Nếu Việt Nam không lựa chọn được hướng đi phù hợp và tranh thủ được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường thì sự trả giá về môi trường trong những
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC QUỐC
TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẾN
2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020
Trang 2
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHƯƠNG TRÌNH
HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
ĐẾN 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020
HÀ NỘI, THÁNG 3/2008
Trang 3Mục lục
Bảng các từ viết tắt 3
LỜI NÓI ĐẦU 5
I Quan điểm xây dựng Chương trình 5
II Mục tiêu của Chương trình 6
III Nội dung của Chương trình 6
III.1 Đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong những năm qua 6
III.1.1 Tình hình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam trong thời gian qua 7
III.1.2 Đánh giá các thành tựu đạt được của các hoạt động hợp tác quốc tế về môi trường ở Việt Nam trong những năm qua 10
III.1.3 Đánh giá những hạn chế trong hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong những năm qua 11
III.2 Định hướng Chương trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường đến 2010 và định hướng đến 2020 13
III.2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong thời gian tới 13
III.2.2 Định hướng các dự án ưu tiên trong Chương trình hợp tác quốc tế về BVMT 16
III 3 Các giải pháp triển khai chương trình 22
1 Các giải pháp về chính sách và thể chế: 22
2 Các giải pháp về tổ chức: 23
3 Các giải pháp về tăng cường năng lực thu hút và sử dụng ODA: 23
4 Các giải pháp về công khai, minh bạch 23
5 Các giải pháp về thông tin, giới thiệu Chương trình 24
6 Các giải pháp về tăng cường quan hệ đối tác với các nhà tài trợ: 24
IV Tổ chức thực hiện kế hoạch 24
1 Lồng ghép nội dung của chương trình vào kế hoạch phát triển của ngành tài nguyên môi trường đến 2010 và định hướng đến 2020 25
2 Phối hợp với các nhà tài trợ: 25
3 Theo dõi, báo cáo và cập nhật kết quả triển khai Chương trình: 25
Trang 4Bảng các từ viết tắt
ACIAR Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Úc
AECI Cơ quan hợp tác quốc tế Tây Ban Nha
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
AFD Cơ quan phát triển Pháp
AusAID Cơ quan phát triển quốc tế Úc
BMZ Bộ hợp tác kinh tế và phát triển, Đức
BVMT Bảo vệ môi trường
CIDA Cơ quan phát triển quốc tế Canađa
DANIDA Tổ chức hỗ trợ phát triển Đan Mạch
DEFRA Bọ môi trường, nông nghiệp và nông thôn, Anh
DGDC Cơ quan phát triển hợp tác Bỉ
DRC Hội chữ thập đỏ Đan Mạch
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
GTZ Tổ chức Hợp tác kỹ thuật của Đức
HTQT Hợp tác quốc tế
IFAD Quỹ Quốc tế và Phát triển nông nghiệp
JBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
KFW Chương trình hỗ trợ tài chính của Đức
NDF Quỹ Phát triển Bắc Âu
NORAD Cơ quan hợp tác phát triển Na Uy
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECF Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại, Nhật Bản
OFDA Văn phòng hỗ trợ thiên tai nước ngoài, Hoa Kỳ
SDC Cơ quan hợp tác và phát triển Thuỵ Sỹ
SIDA Tổ chức hỗ trợ phát triển của Thuỵ Điển
TNMT Tài nguyên và môi trường
UNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
UNEP Chương trình môi trường của Liên hợp quốc
UNFPA Quỹ Dân số của Liên hợp quốc
UNIDO Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
Trang 5USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
WFP Chương trình lương thực thế giới WTO Tổ chức thương mại thế giới WWF Quỹ bảo vệ thiên nhiên quốc tế
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, môi trường nước ta đứng trước nhiều thách thức lớn cả về mặt khách quan và chủ quan Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng Theo tính toán của các chuyên gia quốc tế và thực tế diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, nếu GDP tăng gấp đôi thì mức độ ô nhiễm môi trường tăng từ 3 đến 4 lần Việt Nam hiện nay là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, nếu trong giai đoạn tới không có các biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường thì chắc chắn mức độ ô nhiễm
sẽ ngày một nghiêm trọng Rõ ràng ô nhiễm môi trường sẽ tiếp tục trầm trọng thêm trước sức ép của phát triển kinh tế, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay là hầu hết các công trình hạ tầng bảo vệ môi trường không đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thực tiễn, một số công trình đang xuống cấp nghiêm trọng Trong khi đó chúng ta lại đang thiếu nguồn vốn và cơ chế để thu hút đầu tư, nâng cấp cải tạo Một trong những thách thức lớn cho công tác bảo vệ môi trường của Việt Nam trong những năm tới nữa là thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, tiềm lực khoa học và công nghệ còn nhiều hạn chế, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường chưa hoàn thiện Nếu Việt Nam không lựa chọn được hướng đi phù hợp và tranh thủ được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường thì sự trả giá về môi trường trong những năm tới sẽ là rất lớn
Vì vậy, để đảm bảo hài hòa giữa các yêu cầu về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững, bên cạnh nỗ lực của chính phủ cần phải huy động được các nguồn lực tổng hợp trong nước, sự tài trợ của các
tổ chức quốc tế song phương và đa phương cho các hoạt động bảo vệ môi trường là rất cần thiết Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần xác định các
ưu tiên quốc gia về bảo vệ môi trường trong giai đoạn kế hoạch, kết hợp với các ưu tiên tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường của các nhà tài trợ cho Việt Nam Chương trình này cần chỉ ra cụ thể các chương trình, mục tiêu và
lộ trình triển khai để các nhà tài trợ xem xét và lựa chọn các chương trình ưu tiên phù hợp với tiêu chí tài trợ trong từng giai đoạn
I Quan điểm xây dựng Chương trình
Quan điểm xây dựng Chương trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường đến
2010 và định hướng đến 2020 như sau:
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm góp phần cụ thể hoá các
Trang 7chương trình ưu tiên trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia vào trong thực tiễn trên cơ sở những thay đổi về căn bản cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành tài nguyên và môi trường từ Trung ương đến địa phương;
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh công tác bảo
vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm tranh thủ sự hỗ trợ của các
tổ chức quốc tế để hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
về môi trường, tăng cường năng lực quản lý môi trường cho các cơ quan quản lý môi trường các cấp nhằm đáp ứng được tình hình đổi mới hiện nay của đất nước
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường để huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm khắc phục và cải thiện chất lượng môi trường cho một số khu vực đang
là điểm nóng về môi trường; nâng cao nhận thức môi trường của các cấp, các ngành và người dân nhằm huy động sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường
- Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo mọi người dân đều được hưởng một cuộc sống trong lành
II Mục tiêu của Chương trình
Mục tiêu của Chương trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến 2020 là xác định các chương trình ưu tiên quốc gia về môi trường cần sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để hoàn thiện luật pháp, thể chế và các chính sách nhằm tăng cường năng lực cho cơ quan quản
lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương Trên cơ sở các dự án đề xuất trong kế hoạch cua Chương trình để tìm kiếm các nhà tài trợ tiềm năng triển khai các chương trình hợp tác quốc tế nhằm từng bước cải thiện công tác quản lý môi trường đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện tốt những mục tiêu của “Chiến lược bảo
vệ môi trường quốc gia đến 2010 và định hướng đến 2020” và “Định hướng phát triển bền vững của Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21), đồng thời thực hiện các nghĩa vụ theo các Công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia ký kết
III Nội dung của Chương trình
III.1 Đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo
vệ môi trường trong những năm qua
Trang 8III.1.1 Tình hình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam trong thời gian qua
Các khoản viện trợ quốc tế cho lĩnh vực tài nguyên và môi trường trong hai thập kỷ qua đã góp phần đáng kể và việc ban hành các chính sách và cải cách thể chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Cụ thể là các dự án quốc tế tài trợ cho Việt Nam trong các hoạt động hỗ trợ hoàn thiện khung pháp lý về quản lý môi trường, cải cách về thể chế, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý môi trường và tài nguyên, đảm bảo sự phát triển bền vững ở Việt Nam trong những thập niên tới
Theo thống kê của UNDP, trong tổng số tiền viện trợ dành cho phát triển giai đoạn 1999-2003 của 29 nhà tài trợ lớn cho Việt Nam có tới gần 70%
số các nhà tài trợ dành cho môi trường từ 10-40% trong tổng số tiền tài trợ của mình Để phục vụ cho mục đích theo dõi và quản lý, các dự án môi trường được phân loại theo các lĩnh vực cụ thể Theo cách phân loại được UNDP và Bộ TN&MT áp dụng, các dự án về môi trường được phân loại theo
5 lĩnh vực như sau:
1 Quản lý tài nguyên thiên nhiên
2 Quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp
3 Thông tin, giáo dục và đào tạo về môi trường
4 Phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu
5 Chính sách và quy hoạch môi trường
Sử dụng hệ thống phân loại trên, có thể sắp xếp các dự án môi trường theo các nhóm và trên cơ sở đó đánh giá được sự ưu tiên về tài trợ theo từng nhóm cụ thể Theo các ưu tiên về tài trợ, mỗi nhà tài trợ thường quan tâm đặc biệt đến một hay một vài lĩnh vực nhất định Việc xác định các lĩnh vực ưu tiên của các nhà tài trợ này là rất quan trọng trong việc định hướng nhu cầu hợp tác quốc tế để có thể đạt được kết quả tốt nhất trong việc xây dựng các dự
án hợp tác quốc tế về môi trường
Từ những số liệu ghi nhận được trong những năm qua, có thể tóm tắt các ưu tiên của một số nhà tài trợ cho 05 lĩnh vực môi trường trên như sau:
Trang 92 Quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp WB, ADB, DGDC
3 Thông tin, giáo dục và đào tạo về môi
trường
UNDP, EC, WB
4 Phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu ADB, Úc, OFDA, UNDP
5 Chính sách và quy hoạch môi trường WB, UNDP, Thuỵ Sỹ,
Đan Mạch, Úc Đánh giá một cách cụ thể hơn các mục tiêu tài trợ của các nhà tài trợ trong những năm qua, có thể rút ra một số nhận xét về các dự án tài trợ cho lĩnh vực môi trường như sau:
1 Về lĩnh vực “Phát triển thể chế”: đây là nội dung thuần tuý mang tính
hỗ trợ cho quốc gia để xây dựng và hoàn thiện thể chế, lợi ích mang lại
từ những trợ giúp này thiên về xu hướng lâu dài, các nhà tài trợ đa phương dường như chiếm ưu thế hơn, trong đó quan trọng nhất là UNDP, WB và Đan Mạch (DANIDA)
2 Lĩnh vực “Thông tin, Nghiên cứu, Giáo dục & Đào tạo về môi trường” lại nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các nhà tài trợ song phương vì đây là lĩnh vực được nhận ODA với mức ưu đãi cao nhất Ngoài ra các
dự án tài trợ từ các nhà tài trợ song phương cũng chiếm phần đa số trong những nội dung thuộc Lĩnh vực 1 (như: Quản lý lâm nghiệp, Bảo
vệ và bảo tồn biển, dải ven biển, và Phục hồi và cải tạo môi trường)
3 Các tổ chức phi chính phủ thường ít tham gia vào các nội dung như: Sử dụng hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo, Quản lý tài nguyên nước (thuộc Lĩnh vực 1), Quy hoạch, Phát triển đô thị và công nghiệp (Lĩnh vực 2), Chính sách và Quy hoạch môi trường (Lĩnh vực 5) Trong các nội dung này, các nhà tài trợ đa phương thường thể hiện vai trò tài trợ chính
Trong những năm qua, do tốc độ đô thị hóa nhanh tại nhiều khu vực ở Việt Nam, đặc biệt là các đô thị lớn đã nảy sinh rất nhiều các vấn đề ô nhiễm môi trường, do đó một số nội dung được các nhà tài trợ ưu tiên, cụ thể là:
Trang 101 Số dự án về cấp thoát nước và vệ sinh môi trường tăng đáng kể dẫn đến
sự gia tăng đầu tư trong lĩnh vực “Quy hoạch đô thị” (lĩnh vực 2.1)
2 Vấn đề “tăng cường thể chế” (lĩnh vực 5.2) cũng được đặc biệt chú
trọng trong giai đoạn này Kết quả đã góp phần vào sự hình thành và ra
đời của nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về tài nguyên và
môi trường trong giai đoạn 1999-2003 nhằm khắc phục các bất cập về
khung pháp lý và thể chế trong quản lý môi trường
Có hai loại viện trợ cho các dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
là viện trợ không hoàn lại và viện trợ hoàn lại Viện trợ không hoàn lại
thường tập trung vào những dự án nhỏ, mang tính xã hội cao Do vậy, tuy số
các dự án sử dụng viện trợ loại này nhiều, nhưng tổng viện trợ loại này chỉ
chiếm khoảng dưới 30% tổng kinh phí tài trợ Các loại hình viện trợ thông
qua vốn vay tuy có số lượng các dự án ít hơn nhưng chiếm tới trên 70% tổng
số kinh phí viện trợ của cả hai loại
Số liệu tổng quan các dự án ODA môi trường cho Việt Nam đã được
tập hợp và xử lý theo 2 tiêu chí là phân ngành theo mục tiêu dự án và phân
vùng theo lãnh thổ thực hiện dự án Kết quả phân tích đã cho thấy cam kết
ODA môi trường tăng liên tục trong giai đoạn từ 1993 đến 2005 Tổng các
cam kết ODA môi trường trong giai đoạn 1995 – 2005 đạt mức gần 3 tỷ đôla
Mỹ (kể cả các dự án về phát triển tài nguyên nước)
Bảng 2: Tài trợ ODA cho lĩnh vực môi trường thời kỳ 1995-2005, triệu US$
3.5 Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm 25,8 289,2 1043,7
(theo Báo cáo đề tài “Tổng kết các dự án quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường” của
Cục Bảo vệ Môi trường năm 2006)
Từ 1996 đến nay tổng các cam kết ODA môi trường đã tăng đáng kể,
đạt 4,18 triệu USD Trong những năm 1985-1995 viện trợ ODA cho môi
trường chỉ chiếm 9,4% tổng ODA được giải ngân, đã tăng lên 11,6% trong
Trang 11giai đoạn 1996-2000
Một xu thế nhận thấy trong giai đoạn vừa qua là khi số lượng các chương trình, dự án viện trợ cho môi trường có xu hướng giảm dần thì các nhà tài trợ lớn lại có xu hướng tăng vốn ODA cho môi trường lên và những
hỗ trợ cam kết dài hạn từ những nhà tài trợ lớn này đang trở nên hết sức quan trọng đối với ngành môi trường của Việt Nam trong thời gian tới
Các dự án đã triển khai trong những năm qua có thể thấy hầu hết tập trung vào những lĩnh vực chính như quản lý lâm nghiệp; quản lý vùng đầu nguồn; phát triển nông thôn; sử dụng bền vững và quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; quy hoạch đô thị (bao gồm cả cấp, thoát nước và vệ sinh môi trường); phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu; tăng cường thể chế, quản lý và quy hoạch môi trường
Ngoài các lĩnh vực được quan tâm nhiều như nêu trên, những lĩnh vực
mà các nhà tài trợ quan tâm ít hơn trong những năm qua đó là bảo tồn rừng ngập mặn và các vùng đất ngập nước; bảo tồn các hệ sinh thái biển và vùng ven biển; phát triển và khai thác thuỷ sản bền vững; quản lý tài nguyên nước; nâng cao nhận thức môi trường; thu thập thông tin dữ liệu về môi trường; giáo dục và đào tạo về môi trường; xây dựng và thực thi chính sách về môi trường
Qua cách phân tích trên có thể thấy rằng, còn có các lĩnh vực môi trường mà Việt Nam quan tâm ưu tiên nhưng trong những năm qua chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía các nhà tài trợ quốc tế Một trong những nguyên nhân là có thể chúng ta chưa xây dựng được các đề xuất phù hợp với
ưu tiên của các nhà tài trợ
III.1.2 Đánh giá các thành tựu đạt được của các hoạt động hợp tác quốc tế
về môi trường ở Việt Nam trong những năm qua
Trong thời gian qua, hợp tác quốc tế về môi trường cơ bản đã duy trì được mối quan hệ với các đối tác sẵn có Các hoạt động hợp tác quốc tế đa phương, song phương đã được đẩy mạnh, đồng thời tích cực tham gia các Công ước quốc tế liên quan trong lĩnh vực môi trường Trong những năm qua, môi trường là lĩnh vực được ưu tiên cao trong hợp tác quốc tế và đạt được hiệu quả đáng kể trong việc sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, góp phần giúp Việt Nam tham gia các diễn đàn trong khu vực và thế giới Việt Nam trong những năm qua đã có quan hệ hợp tác với các đối tác quan trọng như Canada, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hà Lan, Thụy Sỹ, ADB, UNDP,
WB, WWF, v.v…
Trong những năm tới mối quan hệ này sẽ tiếp tục được duy trì và tăng
Trang 12cường, góp phần vào hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về môi
trường và xây dựng cơ chế, chính sách nhằm huy động sự tham gia của cộng
đồng vào công tác bảo vệ môi trường Đặc biệt trong thời gian qua, Việt Nam
đã xây dựng và triển khai Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 (tại Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg
ngày 02/12/2003); xây dựng và ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 cùng
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Cụ thể kết quả thu hút các dự án hợp tác quốc tế về môi trường trong
những năm gần đây như sau :
Bảng 3: Kết quả thu hút các dự án hợp tác quốc tế về môi trường trong những
năm gần đây
Số
TT
Các nội dung ưu tiên
của Việt Nam
Số dự án liên quan
Tổng kinh phí (triệu $)
2 Bảo vệ môi trường ở
các lưu vực sông, bảo
tồn thiên nhiên và đa
dạng sinh học
26 263,9 ADB, WB, UNDP,
JBIC, BMZ, GovNED, Danida, WWF, ACIAR
3 Bảo vệ môi trường ven
biển, biển
12 12,3 GovNED, WB, UNDP,
NORAD, EC, WWF, GTZ, ACIAR, USAID
4 Xã hội hoá việc bảo vệ
môi trường
24 51,2 UNDP, DRC, NORAD,
WB, GovNED, Danida, AusAID, EC, USAID, AECI, DEFRA
6 Thích ứng với biến đổi
khí hậu
9 182,8 WB, ADB, AusAID,
Danida, DRC, OFDA,
EC, USAID, CIDA
III.1.3 Đánh giá những hạn chế trong hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ
môi trường trong những năm qua
So với tiềm năng hiện có, việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn ODA
nói chung và vốn ODA cho các hoạt động bảo vệ môi trường trong thời gian
Trang 13qua đã bộc lộ một số hạn chế và bất cập như sau:
1 Các đơn vị được giao triển khai các dự án ODA chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất của ODA cho các hoạt động bảo
vệ môi trường Thường coi đây là nguồn vốn nước ngoài cho không, nếu là vốn vay thì Chính phủ có trách nhiệm trả nợ Bởi vậy dẫn tới hiệu quả triển khai một số dự án ODA rất kém hiệu quả và không bền vững
2 Việc cụ thể hoá các chủ trương, chính sách trong sử dụng các nguồn vốn ODA cho các hoạt động bảo vệ môi trường còn chậm
và thiếu cụ thể, chưa đi sát với các điều kiện triển khai trong thực tiễn Mặc dù đã có chủ trương, chính sách và định hướng về thu hút và sử dụng ODA ở tầm vĩ mô, song một số Bộ, ngành và địa phương còn chậm triển khai thành các chương trình, dự án cụ thể vào ngành và địa phương mình, nên chưa phát huy hết vai trò làm chủ trong hợp tác với nhà tài trợ
3 Việc phối hợp vốn ODA với các nguồn vốn khác trên phạm vi cả nước cũng như trên địa bàn lãnh thổ chưa tốt, làm giảm hiệu quả
sử dụng ODA
4 Khuôn khổ pháp lý về quản lý và sử dụng ODA còn nhiều bất cập Giữa các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng ODA và các văn bản pháp quy chi phối nguồn vốn này còn thiếu sự đồng
bộ Quy trình và thủ tục thu hút và sử dụng ODA chưa rõ ràng và còn thiếu minh bạch Đây cũng là những trở ngại cho việc thu hút các nguồn vốn ODA và triển khai trong thực tiễn
5 Các quy trình thủ tục quản lý ODA của Việt Nam và nhà tài trợ chưa hài hoà, gây chậm trễ trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án, làm giảm hiệu quả đầu tư trong triển khai
6 Năng lực đội ngũ cán bộ của tổ chức quản lý ODA còn nhiều yếu kém Cơ cấu tổ chức và phân cấp trong công tác quản lý và sử dụng ODA chưa đáp ứng được những yêu cầu của quá trình đổi mới quản lý Đồng thời năng lực cán bộ tham gia quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA còn yếu về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hợp tác quốc tế và ngoại ngữ
7 Công tác theo dõi và đánh giá ODA còn hạn chế Chế độ báo cáo, thanh quyết toán tài chính chưa thực hiện nghiêm túc và thiếu các chế tài cần thiết
Trang 148 Trong các dự án đề xuất còn có nhiều dự án có tính hiệu quả thấp
và thiếu tính bền vững Đây cũng là một trong những hạn chế của một số dự án ODA về môi trường trong những năm qua
9 Các dự án đầu tư trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường trong những năm qua còn mất cân đối nhiều Khoảng 80% viện trợ cho lĩnh vực tài nguyên trong khi chỉ có 20% tài trợ cho công tác bảo
vệ môi trường
10 Các dự án viện trợ cho lĩnh vực tài nguyên và môi trường trong những năm qua có sự mất cân đối giữa cấp trung ương và địa phương Thường tập trung nhiều ở cấp trung ương, trong khi đó
tỷ lệ viện trợ cho cấp địa phương là thấp hơn nhiều Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy do năng lực quản lý và điều hành của địa phương kém cũng đã tạo nên sự mất cân đối này
III.2 Định hướng Chương trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường đến 2010 và định hướng đến 2020
III.2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong thời gian tới
Từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản pháp luật liên quan được ban hành đã có sự thay đổi cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương Việc thay đổi đã có các tác động tích cực cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường của Việt Nam Tuy nhiên, với thực tế tình hình quản lý môi trường hiện tại, công tác quản lý môi trường của Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức Có thể thấy những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý môi trường của Việt Nam trong những năm tới là như sau:
a) Thuận lợi:
- Bộ máy quản lý môi trường được củng cố và tăng cường từ cấp trung ương đến cấp địa phương Tiềm lực về thiết bị cho công tác quan trắc và giám sát môi trường đã được tăng cường đáng kể ở cả cấp quốc gia và một số địa phương trên cả nước;
- Hệ thống các văn bản pháp luật trong lĩnh vực môi trường đã từng bước được hoàn thiện để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về môi trường;
- Nhận thức về môi trường của các cấp, các ngành và người dân đã được nâng cao đáng kể thông qua các chương trình dự án trong và ngoài nước
về nâng cao nhận thức môi trường cộng đồng;
Trang 15- Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội tốt để gia tăng các sức ép môi trường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ Buộc các doanh nghiệp phải cải thiện chất lượng môi trường trong sản xuất kinh doanh của mình để đáp ứng với các yêu cầu của nền kinh tế hội nhập Mặt khác ở góc độ nhà nước cũng phải hoàn thiện về khung pháp lý và thể chế trong lĩnh vực môi trường để đáp ứng được các đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế hội nhập toàn cầu Hội nhập cũng là cơ hội tốt để các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường
- Sự nhiệt tình và thiện chí của các tổ chức quốc tế trong việc trợ giúp chính phủ và người dân Việt Nam nhằm cải thiện chất lượng môi trường
b) Khó khăn
- Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực trầm trọng trong lĩnh vực quản
lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương Với tốc độ phát triển của nền kinh tế trong mấy năm gần đây và xu thế phát triển trong những năm tiếp theo thì nguồn nhân lực cho quản lý môi trường vừa thiếu, lại vừa yếu, không đáp ứng các yêu cầu quản lý trong thực tiễn Đặc biệt là ở cấp địa phương, đây là một bất cập rất lớn nếu chúng ta không sớm có các giải pháp khắc phục Thực tế này đã được khẳng định thông qua hàng loạt các báo cáo đánh giá của các tổ chức liên quan về môi trường;
- Mặc dù chúng ta đã có rất nhiều nỗ lực trong việc cải thiện khung pháp lý và thể chế trong lĩnh vực môi trường, song hệ thống các văn bản pháp luật này vẫn chưa đồng bộ, còn chồng chéo và khó thực thi trong thực tiễn Một thực tế đó là tốc độ phát triển của nền kinh tế quá nóng, trong khi đó lại thiếu các nguồn lực cho công tác quản lý môi trường Đặc biệt công tác dự báo còn yếu dẫn đến các chính sách, các văn bản pháp luật ban hành mới rất nhanh bị lỗi thời và kém hiệu quả;
- Nhận thức môi trường của người dân tuy đã được nâng lên song vẫn còn nhiều bất cập, do các đối tượng xác định để nâng cao nhận thức chưa đầy
đủ Đặc biệt trong những năm qua, chúng ta chưa chú trọng nâng cao nhận thức môi trường cho các cán bộ quản lý, lãnh đạo tại một số ngành và địa phương Có thể nói hoạt động nâng cao nhận thức cho “quan trí” hầu như chưa trú trọng trong những năm qua Đây là những đối tượng sẽ có tác động rất lớn đến môi trường Đặc biệt là các cấp lãnh đạo tại các địa phương, những người chỉ đạo thực thi các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên một vùng lãnh thổ rộng và phức tạp;
- Các thách thức lớn nhất của Việt Nam về môi trường trong những năm tới đó là sự gia tăng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề khu vực nông
Trang 16thôn, khu công nghiệp và đô thị Các vấn đề môi trường phải đối mặt đó là ô nhiễm nguồn nước, xử lý nước thải và chất thải rắn Hiện nay ngành công nghiệp môi trường của Việt Nam còn quá non trẻ, chưa đủ tiềm lực để đảm nhận, giải quyết và khắc phục các vấn đề môi trường trong những năm tới;
- Chúng ta đang thiếu các công cụ kinh tế để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất Đặc biệt các công cụ kinh tế và chính sách để khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư vào các lĩnh vực tái chế, xử lý chất thải;
- Chúng ta đang thiếu các định mức kinh tế kỹ thuật cho các hoạt động nghiên cứu, điều tra cơ bản Đây là công việc gây rất nhiều khó khăn cho các hoạt động điều tra cơ bản, đánh giá chất lượng môi trường trong thực tiễn Nhiều định mức đã ban hành cách đây rất lâu, không phù hợp và xa rời với thực tiễn cần phải xem xét, chỉnh sửa và ban hành
- Các tiêu chuẩn về môi trường Việt Nam cũng đang thiếu, chưa đầy đủ
đã gây khó khăn cho công tác quản lý và thực thi Luật Bảo vệ môi trường trong thực tiễn;
- Chúng ta đang thiếu các công cụ kinh tế hữu hiệu để huy động các nguồn lực của xã hội và khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Thiên tai và các tai biến môi trường sẽ gia tăng mạnh trong những năm tới, đặc biệt là các tỉnh miền núi và duyên hải Một trong các nguyên nhân cơ bản đó là tác động của biến đổi khí hậu, sự suy giảm nghiêm trọng rừng đầu nguồn tại nhiều tỉnh miền núi trên cả nước Nếu không sớm có các
mô hình để bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn thì nguy cơ xẩy ra các thảm hoạ thiên nhiên trong những năm tới là không thể tránh khỏi
- Việt Nam chưa có các chính sách phù hợp để huy động các nguồn lực trong xã hội như khối tư nhân, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các tổ chức
xã hội Đặc biệt là sự huy động các tổ chức phi chính phủ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường là rất cần thiết và góp phần quan trọng vào chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường Đây là lực lượng tri thức có thể góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của đất nước nếu như chúng ta có các chính sách phù hợp để huy động họ;
- Việt Nam đang thiếu nhóm chuyên gia có trình độ để xây dựng các đề xuất dự án Thực tế cho thấy Việt Nam có nhiều tiềm năng để xin tài trợ các
dự án cho bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong những năm qua chúng ta chỉ nhận được rất ít so với tiềm năng chúng ta có Bởi vậy đây cũng là một trong những khiếm khuyết cơ bản trong những năm qua mà chúng ta chưa khắc
Trang 17Từ những đánh giá về các thuận lợi và khó khăn trong công tác hợp tác quốc tế về môi trường của Việt Nam trong thời gian qua và trong những năm tới như đã nêu ở trên, các chương trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường đến 2010 và định hướng đến 2020 sẽ được phân ra hai giai đoạn:
- Các chương trình ưu tiên hợp tác quốc tế BVMT đến 2010
- Các chương trình ưu tiên hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường từ
2011 đến 2020
Các chương trình ưu tiên này sẽ được đề xuất trên cơ sở các đánh giá
về ưu tiên của các nhà tài trợ về bảo vệ môi trường của Việt Nam cho từng giai đoạn tương ứng Đồng thời căn cứ vào các ưu tiên trong quản lý môi trường của Việt Nam trong những năm tới đề có các chương trình đề xuất phù hợp nhằm khắc phục những tồn tại trong công tác sử dụng các nguồn vốn ODA về môi trường trong những năm qua
III.2.2 Định hướng các dự án ưu tiên trong Chương trình hợp tác quốc tế
về BVMT
III.2.2.1 Định hướng giai đoạn từ 2008 đến 2010
Trong giai đoạn này sẽ tập trung vào các lĩnh vực hợp tác về thể chế và tăng cường năng lực cho cơ quan quản lý môi trường các cấp Các chương trình hợp tác này nhằm đáp ứng các yêu cầu về đổi mới tổ chức của cơ quan quản lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương
1) Hoàn thiện khung pháp lý và thể chế cho công tác quản lý môi trường
Đây là lĩnh vực rất quan trọng cần sự hợp tác quốc tế để cải thiện công tác xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam Việc hoàn thiện khung pháp lý và thể chế cho công tác quản lý môi trường là hết sức quan trọng Đây là một trong các yếu tố tác động đến năng lực quản lý và thực thi Luật bảo vệ môi trường ở tất cả các cấp
Trong phần này sẽ tập trung ưu tiên vào:
Trang 181 Từ các kết quả rà soát việc thực hiện các cam kết trong các
công ước quốc tế của Việt Nam, xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật và các văn bản cần thiết để thực hiện các cam kết trong Công ước đã ký, góp phần bảo vệ môi trường và thực hiện đầy
đủ trách nhiệm của một nước thành viên tham gia Công ước
2 Hoàn chỉnh Luật đa dạng sinh học và các văn bản dưới luật liên
quan;
3 Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm
cải thiện khung pháp lý để tăng cường sự tham gia của các tổ chức NGOs vào các hoạt động bảo vệ môi trường
4 Xây dựng và ban hành các hướng dẫn kỹ thuật cho công tác
tham vấn cộng đồng đối với các dự án môi trường
2) Xây dựng mới, chỉnh sửa các tiêu chuẩn môi trường liên quan nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ môi trường
Các tiêu chuẩn chỉnh sửa, bổ sung:
- Rà soát các tiêu chuẩn môi trường về không khí xung quanh, khu vực sản xuất để bổ sung các thông số ô nhiễm mới, chỉnh sửa các giới hạn của các thông số cũ cho phù hợp với lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam;
- Rà soát các tiêu chuẩn môi trường về chất lượng nước mặt, nước ngầm, nước thải để bổ sung các thông số ô nhiễm mới, chỉnh sửa các giới hạn của các thông số cũ cho phù hợp với lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam;
- Rà soát các tiêu chuẩn môi trường về chất lượng đất để bổ sung các thông số ô nhiễm mới, chỉnh sửa các giới hạn của các thông số cũ cho phù hợp với lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam;
- Xây dựng và ban hành các định mức kinh tế và kỹ thuật cho các hoạt động nghiên cứu, điều tra, xử lý trong lĩnh vực môi trường
Các tiêu chuẩn xây dựng và ban hành mới
- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn giới hạn các thông số ô nhiễm chỉ tiêu kim loại nặng và hoá chất trong đất;
- Xây dựng và ban hành ngưỡng giới hạn cho phép tiêu chuẩn môi trường không khí xung quanh cho các vùng cụ thể trên cả nước: khu công nghiệp, khu dân cư, khu du lịch và giải trí, vùng đệm giữa khu công nghiệp và khu dân cư
Trang 19- Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể cho các công trình xử lý môi trường: Các công trình xử lý chất thải nguy hại, các công trình
xử lý khí thải
- Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các định mức kinh tế, kỹ thuật cho các hoạt động điều tra, kiểm kê, đánh giá chất lượng môi trường nước, không khí, đa dạng sinh học, chất thải rắn Đặc biệt các thông số môi trường mới cần
bổ sung như chỉ tiêu PCB, POPs
3) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý môi trường
Việc thay đổi cơ cấu tổ chức của các các cơ quan quản lý môi trường như hiện nay và xu hướng trong những năm tới, đòi hỏi các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý môi trường cho các cấp, các ngành và các địa phương là rất cần thiết Các hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo trong giai đoạn này cần tập trung vào:
- Đào tạo nâng cao trình độ quản lý môi trường cho các cán bộ quản lý chủ chốt tại các cơ quan quản lý môi trường thuộc ngành tài nguyên và môi trường Chương trình này cần tập trung đào tạo về kỹ năng quản lý môi trường
- Đào tạo đội ngũ chuyên gia chuyên sâu về các lĩnh vực thẩm định công nghệ môi trường, xử lý chất thải;
- Đào tạo kỹ năng quản lý cho các cán bộ các khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia nhằm tăng cường hiệu quả quản lý tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia
- Đào tạo kỹ năng xây dựng các đề xuất và triển khai các dự án tài trợ quốc tế về bảo vệ môi trường cho các tổ chức NGOs về môi trường và các địa phương
- Đào tạo kỹ năng quản lý dự án
- Đào tạo các kỹ năng trong công tác truyền thông môi trường cho các
tổ chức NGOs, các tổ chức chính trị xã hội, báo, đài
4) Xây dựng và ban hành các công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy áp dụng sản xuất sạch hơn trong ngành công nghiệp
- Nghiên cứu và xây dựng định mức sử dụng nước cho sản xuất của một số ngành công nghiệp có sử dụng lượng lớn nước cho sản xuất như ngành công nghiệp giấy, chế biến thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp dệt, nhuộm, tẩy,…
Trang 20- Xây dựng và ban hành mức phí về sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất của các ngành công nghiệp
- Nghiên cứu xây dựng các chính sách để huy động các nguồn lực tham gia vào các hoạt động đầu tư xử lý môi trường, tái chế chất thải
- Nghiên cứu xây dựng các loại phí bảo vệ môi trường (chất thải rắn, khí thải, thuế môi trường, cô ta ô nhiễm) Tập trung vào nước thải và khí thải
- Xây dựng các chính sách ưu đãi, công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy các hoạt động đầu tư và kinh doanh dịch vụ trong các lĩnh vực tái chế, tái
sử dụng và giảm thiểu chất thải tại nguồn
5) Hoạt động xây dựng các đề xuất dự án môi trường
Thực tế cho thấy các cơ quan tư vấn Việt Nam vẫn còn rất yếu trong kỹ năng xây dựng các đề xuất dự án Chúng ta không thể có nguồn tài trợ nếu chúng ta không có các đề xuất dự án phù hợp Bởi vậy, việc hợp tác quốc
tế để xây dựng các đề xuất này là rất cần thiết trong giai đoạn này Các đề xuất trong giai đoạn cần tập trung ưu tiên vào các khu vực sau:
- Xây dựng đề xuất cải tạo môi trường và cảnh quan cho các lưu vực sông đang bị ô nhiễm nghiêm trọng (sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai);
- Xây dựng đề xuất cải tạo môi trường cho các sông bị ô nhiễm nghiêm trọng trong các khu vực nội thị thuộc các thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu thị trường và xây dựng các đề xuất dự án thí điểm về tái chế chất thải công nghiệp, sinh hoạt;
- Nghiên cứu xây dựng các đề xuất dự án sử dụng các năng lượng tự nhiên (năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt) để phát điện nhằm giảm phát thải khí nhà kính Loại dự án này đang được ưu tiên tài trợ cao;
- Xây dựng kế hoạch tổng thể bảo vệ môi trường Việt Nam, tập trung vào
ba vùng kinh tế trọng điểm
III.2.2.2 Giai đoạn từ 2011 đến 2020
Trong giai đoạn này, Việt Nam sẽ bị loại ra khỏi danh sách các nước nghèo và sẽ không còn cơ hội để nhận được nhiều các ưu đãi về ODA cho các hoạt động bảo vệ môi trường như giai đoạn trước Bởi vậy các chương trình
ưu tiên hợp tác quốc tế về môi trường trong giai đoạn này cần tập trung để hỗ trợ cho các hoạt động chuyển giao công nghệ xử lý ô nhiễm, hỗ trợ xây dựng
Trang 21các dự án đề xuất cho các lĩnh vực xử lý và khắc phục ô nhiễm Đặc biệt các
dự án này sẽ do khu vực tư nhân hoặc các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm để gắn trách nhiệm trong công tác hoàn trả nguồn vốn vay tín dụng cho các nhà tài trợ Ngoài ra, các hoạt động hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ
xử lý môi trường, phát triển ngành công nghiệp môi trường cũng rất quan trọng trong giai đoạn này Đặc biệt trong giai đoạn này cần có sự hợp tác quốc
tế để phát triển các mô hình cộng đồng bảo vệ môi trường tại các khu vực nông thôn, miền núi nhằm cải thiện chất lượng môi trường cho các khu vực này Cụ thể các hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ trong giai đoạn này như sau:
1) Hoạt động nâng cao nhận thức môi trường và truyền thông môi trường
- Nâng cao nhận thức hiểu biết về Luật Bảo vệ môi trường, cho các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồng ;
- Tăng cường năng lực cho cơ quan truyền thông môi trường cấp quốc gia thông qua các hoạt động đào tạo tăng cường năng cho cán bộ truyền thông và hỗ trợ trang thiết bị truyền thông ;
2) Hoạt động xây dựng các đề xuất dự án môi trường
Trong giai đoạn này, các đề xuất dự án cần tập trung vào các khu vực ưu tiên như sau:
- Xây dựng các mô hình dự án trình diễn về tiêu thụ và sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường, bền vững ;
- Tăng cường năng lực quản lý môi môi trường trong hoạt động kiểm soát
ô nhiễm và khắc phục các sự cố môi trường
- Tăng cường sự tham gia của các tổ chức NGOs vào các hoạt động bảo vệ môi trường của Việt Nam
- Bảo tồn và phát triển các nguồn gen quý hiếm trong lĩnh vực vật nuôi nhằm đem lại các lợi ích kinh tế cộng đồng và giá trị đa dạng sinh học
- Bảo tồn và phát triển những nguồn gen quý hiếm trong lĩnh vực cây trồng nhằm đem lại các lợi ích kinh tế cho cộng đồng và giá trị đa dạng sinh học
2) Hoạt động chuyển giao công nghệ xử lý môi trường
Hiện tại các công nghệ tái chế chất thải ở Việt Nam còn rất lạc hậu, kém hiệu quả Bởi vậy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm chuyển giao công nghệ hiện đại, thân htiện môi trường trong lĩnh vực này vào Việt Nam là
Trang 22rất cần thiết Các công nghệ cần xem xét lựa chọn để chuyển giao như sau:
- Công nghệ tái chế các chất thải dạng nhựa
- Công nghệ tái chế các chất thải ngành công nghiệp điện tử
- Công nghệ tái chế các loại pin, ắc quy
3) Chương trình cảnh báo sớm về thiên tai
Việt Nam vẫn còn thiếu các công cụ và nguồn lực trong công tác cảnh báo sớm về các thiên tai Bởi vậy cần có các hoạt động hỗ trợ các tổ chức quốc
tế trong công tác tăng cường năng lực cảnh báo sớm các thiên tai:
- Tăng cường tiềm lực trang thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực cho công tác cảnh báo sớm thiên tai cấp quốc gia;
- Khảo sát lựa chọn một địa phương điển hình để thực hiện dự án trình diễn về cảnh báo sớm thiên tai
4) Các yêu cầu bảo vệ môi trường khi quy hoạch và xây dựng hệ thống
hạ tầng môi trường cho các khu đô thị và các khu thể thao, du lịch, giải trí
Thực tế Việt nam đang đối mặt với nhiều thách thức về môi trường tại các
đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn Do thiếu các kiến thức cũng như các công
cụ để quản lý và thực thi các quy hoạch này Bởi vậy, cần có sự hợp tác quốc tế nhằm cải thiện môi trường cho các khu vực này:
- Xây dựng và ban hành các hướng dẫn tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các quy hoạch hạ tầng môi trường tại các khu đô thị;
- Xây dựng và ban hành các yêu cầu bảo vệ môi trường đối với quy hoạch phát triển đô thị
- Thí điểm mô hình quy hoạch đồng bộ hệ thống hạ tầng môi trường cho một khu đô thị và rút kinh nghiệm nhân rộng cho các khu vực khác
-Xây dựng và ban hành hướng dẫn kỹ thuật đối với quy hoạch hệ thống hạ tầng môi trường khu thể thao, du lịch và giải trí
5) Đánh giá hiệu quả thực thi các luật, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường
Dự kiến sau 05 năm thực thi các Luật, văn bản quy phạm pháp luật về môi trường sẽ phải tiến hành đánh giá tính hiệu quả của các văn bản này và các bất cập cần khắc phục Bởi vậy đây là hoạt động cũng rất cần sự hợp tác của các
tổ chức quốc tế có tính chuyên môn hoá cao, có kinh nghiệm để hỗ trợ thực hiện đánh giá và đưa ra các khuyến nghị
Trang 23- Triến khai các chương trình đánh giá các luật và các văn bản pháp luật liên quan về môi trường và đề xuất các khuyến nghị
- Sửa đổi hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật liên quan về bảo vệ môi trường trên cơ sở các kết quả phát hiện từ các hoạt động đánh giá
6) Đào tạo, tăng cường năng lực quản lý môi trường
- Đào tạo tăng cường năng lực cho các tổ chức NGOs để tham gia đảm nhận các dịch vụ như: đánh giá tác động môi trường; đánh giá môi trường chiến lược; thực hiện kiểm soát ô nhiễm; tham gia giám sát việc tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường;
- Thí điểm hỗ trợ mô hình tăng cường năng lực cho 06 tổ chức NGOs tại
03 khu vực trên cả nước trong việc tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường
7) Thí điểm các mô hình thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu
Các tác động của biến đổi khí hậu trong những năm tới đã được các nhà khoa học cảnh báo Bởi vậy, để tránh các hậu quả của biến đổi khí hậu đến môi trường cần có các chương trình dự án trình diễn trong các mô hình hoạt động canh tác nông nghiệp, các quy hoạch sử dụng đất tại một số khu vực nhằm thích ứng với các tác động biến đổi khí hậu và giảm nhẹ các rủi ro về môi trường Các chương trình ưu tiên trong hoạt động này sẽ tập trung vào:
- Nghiên cứu và triển khai 03 mô hình trình diễn tại 03 khu vực miền Trung, miền Bắc, miền Nam về thích ứng với biến đổi khí hậu trong các hoạt động canh tác nông nghiệp
- Thực hiện thí điểm 03 dự án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tại 3 khu vực bị tác động của biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu
III 3 Các giải pháp triển khai chương trình
Để các chương trình kế hoạch hợp tác quốc tế nêu trên có thể triển khai theo đúng lộ trình và đem lại hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
1 Các giải pháp về chính sách và thể chế:
a) Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn để đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng, minh bạch, đơn giản và dễ thực hiện trong quản lý và sử dụng nguồn viện trợ ODA cho các hoạt động bảo
vệ môi trường;
b) Sửa đổi chính sách tài chính trong nước đối với ODA cho phù