này chiếm tỉ lệ cao nhất (9.55%) trong các lỗi về logic phản ánh hiện thực khách quan Bình quân mỗi bài mắc 3.24 lỗi

Biểu hiện của lỗi này là khi miêu tả, nhiều học sinh vẫn mơ hồ những thông tin về đối tượng mà mình miêu tả Điều này có thể là do các em chưa biết quan sát kĩ đối tượng miêu tả dẫn đến dùng từ sai hoặc không phù hợp với đối tượng

Ví dụ:

(1) Viết đoạn văn tả cái cặp

…Cặp có hình chữ nhật Được làm bằng loại vải rất mềm Chiếc cặp sách

có màu nâu hơi đậm Trên mặt cặp có hình chú kị sĩ Nó có hai cái đêu (đeo)

cặp bằng kim loại Bên trong có hai ngăn, một ngăn rộng và một ngăn hẹp

Ngăn rộng em để sách vở còn ngăn hẹp em để đồ dùng học tập

(Trần Gia Bảo, lớp 4/1, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

Ở đây, cái dây đeo cặp không thể làm bằng “kim loại” mà có thể làm bằng

da, bằng vải dù,…

Đoạn văn sau cũng tả chiếc cặp:

Trang 39

…Chiếc cặp còn mới nguyên, hình chữ nhật, khá to và dày Đây là một

chiếc cặp sách màu đen, còn thơm mùi vải, cầm lên hơi nặng Chiều dài của

cặp dài bằng hai gang tay của em Chiều rộng của cặp dài bằng ba gan (gang) tay của em…

(Nguyễn Thị Tuyết Hương, lớp 4/5, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

Đoạn văn trên, học sinh so sánh chiều dài của chiếc cặp bằng hai gang tay, còn chiều rộng của cặp dài ba gang tay là sai, vì chiều dài bao giờ cũng lớn hơn chiều rộng

(2) Viết một đoạn văn tả bao quát chiếc bút của em

Chiếc bút của em bằng hai gang tay, thân bút có màu trắng, chiếc nắp cũng màu trắng nhưng có một chữ A màu xanh trên nắp Mỗi khi cầm cây bút em lại

nhớ đến bố vì đã tặng cho em chiếc bút này Em rất kính trọng cây bút ấy, dù

cây bút ấy hết mực em vẫn giữ gìn nó

(Bùi Hữu Khánh, lớp 4/3, trường TH Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu)

“Kính trọng” là coi trọng ai đó do thừa nhận có một giá trị đáng quý Như

vậy, ở câu trên, dùng từ “kính trọng” là sai hoàn toàn

(3) Viết một đoạn mở bài cho bài văn miêu tả cái bàn học của em

Kì nghỉ hè tới, ông em xuống chơi, ông thấy bàn của em đã cũ (,) Ông đi

mua gỗ, đinh, sau hai ngày chiếc bàn mới đã hiện ra Đó chính là quà của ông

em tặng cho em bước vào năm học mới

(Lê Thị Lành, lớp 4/3, trường TH Hòa Sơn, huyện Hòa Vang)

Phần mở bài trên giới thiệu về cái bàn đã được ông làm tặng nhân dịp năm

học mới, tức là cái bàn đã được làm xong Vì vậy, học sinh dùng cụm từ “Kì

nghỉ hè tới” không phù hợp với đối tượng được đề cập đến

(4) Viết đoạn văn tả một cây mà em thích

Thân tre vừa tròn vừa gai góc….Dưới gốc chi chít những búp măng non

Bút (búp) thì cao ngang ngực em, bút (búp) vượt quá đầu em Em cứ nghĩ đó là những đứa con thân yêu của tre năm năm tháng tháng được mẹ chăm chút ngày

một trưởng thành trong bóng mát yêu thương của cây tre Thân tre tròn như

Trang 40

quả trứng gà em yêu thích nó Em rất yêu thích nhất là cây tre Cây tre đã cho

em bóng mát

(Lê Quốc Hữu Nghĩa, lớp 4/1, trường TH Huỳnh Ngọc Huệ, quận Thanh Khê)

Ngoài lỗi lặp ý (thân tre tròn), đoạn văn trên còn mắc hai lỗi thông tin Lỗi

thứ nhất, từ gai góc nghĩa là cây có gai (nói khái quát), thường dùng để ví những khó khăn, trở ngại phải vượt qua Thân cây tre trơn nhẵn không thể dùng gai

góc Lỗi thứ hai, thân tre tròn được ví như quả trứng gà là không đúng với hình

dáng cây tre

(5) Tả cái thước của em

Cây thước được làm bằng nhựa cứng, màu vàng trong suốt, thân hình

vuông, to bằng cái ngón tay giữa của em, có bốn mặt dài và thẳng (.) Trên một

mặt thước có chia thành 20 khoảng cách theo đơn vị xăng – ti – mét được đánh

số từ 0 đến 20…

(Lê Ngọc Hà, lớp 4/3, trường TH Tiểu La, quận Sơn Trà)

Miêu tả cây thước “thân hình vuông, to bằng cái ngón tay giữa của em, có

bốn mặt dài và thẳng” là sai

(6) Viết đoạn văn miêu tả một loài hoa hoặc một thứ quả mà em thích

… Dưa hấu có hình thoi Vỏ xanh, ngoằn ngoèo như những dây rông biển

Bên trong của nó có màu đỏ tươi rất đẹp và có hạt để làm hạt Dưa hấu có vị ngọt ăn với muối rất ngon tuy nó hơi chua và nó mát trong người…

(Trần Đức Khải, lớp 4/4, trường TH Hoàng Dư Khương, quận Cẩm Lệ)

“Hình thoi” là một tứ giác có bốn cạnh bằng nhau Dưa hấu thường có hình

tròn hoặc hình bầu dục chứ không phải hình thoi “Ngoằn ngoèo” là từ gợi tả dáng vẻ cong queo uốn lượn theo nhiều hướng khác nhau Có thể nói “con

đường ngoằn ngoèo, chữ viết ngoằn ngoèo” chứ không thể nói “vỏ dưa hấu ngoằn ngoèo” và cũng không thể so sánh “ngoằn ngoèo như những dây rông biển” Vì vậy, học sinh đã sử dụng sai thông tin về đối tượng miêu tả

b Thông tin không chân thực

Trong 2260 lỗi thì có 81 lỗi thông tin không chân thực chiếm 3.58% tổng

số lỗi

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh - Từ điển Hán Việt, 1999 Khác
2. Lê Phương Nga – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học – NXB Đại học Sư phạm, 2012 Khác
3. Lê Phương Nga – Nguyễn Trí - Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001 Khác
4. Nguyễn Thị Thúy Nga – Tiếng Việt 2, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, 2003 Khác
5. Đào Ngọc & Nguyễn Quang Ninh - Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt - NXB GD, 1996 Khác
6. Hoàng Phê – Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2005 Khác
7. Lê Thị Phi, Đề cương bài giảng Tâm lí học Tiểu học, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, 2005 Khác
8. Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Thông - Tiếng Việt thực hành, NXB GD, 2009 Khác
9. Bùi Minh Toán – Nguyễn Quang Minh, Tiếng Việt thực hành, NXB ĐHSP, 2003 Khác
10. Nguyễn Trí – Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học, NXB GD năm 2000 Khác
11. Nguyễn Trí – Một số vấn đề dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học, NXB GD Việt Nam, năm 2009 Khác
12. Nguyễn Trí – Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học – NXB Giáo dục, 1998 Khác
13. Nguyễn Như Ý (chủ biên) - Từ điển Tiếng Việt cơ bản, năm 2000 Khác
14. Ngôn ngữ và đời sống – Tạp chí của hội ngôn ngữ học Việt Nam, số 11 (121) 2005 Khác
15. Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Bộ GD và ĐT, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học Khác
17. Từ điển Tiếng Việt - NXB KHXH Hà Nội, 1997. 18. Google.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w