1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng nhà nho trong thơ nôm cuối thế kỉ xix

73 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng nhà nho trong thơ nôm cuối thế kỷ xix
Tác giả Hà Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn Th.S Lê An Vinh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 763,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Nguyễn Lộc với bài những cống hiến đặc sắc của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử văn học dân tộc đã khẳng định sự thành công về nghệ thuật ở khía cạnh xây dựng nhân vật ông nói Cá

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUÂ ̣N TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đề tài:

HÌNH TƯỢNG NHÀ NHO TRONG THƠ NÔM CUỐI

THẾ KỶ XIX Người hướng dẫn:

Th.S Lê An Vinh

Người thực hiện:

Hà Thị Thu Thủy

Đà Nẵng, tháng 5/2013

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền văn học của bất kì dân tộc nào cũng như lịch sử phát triển của dân tộc

đó, để tồn tại cho đến ngày nay nó đều dựa trên cơ sở của cái cũ và phát triển thêm cái mới Văn học trung đại Việt Nam ra đời sau bộ phận văn học dân gian Nên văn học trung đại có điều kiện tiếp thu những ánh sáng và tinh hoa từ nền văn học truyền thống mà cha ông ta đã dày công xây dựng Do đó văn học trung đại Việt Nam đã nhanh chóng phát triển, sớm trở thành một bộ phận lớn của nền văn học nước nhà Có thể nói Văn học trung đại Việt Nam đã trở thành một mảnh đất tươi tốt đã sản sinh và nuôi dưỡng rất nhiều nho sĩ ưu tú và mỗi con người có một phong cách sáng tác riêng Thơ Nguyễn Đình Chiểu ta bắt gặp một nhà thơ nhân đạo sâu sắc, dùng ngòi bút văn chương của mình là vũ khí đấu tranh Ông là người

mở đường người dẫn đầu cho trào lưu văn học chống Pháp từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX Đến với thơ Nguyễn Khuyến ta thấy được sự ưu tư của nhà thơ mang nặng nỗi xót thương trước vận mệnh đất nước luôn mang trong mình tư tưởng phò vua giúp nước

Văn học trung đại Việt Nam chính thức ra đời vào thế kỉ X và về cơ bản kết thúc vào cuối thế kỉ XIX Lấy văn học dân gian làm nền tảng, lấy nhiệm vụ chính trị mà thời đại đặt ra làm nội dung và mối quan tâm hàng đầu của văn học chính là công cuộc xây dựng đất nước ổn định, phát triển nhà nước phong kiến Ý thức trách nhiệm, những tình cảm cá nhân cao cả được đặc biệt đề cao Các nho sĩ đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử lúc bấy giờ Họ là những con người trí thức đại diện cho đất nước, nhân dân họ không chỉ góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, công cuộc xây dựng quốc gia phong kiến vững mạnh mà còn đóng góp rất xuất sắc cho nền văn hóa văn học dân tộc Thơ văn của họ đã phản ánh được sức mạnh của con người Việt Nam dân tộc Việt Phơi bày những mặt trái của

xã hội, lên án những ràng buộc khắt khe của xã hội phong kiến và những bất công ngang trái của xã hội để vươn tới giải thoát con người đi đến xã hội tốt đẹp hơn nhân văn hơn Nho sĩ tri thức đã góp phần đưa nền văn học Việt lên một tầm cao

Trang 3

mới để sánh kịp với sự phát triển của các nước trong khu vực Tìm hiểu và nghiên

cứu Hình tượng nhà nho trong trong thơ Nôm cuối thế kỉ XIX giúp chúng tôi có thêm nhiều kiến thức bổ ích và đó sẽ là tiền đề để phục vụ cho việc học tập và

nghiên cứu sau này

Qua tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn góp thêm tiếng nói của mình để khẳng định vai trò và sự đóng góp đặc biệt quan trọng của các nho sĩ trong quá trình phát triển của văn học trung đại đối với lịch sử dân tộc và nền văn học nước nhà

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các nho sĩ trong văn học trung đại Việt Nam có rất nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc Chính vì vậy các nho sĩ trong thời này được rất nhiều các nhà phê bình các nghiên cứu tìm hiểu và nghiên cứu Dưới đây chúng tôi trình bày một số công trình nghiên cứu sau:

Bùi Thanh Ba trong cuốn Nguyễn Đình Chiểu – tác phẩm trong nhà

trường ông đã đưa ra nhận xét: Với ý chí đấu tranh kiên cường và bất khuất Nguyễn Đình Chiểu viết tác phẩm nhằm phổ biến Đông y để cứu dân trong cảnh

lầm than Tác giả Nguyễn Lộc với bài những cống hiến đặc sắc của Nguyễn Đình

Chiểu trong lịch sử văn học dân tộc đã khẳng định sự thành công về nghệ thuật ở

khía cạnh xây dựng nhân vật ông nói Cái đặc sắc của Lục Vân Tiên là tính chất

hành động của nó rất phong phú PGS.T.S Nguyễn Phong Nam trong cuốn Giáo

trình văn học Việt Nam với bài Nguyễn Đình Chiểu tác giả đã khằng định: Nguyễn Đình Chiểu người tri thức yêu nước ông có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc có phẩm chất sáng ngời, ông có được thành quả lao động xuất sắc trong

ba lĩnh vực nhà báo nhà văn thầy thuốc Hoài Thanh trong mấy vấn đề cuộc đời

thơ văn Nguyễn Đình Chiểu NXB Khoa học xã hội Hà Nội Trong bài viết của

mình ông đã đưa ra nhận xét Nguyễn Đình Chiểu – một nhà thơ một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam

Lê Trí Viễn cho rằng Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ có tấm lòng yêu

nước, thương dân sâu sắc, một thái độ dứt khoát đối với kẻ thù Ông đã mượn

Trang 4

những trang văn thấm đẫm nhiệt huyết để gửi gắm tâm sự của mình Vì thế chúng

ta có thể thấy tính chất tự thuật này có phần đặc biệt đó là ông đã biết tâm sự, thổn thức của lòng mình hòa với thời cuộc Nguyễn Đình Chiểu đã đem mình tự thuật trong thơ văn

Nguyễn Lộc gọi Nguyễn Khuyến là nhà thơ của nông thôn trước hết không

phải vì ông viết về chủ đề nông thôn thực sự mà chủ yếu là của nông dân Theo

ông chính là sự gắn bó tình cảm với người nông dân với quê hương mới là gốc rễ làm nên Nguyễn Khuyến nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam

PGS T.S Nguyễn Phong Nam trong bàn về cách ứng xử nỗi niềm yêu

nước và thương dân trong thơ Tam Nguyên Yên Đỗ trước cảnh nước mất nhà tan

đang rên xiết dưới chế độ thực dân của quân xâm lược tác giả đã có nhận xét: Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình Nho học cái lý tưởng thấm sâu vào máu thịt của ông là sự rèn dũa thành tài thi đỗ làm quan phò vua giúp nước…Nhưng vấn đề ở chỗ trong hoàn cảnh của mình ông nhận thấy lý tưởng và thực tế có nhiều chỗ chưa ổn…Nguyễn Khuyến bày tỏ lòng trung nhưng không biết nên trung thế nào, bởi trong cổ điển không hoàn toàn hợp với hiện đại

Mã Giang Lam đã nhận xét đánh giá về thơ văn Nguyễn Khuyến trong

công trình nghiên cứa của mình như sau “giá trị thơ văn của Nguyễn Khuyến là toàn bộ sáng tác của nhà thơ” nhưng làm nên đặc sắc riêng của Nguyễn Khuyến

vẫn là những bài thơ viết về cảnh và người chốn thôn quê những bài thơ bộc lộ rõ nhất tấm lòng của tác giả Nói đến làng cảnh Việt Nam nhưng chưa ai để lại dấu

ấn sâu đậm cho người đọc bằng Nguyễn Khuyến

Tác giả Trần Ngọc Vượng bài thơ Nôm đến Nguyễn Khuyến cho ta thấy sự

phát triển thể loại thơ Nôm đến Nguyễn Khuyến đã phát biểu từ nội dung thể tài, ngôn ngữ thơ…Tác giả đã nêu những đóng góp và sự phá cách trong văn học cổ điển của nhà thơ tìm hiểu những tâm sự nỗi niềm thông qua mảng thơ trào phúng Tác giả đã làm rõ những đóng góp đổi mới cách tân của Nguyễn Khuyến qua mảng thơ Nôm

Trang 5

Trong công trình Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Anh Phương

xuất bản, Sài Gòn, 1965), Phạm Thế Ngũ đã dành 4 trang viết về Chu Mạnh Trinh với một cảm tình nồng hậu Tuy nhiên như thế vẫn còn quá ít và không tránh khỏi những sơ sài Cũng khoảng từ những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ XX, một

số nhà nghiên cứu miền Bắc, trong những công trình văn học sử của mình, có nhắc đến Chu Mạnh Trinh chỉ vài ba dòng thôi nhưng lại với một thái độ phê phán nặng

nề Nguyễn Lộc viết: “Khuynh hướng văn học hưởng lạc thoát ly gồm chủ yếu là nhóm nhà thơ Dương Lâm, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh Trong thơ văn của họ, thỉnh thoảng có bài cũng nói đến thời thế Nhưng chủ yếu là nói về cuộc sống ăn chơi sa đoạ, trác táng của họ ở các nhà chứa, cô đầu ”

Trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX, của tác

giả Nguyễn Lộc Trong cuốn sách này tác giả đã nghiên cứu công phu, nghiêm túc

và rất khoa học về nền văn học trung đại từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ

XIX Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá đúng vai trò của các nho sĩ trong giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết cuối thế kỉ XIX Các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn

Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn…Đóng góp chủ yếu của khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp là đem đến cho văn học một nội dung mới, một khí thế mới, một sức sống mới Sau khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp là văn học tố cáo hiện thực Khuynh hướng này sáng tác hầu hết tiếng việt có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, trong việc hoàn thiện các hình thức nghệ thuật các thủ pháp tiêu biểu

GS.TS Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam cũng đã

nghiên cứu về buổi đầu hình thành nền văn học dân tộc, hoàn cảnh lịch sử đất nước và điều kiện xã hội đã tạo nên phong cách sáng tác riêng con người cá nhân riêng của các nho sĩ Thông qua đó tác giả đã đưa ra những đánh giá về vai trò của các nho sĩ trong giai đoạn này

3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là “Hình tượng nhà nho trong thơ Nôm nửa cuối thế kỉ XIX” Chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu những đóng góp của

các nho sĩ cuối thế kỉ XIX đối với sự phát triển văn học trung đại

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu là“Hình tượng nhà Nho trong thơ Nôm nửa cuối thế kỉ XIX” Vì vậy pha ̣m vi nghiên cứu và khảo sát của chúng tôi là những

tài liệu liên quan đến các tác gia trong thơ Nôm nửa cuối thế kỉ XIX Tuy nhiên

chúng tôi tập trung tham khảo những tài liệu chính như: Nguyễn Lộc (2004), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX 10 Nguyễn Phong Nam (1997), Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đến 1900, NXB Huế…Và

nhiều tài liệu khác liên quan đến đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dựng đến các Phương pháp sau:

- Phương pháp đọc tài liệu

- Phương pháp sưu tầm chọn lọc

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo cấu trúc đề tài gồm hai chương:

Chương I: Nhà nho trong sự biến thiên của lịch sử dân tộc nửa cuối thế kỉ XIX Chương II: Chân dung nhà nho trong thơ Nôm nửa cuối thế kỉ XIX

Trang 7

CHƯƠNG I: NHÀ NHO TRONG SỰ BIẾN THIÊN CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX

Lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX thực chất là lịch sử của một cuộc đấu tranh chống xâm lược chống đầu hàng Thực dân Pháp có ý đồ xâm lược nước

ta từ lâu cuối thế kỉ XVIII nhưng âm mưu đó chưa thực hiện được Mãi đến cuối thế kỉ XIX Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn đã bắn giết các Giáo Sĩ và ngăn chặn thông thương lấy cớ đó xâm lược nước ta Từ giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kì bế tắc, Pháp xâm lược nước ta, triều đình phân tán, không thống nhất, không nắm được tình hình thế giới do đó khiếp sợ dẫn đến nhượng bộ rồi đầu hàng từng bước Nhân dân không chấp nhận sự hèn nhát triều đình đã vùng dậy kháng chiến chống thực dân Pháp Năm 1859 quân Pháp sau khi đánh chiếm Đà Nẵng đã kéo vào Sài Gòn tràn vào sông Bến Nghé quan quân của triều đình nhà Nguyễn chống trả yếu ớt Thành Gia Định bị giặc chiếm đóng Lịch

sử dân tộc lại mở sang một trang mới để bắt đầu ghi lấy những hàng ước mà nhà nước đương thời phải kí kết và cũng mở đầu cho những trang sử đẫm máu mà vẻ vang, oanh liệt của dân tộc chống trả quyết liệt bọn thực dân cướp nước Đây là lúc tinh thần yêu nước bùng lên mạnh mẽ, đồng thời cũng là lúc sĩ phu thức thời suy nghĩ về vận nước trong xu thế chung của thế giới Nước ta nửa cuối thế kỉ XIX sự kiện trung tâm và nỗi bật là sự xâm lược của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu chống xâm lược của nhân dân ta Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc chiến đấu quyết liệt chống kẻ thù Phong trào chiến đấu chống thực dân Pháp nửa cuối thế kỉ XIX lúc đầu giai cấp phong kiến còn chống đối một phần nào đó, nhưng về sau từng bước dần thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp Trong triều bộ phận đầu não của nhà nước phong kiến ngay từ đầu đã chia làm hai phái, chủ hòa và chủ chiến Ngoài ra một bộ phận nữa thì lưng chừng,

do dự tiêu biểu là Tự Đức Trong khi Nam Kỳ dồn sức chống ngoại xâm, ở miền Trung và Miền Bắc chưa có ngoại xâm, bọn phong kiến tăng cường bốc lột nhân

Trang 8

dân rất thậm tệ Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng nổ tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Cai Vàng

Nhà nước phong kiến đứng trước hai mâu thuẩn bên ngoài là mâu thuẩn với bọn thực dân xâm lược, bên trong là mâu thuẩn với phong trào khởi nghĩa của nông dân Sau năm 1982 triều đình không còn đóng vai trò gì trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trái lại còn có những hành động tiêu cực tăng cường bóc lột nhân dân một cách thẩm tệ để bồi dưỡng chiến phí, điều các tướng lĩnh cầm đầu nghĩa quân chống Pháp đi nơi khác để phong trào kháng chiến tan rã Cuộc kháng chiến chống Pháp trong phong trào Cần Vương tiếp theo chịu sự chi phối trực tiếp của ý thức hệ phong kiến nhưng không phải do những người đại diện cho nhà nước phong kiến cầm đầu mà do các văn thân sĩ phu yêu nước chống Pháp lãnh đạo Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX mặc dù từng chặng sắc thái thay đổi, có nhiều thăng trầm khác nhau nhưng dòng văn học chống thực dân Pháp giữ vai trò chủ đạo, chính dòng văn học này có cơ sở trong cuộc đấu tranh hết sức sôi nổi và liên tục quảng đại quần chúng nhân dân chống thực dân Pháp lúc bấy giờ Sau đó ngọn lửa chống Pháp vẫn âm ĩ bùng lên nhưng không phải do nhà nước phong kiến cầm đầu mà do các văn thân và sĩ phu yêu nước lãnh đạo Những biến cố lớn lao của lịch sử ảnh hưởng trực tiếp đến với sự phát triển của văn học giai đoạn cuối thế kỉ XIX

Cuộc chiến đấu trong Nam lại càng quyết liệt, nhân dân ta với truyền thống yêu nước được tôi luyện qua hàng nghìn năm trong quá trình dựng nước và giữ nước rất nên nhạy bén về cảm quan yêu nước, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, không sợ hy sinh, không tiếc xương máu Phong trào chống Pháp rầm rộ khắp cả nước, thực dân Pháp đánh ra miền Bắc và miền Trung thì phong trào kháng chiến chống Pháp không khác gì Nam Bộ Khi kinh thành Huế thất thủ phong trào chống thực dân Pháp lại càng đẩy lên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi khắp cả nước bùng lên Những biến cố lớn lao của xã hội cuối thế kỉ XIX là một dấu ấn rõ nét trong sự sắp xếp lực lượng các giai cấp và trong trạng thái tâm lý của giai cấp xã hội Trải qua nhiều biến động nhưng cuối cùng xã

Trang 9

hội Việt Nam vẫn lâm vào tình trạng bế tắc không lối thoát Tuy vậy phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ cũng đã làm bùng dậy nhiều khát vọng lành mạnh, làm quật cường thêm tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, cổ vũ cho sự vươn dậy của tài năng, trí tuệ của con người Phong trào chống Pháp tuy rầm rộ, sôi nổi khắp cả nước nhưng không có lực lượng hậu thuẩn làm nòng cốt chủ huy phong trào đấu tranh thất bại mất nước là do nhà Nguyễn thỏa hiệp, phản động sợ dân hơn sợ giặc Mặc dù các cuộc đấu tranh thất bại nhưng cũng chứng tỏ được tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm khẳng định được phong trào đấu tranh mang tính dân tộc Đây

là giai đoạn lịch sử đầy đau thương nhưng rất hùng tráng của dân tộc, nhiều hy sinh mất mát nhưng rất tự hào, giai đoạn khổ nhục nhưng vĩ đại

Trước kia mâu thuẩn chủ yếu trong xã hội Việt Nam là mâu thuẩn giữa nông nô và địa chủ Bây giờ trong cuộc kháng chiến chống Pháp mâu thuẩn ấy càng thêm sâu sắc nhưng nổi lên hàng đầu là mâu thuẩn giữa nhân dân ta và bọn xâm lược, giữa tầng lớp yêu nước và bè lũ phong kiến tay sai bán nước Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX trải qua một cuộc phân hóa sâu sắc trước kia chưa từng

có Nhân dân đứng giữa hai tầng lớp áp bức đó là chế độ phong kiến thối nát và cuối thế kỉ XIX có thêm một tầng lớp áp bức bóc lột mới đó là bọn thống trị nước ngoài Nhân dân lại đứng trước muôn vàn nỗi thống khổ, khi có quá nhiều áp bức thì sức kháng chiến của họ càng mạnh, ý chí chiến đấu càng tăng cường

Có thể nói chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng, chuẩn bị cho sự sụp đổ toàn diện của chế độ này vào cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sự khủng hoảng này được bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất là tính thối nát, suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Sự khủng hoảng này còn được biểu hiện ở sức trỗi dậy mãnh liệt với một khí thế chưa từng có của phong trào nông dân khởi nghĩa

Lịch sử dân tộc ta giai đoạn này là lịch sử đau thương nhưng quật khởi, có

bi kịch nhưng cũng có anh hùng ca Nhìn về phía giai cấp thống trị là cả một sự

Trang 10

sụp đổ, tan rã toàn diện của kỷ cương, của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội Song nhìn về phía quần chúng thì đây là thời kỳ quật khởi, thế kỷ bão táp của các phong trào nông dân khởi nghĩa, thời đại đấu tranh tháo cũi sổ lồng Chính sự thay đổi sâu sắc này đã đưa đến sự sắp xếp lại lực lượng sáng tác trong xã hội và mục đích vai trò và nhiệm vụ của văn học lúc bấy giờ Đó là cuộc chiến đấu cứu nước chống Pháp và chống bọn phong kiến đầu hàng Vai trò của người nông dân cuối thế kỉ XIX đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước giành độc lập chủ quyền dân tộc

Trong điều kiện xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam là sự kiện quan trọng nổi bật chi phối đến các sự kiện khác và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến qúa trình vận động và phát triển của văn học, đó cũng là bước ngoặc lớn để hình thành nên dòng văn học mang tư tưởng yêu nước cuối thế

kỉ XIX Trước những biến cố lịch sử lớn lao xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX có

sự phân hóa giai cấp sâu sắc mỗi tầng lớp phân hóa đều mang sắc thái tâm lý riêng, một thái độ chính trị riêng Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam, đó là sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn Trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, giai cấp thống trị cũ thái độ của họ không giống nhau, nhưng tâm lý chủ yếu là đầu hàng, thỏa hiệp Bên cạnh đó một số sĩ phu, tri thức phong kiến họ thấy rõ quyền lợi của phong kiến cũng chỉ là tay sai cho bọn đế quốc, họ tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi với nhân dân nên đã hăng hái cùng nhân dân chống giặc

Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm Chủ nghĩa tư bản

thực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về

Trang 11

kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai Một số bộ phận khác là nhà thơ nhà văn

họ có tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc trỗi dậy, họ đã dùng văn học là vũ khí chiến đấu nói lên tâm tư, nguyện vọng trước tình cảnh mất nước nhà tan

Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi Của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng nòng cốt động lực cách mạng mạnh mẽ Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Giai cấp vô sản hầu hết xuất thân từ giai cấp nông dân, giai cấp này trưởng thành và lớn mạnh nhanh chóng nhất từ sau thế giới thứ nhất Tuy nhiên sáng tác văn học giai đoạn này vẫn thuộc giai cấp cũ nên văn học chủ yếu vẫn chịu chi phối của ý thức hệ phong kiến

Nước ta đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xã hội đó

Trang 12

1.2 Bối cảnh văn hóa Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX

Bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ đã trực tiếp ảnh hưởng đến bối cảnh văn hóa lúc bấy giờ văn hóa đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của văn học cuối thế kỉ XIX Cuối thế kỉ XIX văn hóa chưa có gì chuyển biến sâu sắc so với giai đoạn đầu thế kỉ XIX Vẫn trong tình trạng lạc hậu trì trệ vai trò của Nho giáo vẫn được coi trọng, Nho giáo vẫn được coi là quốc giáo, lợi dụng tôn giáo để thống trị

xã hội Triều đình tôn sùng Nho học, Khổng, Mạnh được coi là những vị thánh Chế độ thi cử không công bằng, chưa thực sự tuyển được nhân tài phục vụ cho đất nước con quan thì lại làm quan, sách vở của họ là thiên kinh địa nghĩa điều này làm hạn chế óc sáng tạo của con người

Trong giai đoạn này ngoài Nho giáo thì Phật giáo Đạo giáo và nhiều tín ngưỡng khác cũng rất phát triển Các vị tướng trước khi ra trận được vua sai quan bói xem bốn mạng của các vị thế nào Trời hạn lâu ngày không mưa, nạn dịch hoành hành, nhà nước không lo chạy chữa, chỉ lập đàn cầu đảo Điều đó lộ rõ những bảo thủ nặng nề trong mọi hoạt động, con người tin vào mệnh trời, họ tin vào thế lực siêu hình có thể dàn xếp ổn thỏa mọi công việc trên đời Trước tình hình đó một số sĩ phu có đầu óc cách tân như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…có cơ hội được học hỏi những khoa học kĩ thuật tiến bộ đã nhiều lần đưa

ra những kiến nghị cải cách xã hội Nguyễn Trường Tộ đã kích lối học từ chương,

hư văn, chủ trương học khoa học kỉ thuật học thiên văn, địa lý, sinh ngữ…Học tức

là học những cái chưa biết mà biết Ông say sưa với những đề nghị cải cách đất nước thậm chí viết cả trên giường bệnh

Cuối thế kỷ XIX xu hướng thôn tính dân tộc và bành trướng thuộc địa của các nước đế quốc diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới Việt Nam cũng bị thực dân Pháp xâm lược từ giữa thế kỉ XIX Thực dân Pháp trong giai đoạn này đang thực hiện chính sách ngu dân đồng hóa dân tộc ta, để thực hiện âm mưu đó điều đầu tiên chúng bắt đầu chú ý đến những hoạt động văn hóa nhưng ảnh hưởng chưa có mấy Thực dân Pháp mở trường thông ngôn để đào tạo tay sai, trường này mở ra không có người phải lấy lính Pháp vào học Chúng cho in và phát hành rộng rãi tờ

Trang 13

Gia Định Báo để phổ biến chính sách cai trị của chúng Sau khi dập tắt các phong trào yêu nước, hoàn thành căn bản công cuộc bình định nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa, áp đặt một chính sách thống trị quy mô và triệt để trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá giáo dục nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn, bảo đảm siêu lợi nhuận cho chính quốc

Thực dân Pháp đã thi hành một chính sách đầu độc, ngu dân đồng thời truyền

bá văn hoá và giáo dục của Pháp để phục vụ cho chính sách thuộc địa của mình Mục đích của những chính sách đó là nhằm nô dịch tinh thần quần chúng, biến quần chúng thành những đám đông tự ti, khiếp nhược trước sức mạnh của văn minh đại Pháp, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền thống tốt đẹp,

phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc Chúng thi hành triệt để chính sách

văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến

bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị, mục đích đồng hóa nhân dân ta

Ngu dân về giáo dục và đầu độc về văn hoá là một trong những biện pháp hỗ trợ đắc lực cho công cuộc khai thác ở Việt Nam Ban đầu, thực dân Pháp thực hiện chính sách giáo dục chỉ nhằm mục đích đào tạo đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thuộc địa, đồng thời từng bước truyền bá chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, hạn chế ảnh hưởng của chữ Hán Các trường học được

tổ chức với ba bậc: bậc ấu học ở xã, bậc tiểu học ở phủ, huyện và bậc trung học ở tỉnh Học sinh theo học trong hệ thống các bậc học này, ngoài việc được trang bị các kiến thức khoa học phổ thông còn phải học tiếng Pháp Các bậc học càng cao thì môn tiếng Pháp và các kiến thức về văn hoá Pháp càng trở thành bắt buộc Các khoa thi Hương, Hội, Đình vẫn được tổ chức như cũ Hầu hết các tác phẩm văn học nghệ thuật trong thời gian này đều thể hiện cái nhìn của tầng lớp trí thức Tây học, văn nghệ sĩ hướng vào mục đích phê phán tình trạng thối nát của xã hội

Trang 14

đương thời, nêu lên những xung đột giữa các quan điểm phong kiến và tư tưởng tư sản vừa mới nảy sinh, đả kích những kẻ trưởng giả học làm sang, phơi bày những cảnh lầm than khốn khó của quần chúng lao động bị bọn thực dân, địa chủ, quan lại ức hiếp, bóc lột Đồng thời nói lên tình cảm yêu nước thương nòi và sự bất lực chán chường của một số người ở thành thị trước thời cuộc

Trong các ngành nghệ thuật hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc cũng có những biến đổi nhất định Các mô típ và tư tưởng nghệ thuật phương Tây ngày càng có ảnh hưởng sâu đậm trong phương pháp tư duy và sáng tác của các nghệ sĩ Việt Nam Tuy nhiên các mô típ mỹ thuật truyền thống, nhất là các kiến trúc xây dựng đình chùa nhà cửa ở nông thôn vẫn đóng vai trò chủ yếu trong xu hướng mỹ thuật lúc bấy giờ Đội ngũ nghệ sĩ mỹ thuật chuyên nghiệp chủ yếu là những nghệ sĩ dân gian như thợ mộc, thợ nề, thợ thêu, thợ chạm, thợ tạc tượng, thợ gốm, thợ đúc chuông Các loại hình mỹ thuật mới chịu ảnh hưởng mô phỏng của phương Tây mặc dù đã phát triển và mở rộng hơn trước nhưng chưa đủ sức lấn át các môt típ nghệ thuật truyền thống của dân tộc

Văn hóa dậm chân tại chổ khoa học kĩ thuật không có điều kiện phát triển,

tư tưởng con người trở lại với nếp suy nghĩ cổ hũ ngày xưa, không dám sáng tạo, sống một cuộc sống ỉ lại đời sống tinh thần trì trệ, điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của văn học đương thời lúc bấy giờ Triều đình mục nát không nghĩ đến vận nước, cổ hũ lạc hậu cho nên tư tưởng con người lại quay về với nề nếp nho gia, cổ hủ ảnh hưởng đến sự phát triển văn học đương thời

1.3 Sự chuyển biến về tư tưởng của các nhà nho nửa cuối thế kỉ XIX

Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX trong văn học Việt Nam về lịch sử bắt đầu bằng sự kiện thực dân Pháp xâm lược nước ta, và kết thức bằng sự kiện cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống xâm lược tạm thời bị thất bại, thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa của chúng Tính chất thời sự chi phối toàn bộ đời sống văn học

và làm thay đổi diện mạo văn học Văn học giai đoạn này ra đời trong hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt có nhiều biến cố trọng đại nên văn học gắn với chính trị và phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị Với yêu cầu cấp thiết đó các nho sĩ đã phản

Trang 15

ánh những vấn đề trung tâm nóng hổi của thời đại, cuộc đấu tranh của nhân dân chống thực dân Pháp đây là tư tưởng chính Văn học cuối thế kỉ XIX bắt đầu bằng thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu và kết thúc bằng thơ văn tố cáo hiện thực Tú Xương và Nguyễn Khuyến Đây là giai đoạn cuối của lịch sử văn học dân tộc có thể gọi là thời kì văn học được sáng tác dưới sự chi phối của ý thức hệ phong kiến Văn học trong thời kì phong kiến này vẫn phát huy tác dụng mặc dù

nó bị khúc xạ do điều lịch sử mới có những nét đặc thù khác so với những giai đoạn trước

Lực lượng sáng tác cuối thế kỉ XIX chưa có gì thay đổi Hầu hết các tác giả trong giai đoạn này vẫn là những nho sĩ mang ý thức phong kiến, có khác trước là phần lớn là trước là phần lớn họ xuất thân từ từng lớp trung và dưới của xã hội, có nhiều quan hệ khá chặt chẽ với nhân dân và trước cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc, trừ một số bộ phận ít ỏi làm tay sai giặc

Giai đoạn cuối thế kỉ XIX về phương diện công chúng văn học và điều kiện sáng tác văn học cũng chưa có gì thay đổi Cuối thế kỉ XIX chữ quốc ngữ được phổ biến thêm một bước và báo chí đã ra đời Nhìn chung văn học cuối thế kỉ XIX vẫn còn nằm trong một thể thống nhất với những giai đoạn trước đây Tuy nhiên

về phương diện nội dung văn học do tác động trực tiếp mạnh mẽ của cuộc chiến đấu chống Pháp nó có những thay đổi rõ nét Trước hết là sự thay đổi về đề tài và chủ đề Tư tưởng của các nhà nho cuối thế kỉ XIX văn học chủ yếu tập trung vào

đề tài có tính chất thời sự nóng hối lúc bấy giờ Không lánh mình vào một số triết

lý siêu hình nào của Nho, Đạo, Phật Văn học cuối thế kỉ XIX đã có nhiều thay đổi

so với trước, lúc này các nhà nho sáng tác văn học nhằm thực hiện nhiệm vụ rất to lớn là vũ khí để chống giặc ngoại xâm, văn học lấy con người là mục đích sáng tác, đưa con người lên hàng đầu trong nhận thức của văn học Văn học không đắm chìm trong thiên nhiên, không hoàn toàn thiên về triết lý đạo đức, mà các nhà nho

đi sâu vào nỗi khổ và niềm vui cả con người gắn bó với những đau thương và hạnh phúc của con người trong đời sống hằng ngày Lên án những bất công ngang trái

bảo về quyền sống quyền hạnh phúc, văn học đã đứng về phía nhân dân “Nhà văn

Trang 16

đã có con mắt nhìn khắp sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” Văn học đã nêu

được những vấn đề cơ bản về con người về xã hội mà những thời kì trước đó xã hội phong kiến chưa lúc nào làm được Đặc điểm nỏi bật trong sự phát triển của

văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đó chính là “Tính chất thời sự của nó là sự theo sát tình hình đấu tranh chính trị và phục vụ đấu tranh chính trị của nó” Văn

học lúc này không chỉ đơn thuần là trên lý thuyết là trò mua vui, mà nó là vũ khí sắc bén đấu tranh xã hội Đến cuối thế kỉ XIX đứng trước tình thế cảnh mất nước nhà tan, truyền thống yêu nước bùng lên mạnh mẽ Văn học chống Pháp ra đời đã

kế thừa một cách tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử và có những bước phát triển phù hợp với hoàn cảnh mới Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho yêu nước nồng nàn, tuy ông không trực tiếp cầm súng trên chiến trường nhưng là một chiến sĩ xuất sắc trong phong trào chống giặc ngoại xâm, ông đã dùng văn chương

bè lũ tay sai bán nước thành những bản án đanh thép, châm biếm sắc sảo:

-Hịch đánh Tây của Lãnh Cồ

-Hạ thành thành thủ ca

-Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây của Nguyễn Đình Chiểu

-Vè thất thủ kinh đô

Trang 17

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Việt Nam đầu tiên nói đến chiến tranh nhân dân, đề cao người nông dân, người du kích chống Pháp với ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ của mình họ cần chiến đấu để bảo vệ tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo

để bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng Lần đầu tiên trong lịch sử văn học hình

ảnh của người nông dân được đưa vào văn học, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Nguyễn Đình Chiểu hay Cảm tác của Phan Văn Trị Những chuyển biến về tư

tưởng của các nho sĩ đã đem đến cho văn học một luồng sinh khí mới, một sức sống mới Phong trào kháng chiến chống Pháp chưa có lực lượng nòng cốt lãnh đạo, cho nên thất bại triền miên, Pháp chiếm toàn bộ đất nước ta, xã hội lúc này bộc lộ những mặt trái, chướng tai gai mắt, các nhà văn đã dùng ngòi bút của mình

để phơi bày những mặt trái của xã hội, bằng giọng văn hài hước mong muốn cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Họ đã lấy việc tố cáo làm phương tiện để gây căm thù nhằm mục đích kêu gọi nhân dân đứng lên phản kháng đấu tranh để dành độc lập và hạnh phúc về mình

Văn học giai đoạn này đã kế thừa tính trữ tình văn của văn học dân gian và văn học bác học, đồng thời có sự đổi mới để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Vì vậy nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học giai đoạn trước chủ yếu đi sâu vào chủ

đề con người, nhưng chất trữ tình ở đây là trữ tình yêu nước phát triển trên cảm hứng mới của chủ đề đó là lòng yêu nước gắn liền với những biến cố lớn lao của đất nước Các nho sĩ đã thể hiện tình yêu quê hương đất nước bằng những lời lẽ thiết tha sâu nặng, yếu tố lãng mạn không thể thiếu và đóng vai trò chủ đạo để đảm bảo cái nhìn vừa đúng hiện thực vừa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Nguyễn Khuyến và Tú Xương là những nhà thơ hiện thực trào phúng nhưng cũng

có những bài thơ trữ tình độc đáo

Phương pháp sáng tác chính vẫn là phương pháp truyền thống, nhưng do yêu cầu phản ánh trung thực ngôn ngữ phải gần gũi và dễ hiểu để động viên và cổ

vũ tinh thần nhân dân ta nên văn học đã vận dụng nhiều chất liệu văn học hiện thực

Trang 18

Văn học trong giai đoạn này đã phát triển trong sự gắn bó với diển biến của lịch sử dân tộc Nội dung yêu nước chống xâm lược, chống đầu hàng là nét nổi bật

dễ nhận thấy nhất của văn học giai đoạn này chưa bao giờ văn học lại được huy động góp sức vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc một cách triệt để cũng chưa bao giờ có sức mạnh của văn chương lại được khai thác được sử dụng một cách hữu hiệu như vậy Văn học đã có mặt kịp thời trên trận tuyến khốc liệt này ngay từ những ngày đầu Trong giai đoạn này trên mặt trận lịch sử vấn đề được quan tâm nhất là chiến hay hòa Trên diễn đàn văn học cũng vậy sự va chạm quyết liệt của những người cầm bút đối lập nhau về chính kiến đã tạo những cuộc bút chiến sôi động Điều ý nghĩa nhất giai đoạn này làm được đó là việc xây dựng thành công hình tượng người nghĩa sĩ xả thân vì dân tộc Nếu nói rằng một trong những cái đích chủ yếu mà văn học cần đạt được là tìm và xây dựng nên mẫu người lí tưởng của thời đại mình thì điều đó lúc này được các nhà văn chiến sĩ thực hiện một cách xuất sắc Hiện thực cuộc sống chiến đấu của dân tộc đã cung cấp chất liệu, nguồn cảm hứng để nghệ sĩ có thể khái quát hình tượng nhân vật lý tưởng trong văn học yêu nước nổi bật lên âm hưởng bi tráng thống thiết Nhân vật lý tưởng bây giờ là người anh hùng cứu nước Họ gồm tri thức phong kiến lẫn nông dân, những kẻ cùng khốn trong xã hội dám xả thân vì đại nghĩa Những người trong khoa bảng có tiếng tăm, thủ lĩnh của các phong trào chống Pháp đầy mưu trí và lòng quả cảm như Phan Đình Phùng, Trương Định, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích…họ

có những hoàn cảnh khác nhau, những con đường khác nhau để đến với phong trào yêu nước, tuy nhiên nhìn chung quá trình chuyển hóa về tư tưởng lại rất giống nhau Là người tri thức phong kiến yêu nước, họ yêu nước quyết tâm cứu nước thoát khỏi khổ nạn Một trong những con đường độc đáo nhất mà họ đã tìm ra là xướng nghĩa Cần Vương Cần Vương là giúp vua chống giặc cứu nước Nhưng phải là ông vua dám đánh giặc, một ông vui không sợ hy sinh gian khổ Có thể nói phong trào Cần Vương là cách thức thỏa đáng nhất, để được chấp nhận để họ thực hiện ý tưởng cứu nước trong khuôn khổ, phép tắc của Nho giáo Cái nho phong lộ

ra ngay ở thái độ đối với kẻ thù Trong bức thư nổi tiếng của Nguyễn Quang Bích

Trang 19

trả lời quân Pháp có đoạn “giả sử có một nước lớn khác đến kinh lý nước quí quốc cũng như quí quốc đã làm ở nước chúng tôi thì quí quốc đã làm ở nước chúng tôi thì quí quốc cũng phục tùng theo ư? Hay là cũng nghĩa khí ở lòng căm giận lộ ra mặt rồi quy quốc cũng làm như chúng tôi thì quí quốc cũng làm như chúng tôi đang làm”?Thà chịu tội với quí quốc, quyết không chịu tội với vua nhà, thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn tuế Người quân tử thường tự ví mình với cây trúc: mềm mỏng nhưng cứng cáp, dẻo bền Nơi trận mạc thì quyết đấu, nhưng khi đã dùng đến lời lẽ thì lại rất văn chương Cái ý thức đã thấm sâu vào tâm hồn họ đó là thái độ tự tin bình tĩnh, lối ứng xử của người có văn hóa…ở

họ có nhiều mối ưu tư của một tâm hồn đa cảm hay suy ngẫm có phần duy lí Đây

là bức tự họa của người nghệ sĩ chiến sĩ trong cảnh sống vô cùng khắc nghiệt Đối với họ cuộc sống có ý nghĩa gần với sự vẹn toàn danh tiết, là danh thơm có sức truyền lưu thiên cổ Chính điều này là cơ sở cho việc lựa chọn, cân nhắc giữa sự sống và chết thành công hay thất bại:

Làm ma có hồn trung vía nghĩa Hơn làm người đeo mặt ngựa đầu trâu

(Nguyễn Duy Cung- Hịch kêu gọi chống Pháp)

Những chuyển biến trong tư tưởng của các nho sĩ không phải đồng đều khắp cả nước lúc bấy giờ, mà tư tưởng này mà nó thay đổi đầu tiên là nhận thức của các nho sĩ yêu nước ở miền Nam, vì thực dân Pháp đến xâm lược miền Nam trước, khi thực dân Pháp đến xâm lược nó đã làm thay đổi tư tưởng cac nho sĩ lúc bấy giờ để phù hợp với bối cảnh lịch sử xã hội Sự chuyển biến về tư tưởng của các nho sĩ miền Bắc về sau vẫn chậm hơn so với miền Nam vì miền Bắc xã hội phong kiến tồn tại quá lâu cho nên còn mang nặng tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu nói chung tư tưởng của họ vẫn tiếp tục phê phán cái cũ, tố cáo hiện thực của

xã hội phong kiến lúc bấy giờ Bên cạnh đó một số bộ phận cá biệt cũng bắt đầu nói đến những cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp trong Nam Tiêu biểu trong

số đó có Phạm Văn Nghị với bài Trà Sơn quân thứ nói lên lòng căm thù giặc của

mình

Trang 20

Tóm lại do điều kiện xã hội có những biến cố trọng đại và sau lưng nó có một truyền thống lâu đời về văn học và văn hóa dân tộc, văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX có những nét đặc thù riêng Trên nền tảng sự vận động bối cảnh của lịch sử, văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đánh dấu sự kết thúc truyền thống cổ trong văn học Việt Nam Văn học cuối thế kỉ XIX đã gánh vác nhiệm vụ dân tộc một cách vẻ vang Nó gắn với vận mệnh dân tộc trong một giai đoạn lịch

sử bi tráng Văn học cuối thế kỉ XIX là một cuốn sử thi của thời đại ghi chép một cách cảm động và trung thành cuộc đấu tranh của dân tộc ta Văn học yêu nước giai đoạn này còn chứng tỏ rằng dẩu nước mắt nhưng còn dân, còn giá trị tinh thần truyền thống và tin tưởng vào thắng lợi của dân tộc

Trang 21

CHƯƠNG II: CHÂN DUNG NHÀ NHO TRONG THƠ NÔM NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX

2.1 Chân dung những sĩ phu yêu nước

Cuối thế kỉ XIX xã hội Việt Nam có một bước ngoặt mới, xã hội thay đổi văn học cũng có nhiều bước chuyển mình để phù hợp hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Những biến động của lịch sử đã tác động mạnh mẽ tới văn học làm biến đổi

đề tài và cảm hứng chủ đạo cũng như làm nảy sinh ra những hiện tượng nghệ thuật mới Cảm hứng yêu nước được khơi dậy mạnh mẽ là tiếng nói lương tri của thời đại nhà văn cầm bút cũng như là một người chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng trên chiến trường tất cả đều mang trong mình tinh thần ngọn lửa ghiết giặc hi sinh tất

cả để giữ nước Nội dung sáng tác là lời buộc tội thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước, là lời kêu gọi đồng bào hãy cùng nhau đoàn kết năm chặt tay nhau để chống ngoại xâm, cổ vũ tinh thần các các nghĩa quân để họ có đủ sức mạnh vững tin hơn vào chiến thắng của chính nghĩa Ngoài ra nó còn phản ánh tâm tình của những người tham gia chiến đấu chống Pháp Họ đã theo cuộc chiến đấu của nhân dân để phản ánh những đau đớn khổ cực mất mát hay những chiến thắng vang dội của nghĩa quân ta

Trong mảng văn học này có nhiều người nổi danh và có uy tín trên văn đàn Nguyễn Thông là một sĩ khí có tinh thần yêu nước lúc nào ông cũng trăn trở băn khoăn về những vấn đề của đất nước, ông thường chú ý đến việc làm thế nào để phát triển nông nghiệp góp phần cải thiện được đời sống cực khổ của những người nông dân Ông được nhân dân Nam Bộ công nhận là nhà thơ yêu nước Thơ văn yêu nước của ông là tâm trạng của những người yêu nước phải lìa bỏ quê hương vì giặc chiếm, da diết nhớ về nơi chôn rau cắt rốn của mình “Tình thương nhớ quê hương là nét đặc sắc nhất trong sáng tác của ông” Dường như không có nhà thơ nào trước đây nói về tình cảm này xúc động như ông Trong những sáng tác đầu tiên, khi đất nước chưa có bóng giặc, chủ đề thương nhớ quê hương đã có mặt trong thơ Nguyễn Thông

Trang 22

Ông có thời gian tham gia quân đội triều đình chống giặc lúc này vai trò của quân đội trong triều đình không đóng vai trò quan trọng tuy nhiên do có thời gian được sống trong lòng của cuộc kháng chiến, ông đã cảm nhận được những hi sinh mất mát của những người trực tiếp cầm súng trên chiến trường, sau này ông

đã viết lại những tiểu truyện kể về người anh hùng chống giặc Ba tiểu truyện

Phan Văn Đạt, Trương Định, Hồ Huân Nghiệp đã nói lên sự xúc động, cảm phục

của nhà thơ trước những tấm gương hi sinh vì đất nước Thơ của Nguyễn Thông, trực tiếp viết về con người chiến đấu trên chiến trường:

Tây phong phiêu đại thụ, Nhất tịch ế viên môn

Mãn định mai hùng lược, Tam quân khấp cựu ân

(Văn Nguyễn Công Duy)

Đây là bài viết về ông Nguyễn Duy năm 1861 Pháp tấn công đồn ông chống lại quyết liệt, bị kẻ thù bắn chết Thi hài của ông không còn được nguyên vẹn, sau nhờ chiếc áo người ta mới nhận ra, nhà thơ gọi ông là “cây đại thụ” sự ra

đi của ông là nổi niềm đau chung của mọi người Thơ Nguyễn Thông thể hiện một nổi niềm ái quốc thiết tha, một mối day dứt khôn nguôi Tâm sự của Nguyễn

Thông là tâm sự của một lớp nhà nho trước biến thiên thời đại

Văn học yêu nước cuối thế kỉ XIX không thể không nhắc đến đó là Nguyễn Xuân Ôn một nhà nho yêu nước thái độ của ông rất cứng rắn và dứt khoát trước bọn ngoại xâm và bè lũ tay sai Xuyên suốt trong toàn bộ thơ văn của Nguyễn Xuân Ôn là tinh thần yêu nước thiết tha và ý chí bất khuất, không gì lay chuyển được Ông là một người khá đặc biệt sống trong hoàn cảnh lịch sử đầy bể dâu nhưng ông có một hoài bão tích cực, lạc quan ông luôn có lí tưởng tích cực muốn

ra làm việc cho dân cho nước Nguyễn Xuân Ôn thực hiện lý tưởng của nhà nho bằng cách đỗ đạt và làm quan, ông cho rằng “lí tưởng của một con người trong xã hội phong kiến không có cách nào khác để thực hiện ngoài việc đi học, đi thi để làm quan Cái khác của một nhà nho chân chính với một nhà nho xu thời là ở chỗ

Trang 23

ra làm quan để lo cho dân cho nước hay làm quan để có dịp bòn rút nhân dân, đẽo gọt của dân “Trong thời “loạn lạc” Nguyễn Xuân Ôn ra làm quan điều đó có vẻ trái với lẽ hành tang của Nho giáo, nhưng nó thể hiện rõ tính tích cực của một nhà nho chân chính, thấy hết trách nhiệm của mình” [7, tr.685] Ông ra làm quan đúng

là dịp để ông thực hiện hoài bão của ông đối với dân với nước, ở đâu ông cũng cố gắng làm hết trách nhiệm của mình, thể hiện một cách đầy đủ tinh thần lo lắng cho dân cho nước Không phải ý chí hoài bão ông nhà thơ còn hướng nhận thức nhà thơ vào cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp Ông đã thể hiện tấm lòng chân thành yêu nước và tha thiết với công cuộc đánh giặc cứu nước Nguyễn Xuân Ôn làm quan vào đúng lúc mà vấn đề chiến đấu chống giặc hay thỏa hiệp đầu hàng đặt ra

một cách gay gắt

Tiêu biểu cho thái độ phẩn nộ đã kích của Nguyễn Xuân Ôn đối với bọn quan lại vô trách nhiệm, cũng như tiêu biểu cho lòng xót thương của ông đối với nỗi đau khổ lớn của nhân dân:

Thành trì phó mặc mấy thằng Tây, Thế cũng cân đai với mũ giầy

Một nước cơ đồ tan nát vậy, Muôn dân đồ thán xót xa thay!

(Cảm tác)

Nguyễn Xuân Ôn muốn thực hiện lí tưởng của mình bằng con đường đỗ đạt

và làm quan, nhưng con đường đó không giúp ông thực hiện được lí tưởng của mình là một con người đầy tinh thần lạc quan, ông không chọn con đường lui về ở

ẩn mà nhà thơ về quê chuẩn bị tập hợp nghĩa quân chống giặc Trong bài hỏi thăm tin tức ông Thanh Đàm không thấy, buồn thật ra nhà thơ nói: “Chí hướng của ta là sống chết cũng phải làm việc nghĩa”

Một gương mặt khác tiêu biểu của văn đàn Việt Nam thuở ấy là Đặng Huy Trứ trong lịch sử người ta thường đánh giá ông như một nhà cách tân thế kỉ XIX ở nước ta Văn chương của ông là những bài viết về cảnh sắc về đời sống dân quê Qua những bài thơ này này ta thấy toát lên tình cảm đằm thắm, hồn hậu của kẻ gắn

Trang 24

bó với quê hương từ chân tơ kẻ tắc từ giấc ngủ miếng ăn Dòng văn học yêu nước cuối thế kỉ XIX thoát dần ra khỏi quan niệm đương thời, cảm hứng ấy thường nhuốm tính chất bi tráng chứ không phải hào hùng như trong văn học thời Trần và thời Lê Dòng văn học yêu nước giai đoạn này còn có nhiều tên tuổi không quên: Phạm Văn Trị với những bài thơ phê phán mạnh mẽ tư tưởng đầu hàng Tôn Thọ Tường Nguyễn Quang Bích một lãnh tụ chống Pháp ở Tây Bắc đã đưa vào trong thơ hình ảnh thân thiện, đất nước nơi núi rừng miền Tây Bắc với tâm trạng phí phách của một nhà nho

Trong bối cảnh lịch sử đó xuất diện nhiều nhà nho yêu nước đáng trân trọng, trong những nhà nho tiêu biểu trên chúng tôi chọn Nguyễn Đình Chiểu để làm sáng tỏ chân dung sĩ phu yêu nước cuối thế kỉ XIX Trong hoàn cảnh lịch sử

lúc bấy giờ nhà thơ dường như muốn nêu lên những tấm gương đạo đức kiểu Nhị thập tứ hiếu Do vậy trong các truyện thơ Nôm ông đã tuyên bố rất rõ mục đích

giáo huấn Nó đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng quan niệm về con người nghệ thuật, trong bộ phận những người cầm bút ưu tú lúc này

2.1.1 Nguyễn Đình Chiểu - người sĩ phu thà đui mà giữ đạo nhà

Nguyến Đình Chiểu là người mở đầu cho văn học yêu nước nửa cuối thế kỉ XIX tên tuổi của ông là tượng trưng cho lòng yêu nước Miền Nam Thơ văn của ông là những trang bất hủ ca ngợi tinh thần chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược thực dân Pháp ngay buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta Ông là nhà văn có nhiều đóng góp lớn lao cho sự phát triển của văn học dân tộc là con người nổi tiếng bởi những phẩm chất ngời sáng Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu

là một tấn bi kịch, bi kịch số phận trong bi kịch lớn của dân tộc Ngay từ nhỏ ông

đã phải nếm trải cuộc sống phiêu bạt, quê hương đầy bóng giặc ông phải theo cha chạy giặc Từ một cậu ấm con quan, bổng chốc trở thành một đứa trẻ thường dân sống trong cảnh chạy loạn Lớn lên bi kịch dội xuống đầu ông là sống trong cảnh

mù lòa không có ánh sáng phải phụ thuộc vào người khác Nguyễn Đình Chiểu có

đỗ đạt, nhưng phút may mắn đó chỉ là tia sáng mới nhen nhóm, càng ảm đạm thêm tấm màn đêm số phận oan nghiệt của nho sĩ trong cảnh mù lòa

Trang 25

Nguyễn Đình Chiểu một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất

hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược ngay từ buổi đầu chúng đặt chân đến nước ta Nhà thơ là một tấm gương phản ánh hiện thực xã hội miền Nam nửa cuối thế kỉ XIX và trong thực tế ông là lá cờ đầu của

dòng văn học yêu nước Ông là người trí sĩ yêu nước Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng.(Phạm Văn Đồng) Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí chúng ta phong trào chống Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ suốt hai mươi năm trời, biết bao nhiêu chiến công anh dũng liệt sĩ, biết bao cuộc chiến đấu oanh liệt khắp nơi

Nguyễn Đình Chiểu một tấm gương sáng về nghị lực và nhân cách trong lúc đất nước có giặc ngoại xâm Thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu nói về

tư tưởng nhân nghĩa, đạo đạo đức làm người Mặc dù bị mù đôi mắt không trực tiếp cầm súng trên chiến trường ông đã dùng văn chương như thứ vũ khí sắc bén

để chống kẻ thù ca ngợi những tấm gương hi sinh vì nghĩa Dù hoàn cảnh nào ông cũng nêu cao khí tiết của người chí sĩ yêu nước nhà thơ là một tấm gương anh dũng Cảnh đất nước cũng như cảnh riêng tư càng long đong, đen tối thì khí tiết

của người chí khí yêu nước càng cao cả:

Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà giáo một người thầy thuốc và là một nhà tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu tuy không nghị luận

về văn chương nhưng ông có quan điểm văn chương riêng Nhà nho quan niệm đạo là đạo của trời, quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu cũng tương tự như vậy nhưng ông có cái khác đó là nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng trong thực tế đạo làm người càng cao quý hơn đó là quan niệm bao trùm của nhà thơ:

Trang 26

Đạo trời nào phải ở đâu xa Gẫm ở lòng người mới thấy ra

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Văn chương của ông không phải là quá cao siêu, không phải là tuyên ngôn nghệ thuật nhưng đây là quan niệm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc, văn chương chiến đấu vị nhân sinh và tinh thần nhân ái Tình cảm này đã trở thành một “phẩm chất” của ông Dường như cái cảm hứng về đất nước đã lấn át tất cả, khiến ông quên đi bất hạnh của bản thân Qúa trình đấu tranh nội tâm để lựa chọn

cách xử thế của Kì Nhân Sư trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp cũng chính là tâm sự

xót xa của Đồ Chiểu:

Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn có mắt ông cha không thờ Thà đui mà khỏi danh nhơ Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn phản ánh quyết tâm không đội trời chung với kẻ thù xâm lược Trong bài “Xúc cảnh” Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện tinh thần này của cả dân tộc ta:

Bờ cõi xưa thà chia đất khác Nắng sương nay há đội trời chung

(Xúc cảnh)

Thơ Nguyễn Đình Chiểu viết về thời kì này rất đa dạng phong phú nhưng tất cả đều tập trung ca ngợi tinh thần chiến đấu ngoan cường quật khởi của nhân dân Nam Bộ trong buổi đầu chống Pháp xâm lược Nguyễn Đình Chiểu đã sống trong thời điểm lịch sử đặc biệt nhà thơ trực tiếp chứng kiến một chặng dài điêu linh của dân tộc trong suốt ba chục năm kể từ khi tiếng súng Tây rộ lên ở bán đảo Sơn Trà cho tới khi ông vĩnh viễn ở mảnh đất Ba Tri Ông là nhà thơ nhạy cảm với những vấn đề thuộc đời sống chính trị xã hội Nhà văn đã chia sẽ với mọi người nỗi xót xa vì giặc giã loạn ly:

Trang 27

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay

Bỏ nhà lũ chó bàng băng chạy Mất tổ bầy chim dáo dác bay

Vì câu danh nghĩa phải đi xa Day mũi thuyền nam dạ xót xa Người dễ muốn chi nương đất khách Trời đà khiến vậy mến vua ta

(Biệt cố nhơn thi)

Sự nghiệp thơ văn của ông đã đưa ông lên địa vị của một người mở đầu cho văn học yêu nước và là ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc trong thời cận đại Giá trị của ông đã để lại cho con cháu chính là những ánh hào quang tư tưởng chiếu tỏa từ phẩm chất ưu tú của ông đã kết tụ lại những viên ngọc qúy đó

là đạo đức nhân nghĩa yêu nước của ông kết tụ lại như những viên ngọc quý đó là đạo đức nhân nghĩa của ông kết tinh của nguyện vọng và ý chí của những người lao động đã từng hi sinh xương máu để dựng nước và giữ nước, ước mơ vươn tới một xã hội công bằng nhân đạo

Nguyễn Đình Chiểu có nghị lực phi thường và phí khách cứng cỏi thì ông mới vượt qua những bất hạnh của cá nhân và thời cuộc để đứng vững trong cơn

Trang 28

binh lửa hãi hùng của lịch sử Nguyễn Đình Chiểu là hiện thân cho phẩm chất cao đẹp, ông là tấm gương sáng về đạo hiếu nghĩa nhân từ Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam trong thời kỳ đất nước đầy biến cố, đau thương nhưng vô cùng vĩ đại Đất nước bị ngoại xâm, nỗi nhà tai biến, nỗi mình bi thương bao nhiêu nghiệt ngã của cuộc đời trút lên vai một người mù lòa, sự nghiệp công danh nửa đường dang dở Sự thách thức nghiệt ngã ấy đặt ra cho Nguyễn Đình Chiểu thái độ phải lựa chọn lối sống và cách sống như thế nào cho thích hợp với vai trò người trí thức trước thời cuộc “quốc gia lâm nguy thất phu hữu trách” ông đã chọn con đường sống, chiến đấu, bằng ngòi bút “chí công” với cái tâm “đã

vì nước phải đứng về một phía” Nhìn từ góc độ văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu là con người Việt Nam trọng đạo lý, nặng tình người, đậm đà bản sắc dân tộc, yêu ghét rõ ràng, khen chê dứt khoát Vì người, nhà thơ sẵn sàng hy sinh xả thân không màng danh lợi Vì đời ông chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo, khổ cực, không hám lợi, không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền Tất cả cô đúc lại thành khí tiết của nhà nho yêu nước Việt Nam cuối thế kỉ XIX

Nguyễn Đình Chiểu là người đầu tiên và cũng là người duy nhất xây dựng thành công hình tượng người nông dân yêu nước chống xâm lược trong văn học Việt Nam thời cận đại Lần đầu tiên đã nói đến chiến tranh nhân dân chống Pháp

và chiếc gậy tầm vông như một thứ vũ khí tiêu biểu Đến những năm cuối thế kỉ XIX khi Phương Tây đến xâm lược nước ta vai trò của người nông dân nổi bật và

có vị thế hơn trước họ trở thành người nông dân mộ nghĩa trở thành nhân vật chính mà sử sách gọi là người nông dân nghĩa sĩ Nguyễn Đình Chiểu đã viết về họ

như những người anh hùng của thời đại Từ Chạy Tây đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, nhà thơ đã khái quát về thời cuộc và cuộc đời nhân dân, kể về cuộc đời

nhân dân là những người nghèo khổ, chưa quen với cung kiếm giáo mác bổng chốc trở thành người nông dân đánh Tây

Thơ của Nguyễn Đình Chiểu là “khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp” Nhân cách của nhà giáo Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởng rất lớn đối với vùng đất Bến Tre và xa hơn nữa Đất anh hùng từng sản

Trang 29

sinh ra nhiều nhân vật anh hùng trong sự nghiệp chống giặc cứu nước Ngày nay nói đất Bến Tre là quê hương của cụ Đồ Chiểu chính là nói đến truyền thống văn hóa Việt Nam mà Nguyễn Đình Chiểu là một người tiêu biểu và người có công bảo vệ và truyền lại cho các thế hệ sau này những gì tốt đẹp nhất của truyền thống văn hóa ấy Ngoài giá trị văn nghệ, nó còn có giá trị ở chỗ phản ánh “tâm hồn trong sáng và cao qúy lạ thường của tác giả và ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại Nguyễn Đình Chiểu được coi là một hiện tượng văn học ông là một trong số ít nhà văn mà tác phẩm có thể tồn tại trong kí ức của nhân dân bằng con đường truyền khẩu Đây là nhà văn tiêu biểu và có sức tác động lớn lao đối với sự phát triển của văn học một vùng dất Nam Bộ

2.1.2 Nguyễn Đình Chiểu – người chiến sĩ chiến đấu hy sinh vì nghĩa lớn

Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì nghĩa lớn Thơ văn ông là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng Trước đó ông ca tụng nhân nghĩa, đề cao đạo Khổng thì bây giờ toàn bộ thơ ca của ông chuyển hẳn sang đánh giặc và cứu nước Tất cả thơ văn của ông đang mang tâm sự đó, ông ý thức được trách nhiệm của người dân mất nước Bị mù lòa, không thể tham gia cùng nghĩa quân chiến đấu trực tiếp trên chiến trường, vũ khí chiến đấu của ông là:

Học theo ngòi bút chi công Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân thu!

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

Đối với Nguyễn Đình Chiểu văn chương là một vũ khí để chiến đấu, viết

văn là một thiên chức Dương Tử- Hà Mậu là một tác phẩm thơ Nôm cuối cùng

được viết trong cảnh đất nước “nửa Tống nửa Liêu”, lòng ông đau như cắt ngọn lửa căm thù bùng cháy trong tâm hồn Phản ánh quan niệm nhân sinh hết sức thiết thực của ông, lời đã kích không nhằm vào lý thuyết suông mà đã tích cực nhằm vào thái độ hành động của tín đồ của mọi tôn giáo Ông chống bọn quan lại chủ hòa, Đồ Chiểu trung quân bằng cách đứng về phía nhân dân, đặt quyền lợi tổ quốc

Trang 30

lên trên hết Khi đất nước bị ngoại xâm hành động đó là hành động chống giặc cứu nước:

Sách ghi chữ “đạo” là “đường”

Đường đi nào phải một phương hẹp hòi!

Trong Dương Tử - Hà Mậu con người nhân văn đang bế tắc “ngẩn ngơ nào

biết đâu đó đưa mình” bỗng nghe theo tiếng “hát lòng dậy vang” đó là một dấu hiệu rất lạc quan của ông Ngư, ông Tiều và đã tìm ra được chân lý sáng ngời:

Núi non đầy nhiều cây nghiêng ngáng, Dọn trống đường, nhờ cán búa to

Rõ ràng quần chúng lao động và đạo sĩ đều là nguồn sống, sức mạnh và ánh sáng của người tri thức Ông đã viết với một tinh thần chiến đấu, yêu nước tha thiết sôi nổi nhà thơ lên tiếng tố cáo bọn thực dân với chính sách lợi dụng tôn giáo và thuốc phiện để đầu độc nhân dân:

Dân mà mê đạo Tây rồi Nước ngoài muốn lấy, mấy hồi phong lo

Dầu ai tránh khỏi mê đồ Lại đem thuốc phiện trao cho trút liền

(Dương Tử- Hà Mậu)

Nguyễn Đình Chiểu kêu gọi đồng bào phải sáng suốt nhận ra kẻ thù chung của dân tộc và nói rõ trách nhiệm, bổn phận của mọi người trước nạn ngoại xâm Nhà thơ đã chỉ ra một chân lý sáng người cực kì quan trọng “Phải tiếp thu những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà ông mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng mọi người nhằm đạt được một sự thống nhất tư tưởng, biết yêu lẽ chính, ghét cái tà hành động cho sự tiến bộ của xã hội và hành động đó chính là cứu nước Nguyễn Đình Chiểu còn đã kích các thứ tôn giáo đang bị thực dân Pháp lợi dụng để dọn đường xâm lược nước ta Ông bênh vực Nho giáo, lên án những nhà giáo mất gốc đâm thẳng vào bọn gian tà quen thói đè nén, cướp bóc dối trá đủ loại:

Người thì mắc đạo vô luân,

Kẻ thì vô đạo rần rần dẫn ra

Trang 31

Ông đã tích cực bảo vệ đạo Nho coi nó là khuôn vàng thước ngọc để răn dạy người đời, nhưng đồng thời ông cũng phê phán các Nhà nho đồi bại nhà thơ chống đối Nho giáo lạc hậu:

Những người theo đạo Nho ta Tiếng đồn thì khá, thế mà lăng nhăng!

Qua cuộc kháng chiến đó hàng ngũ của mọi tầng lớp xã hội đã có sự phân hóa rõ rệt nhà thơ đã mạnh mẽ đả kích Ngoài ra ông còn lên án bọn nho sĩ lạc hậu, ông chống bọn quan lại chủ hào Nguyễn Đình Chiểu với tư tưởng trung quân luôn đứng về phía nhân dân đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên hết Quan điểm đấu

tranh của Nguyễn Đình Chiểu qua Dương Tử - Hà Mậu là đánh vào tinh thần chủ

bại suy nhược của bọn nho sĩ lạc hậu của triều đình như ngọn đuốc sáng rọi vào

tăm tối Ông vạch mặt bọn tham ô quan lại Nhà thơ lên án bọn sâu dân mọt nước

và cả bọn cho vay nặng lãi:

Cho hay đặt nợ muôn phần, Lợi trung gia lợi, khổ thân nhà nghèo

Không tiền lại bắt về treo, Khiến làm đầy tớ, ở theo việc nhà

(Dương Tử- Hà Mậu) Trong Dương Tử- Hà Mậu Nguyễn Đình Chiểu luôn cho ta thấy đạo đức

không ở đâu xa, chính ngay trong lòng người dân Cho nên mọi người phải lo tu thân theo những truyền thống đạo đức có một ý nghĩa thực tế lớn lao của dân tộc

mà Nguyễn Đình Chiểu mệnh danh là người chính đạo để từ đó mà lo việc “trị quốc” trong sự biến loạn của nước nhà Ông kêu gọi những người quyền quý ra sức giúp dân, gỡ tội cho dân và đừng ghiết những người đã đầu hàng:

Giàu thời bắt chước xưa minh

Án từ rửa sạch tình hình dân oan

Ông phê phán những hành động xấu xa, nhưng ông cũng nhỏ nhẹ khuyên răn với tính thành khẩn:

Chiếc thuyền câu đậu đâu nên đó,

Trang 32

Nước loạn ly giàu có màng chi?

Qua tác phẩm đã phản ánh quan niệm nhân sinh hết sức thiết thực của ông

Dương Tử - Hà Mậu Nguyễn Đình Chiểu đã vẻ ra một xã hội thối nát đương thời

và thống trị tố cáo xã hội đó Văn chương Nguyễn Đình Chiểu thể hiện sâu sắc nội dung đấu tranh cho chính nghĩa, đạo đức và sự tiến bộ của xã hội qua những con đường khác nhau nhưng quy tụ ở đó là tấm lòng vì dân, vì nước, nhằm góp phần

xây dựng đất nước yên bình giàu mạnh Dương Tử - Hà Mậu là một tác phẩm lớn

toát ra một tinh thần yêu nước căm thù giặc sâu sắc trước nguy cơ đổ vỡ của nền tảng văn hóa cội nguồn dân tộc

Nguyễn Đình Chiểu một nhà thơ lớn của dân tộc những sáng tác của ông đều phục vụ nhân dân Ông có điều kiện gần gũi với nhân dân nên nhà thơ hiểu được những khát vọng, mơ ước nhỏ nhoi của họ ngày càng yêu dân tha thiết Qua

đó ông đã tìm thấy được những phẩm chất tiềm ẩn của người nông dân và giá trị

cao đẹp của họ Lục Vân Tiên thể hiện đạo làm người trong cuộc sống đời thường,

nhà thơ đã nhào nặn lại tư tưởng của đạo Nho, tiếp thu một cách sáng tạo phù hợp với nhân dân Trong tác phẩm đặt ra trung hiếu tiết, nhưng không còn theo lý thuyết Nho giáo gò bó nghiêm ngặt, cứng nhắc, cực đoan theo kiểu phong kiến

Các nhân vật không thấy mình bị gò bó bởi một nguyên lý đạo đức nào Chính vì

thế trong thơ của ông luôn toát lên một tinh thần lạc quan, niềm tin sâu sắc ở thắng lợi chính nghĩa, tài năng đạo đức con người Đồng thời Nguyễn Đình Chiểu cũng

tỏ thái độ dứt khoát rõ ràng đối với bọn bất nhân vô đạo Những tư tưởng thể hiện

rõ nét nhất trong Lục Vân Tiên Ông say sưa ngợi ca những con người trung nghĩa, khinh ghét phê phán những người vô tâm Lẽ ghét thương của ông rất rõ ràng đầu tiên ông vạch trần bộ mặt bội bạc của ba nhân vật: Võ Công, Quỳnh Trang và Võ Thể Loan…

Quán rằng: Ghét việc tầm phào Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho sống vào cuối đời nhà Nguyễn là thời

kì Nho giáo được đề cao nhưng có được một quan niệm đạo đức như thế rõ ràng

Trang 33

tiến bộ Tác phẩm tuy có đề cao trung hiếu, tiết, hạnh nhưng không phải hoàn toàn thuộc về quan niệm phong kiến mà có nhiều yếu tố nhân dân Đứng trên lập trường nhân dân ông ca ngợi những hành động vì nhân nghĩa, những việc họ làm không cần đền đáp, không nghĩ đến lợi danh quên mình vì nghĩa:

Hối con vầy lửa một giờ, Ông hơ bụng da, mụ hơ mặt mày

Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn

(Lục Vân Tiên) Lục Vân Tiên thể hiện giấc mơ của Nguyễn Đình Chiểu bị phụ tình qua mối

tình Vân Tiên với Nguyệt Nga, ước mơ một mối tình chung thủy, những cử chỉ anh hùng, mơ ước trả nợ nước non và tâm sự ấy đã gửi gắm vào Tử Trực, Hớn Minh và Vân Tiên Vân Tiên bị mù nhưng có thuốc chữa sáng mắt lại, thì chàng

sẽ thực hiện cái chí của Nguyễn Đình Chiểu Lục Vân Tiên là một xã hội đầy đủ

các hạng người, qua đó ông muốn xây dựng và gửi gắm lý tưởng của mình, ước muốn của nhà văn muốn xây dựng cả một xã hội lý tưởng ở đó cái tốt cái đẹp được coi trọng, cái ác cái xấu thì bị trừng trị

Nguyễn Đình Chiểu văn học có sứ mạng cao cả là “chở đạo”, giáo huấn, bảo vệ và nuôi dưỡng con người về mặt đạo đức Trong tác phẩm văn học, nhân vật được đồng nhất với các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức là biểu tượng của đạo đức nhân vật trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích truyền bá đạo đức

Cả cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc chiến đấu bốn mươi năm sống trong cảnh mù lòa và trong thời thế hết sức khó khăn, nhưng khí tiết sáng như gương của ông vẫn luôn giữ vững không một lúc nào lùi bước Nguyễn Đình Chiểu lớn lên thì chế độ phong kiến cực kì thối nát, giữa lúc đó thì tiếng nói của Nguyễn Đình

Chiểu trong truyện Lục Vân Tiên vẫn là một tiếng nói chiến đấu một tiếng nói lạc

quan Qua bao nhiêu sóng gió, thử thách chí lớn của nhà thơ chẳng những không

lung lay mà càng thêm vững, tâm trí của Nguyễn Đình Chiểu càng thêm sáng suốt

Trang 34

Trong Lục Vân Tiên nhân vật thường được phân lập hoàn toàn với tính

cách, được xây dựng thành những tấm gương những hình mẫu để phục vụ cho mục đích giáo huấn Tác giả đặc biệt chú ý đến vẻ đẹp tinh thần, sự cao cả của nhân cách, nhân phẩm và xem đó là động lực chủ yếu đối với sự phát triển của câu

chuyện Lục Vân Tiên là một tác phẩm lớn lên của Nguyễn Đình Chiểu đây là một

bản trường ca ngợi ca chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời ca ngợi những người trung nghĩa Tác phẩm đề cập đến chữ trung một phạm trù quan trọng của Nho giáo Vân Tiên là chàng trai hiếu thảo văn võ song toàn là người đầy nghĩa khí: “giữa đường gặp chuyện bất bình đẳng bình chẳng tha”:

Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng

(Lục Vân Tiên)

Như vậy tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu không phải xuất phát

từ vua mà từ nhân dân Trong tất cả những thứ ông Quán ghét, ông đã đứng hẳn trên lập trường vì nhân dân lao động vì dân nghèo, để kết tội bọn vua chúa hung

bạo, bất công, bất lực Trong Lục Vân Tiên, nhà thơ đã giương cao lý tưởng nhân

nghĩa làm ngọn cờ chiến dấu đem đến cho nhà thơ chủ nghĩa lạc quan khá hồn nhiên và đôn hậu Trong thơ văn yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với tư

tưởng yêu nước là đỉnh cao trong tư tưởng của nhà thơ

Ngư Tiều y thuật vấn đáp là một câu chuyện tâm sự học đạo để cứu đời,

cứu người mục đích phổ biến đông y để cứu dân trong cảnh lầm than nheo nhóc Ông nhận thấy chữa bệnh thân thể mà không được chữa bệnh tư tưởng thì cũng

chưa có thể gọi là cứu người Vì vậy Ngư Tiều y thuật vấn đáp có phần đề cập đến

đạo đức làm người Nguyễn Đình Chiểu đã đi vào thơ cái chí ngang tàng của một người trượng phu không chịu để cho các thứ khuôn sáo văn chương ràng buộc:

Nào phải trường thi

Ra đề hạn vận một khi buộc ràng Trượng phu có chí ngang tàng

Trang 35

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu là một thứ chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu vì dân vì nước vì phẩm giá con người, chủ nghĩa nhân đạo thực tiển gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Ông lên án vụ đầu hàng cắt đất cho giặc đẩy non sông vào cảnh lầm than:

Kể từ Thạch Tấn ở ngôi

U Yên mấy quận cắt bồi Khuyết Đan Sinh dân nào xiết bùn than,

U Yên trọn cũng giao bàn về Liêu

Nguyễn Đình Chiểu thẳng tay vạch mặt tình trạng bóc lột áp bức nhân dân, sự thối nát của triều đình:

Muôn dân ép ráo mỡ dầu,

Ngày trau khí giới, tháng xâu điện đài

Hình ảnh Kì Nhân Sư trong tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp là tiêu biểu

cho người tri thức bất hợp tác với kẻ thù Kì Nhân Sư đã tự xông mắt cho mù để khỏi làm sĩ liêu, làm thái y cho giặc Đây là hành động tự giữ thân, giữ đạo:

Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Làm đạo xin tròn một tấm gương

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Đây không phải là một thanh niên đầy trí dũng mới vào đời mà thầy thuốc, một vị đại sư đã từng trải Kì Nhân Sư bị mù không phải là tai nạn mà là những hành động có ý thức nhằm phê phán bọn giặc cướp nước Cái mù của Kì Nhân Sư tượng trưng cho lực lượng thống trị đen tối trong xã hội mục nát đê tiện đó nhưng Nhân Sư vẫn giữ được phẩm chất và tâm hồn vẫn nguyên vẹn Ông tin rằng sự đen tối đang bao trùm khắp sẽ tan hết và mắt ông cũng sáng lại:

Sau trời Thúc Qúy tan mây, Sông trong biển lặng mắt thầy sáng ra

Trang 36

Nhân Sư không hề bỏ rơi trách nhiệm của mình luôn làm điều thiện để thể hiện thiên chức cao cả làm thuốc dạy thuốc chữa bệnh cho dân, tập hợp và giác ngộ những người dân yêu nước:

Hỡi bạn y lâm ai có hỏi

Đò xưa bến cũ có ta đây

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Từ thái độ Nhân Sư ta thấy thái độ của Nguyễn Đình Chiểu yêu nước nhưng bất lực khiến ông dày vò đến tâm hồn:

Đã cam chút phận dỡ dang,

“Trí quân” hai chữ mơ màng năm canh

Mặc dù bất lực nhưng tác phẩm vẫn thể hiện được niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai dân tộc:

Bao giờ nhật nguyệt dày gương sáng Bốn bể câu ca hiệp một nhà

Trong Lục Vân Tiên nhà thơ đã giương cao lý tưởng nhân nghĩa làm ngọn

cờ chiến đấu Điều đó đem lại cho nhà thơ một chủ nghĩa lạc quan hồn nhiên đôn

hậu Trong thơ yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa chuyển hóa thành tư tưởng yêu nước là đỉnh cao nhất trong nhà thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp ông trở lại với tư

tưởng nhân nghĩa Nhưng tư tưởng ở đây không còn là ngọn cờ chiến đấu của nhà thơ nữa, mà nó là chổ ẩn nấp cuối cùng một con người yêu nước tha thiết nhưng bất lực trước cuộc đời Sự cảm động của nhà thơ trước sau cũng thuộc về nông dân, về nước thủy chung son sắt:

Trăm hoa nửa khóc nửa cười, Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương

Cỏ cây đưa nhánh đón đường, Như tuồng níu hỏi: Đông hoàng ở đâu?

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp) Ông ghét cay ghét đắng các thứ văn giả dối mà ông gọi là văn thơ vóc dê da cọp Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn có nhiều đóng góp xuất sắc cho dòng văn học

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Ba (1999), Chu Mạnh Trinh thơ và giai thoại, NXB văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Mạnh Trinh thơ và giai thoại
Tác giả: Lê Văn Ba
Nhà XB: NXB văn hoá - thông tin
Năm: 1999
2. Xuân Diệu (1981), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1981
3.Xuân Diệu (1979), Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn Học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Khuyến
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn Học Hà Nội
Năm: 1979
6. Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học trung cận đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Lộc (2001), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Huyền (1984), Nguyễn Khuyến tác phẩm, NXB KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Văn Huyền
Nhà XB: NXB KHXH Hà Nội
Năm: 1984
9. Nguyễn Đăng Na (chủ biên)( 2001), Văn học trung đại Việt Nam - tập 1, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam - tập 1
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
10. Nguyễn Phong Nam (1997), Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đến 1900, NXB Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đến 1900
Tác giả: Nguyễn Phong Nam
Nhà XB: NXB Huế
Năm: 1997
11. Nguyễn Phong Nam (2003), Giáo trình văn học Việt Nam, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phong Nam
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003
12. Nguyễn Phong Nam (2003), Dấu tích văn nhân, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu tích văn nhân
Tác giả: Nguyễn Phong Nam
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003
13. Vũ Tiến Quỳnh (1991), Phê bình văn học, NXB Tổng Hợp Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học
Tác giả: Vũ Tiến Quỳnh
Nhà XB: NXB Tổng Hợp Khánh Hòa
Năm: 1991
14. Trần Đình Sử (1998), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
15.Vũ Thanh ( 2001), Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Bùi Duy Tân (2005), Theo dòng khảo luận văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dòng khảo luận văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Bùi Duy Tân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
17. Chu Mạnh Trinh (2000), Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường , NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường
Tác giả: Chu Mạnh Trinh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
18. Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Lê Trí Viễn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
19. Lê Trí Viễn (1978), Lịch sử văn học Việt Nam - tập 4, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam - tập 4
Tác giả: Lê Trí Viễn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
20. Lê Trí Viễn (1998), Qui luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Trí Viễn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
21.Trần Ngọc Vương (1995), Văn học Việt Nam – dòng riêng giữa nguồn chung, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam – dòng riêng giữa nguồn chung
Tác giả: Trần Ngọc Vương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
22.Trần Ngọc Vương (1995), Nhà nho tài tử và Văn học Việt Nam, NXB Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nho tài tử và Văn học Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Vương
Nhà XB: NXB Văn nghệ TP.HCM
Năm: 1995

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm