1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ tân thời trong tiểu thuyết nhất linh

117 108 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm thi văn sĩ thuộc thế hệ mới gồm 7 thành viên nhận thấy hình ảnh của phụ nữ Việt Nam truyền thống không còn thích hợp với thời đại mới nên đã sáng tác nên những tác phẩm mà ở đó ngườ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TÂN THỜI TRONG TIỂU THUYẾT NHẤT LINH

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS HỒ THẾ HÀ

Đà nẵng, năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu đã nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được

công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Người thực hiện Luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thảo

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thần thoại Hy Lạp kể đại ý rằng: Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốn cong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét mềm mại của loài lau cói, màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của chiếc

lá, cảm giác tinh vi của vòi voi, cái nhìn đăm chiêu của mắt hươu, cái xúm xít của đàn ong, ánh rực rỡ của mặt trời, nỗi xót xa của tầng mây, luồng biến động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc lộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của con chim yểng, chất cứng rắn của ngọc kim cương, vị ngon ngọt của đường mật, khí lạnh lẽo của băng tuyết, đức trung trinh của chim uyên ương, đem mọi thứ ấy hỗn hợp lại, nặn thành người phụ nữ Điều này có nghĩa, phụ nữ là linh hồn của cuộc sống muôn loài, là phái đẹp, mà đẹp thì thường là đề tài của văn chương Thực tiễn đã chứng minh, hình tượng người phụ nữ luôn là một trong những đề tài lớn, có sức hấp dẫn của văn học thế giới Trong nền văn học Việt Nam, hình tượng người phụ

nữ, khi được miêu tả, luôn chứa đựng nhiều vẻ đẹp Thế nhưng, vào thời kỳ phong kiến, người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, họ là nạn nhân của một

số tư tưởng phong kiến Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” là nguyên nhân sâu

xa dẫn đến những bi kịch số phận của phụ nữ Người phụ nữ không được quyền quyết định số phận mình, không được học hành, họ phải chấp nhận sống phụ thuộc Bổn phận người phụ nữ trong nhà là vâng vâng dạ dạ trước đàn ông, nghĩa là tuân theo cha khi còn nhỏ, rồi tuân theo chồng (xuất giá tòng phu) và tuân lời con trai cả khi góa bụa; nên đa phần phụ nữ phải chịu cuộc đời long đong, lận đận, vất vả, thân phận trôi nổi, bèo bọt với bao oan khiên trước sự vùi dập của xã hội phong kiến…Trước thực tế đó, nhiều nhà

Trang 4

văn, nhà thơ đã phải lên tiếng bênh vực Nguyễn Du trong kiệt tác Truyện

Kiều đã không ít lần thốt lên rằng:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Và hàng loạt những tác phẩm khác của Hồ Xuân Hương cũng đã lên

tiếng bênh vực cho thân phận người phụ nữ bị rẻ rúng, xem thường,…

Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng giải phóng người phụ nữ mới thực sự mạnh mẽ Nhóm thi văn sĩ thuộc thế hệ mới gồm 7 thành viên nhận thấy hình ảnh của phụ nữ Việt Nam truyền thống không còn thích hợp với thời đại mới nên đã sáng tác nên những tác phẩm mà

ở đó người phụ nữ đã dám tự cởi trói cho mình, hướng đến cái tôi cá nhân hơn là hi sinh, cam chịu Đặc biệt là những nguời phụ nữ trong tiểu thuyết của

Nhất Linh như: Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đời mưa gió, với những motip thông

minh, xinh đẹp, nết na, hiếu thảo, yêu thương, hi sinh cho gia đình, chồng con, nhưng không vì thế mà quên đi quyền được sống cho mình; người phụ

nữ đã biết đấu tranh cho quyền được tự do yêu đương, quyền được sống theo

ý thích cá nhân,

Trong chừng mực nào đó, có thể nói sự ra đời hàng loạt tiểu thuyết của các tiểu thuyết gia Tự lực văn đoàn đã gióng lên hồi chuông khá mạnh mẽ để người phụ nữ thức tỉnh, để đại gia đình phong kiến nhìn lại, ngẫm nghĩ lại hành vi của mình đối với những người phụ nữ xung quanh họ Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, trong đó Nhất Linh là vị chủ soái đã thực sự là những trang viết đầu tiên khắc họa đầy đủ, hoàn chỉnh về những người phụ nữ đi tiên phong trong công cuộc giải phóng phụ nữ ra khỏi lễ giáo phong kiến, đòi quyền tự

do yêu đương,…của những năm đầu thế kỷ XX Chính vì ý nghĩa đó, chọn đề tài “hình tượng người phụ nữ tân thời trong tiểu thuyết Nhất Linh”, chúng tôi muốn khắc họa lại chân dung của những người phụ nữ hiện đại giai đoạn đầu

Trang 5

tiên trong Văn học Việt Nam hiện đại; qua đó, khảo sát những cách tân trong điểm nhìn nghệ thuật của Nhất Linh về hình tượng người phụ nữ tân thời, tìm hiểu nghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật nữ trong các tiểu thuyết của ông Trên cơ sở đó có thể đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học đối với tiểu thuyết của Nhất Linh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhất Linh xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ XX với nhiều tác phẩm gây được tiếng vang trong lòng công chúng; do đó số lượng bài viết và các công trình nghiên cứu về tác giả này khá phong phú, đề cập đến nhiều phương diện về con người và văn nghiệp Trong khuôn khổ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu đưa ra những công trình đã ít nhiều đề cập đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Nhất Linh Trong đó, có những nhận xét, đánh giá về cách xây dựng, miêu tả,…hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của tiểu thuyết gia này Nhằm thuận tiện trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi dựa trên tiến trình lịch sử của dân tộc để nắm bắt các nghiên cứu của các nhà phê bình, giới nghiên cứu

Trước năm 1945

Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn, tiểu thuyết của Nhất Linh đã thu hút được sự chú ý của bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình Các nhà nghiên cứu phê bình văn học cùng thời với Nhất Linh, đã có nhiều bài viết đánh giá sâu sắc, phản ánh đúng vai trò đi tiên phong trong lĩnh vực đổi mới văn học, trong đó, các tác giả tập trung đề cập đến phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết của Nhất Linh Tiêu biểu là các tác phẩm và bài viết như:

Tác phẩm Dưới mắt tôi (1939) của Trương Chính; Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm; Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan…Trong công trình Nhà văn hiện đại, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã

nêu lên những nhận định khái quát về nghệ thuật tiểu thuyết của Nhất Linh

Trang 6

như sau: “Nếu đọc Nhất Linh, từ Nho phong cho đến những tiểu thuyết gần đây nhất của ông, người ta thấy tiểu thuyết của ông biến đổi rất mau Ông viết từ tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết tình cảm, qua tiểu thuyết luận đề, đến tiểu thuyết tâm lí; sự tiến hoá ấy chứng tỏ rằng mỗi ngày ông càng muốn đi sâu vào tâm hồn người ta” [17, tr.828]

Từ năm 1945 đến trước năm 1986

Thời kỳ này có nhiều ý kiến đánh gía trái chiều nhau của các nhà nghiên cứu, giới phê bình giữa hai miền Nam-Bắc Ở miền Nam, nghiên cứu

về Nhất Linh, bên cạnh những bài báo đăng trên những Tạp chí Văn và Văn học, đã có nhiều chuyên luận, các công trình văn học sử viết dưới dạng giáo trình dùng trong các trường Trung học, Đại học Tiêu biểu là các công trình

của Nguyễn Văn Xung (Bình giảng về Tự lực văn đoàn, 1958), Phạm Thế

Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1960), Doãn Quốc Sỹ (Tự lực văn đoàn, 1960), Thanh Lãng (Văn học thế hệ 1932, in trong: Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, 1967), Vũ Hân (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX : 1800-1945, 1973), Thế Phong (Nhà văn tiền chiến 1930 -

1940, 1974)…Trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ đã viết “Nguyễn Trường Tam không phải chỉ là lãnh tụ Tự lực văn đoàn

ở sáng kiến và tổ chức, ở công việc làm mấy tờ Phong hóa, Ngày nay Ông còn là tiểu thuyết gia quan trọng của nhóm, tự mình sáng tác theo đường lối nhóm đề ra và tên tuổi ở lại trong văn học sử như một văn tài tiêu biểu của

nhóm” [38, tr.137]

Ở miền Bắc, các công trình của nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học dViệt Nam, tập 3 - từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1945, 1957) của Bạch Năng Thi - Phan Cự Đệ (Văn học Việt Nam 1930 -1945, tập 1, 1961), bài viết của Nguyễn Đức Đàn (Mấy ý kiến về Nhất Linh và Khái Hưng - Hai nhà văn

Trang 7

tiêu biểu trong Tự lực văn đoàn, 1958)…đã cho thấy một cách nhìn khá khách quan về tiểu thuyết của Nhất Linh

Bạch Năng Thi trong bài viết Nhất Linh – tác giả tiêu biểu đã viết “Một đặc sắc của Nhất Linh là đã bằng một nghệ thuật chắc chắn, hình tượng hóa những luận đề xã hội, những quan niệm trừu tượng Truyện là truyện sống, ở

đó toát lên cái ý nghĩa xã hội; không phải là cái gì gò ép lên khuôn, để chứng minh bằng được cho một định đề” [16, tr.103]

Giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay

Trong xu thế đổi mới, một số hiện tượng văn học quá khứ được nhìn nhận, đánh giá lại và được đánh giá toàn diện hơn, trong đó nổi bật lên là những tác phẩm của Nhất Linh Cùng với một số cuộc Hội thảo về văn học 30

- 45 nói chung, văn học lãng mạn nói riêng, cuộc Hội thảo “Về văn chương

Tự lực văn đoàn” ngày 27 - 5 - 1989, do khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng

hợp Hà Nội và Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp

tổ chức, đã đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình nhìn nhận lại văn chương Tự lực văn đoàn Các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trương Chính, Phong Lê, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Hoành Khung, mà trong đó

có người đã từng có nhiều bài viết về văn chương lãng mạn, thì đến nay cũng

có sự điều chỉnh và bổ sung nhiều ý kiến mới, với những cách tiếp cận mới Trong cuộc hội thảo có cả các nhà văn, nhà thơ và rất đáng chú ý là ý kiến

đúng đắn, sâu sắc của nhà thơ Huy Cận đăng trên Đặc san giáo viên nhân dân, 7 -1989: “Ta đã có đủ thời gian để đánh giá Tự lực văn đoàn Có thể nói

Tự lực văn đoàn đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam Họ có hoài bão

về văn hoá dân tộc Họ có điều kiện nhưng không thích con đường làm quan, làm giầu mà đi vào chuyện văn chương Đáng phê phán ở Tự lực văn đoàn cũng như ở Nhất Linh, Khái Hưng là chặng cuối đời Nhưng cũng đừng vì lăng kính đó mà đánh giá sai họ Lúc đầu họ có lòng yêu nước thực sự nhưng

Trang 8

vì chọn nhầm đường và cuối cùng là phản động Tự lực văn đoàn đã có đóng góp lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc với lối văn trong sáng và Việt Nam” [11,

tr.420 ]

Các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Phan Cự Đệ (Tự lực văn đoàn – con người và văn chương), Hà Minh Đức (Các bài giảng về Đoạn tuyệt, Đôi bạn trong Tác phẩm văn học 1930 -1945); Trương Chính (Vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn; Tự lực văn đoàn; Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ); Trần Đình Hượu (Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hoá trong lịch sử văn học Phương Đông); Nguyễn Trác - Đái Xuân Ninh (Về Tự lực văn đoàn -1989), Lê Thị Đức Hạnh (Thêm mấy ý kiến đánh giá

về Tự lực văn đoàn; Tự lực văn đoàn và Thơ mới ); Vu Gia (Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học (1995))…đã thể hiện một sự đánh giá

phong phú, một cách nhìn toàn diện, đúng đắn và đa chiều về tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn cũng như tiểu thuyết Nhất Linh Chúng tôi có thể dẫn ra đây một số ý kiến tiêu biểu Chẳng hạn Nguyễn Hoành Khung nhận xét:

“Với Lạnh lùng, Nhất Linh không còn gò cốt truyện, dàn nhân vật nhằm minh hoạ cho một luận đề nữa, mà đưa ngòi bút đi sâu hơn vào việc phân tích tâm lý, tình cảm, ở đây là tâm lý ái tình, và đạt tới một trình độ tiểu thuyết già dặn, thành thục” [11, tr.533]

Bên cạnh những công trình khẳng định thành công của Nhất Linh trên một số phương diện thì các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những điểm

hạn chế của ông Vũ Đức Phúc trong bài viết Tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đăng trên Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 cho rằng

“Tinh thần dân tộc không có trong tác phẩm, ít nhất cũng không có một cơ

sở vững chắc, cho nên khi Nhất Linh muốn vẽ những người cách mạng cho

Trang 9

rõ nét hơn thì ông ta chỉ sáng tác được những tác phẩm giả tạo, và đến khi ông ta định làm cách mạng thật thì hóa ra phản động” [11, tr.571]

Trong các công trình của các nhà nghiên cứu, ít nhiều đã xuất hiện những ý kiến nhận xét, đánh giá về các nhân vật nữ xuất hiện trong các tiểu thuyết của nhà văn này Tuy nhiên, những đánh giá, nhận xét về xây dựng hình tượng người phụ nữ và nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ tân thời là chưa sâu và cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào đặt vấn

đề phân tích hình tượng người phụ nữ tân thời trong tiểu thuyết của Nhất Linh một cách toàn diện và bản chất

Do đó, đề tài mà chúng tôi thực hiện sẽ cố gắng đưa ra những đặc điểm chung nhất về các hình tượng nhân vật nữ xuất hiện trong các tiểu thuyết của Nhất Linh, đồng thời, qua đó khẳng định những đóng góp của Nhất Linh trong việc cách tân văn xuôi, xây dựng nhân vật, phát triển tiểu thuyết về sau

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Tiểu thuyết của Nhất Linh, bao gồm: Đoạn tuyệt (1934-1935), Lạnh lùng (1936-1937), Bướm trắng (1940), Đôi bạn (1938)

Tác phẩm viết chung cùng Khái Hưng: Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1935)

- Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các tiểu thuyết của Nhất Linh viết sau năm 1932 Trong đó, luận văn chủ yếu tập trung vào tìm hiểu những tác phẩm viết trong thời kỳ Tự lực văn đoàn của Nhất Linh - thời kỳ Nhất Linh chưa chuyển sang hoạt động chính trị Vì theo người viết, những tác phẩm này mới thực sự có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật Trên cơ sở phân tích những tác phẩm này, luận văn đi sâu vào phân tích thế giới hình tượng nhân vật trong tiểu

Trang 10

thuyết của Nhất Linh, đi sâu vào các thủ pháp xây dựng nhân vật của tiểu

thuyết, đặc biệt chú trọng đến các yếu tố thể hiện tâm lý,…để làm sáng tỏ hơn những nét mới trong cách xây dựng hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Luận văn tiến hành thống kê, phân loại các

phương pháp, phương tiện thể hiện nhân vật, tần số xuất hiện của chúng trong tác phẩm…từ đó đưa ra những nhận xét khái quát trên cơ sở những số liệu cụ thể

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Khi đi vào từng sáng tác, chúng tôi sẽ sử

dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu tác phẩm được cụ thể trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Và sau đó, phương pháp tổng hợp sẽ được dùng để khái quát lại vấn đề

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Được vận dụng trong luận văn khi cần thiết

để thấy được những điểm tương đồng và dị biệt của các tiểu thuyết và một số tác phẩm cùng giai đoạn văn học, để chỉ ra được những bước đổi mới của Nhất Linh trong sáng tác Trong những trường hợp cần thiết, luận văn cũng so sánh nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả khác trên hai bình diện lịch đại và đồng đại

Ngoài ra, luận văn còn vận dụng các lý thuyết Thi pháp học để nghiên cứu tính chỉnh thể nghệ thuật các tác phẩm của Nhất Linh

5 Đóng góp khoa học của đề tài

Mặt dù trong 10 tiêu chí hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn không có một tiêu chí đề cập cụ thể đến việc giải phóng người phụ nữ; tuy nhiên những tiểu thuyết của nhóm đều thấm đẫm tinh thần nhân văn, chống lễ giáo, hủ tục phong kiến, đề cao con người cá nhân Vì vậy, trong những tác phẩm của Nhất

Trang 11

Linh, nhân vật nữ luôn xuất hiện với những chi tiết rất mới Họ không chỉ xinh đẹp, giỏi giang mà còn mạnh mẽ, táo bạo trong tình yêu, trong cuộc sống gia đình, đấu tranh không mệt mỏi để tìm kiếm hạnh phúc cá nhân

Bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ của giao lưu, gặp gỡ; người phụ nữ đang dần khẳng định vị trí của mình trong xã hội Nghiên cứu đề tài này góp phần khẳng định rằng cách đây hơn 50 năm, vị trí của người phụ nữ

đã được khẳng định Họ có quyền yêu, quyền sống theo ý thích cá nhân, quyền được hạnh phúc Nghiên cứu hình tượng người phụ nữ tân thời trong tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn để thấy rằng những tiểu thuyết gia của nhóm Tự lực văn đoàn

đã đi trước, đón đầu trong việc đề cao vai trò của người phụ nữ

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm các nội dung chính sau:

Chương 1: Sự xuất hiện của Nhất Linh trong bối cảnh văn học Việt Nam

giai đoạn 1930-1945

Chương 2: Phẩm tính cá nhân và quan hệ xã hội của hình tượng người phụ

nữ tân thời trong tiểu thuyết Nhất Linh

Chương 3: Phương thức xây dựng hình tượng người phụ nữ tân thời trong

tiểu thuyết Nhất Linh

Trang 12

CHƯƠNG 1: SỰ XUẤT HIỆN CỦA NHẤT LINH TRONG BỐI CẢNH

VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 1.1 Bối cảnh xã hội và văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

1.1.1 Về tình hình xã hội và văn học

Giai đoạn lịch sử 1930-1945 tuy chỉ kéo dài 15 năm nhưng lại là thời

kỳ xảy ra nhiều biến cố, trong đó có những sự kiện quan trọng tác động mạnh đến đời sống vật chất, tinh thần của con người Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, tạo ra con đường cách mạng cho nước ta Kể từ đây, tấn bi kịch cho những người yêu nước không tìm ra con đường cứu nước đúng đắn đã chấm dứt

Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) đã ảnh hưởng đến Việt Nam một cách nặng nề Thực dân Pháp ra sức bòn vét, bóc lột dân thuộc địa để bù đắp cho những thiệt hại của chúng và dốc vào chiến tranh: tăng sưu, thuế, bắt phu, bắt lính, lạm phát giấy bạc Kinh tế của nước ta dường như kiệt quệ dưới ách thống trị của giai cấp phong kiến và thực dân Pháp Cả Ðông Dương thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa thừa ế của chính quốc, kể cả lúa mì năm 1933, Ðông Dương phải bỏ ra 1500 triệu Frăng để mua 50 vạn tấn lúa mì ế của Pháp Thêm vào đó, nạn đói hoành hành, gây sự hoảng loạn trong nhân dân Các thế lực thống trị mâu thuẫn nhau sâu sắc, những lực lượng đối kháng giao tranh, các chính sách kinh tế chính trị, văn hóa xảo quyệt của thực dân làm nhân dân ta dù yêu nước nhưng vẫn lơ láo, bàng quang, lẩn trốn Trong khi đó, giai cấp tư sản Việt Nam phát triển khó khăn yếu đuối Tư sản dân tộc Việt Nam phần lớn là do địa chủ chuyển thành hoặc dính liền với địa chủ thành một thứ tư sản địa chủ khiến cho thái độ chống Phong kiến của nó cũng không dứt khoát Giai cấp này một mặt mâu thuẫn với đế quốc Phong kiến, mặt khác lại phụ thuộc vào chúng Ðịa vị kinh tế non yếu, mỏng manh khiến tư sản dân tộc mất hết khả năng chiến đấu, nếu không

Trang 13

có một lực lượng nào thực sự lãnh đạo thì họ chỉ còn có một thái độ là thỏa hiệp với đế quốc

Giai cấp tư sản Việt Nam làm cuộc bạo động Yên Bái ngày 9-2-1930 nhưng thất bại, tầng lớp tiểu tư sản trí thức hoang mang tới cao độ, họ cùng với giai cấp tư sản tìm đường thỏa hiệp với thực dân hoặc chỉ còn thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc bằng con đường văn chương Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao nhất là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh; tuy nhiên, do những điều kiện khách quan, chủ quan chưa đầy đủ, phong trào bị thất bại Bọn đế quốc một mặt điên cuồng khủng bố, dùng cả máy bay ném bom xuống các đoàn biểu tình, mặt khác ra sức xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản, nói xấu và vu khống Liên Xô hòng chia rẽ quần chúng với Ðảng

Từ cuối năm 1931, cách mạng Việt Nam bước vào thời kì thoái trào và dần dần hồi phục vào cuối năm 1932 nhưng đến cuối năm 1933, bóng đen chiến tranh phát xít đe dọa nhân loại Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế cộng sản, một phong trào rộng rãi chống phát xít và chiến tranh lan rộng trên thế giới Ở Pháp, Mặt trận nhân dân thành lập và dành được thắng lợi trong kì tuyển cử tháng 5-1936 Lợi dụng thời cơ đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Mặt trận dân chủ Ðông Dương ra đời, tạo nên một phong trào dân chủ sâu rộng chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc bao gồm công, nông, dân nghèo, tiểu thương, tiểu chủ, học sinh, viên chức vv và một số tư sản Trước thực tế đó, bọn đế quốc phải nhượng bộ, hàng nghìn tù chính trị được trả lại tự do, Luật lao động được ban hành, báo chí tiến bộ được công khai xuất bản

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Mặt trận dân chủ tan vỡ Lợi dụng tình thế đó, bọn thống trị Ðông Dương thủ tiêu mọi quyền tự

do dân chủ mà nhân dân ta vừa giành được Ðảng phải rút vào bí mật Thời kì này phong trào cách mạng lên cao, một phong trào giải phóng dân tộc bùng lên, cả nước sục sôi chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa Với đường lối chiến lược,

Trang 14

sách lược vững vàng, sáng suốt, Đảng đã đoàn kết, phát huy một cách mạnh

mẽ tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân, Cách mạng tháng Tám thành công Tháng 9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời

Tuy nhiên, Việt Nam lúc này là một xã hội rối ren, đen tối về kinh tế cũng như về kiến trúc thượng tầng Nền kinh tế kiệt quệ dưới ách thực dân phong kiến với hàng loạt những chế độ sưu thuế, chế độ bắt phu bắt lính của thực dân Pháp Khắp nơi nạn đói hoành hành, bọn đầu trâu mặt ngựa tác oai tác quái, người chết hàng loạt và khủng khiếp nhất là nạn đói vào mùa xuân năm 1945, hai triệu người bị chết đói Những thế lực thống trị mâu thuẫn nhau: Mâu thuẫn giữa thực dân phong kiến Mâu thuẫn giữa phong kiến với

tư sản Mâu thuẫn giữa tư sản với thực dân Những lực lượng đối kháng giao tranh, có những chiến tuyến rõ rệt như cách mạng, phản cách mạng; có người yêu nước nhưng hoang mang, có người lơ láo, bàng quang, lẩn trốn

Chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa vô cùng xảo quyệt của thực dân ngày càng nhào nặn xã hội Việt Nam vào cái khuôn khổ có lợi cho chúng Cùng với việc tiếp tục khai thác nền kinh tế nước ta, Thực dân Pháp tiếp tục chính sách ngu dân, khiến cho số người mù chữ của cả nước chiếm đến 90% dân số Chế độ kiểm duyệt gắt gao, cấm đoán tất cả sách báo tiến bộ trong và ngoài nước Thực dân Pháp đưa vào nước ta đủ thứ rác rưởi của văn hóa Tư sản phản động phương Tây, cùng với cặn bã phong kiến, chúng gọi là kết hợp Văn minh Âu Mỹ với Quốc hồn quốc túy An Nam

Chính những biến động trên lĩnh vực chính trị xã hội Việt Nam đã làm cho trạng thái tâm lí của con người thay đổi Vì vậy, ít nhiều ý thức thẩm mĩ, quan niệm về cái đẹp của cuộc sống, của con người, cũng như cái đẹp trong nghệ thuật đã có nhiều thay đổi Lối sống tư sản đã tấn công quyết liệt vào xã hội phong kiến Việt Nam, cùng với nó là sự du nhập ồ ạt của nền văn hoá phương Tây Mười lăm năm này, lịch sử văn học chứng kiến sự phát triển

Trang 15

nhanh chóng của các xu hướng, phương pháp, phong cách sáng tác của thể loại và ngôn ngữ văn học Trên cơ sở một xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến, nền văn học Việt Nam đã từng bước đi vào con đường hiện đại hóa, hội nhập với văn học khu vực và sau này là văn học thế giới Theo Hoài

Thanh: “Trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có thời đại phong phú như thời đại này” [49, tr.37] Văn chương đã có sự đấu tranh giữa cái cũ và

cái mới, nó thoát ra khỏi bản ngã của cái ta, phá bỏ hệ thống ước lệ truyền thống Một nền văn học hiện đại đã dần hình thành trên cơ sở kế thừa truyền thống văn học dân tộc cũng như tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây Ðối với sáng tác văn chương, trước đây, người ta quan niệm cái đẹp toát lên từ sự hài hoà cân đối của một bài thơ Ðường luật, từ sự hoàn chỉnh của phép đối, của cách gieo vần Giờ đây, những yếu tố đó đang chịu sự lấn át dần bởi chất phóng khoáng, tự do vừa tìm thấy được từ văn học phương Tây Trong 15 năm này, văn chương phát triển thành 2 bộ phận (bộ phận văn học vô sản và

bộ phận văn học tư sản, với những thời kỳ tương đối rõ rệt Ta có thể tạm chia

15 năm này làm ba thời kỳ Thời kỳ 1930-1935 mở đầu với những sáng tác thơ văn gắn liền với cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao nhất là Xô viết Ngệ Tĩnh Bộ phận văn học tư sản, tiểu tư sản thời kỳ này nổi lên là văn học lãng mạn tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới Xu hướng văn học phê phán có từ trước 1930 đến thời kỳ này phát triển hơn và xác định rõ ràng hơn

về phương pháp thể tài Tiếp đó là thời kỳ 1936-1939 với sự thành công của văn học vô sản, văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn tư sản, tiểu

tư sản Văn học vô sản khắc họa thành công hình tượng người chiến sĩ cộng sản say mê lí tưởng, mang một tinh thần nhân đạo mới mẻ: Thể loại phóng sự,

ký sự phát triển Thơ ca cách mạng phát triển Một loạt nhà thơ cách mạng đã xuất hiện: Sóng Hồng, Lê Ðức Thọ, Xuân Thủy, Tố Hữu Văn học cách mạng thời kỳ này đánh dấu một bước tiến triển mới mẻ của văn học vô sản theo

Trang 16

hướng hiện đại hóa Bên cạnh đó, văn học hiện thực phê phán phát triển mạnh

mẽ và đạt được nhiều thành tựu xuất sắc: Vấn đề nông dân, nông thôn được

đặt ra trong tác phẩm hiện thực phê phán Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố Vấn đề phong

kiến thực dân được nêu lên một cách gay gắt trong các tác phẩm hiện thực

phê phán: Số đỏ, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất

Tố Tác phẩm hiện thực phê phán không dừng lại ở truyện ngắn, phóng sự

mà phát triển mạnh mẽ ở thể loại tiểu thuyết Ðây chính là một thành công lớn của văn học hiện thực phê phán thời kì này Văn học lãng mạn tư sản, tiểu tư sản vẫn tiếp tục phát triển, song nó phân hóa theo các hướng khác nhau Bên cạnh chủ đề cũ chống lễ giáo phong kiến và đề cao hạnh phúc cá nhân, Tự lực văn đoàn còn nêu chủ đề mới: chủ trương cải cách bộ mặt nông thôn và cải

thiện đời sống cho nông dân trong tác phẩm Gia đình của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Ðạo Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đề cập tới hình tượng người chiến sĩ như: Ðoạn tuyệt, Ðôi bạn của nhà văn Nhất Linh Thơ

mới vẫn tiếp tục trên đà phát triển Cái tôi vẫn được khai thác đến phút chót Thời kì này, Xuân Diệu nổi lên như một hiện tượng văn học Cái tôi của các nhà thơ mới càng đi sâu vào thế giới yêu đương thì càng cô đơn, lạc lõng và càng sợ sệt Đối với thời kỳ cuối cùng, thời kỳ 1939-1945, văn học vô sản rút vào bí mật nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ Thơ ca cách mạng trong tù và thơ

ca cách mạng ngoài nhà tù phát triển Văn học vô sản nói nhiều tới tương lai, một tương lai rực rỡ đang tiến gần Thơ Tố Hữu trưởng thành nhanh chóng

như tập Từ ấy Tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh cũng ra đời trong thời

kì này Thời kì này, thơ tuyên truyền kết hợp với thơ trữ tình cách mạng càng thấm thía, sâu sắc hơn Hàng loạt bài chính luận của đồng chí Trường Chinh xuất hiện trên các báo chí của Ðảng vào thời kì này cũng có nhiều giá trị văn học Văn học vô sản trong những năm tiền khởi nghĩa đã góp phần quan trọng

Trang 17

vào cuộc vận động cách mạng của Ðảng, đập tan chế độ thuộc địa, giành thắng lợi trong những ngày tháng 8 lịch sử 1945 Trong khi đó, văn học hiện thực phê phán có sự phân hóa: Có nhà văn thì chết (Vũ Trọng Phụng); có nhà văn không viết tiểu thuyết nữa chuyển sang khảo cứu dịch thuật như Ngô Tất Tố,…Một thế hệ nhà văn hiện thực mới ra đời: Nam Cao, Nguyễn Tuân, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Ðình Lạp, Bùi Hiển, Nhà văn hiện thực vẫn tiếp tục

miêu tả cuộc sống tăm tối của người nông dân Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao; Sống nhờ của Mạnh Phú Tư Cuộc sống bế tắc mòn mỏi của người trí thức tiểu tư sản cũng được các nhà hiện thực đề cập một cách sâu sắc qua: Sống mòn, Ðời thừa, Trăng sáng của Nam Cao Các nhà văn nêu lên mâu

thuẫn gay gắt giữa giai cấp thống trị với tầng lớp nhân dân lao động Đối với văn học lãng mạn: Cái tôi có sự phân hóa và phát triển đa dạng Trong đó, Nguyễn Tuân nổi lên là cây bút tiêu biểu cho trào lưu lãng mạn tư sản, tiểu tư sản trong văn xuôi Cái ngông của Nguyễn Tuân xuất hiện, đó là một thứ ngông lịch lãm, tài hoa Ở Nguyễn Tuân còn xuất hiện chủ nghĩa xê dịch, đó cũng là thứ xê dịch chân thành và những rung cảm rất tinh tế Dòng thơ điên, thơ loạn, thơ say càng phát triển mạnh Tất cả đều là những hình thức chuyển hóa, phân hóa nghệ thuật theo các khuynh hướng khác nhau,…

Trong thời kỳ 1930-1945 đã xuất hiện nhiều văn đoàn, nhiều nhóm phái văn chương như Xuân thu nhã tập, nhóm Tao Đàn, nhóm thơ Bình Định, trường thơ Bạch Nga, nhóm thơ Dạ Đài Trong những nhóm phái trên, Xuân thu nhã tập nổi lên đặc biệt là về lý thuyết nhưng lại chưa có được những tác phẩm văn chương phù hợp với tôn chỉ Tự lực văn đoàn ra đời với hướng sáng tác theo tôn chỉ gồm 10 điều: “Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chuơng thôi: Mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước; soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội Chú ý làm cho người và

Trang 18

cho xã hội ngày một hay hơn; theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách

có tính bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân; dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam; lúc nào cũng mới mẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ; ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân, không có tính cách trưởng giả

mà quý phái; trọng tự do cá nhân; làm cho đạo khổng không hợp thời nữa; đem phương pháp Thái tây áp dụng vào văn chương Việt Nam; theo một trong chín điểm này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác”

Dù tôn chỉ của nhóm Tự lực văn đoàn có những điều trùng lặp như các điều 2, 3, 6 hoặc không quan trọng như điều 10, mang tính nửa vời, chưa thật tập trung theo một quan điểm tiến bộ có hệ thống và căn cứ thực tế…nhưng hoạt động dựa trên những tôn chỉ này, nhóm Tự lực văn đoàn đã thực sự chiếm ưu thế tuyệt đối trên văn đàn công khai, sách báo của họ in đẹp nhất, bán chạy nhất, có một ảnh hưởng nhất định trong giới trí thức tư sản và tiểu tư sản thành thị Cùng với phong trào Thơ mới, Tự lực văn đoàn như bó hoa của văn chương khi bước vào thời kỳ hiện đại Lớp công chúng văn học mới với hàng vạn viên chức, sinh viên, học sinh đã mang đặc điểm của thế hệ công chúng mới Họ khát khao sống tươi trẻ, tự do với thời hiện đại Họ muốn bộc

lộ suy nghĩ và tình cảm của mình trong cuộc sống, đặc biệt là lớp trẻ với tình yêu và hi vọng Những trang văn của Tự lực văn đoàn cũng như những áng thơ của phong trào Thơ mới đã đáp ứng được một phần yêu cầu và mong ước của họ

Tóm lại, lịch sử phát triển 15 năm của xã hội cũng là sự phát triển của văn học 1930 - 1945 Trong quá trình phát triển cũng có lúc nhanh, lúc chậm

Trang 19

nhưng trong hoàn cảnh nào văn học giai đoạn 1930- 1945 cũng là tiền đề phát triển cho nền văn học Việt Nam sau này

1.1.2 Hành trình đến với văn học của Nhất Linh

Văn học Việt Nam thay đổi từ diện mạo tới nội dung, hàng loạt những thể tài, thể loại mới hình thành và phát triển, một đội ngũ đông đảo các nhà văn sung sức tung hoành trên khắp mọi lĩnh vực văn chương Một trong những đại diện xuất sắc của đội ngũ này là Nhất Linh

Nhất Linh (1906-1963) tên khai sinh là Nguyễn Tường Tam Ông quê ở Quảng Nam nhưng sinh ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương trong một gia đình viên chức có gốc Nho học và quan lại Đậu bằng Cao đẳng tiểu học năm

1923, ông có học đại học một năm rồi học trường mỹ thuật, song lại bỏ ngang Năm 1927, ông xin đi du học về ngành chụp ảnh, nhưng khi sang Pháp ông lại chọn ngành khoa học vì nghĩ rằng đất nước còn lạc hậu, học khoa học

về để giúp nước, ông đậu cử nhân khoa học Trong vòng hơn hai năm du học

ở Pháp, Nhất Linh là một trong những người Việt Nam đầu tiên nhận bằng cử nhân khoa học ngay tại “mẫu quốc” Những tháng ngày sống ở Pháp, ngoài việc học khoa học, Nhất Linh còn chuyên tâm nghiên cứu văn học nghệ thuật phương Tây Chính vì vậy, khi về nước, ông đã thổi vào văn học Việt Nam một luồng sinh khí mới đậm nét hiện đại theo kiểu phương Tây

Sau những năm du học tại Pháp, Nhất Linh trở về nước và tham gia thành lập nhóm Tự lực văn đoàn vào năm 1933, đảm nhận nhiều hoạt động của nhóm như chủ bút Phong hóa rồi Ngày nay, phụ trách Nhà xuất bản Đời nay của Tự lực văn đoàn, tổ chức Hội ánh sáng,…và ông được đánh giá là cây bút vào loại sáng giá nhất của Tự lực văn đoàn

Nhất Linh vào đời văn khá sớm và có đời văn khá dài Tác phẩm đầu tay

Nho phong được viết năm 1924 - 1925 và in năm 1926 Tiếp đó là Người quay tơ (1927) Những cuốn tiểu thuyết này còn viết theo lối nệ cổ, ít được

Trang 20

chú ý Giai đoạn thứ 2 là thời kỳ Nhất Linh có những đóng góp đặc biệt, ngòi bút đổi thay và khởi sắc, gây được ấn tượng rộng rãi với bạn đọc Nhất Linh

viết chung với Khái Hưng các tác phẩm Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1934) và một số sáng tác của riêng mình khá ấn tượng: Lạnh lùng (1936), Tối tăm (tập truyện, 1936), Hai buổi chiều vàng (1937), Đôi bạn (1937) và Bướm trắng (1940) Tác phẩm của ông đã chinh phục được người đọc thời kỳ

này không chỉ với nội dung phong phú, hấp dẫn mà ông còn gây chú ý với khả năng xây dựng tác phẩm, sáng tạo nhân vật, phân tích tâm lí, hành văn, trong cách kết cấu tiểu thuyết hiện đại không theo trật tự thời gian, câu chuyện có thể phát triển theo tâm lý nhân vật và cũng có thể đột ngột chuyển

từ nhân vật này qua nhân vật khác Đặc biệt, nhà văn có nhiều thành công trong xây dựng nhân vật Ông đi sâu vào tâm lý nhân vật, chú trọng đến cuộc sống nội tâm nhân vật Trong đó, có thể nói hình tượng người phụ nữ hiện lên với một vẻ đẹp riêng, vừa mang tính cách của cô gái truyền thống: đôn hậu, đảm đang nhưng cũng không kém phần tân thời, mới mẻ

Gần bốn mươi năm cầm bút, Nhất Linh để lại một văn nghiệp không nhỏ

về số lượng Ngoài những tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn thì Nhất Linh còn lưu cho đời cả loạt tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị, bao gồm các tập

truyện ngắn Nho phong, Người quay tơ, Anh phải sống (viết chung với Khái Hưng), Đi Tây, Hai buổi chiều vàng, Thế rồi một buổi chiều, Thương chồng, các tiểu thuyết viết sau này như Xóm cầu mới, Dòng sông Thanh Thuỷ, tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết, bản dịch Đỉnh gió hú của Emily Brontë Tuy

nhiên, giai đoạn hoạt động sôi nổi nhất của nhóm Tự lực văn đoàn cũng chính

là giai đoạn Nhất Linh chứng tỏ khả năng sáng tác của mình với ngòi bút sắc

sảo, đa dạng hơn nhiều so với thời kỳ đầu viết Nho phong Những đóng góp

này của Nhất Linh đã được giới nghiên cứu, phê bình nhìn nhận Nguyễn Hoành Khung đã từng giới thiệu, đánh giá khái quát về sự nghiệp sáng tác của

Trang 21

Nhất Linh và đưa ra những so sánh về nghệ thuật miêu tả nhân vật giữa tác

phẩm Lạnh lùng và Đôi bạn Nguyễn Hoành Khung nhận xét: “Trong Lạnh lùng, Nhất Linh không còn gò cốt truyện, dàn nhân vật nhằm minh hoạ cho

một luận đề nữa, mà đã đưa ngòi bút đi sâu hơn vào việc phân tích tâm lí và

đạt tới một trình độ tiểu thuyết già dặn, thành thục Đến Đôi bạn (…) tác phẩm đào sâu tâm tư, khát vọng của một lớp thanh niên; không luận đề, không tuyên ngôn, nhưng Đôi bạn lại như tác phẩm được ấp ủ, gửi gấm tâm

sự, phô diễn tâm trạng nhiều nhất của nhà văn” [11, tr.533] Cách nhìn nhận

này của Nguyễn Hoành Khung cho thấy Nhất Linh dường như đã có những bước thay đổi rõ nét qua từng tác phẩm Những thay đổi lớn lao này của Nhất Linh xuất phát từ việc ông đã thâu tóm được những nét cơ bản những tinh hoa văn học phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp Nói như Vũ Ngọc Phan

trong cuốn Nhà văn hiện đại Việt Nam thì đọc văn của Nhất Linh ở giai đoạn

1932-1940 và so sánh với Nho phong do Nhất Linh viết trước đó không lâu thì thấy “biến đổi rất mau” Dù ảnh hưởng của văn học phương Tây, nhưng Nhất Linh luôn dung nạp cả hai khuynh hướng đó là lối văn cũ và lối văn

mới Điều này đã được Vũ Ngọc Phan khẳng định “Đọc Nhất Linh từ trước đến nay, người ta thấy tiểu thuyết của ông tiến hóa rất mau Từ cái lối còn cổ

lỗ như Nho phong, tiểu thuyết của ông đã đi vào loại tình cảm, rồi đi thẳng lối tiểu thuyết luận đề, là một lối rất mới ở nước ta Đến nay, trong loại tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết của Nhất Linh vẫn là những tiểu thuyết chiếm địa

vị cao hơn cả” [17, tr.837]

1.2 Quan niệm về con người cá nhân trong tiểu thuyết Nhất Linh

1.2.1 Quan niệm về con người trong văn học

Con người là đối tượng hàng đầu của văn chương, là trung tâm chú ý của nhà văn Điều này đã thành nguyên lí có tính phổ quát, không cần phải bàn cãi Nói về đối tượng của văn chương, ta hay nhắc tới câu nói nổi tiếng

Trang 22

của M.Gorki: Văn học là nhân học Từ xưa đến nay, văn chương đều lấy con

người làm đối tượng miêu tả, phản ánh Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định Điều này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học GS.TS Trần Đình

Sử đã nhận định rằng “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [43, tr.55]

Dựa trên quan điểm này, Trần Đình Sử cho rằng quan niệm nghệ thuật

về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả con người trong văn học nhưng các nguyên tắc đó có cơ sở sâu xa trong thực tế lịch sử Trần Đình

Sử đã lý giải, trong Hệ tư tưởng Đức, Mác nói rằng: Trong tất cả các hình thái

xã hội có trước chủ nghĩa tư bản các đặc điểm đẳng cấp và tầng lớp được từng

cá nhân riêng lẻ thời đó cảm nhận như là cá tính không thể tách rời của họ Ngược lại, trong các xã hội có sự thống trị của tư hữu ruộng đất, thì các quan

hệ tự nhiên chiếm ưu thế Nơi nào tư bản thống trị thì các yếu tố được tạo thành bằng phương thức xã hội và lịch sử chiếm ưu thế Hiểu như vậy thì quan niệm nghệ thuật về con người là một sản phẩm của lịch sử Đồng thời, quan niệm nghệ thuật về con người cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Đây là điều đã được phổ biến công nhận Chẳng hạn, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nam Cao so với Vũ Trọng Phụng hoặc Ngô Tất Tố

Trang 23

Trong các thể loại văn học khác nhau, do chức năng và hệ thống phương tiện biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật cũng có sự khác nhau quan trọng

Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật Sự vận động của thực

tế làm nảy sinh những con người mới và miêu tả những con người ấy sẽ làm văn học đổi mới Nhưng còn một khía khác là đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản Trong lịch sử văn học

sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến Vẫn là con người đã biết, nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn

sang góc độ mới cũng tạo thành sáng tác văn học mới

Quan niệm nghệ thuật về con người không phải bất cứ cách cắt nghĩa,

lý giải nào về con người, mà là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang

ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người

Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực

chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nhất Linh

Trong văn học, con người bao giờ cũng là con người được quan niệm, vì

thế “nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến ý hướng của nhà văn hướng đến thế giới và con người ngay trong khi sáng tác văn học” [19, tr.211] Và

“quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lý của tác phẩm” [19, tr.210] Quan niệm con người

Trang 24

trong tiểu thuyết Nhất Linh thể hiện tầm quan sát, sự nhận thức về con người của nhà văn, tạo cho tác phẩm có được chiều sâu triết lí nhất định

Quan niệm về con người trong văn chương có sự thay đổi qua các thời kì phát triển của lịch sử văn học, đồng thời cũng có nét riêng ở mỗi tác giả Quá trình chuyển biến của lịch sử văn học Việt Nam từ thời kì Trung đại sang thời

kì Hiện đại cũng là quá trình biến đổi quan niệm con người trong văn chương Đối với Nhất Linh - một người sinh ra và lớn lên trong xã hội phong kiến nhưng sớm tiếp thu nền văn hóa của phương Tây thì tư tưởng đã có những thay đổi nhất định Chính vì vậy, trong những sáng tác của mình, quan niệm

về con người của tác giả đã biểu hiện sự thay đổi tư duy và quan niệm thẩm

mĩ về con người,…Đây cũng chính là một trong những thay đổi đầu tiên ở thời kì đầu của quá trình hiện đại hoá

Nhất Linh xuất thân từ một gia đình phong kiến lớn, rồi được tiếp xúc với nền văn hóa của một nước tư bản phát triển cao là nước Pháp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Pháp nên có thể nói rằng Nhất Linh có ý thức rất

rõ về con người cá nhân Quan niệm nghệ thuật về con người của Nhất Linh chính là quan niệm về con người cá nhân cá thể (Individu) Với tư cách là tiếng nói của tinh thần, của thế giới tâm hồn, văn học nghệ thuật còn là mảnh đất để cái tôi cá nhân hiện diện Điều này là cần thiết không phải chỉ bởi đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật luôn gắn liền với vấn đề phong cách, cá tính sáng tạo, gắn liền với những trải nghiệm của cá nhân người cầm bút Cơ bản hơn, sự hiện diện của cái tôi cá nhân trong văn học nghệ thuật còn là một nhu cầu để cân bằng cho đời sống tinh thần của con người, giúp anh ta được sống với chính mình, tạm gác bỏ những ràng buộc, những giới hạn của con

người chức phận luân thường

Đối với văn học Việt Nam, những yếu tố của con người cá nhân đã xuất hiện trong văn học Trung đại Việt Nam với mức độ đậm nhạt khác nhau Đó

Trang 25

là sự phát hiện của Văn Tâm trong Giới thuyết Thơ mới đã đưa ra nhận xét đầy suy ngẫm: “nếu các nhà thơ mới lãng mạn khẳng định mạnh mẽ cái tôi, thì thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, hát nói của Nguyễn Công Trứ ít nhiều cũng mang ý nghĩa là những giai điệu dạo đầu cho xu thế ấy…nếu như trong thơ mới hiện rõ rệt “cái khát vọng được thành thực” thì những cảm xúc suy ngẫm chân thành ít nhiều bao hàm yêu sách dân chủ và nhân bản nào có hiếm hoi gì trong những dòng thơ Việt khoảng cuối thế kỷ XVIII trở đi (Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương)” [47, tr.10] Hoặc như Trương Chính nhận xét về tác phẩm của Nguyễn Công Trứ: “Những bài hát nói hay những bài thơ tình của ông có giọng chân thành, say đắm giống như thơ của các nhà thơ lãng mạn sau này Những bài thơ vịnh chữ tình, vịnh sầu tình, bài ca từ biệt, nhớ tri âm,…có thể xem là những bài mở đường cho các nhà thơ hồi 1932-1945” [3,

tr.10] Đến với văn học giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, văn học đã xây dựng được nhiều nhân vật cả phản diện và chính diện như Thúy Kiều, Kim Trọng, Phạm Kim, Trương Quỳnh Như, Lương Sinh,

Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, nhà sư, tên đô đốc,…và nhiều nhân vật trữ tình xuất hiện dưới hình thức cái tôi của nhà thơ trong tác phẩm Không ai có thể lẫn lộn cái tôi tràn đầy sức sống, lạc quan và hết sức tinh nghịch của Hồ Xuân Hương với cái tôi ngông nghênh, phiêu bạc, có tính chất

hư vô chủ nghĩa của Phạm Thái; hay cái tôi trầm ngâm, lắng sâu trong suy nghĩ của Nguyễn Du với cái tôi bay bổng, ngang tàn của Cao Bát Quát Một

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm biểu hiện khát vọng

được hưởng hạnh phúc tuổi trẻ hay con người bản năng trong thơ Nôm của

Hồ Xuân Hương Nguyễn Lộc viết: “Hồ Xuân Hương không giả dối, bà đã công khai nói lên cái sự thật ấy Thỏa mãn cuộc sống bản năng cũng là một khát vọng chính đáng của con người giống như bất cứ một khát vọng chính

Trang 26

đáng nào, và điều đáng chú ý hơn nữa ở nhà thơ này là đã công khai nói đến cuộc sống bản năng, dù viết về những đề tài cốt để người ta liên tưởng đến chuyện trong buồng kín của vợ chồng nhưng bất cứ một bài thơ nào của bà cũng đều gợi lên một cảm giác đẹp hiếm có Và chính điều này đã nâng nhà thơ lên hạng những nghệ sỹ lỗi lạc, chứ không phải những kẻ tầm thường làm thơ, viết văn với mục đích khiêu dâm” [34, tr.11] Không riêng gì Hồ Xuân

Hương, cùng thời với Bà đã có rất nhiều tiếng nói của con người cá nhân Mỗi tiếng nói đều mang những tâm trạng, trạng thái riêng Đó là con người cá

nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn trong Chinh phụ ngâm, con người cá nhân cô đơn, xót mình đầy tâm trạng trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều của

Nguyễn Du; con người cá nhân công danh, hưởng lạc ngoài khuôn khổ trong thơ văn Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát; nụ cười giải thoát cá nhân và tự khẳng định trong thơ Tú Xương,…

Đến những năm đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của Tản Đà đã thực sự đưa cái tôi vượt ra ngoài những khuôn khổ của thơ văn Trung đại Việt Nam Cái sầu, mộng, buồn vui của con người cá nhân trong thơ Tản Đà thực sự đưa cảm xúc của con người cá nhân thăng hoa Đến với thơ Tản Đà, con người được sống với cái tôi riêng tư của mình với những hoài vọng, những day dứt, nỗi đam mê và sự khổ đau, những dự phóng và cả những bất thành, dang dở Tất cả gói gọn trong hai chữ Sầu và Mộng Đó là cái sầu về thân phận ngắn ngủi của con người:

Ấy ai quay tít địa cầu Đầu ai nửa trắng nửa pha mầu xuân xanh Trông gương mình lại ngợ mình Phải chăng vẫn giống đa tình ngày xưa (Bài hát xuân tình)

Trang 27

Sự đa dạng là hiển nhiên nhưng vẫn có một mẫu số chung cho những sầu muộn cô đơn trong truyền thống: chúng thuộc phạm trù cái bi đời thường chứ không phải là cái bi với tư cách là một phạm trù mỹ học Đấy là cái cô đơn bi phẫn, ưu uất Đến Tản Đà, cái cô đơn đã bắt đầu có những nét mới lạ trong cách phô diễn, trong diện mạo Cái tôi cá nhân trong bước khởi đầu tìm kiếm chính mình đã hiện ra trong thơ Tản Đà với gương mặt của những nỗi

cô đơn duyên dáng và tình tứ Nó báo trước cho cái tôi - cảm xúc và sự say

mê đặc biệt với những cô đơn, sầu khổ của thơ ca giai đoạn tiếp theo Trong thế giới của cái tôi sầu mộng, cõi mộng cũng trở thành không gian nghệ thuật đặc trưng cho thế giới nghệ thuật của Tản Đà Không ít lần ông bàn luận và triết lý về nó Không bị ràng buộc bởi những giới hạn trong cuộc đời thực, mộng là môi trường để cái tôi cá nhân hiện diện với những dự phóng để chiếm lĩnh thế giới lý tưởng, qua đó mà nếm trải, khám phá những kích thước, những chân trời mới mẻ Cõi mộng là không gian ở đó cái tôi của Tản Đà phơi trải những dự phóng, sở thích của mình Mộng như thế là phương tiện để thám hiểm những chân trời mới lạ trong thế giới tinh thần của cái tôi

Trên những nét lớn, sầu và mộng là sự triển khai những cảm nhận và khám phá về chính mình của cái tôi trong hai thế giới: hiện thực và lý tưởng hay nói theo ngôn ngữ của chính Tản Đà: trong giấc mộng lớn và giấc mộng con Việc đặt cạnh nhau của hai thế giới này ngay lập tức cho thấy một sự tương phản gay gắt, một xung đột không thể hòa giải Cái tôi trong thế giới của giấc mộng con khoái hoạt, buông phóng, hăm hở, kỳ vọng bao nhiêu thì lại u uất, chán nản bấy nhiêu trong môi trường của giấc mộng lớn Sự di chuyển giữa hai thế giới này luôn đem đến cho Tản Đà những hẫng hụt, xáo động đầy bất an bởi giữa chúng là vô vàn cách biệt Đến thời kỳ Tản Đà, cái tôi càng tự khẳng định mạnh mẽ hơn, với hồn thơ phóng túng, tràn đầy tình cảm, cảm xúc Cái ngông còn là cái tài tử phiêu lãng toát ra từ cái tôi lãng

Trang 28

mạn Cái tôi buồn vì dự cảm chia li vĩnh viễn, vì nhận ra sự bơ vơ, trơ trọi giữa cõi thiên thai Đó là cái tôi mộng (khát khao cuộc sống sum vầy lứa đôi, hương lửa mặn nồng…) Đó là cái tôi tình, một trái tim dạt dào tình yêu đôi lứa Như vậy, cái mới ở đây là hồn thơ ông rất phóng túng không theo khuôn mẫu sáo rỗng

Tản Đà bước vào xã hội những năm đầu thế kỉ XX như một cơn gió lạ trên văn đàn Cái tôi cá nhân với người tài tử là sản phẩm của xã hội đang tư sản hóa nhưng chưa đầy đủ, chưa hoàn chỉnh

Đến đầu thế kỷ XX, sự ra đời của tác phẩm Tố Tâm, có thể nói quan

niệm về con người cá nhân trong văn học đã dần rõ nét Nhân vật đã ý thức về

tình yêu, về hạnh phúc của bản thân Tố Tâm đã đặt ra vấn đề quyền sống

trong lĩnh vực tình cảm của cá nhân con người trong xã hội hiện đại Đó là quyền được yêu, được lựa chọn người yêu, quyền bảo vệ tình yêu chân chính

của cá nhân Tố Tâm đã đem lại cho văn học Việt Nam một nội dung mới, mở

ra một hướng phát triển mới Tố Tâm đã lấy cái tôi làm điểm xuất phát cho

tình cảm yêu đương và đã dám chung thủy đến cùng với tình cảm lãng mạn tuyệt vời đó Tình yêu của hai nhân vật chính Đạm Thủy và Tố Tâm là mối tình chân thực, đẹp như mộng mà chỉ có tự do hôn nhân mới có thể với tới được Và đặc biệt là sự ra đời của Thơ mới và Văn xuôi của Tự lực văn đoàn thì quan niệm về con người cá nhân với giá trị tự thân và ý nghĩa đích thực đã

thật sự hình thành Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét: “Điều quan trọng nữa

mà Tự lực văn đoàn mang lại là sự khám phá, khẳng định cá nhân trong xã hội Quyền sống của cá nhân trong nền đạo đức cũ không được thừa nhận Cần phải đấu tranh để giải phóng cho cá nhân Đánh giá về Tự lực văn đoàn, tôi nghĩ rằng phải chú ý đến nhiều mặt Lâu nay hướng phân tích văn xuôi Tự lực văn đoàn thường chú ý về mặt chính trị và phân tích trong sự liên hệ, so sánh với cách mạng Cần phải mở rộng thêm đến nhiều mặt tư tưởng và văn

Trang 29

hóa khác của Tự lực văn đoàn Tự lực văn đoàn là biểu hiện sự thúc đẩy của

xã hội ta về sự nhận thức thế giới cá nhân” [11, tr.125] Đối với Nhất Linh -

vị chủ soái của Tự lực văn đoàn, ông có một quan niệm về con người có ý thức cá nhân vô cùng sâu sắc Con người cá nhân trong tác phẩm của ông luôn biểu hiện tích cực với việc chống lại những ràng buộc khắt khe, những quan niệm, định kiến hẹp hòi,…của gia đình và xã hội phong kiến Đây là những vấn đề mà xã hội hiện thời rất quan tâm: vấn đề đòi quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do yêu đương và hôn nhân Đặc biệt, trong tác phẩm của Nhất Linh cũng phảng phất những nhân vật mà ý thức cá nhân mang nhiều biểu hiện tích cực đối lập cá nhân với xã hội, bất chấp đạo lý, đòi hỏi giải phóng bản năng Điều này thể hiện rõ trong những tác phẩm sau năm 1939, tác giả đã đi sâu vào khuynh hướng hướng nội, nhân vật mang ý thức cá nhân tiêu cực với những biểu hiện cao nhất của con người cá nhân, đối lập cá nhân với xã hội, bất chấp đạo lý, đòi giải phóng bản năng Đó là những nhân vật

mất lòng tin vào cuộc sống như Tuyết trong Đời mưa gió, Trương trong Bướm trắng Đây là những nhân vật có lối sống vượt ra ngoài vòng kiềm tỏa

của xã hội, đề cao cuộc sống hưởng lạc vật chất bình thường, đồng thời còn bộc lộ nhu cầu giải phóng bản năng của con người cá nhân Những nhân vật này thực sự là những phát thảo thử nghiệm về con người cá nhân cực đoan của Nhất Linh Tuy vậy, kiểu nhân vật như thế cũng không được tác giả đề cao và tạo thành trào lưu mà chỉ là một cách thử nghiệm và xem như là những

dự báo về một lối sống buông thả có thể xảy ra…

So với các tiểu thuyết gia trong nhóm Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là nhà văn thể hiện đậm nét quan niệm con người cá nhân - một đóng góp lớn trong sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Con người trong tiểu thuyết Nhất Linh vừa thể hiện cái riêng hết sức phong phú, đa đạng vừa thể hiện cái chung hết sức sâu sắc

Trang 30

Từ quan niệm về con người không còn đơn giản, một chiều như trước đây, tác giả đã dựng nên “những nhân vật đều có vẻ sống, có vẻ linh động”, là những con người với những tính cách tốt-xấu, thiện-ác,….và hiển nhiên Nhất Linh đã cùng với các thành viên trong nhóm làm một “cuộc cách mạng” để ngày nay Tự lực văn đoàn có vai trò như cách mà Giáo sư Hoàng Xuân Hãn

đã khẳng định: “Nhóm Tự lực văn đoàn không phải là nhóm duy nhất nhưng

là nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại” [50, tr 74]

1.3 Cách chiếm lĩnh mới về hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Nhất Linh

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta có những phụ nữ lãnh đạo nhân dân đứng lên chống quân xâm lược, xây dựng cơ đồ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu Cũng có những phụ nữ lưu danh sử sách như Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm…thế nhưng, trên nền chung đó là người phụ nữ với thân phận tôi đòi, lép vế, bởi trong xã hội

phong kiến, với quan niệm “Đàn ông gánh vác việc quan, đàn bà thì phải lo toan việc nhà”, vai trò của người phụ nữ không được để ý tới Đạo “Tam tòng

tứ đức” và lễ giáo phong kiến đã cột chặt phần đời người phụ nữ sau lũy tre

làng Và vì vậy, vai trò của người phụ nữ trong văn học, nhất là văn học nước

ta trong những năm đầu thế kỷ XX trở về trước rất mờ nhạt

Bên cạnh đó, xuất phát từ quan niệm của Nho học đời Tống (Tống

Nho), thời Trung đại ở nước ta, quan niệm văn dĩ tải đạo là quan niệm phổ

biến trong văn học Với nghĩa văn chương phải chuyên chở đạo lý, mà đạo ở đây là đạo của Thánh hiền Do thế, đề tài văn học ít nói đến cái tầm thường, cái mộc mạc hay sự vật, sự việc tầm thường của cuộc sống đời thường; ít phản ánh, miêu tả chi tiết thực của cuộc sống thực Nếu có viết về cuộc sống

Trang 31

đời thường, con người đời thường như thằng mõ, con cóc, tát nước, dệt

vải…chẳng qua là nhằm mục đích nói về những sự việc, con người cao quý

thông qua phương thức ngụ ý, ám chỉ, tượng trưng Vì vậy mà văn thơ Trung đại có ngôn từ diễn đạt diễm lệ, tránh nói thông tục, nếu có thì dùng ngụ ý,

ám chỉ chứ ít khi nói thẳng để diễn đạt tính bác học, trang nhã của văn học

Do đó, văn chương viết về cái tôi cá nhân thường rất ít, nếu có thì cũng chỉ xảy ra đối với những cây bút lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến,…và còn

ít hơn nếu viết về đời sống cá nhân, cái tôi cá nhân của người phụ nữ

Trong giai đoạn 1930 - 1945, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc Sự gặp gỡ của văn minh Phương Tây, sự tiếp thu mạnh mẽ và rộng rãi những tinh hoa văn hoá thế giới đã thúc đẩy Văn học Việt Nam bứt ra khỏi hệ hình Trung đại trì trệ, để tiến hành công cuộc hiện đại hoá với sự tăng tốc đặc biệt Kế thừa những cây bút giai đoạn trước, Nhất Linh đã mạnh dạn đề cao cái tôi cá nhân và ông đã thành công khi xây dựng những con người cá nhân mang tính điển hình cao

Với lập trường duy tân cấp tiến, với sự trải nghiệm cuộc sống trưởng giả, nhà văn đã khám phá, miêu tả được nhiều hình tượng khá tiêu biểu và sinh động về con người cũ Đó là những hình tượng có giá trị hiện thực, giá trị phê

phán khá sâu sắc, như nhân vật bà Phán, bà Hai trong Đoạn tuyệt, bà Án, bà Nghè trong Lạnh lùng v.v Mỗi nhân vật có hoàn cảnh khác nhau nhưng họ

đều là những người đàn bà điển hình của giai cấp phong kiến Ta cứ ngỡ như tác giả xây dựng một mẫu người phụ nữ chung cho tất cả nhân vật Thế nhưng Nhất Linh dù xây dựng họ với một nét chung là tôn sùng gia phong, nề nếp cũ thì với biệt tài của mình, Nhất Linh đã xây dựng mẫu nhân vật bà Án, bà Phán, bà Hai, mỗi bà có sự chua ngoa, đanh đá và cách nệ cũ hoàn toàn không giống nhau Mỗi nhân vật đều là nhân vật điển hình với cung cách ăn nói, ứng

xử rất riêng và cá tính với những chi tiết đắc giá, họ nhỏ nhen, giả dối, ganh

Trang 32

tỵ nhau, chèn ép nhau, làm cho nhau đau khổ một cách vô ích Họ gây ra trong gia đình nhiều bi kịch nhưng họ lại làm cho người khác thấy họ là hiền lành, phúc hậu

Đó còn là khả năng xây dựng những mẫu hình tượng cô gái trẻ luôn sống

cam chịu trước những hà khắc của tục lệ, gia phong Mai trong Nửa chừng xuân, Liên trong Gánh hàng hoa, Loan trong Đoạn tuyệt đều là các cơ gái

mang những nét truyền thống của dân tộc Họ không phải là các cô thôn nữ trong một câu chuyện nào của làng quê mang đậm nét hình ảnh của cô gái quê Họ đã đến với thành thị hoặc sinh ra trong môi trường thành thị như

Loan trong Đoạn tuyệt nhưng không có sự biến chất, tha hóa

1.3.2 Hình tượng người phụ nữ theo mô hình phương Tây hiện đại

Trong quá trình tiếp nhận văn học nước ngoài ở cả hai phương diện nội dung và hình thức, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực và phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc văn học phương Tây Các nhà thơ mới và các nhà văn Tự lực văn đoàn là những người tiên phong đổi mới theo tư tưởng phương Tây trong nhận thức và phản ánh Văn xuôi lãng mạn đã đưa vào văn học Việt Nam những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây

Đó là tư tưởng chống phong kiến, đề cao ý thức cá nhân

Vì vậy mà trong sáng tác của Nhất Linh, với cái nhìn ưu ái chủ quan của mình dành cho phụ nữ cộng với sự tiếp nhận văn hóa phương Tây, nhân vật nữ xuất hiện trong tiểu thuyết của Nhất Linh đa dạng, sinh động; đặc biệt

là những sáng tác sau năm 1932 như: Gánh hàng hoa, Đoạn tuyệt,…thế giới

nội tâm, thế giới tâm hồn của các nhân vật nữ được khai thác một cách tinh tế

Họ không chỉ có một tâm hồn giàu cảm xúc mang đậm chất Á Đông mà còn khá cá tính và sắc sảo theo phong cách phương Tây Những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc đời của họ không chỉ dừng lại là sự bất hòa trong gia đình, giữa mẹ chồng - nàng dâu mà nó trở thành sự đấu tranh xã hội Người phụ nữ

Trang 33

trong tiểu thuyết của Nhất Linh cũng chuyển sang thời kỳ hiện đại Cũng là những nhân vật nữ nhưng xuất hiện thêm những nét mới về hoàn cảnh xuất thân, do đó nhận thức của họ cũng khác, cách phản kháng lại cũng mới hơn, mạnh mẽ và quyết liệt hơn Ở những người phụ nữ này dường như đã có dấu hiệu của sự “nổi loạn” ngay trong ý thức đến hành động để đấu tranh phá vỡ những ràng buộc của đạo đức phong kiến Những mâu thuẫn ở đây không chỉ biểu hiện qua cách miêu tả mà nó còn là sự giằng co về nội tâm, để rồi bứt phá những cái hiện tại phải chịu đựng, vươn đến cuộc sống thực

Những khát vọng tự nhiên, luôn đấu tranh với những cái chật chội của lối sống hiện tại, một lối sống cản trở mọi sở thích và sự tự do của cá nhân

Đó là lý do mà những nhân vật, trong đó có phụ nữ thường có những hành động và hành động nhiều khi không cần mục đích, không có định hướng, chỉ biết hành động để tìm cảm giác bất ngờ Hay nói cách khác đó là những người thích phiêu lãng, xê dịch theo triết lý “hành động để hành động” của André

Gide Tuyết trong Đời mưa gió từ một cô gái thông minh, khôn khéo, đã từng

theo học ba năm tại trường nữ cao đẳng tiểu học Đến năm 17 tuổi, Tuyết phải nghỉ học để thực hiện cuộc hôn nhân theo sự xếp đặt của gia đình và rồi cuộc sống gia đình không phải do mình lựa chọn, cuối cùng cũng được Tuyết đánh đổi bằng “đời mưa gió” với chuỗi những ngày tháng vui sướng, dằn vặt, đau đớn, hối hận,…

Cách viết dòng ý thức, phân tâm học Freud thể hiện không ít trong tác phẩm, trong cách xây dựng nhân vật Đặc biệt là nhân vật nữ Nhà văn đã xây dựng nên những nhân vật nữ và đi vào khai thác thế giới ham muốn đầy bí ẩn trong tiềm thức và vô thức trong tận nơi mờ tối nhất của tâm hồn con người

và biểu hiện nó bằng ngôn từ nghệ thuật Đó là Nhung trong tác phẩm Lạnh lùng với những khát khao thầm kín về hạnh phúc gia đình, đôi lứa Ý thức về

nhu cầu bản năng là biểu hiện của ý thức cá nhân Phân tâm học cho biết có

Trang 34

một vô thức cá nhân sâu xa bao gồm tất cả những thúc đẩy của bản năng, mà những cưỡng chế xã hội và văn hóa đã chôn vùi nhưng không hủy diệt được

Nhung trong Lạnh lùng có một cuộc sống nửa vời, nửa đoạn, dang dở, thiếu

thốn, thể hiện một sự bất mãn dai dẳng, sâu sắc trong cuộc sống tình ái Thực

tế như vậy, nhưng đạo đức xã hội thì cấm đoán, kiêng khem nên Nhung như muốn chống đối, xé toạt mọi thứ

Tiểu thuyết của Nhất Linh đã thể hiện một quan niệm mới, một cách cảm nhận mới về con người Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của nhà văn không còn những ước lệ, công thức Tác giả đã ý thức rất rõ nhiệm vụ của nhà tiểu

thuyết “là chỉ tả ra những cảnh ngộ, những hình trạng, những tính tình của một xã hội, của một thời đại mà thôi” Nhà văn tập trung khám phá, mô tả,

khẳng định mẫu hình nhân vật mới Mặt khác, cũng chính vì có những quan niệm, những cảm nhận mới về con người mà Nhất Linh đã xây dựng mẫu hình con người có khát vọng về quyền sống cá nhân, nếp sống Âu hoá Trước hết, đó là hình tượng những nam thanh nữ tú trí thức, những người có quan niệm hôn nhân mới, những tình cảm và lối sống mới

Không ít cuốn truyện của Nhất Linh đã thể hiện thái độ thi vị con người

cá nhân, cá thể, nếp sống Âu hoá Nhưng cũng chính nhà văn trong tiểu thuyết của mình lại biểu thị nỗi băn khoăn, bế tắc trên hành trình tìm tòi mẫu hình

con người lý tưởng của thời đại mình Trong tiểu thuyết Bướm trắng, Đời mưa gió, tác giả miêu tả những con người không bị ràng buộc bởi lễ giáo

phong kiến và đại gia đình, được hoàn toàn tự do trong suy nghĩ, hành động,

và lựa chọn cuộc sống của mình nhưng cũng không có hạnh phúc

Sự xuất hiện của Nhất Linh trên văn đàn văn học Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ trước thực sự đã tạo ra một luồng gió mới cho nền văn học nước nhà Chính những biến đổi vể mặt xã hội, thẩm mỹ cộng với quan điểm

cá nhân mới mẻ của Nhất Linh đã giúp ông có một cái nhìn mới hơn, phóng

Trang 35

khoáng hơn về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, xã hội Trên nền tảng của văn hóa phương Đông trọng tình cộng với nền văn hóa phương Tây tiến

bộ, thông thoáng, Nhất Linh đã xây dựng được những mẫu người phụ nữ Việt Nam tân thời, hiện đại, bắt kịp với dòng chảy của xã hội nhưng không kém phần đôn hậu, thủy chung và son sắc

Trang 36

CHƯƠNG 2: PHẨM TÍNH CÁ NHÂN VÀ QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TÂN THỜI TRONG TIỂU THUYẾT

NHẤT LINH 2.1 Người phụ nữ tân thời - vẻ đẹp tâm hồn và tính cách

2.1.1 Xinh đẹp, có học thức

Cái đẹp là nhu cầu rất quan trọng Nó là nhu cầu có tính bản chất của con người Dù ở đâu, làm gì, khi nào, con người luôn có xu hướng vươn lên cái đẹp Người xưa có câu: “Đói cho sạch, rách cho thơm” Lời dạy đó không phải chỉ là nói về đạo lý mà còn có ý nghĩa mỹ học sâu sắc Trong bản chất sâu xa của nó, nhu cầu về cái đẹp là nhu cầu về cái gì lý tưởng, sự hoàn thiện Thoả mãn nhu cầu đó là thoả mãn khao khát của con người về sự hài hoà, về những giá trị chân, thiện cao quý nhất Do đó, đòi hỏi về cái đẹp là nhu cầu rất cao ở con người, nó nói lên sự tiến hoá và phong phú của con người trong hoạt động thực tiễn, nó gắn liền với quá trình phát triển thể chất và tinh thần của con người Cái đẹp với dân tộc ta là cái đẹp không xa rời cuộc sống, một cái đẹp chân thật, bình dị, không tô vẽ Cái đẹp ấy có mặt khắp mọi nơi

Văn học chỉ là một phương tiện phản ánh cái đẹp và quan niệm về cái đẹp của con người Và quan niệm thẩm mỹ về cái đẹp của người phụ nữ trong các sáng tác văn học là một trong những bình diện thể hiện nhu cầu thẩm mỹ của người Việt ta Từ thưở xa xưa, trong văn học dân gian, từ những chuẩn mực thẩm mỹ còn đơn giản buổi ban đầu được hình dung: “Đẹp như tiên”,

“Xấu như ma”, “Hiền như Bụt”, “Dữ như quỷ”,…người Việt đã bước đầu phản ánh được nhu cầu thẩm mỹ của mình, đó là những ước vọng giản đơn của họ trước sự sống này Vì là những chuẩn mực thẩm mỹ, buổi ban đầu nên

nó chưa thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng diện mạo của cái đẹp Theo thời gian, diện mạo cái đẹp được hình dung rõ ràng hơn Nói đến cái đẹp thì đã bao hàm ý nghĩa về sự hài hoà, cân đối và dường như còn có cả sự hoàn thiện

Trang 37

trong đó nữa Vì vậy, không có gì phải bàn cãi khi người Việt hình dung về sự

toàn diện, toàn mỹ từ trong ra ngoài của người thiếu nữ đẹp:

Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen [26, tr.488]

Hay:

Những người con mắt lá răm Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền [27, tr.1675]

Trong mỗi người Việt chúng ta, dường như ai cũng biết: Ca dao, dân

ca, tục ngữ, vè,…là khúc hát tâm tình của người dân quê Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru êm đềm của bà, của mẹ Nó rực rỡ, thơm ngát như bông sen trong đầm, gần gũi, quen thuộc như luỹ tre bao bọc xóm làng, như cánh cò bay lả trên ruộng đồng Trong thế giới đó, lắng sâu hơn cả vẫn là hình ảnh của những người phụ nữ xưa – đau khổ, cay đắng đến cùng cực nhưng cũng đẹp đẽ, cao quý đến vô ngần Có thể nói, ca dao đã làm tròn sứ mệnh của nó trong việc lưu giữ những nỗi lòng của người phụ nữ bình dân xưa và mang đến cho ta cái

nhìn toàn diện về họ Vui sướng hay khổ đau vẻ đẹp hình thể, vẻ đẹp tâm hồn

của người phụ nữ vẫn ngời sáng

Cái đẹp của con người vốn đa dạng, nhiều vẻ Khi đi vào thơ ca dân gian, sự đa dạng ấy càng được thỏa sức vẫy vùng trong sự thể hiện của hàng ngàn, hàng vạn nghệ sĩ vô danh Vì thế, không chỉ có “mắt lá răm”, “mày lá liễu” mới được coi là đẹp, mà “mắt phượng”, “mắt bồ câu”, “mày ngài”, “da trắng”, “cái miệng xinh”, “má lúm đồng tiền”, cả dáng đi, cử chỉ, điệu bộ nhẹ nhàng, yểu điệu, thướt tha vừa thể hiện được vẻ đẹp của nữ tính, vừa gợi ra sự duyên dáng, đáng yêu Các cô gái còn toát ra vẻ đẹp của mình qua lời ăn,

Trang 38

tiếng nói nhẹ nhàng, êm ái, từ tốn, truyền cảm và ấm áp…trong hoạt động giao tiếp tất cả luôn tôn lên vẻ đẹp tự nhiên mà đấng tạo hóa đã ban tặng cho

“phái đẹp”

Cùng trong dòng chảy quan niệm Việt Nam, người phụ nữ đẹp trong văn học Trung đại cũng hiện diện trong một vẻ đẹp toàn diện cả bên trong lẫn bên ngoài Đó là một sự kết hợp hài hoà giữa sắc – tài – tâm, giữa nhan sắc và đức hạnh với “tam tòng, tứ đức” Tuy nhiên, ngay trong cái nền chung trong quan niệm về người phụ nữ đẹp của người Việt đã có một sự “dị biệt” qua từng thời kì văn học Đó là vì quan niệm thẩm mỹ vốn là một phạm trù “phụ thuộc vào chủ thể thẩm mỹ” (Chủ nghĩa Mác – Lênin), cho nên, mỗi một thời đại, tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà có những quan niệm khác nhau

Thời Trung đại, với sự tiếp biến văn hoá đặc biệt là văn hoá Trung Hoa,

tư tưởng của Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo đã chi phối đến quan niệm thẩm mỹ của thời đại Người phụ nữ có đức hạnh theo quan niệm của Nho gia (lễ giáo phong kiến) là người phải hội tụ đủ “tam tòng, tứ đức” (Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử; và công, dung, ngôn hạnh) Và cũng tuỳ theo cái nhìn chủ quan của tác giả mà vẻ đẹp mỗi nhân vật nữ lại được

biểu hiện không giống nhau Đó là nàng Kiều (Truyện Kiều), người được xem

là người đàn bà xinh đẹp nhất trong văn học Việt Nam Nếu đặt Kiều vào trong vòng cương toả của lễ giáo phong kiến thì vẻ đẹp vượt qua những quy

định khắt khe của lễ giáo phong kiến mà Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã ghi

dấu vào lịch sử:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên

Rõ ràng Kiều không phải là người phụ nữ đức hạnh, nhưng không vì

thế mà dân tộc ta phủ nhận vẻ đẹp của Kiều từ ngoại hình đến tài năng, tâm

Trang 39

hồn, tính cách Nguyễn Đình Chiểu thì đưa ra một quan niệm về người phụ nữ

lý tưởng theo quan niệm của lễ giáo phong kiến: “Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” (Lục Vân Tiên) Những người phụ nữ trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm

cũng là những đại diện tiêu biểu cho quan niệm về người phụ nữ đẹp trong

thời đại họ

Hồ Xuân Hương đi vào đến từng chi tiết của vẻ đẹp cơ thể, một bức

nghệ thuật tuyệt vời về thân hình một cô gái trẻ qua bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày với: “Yếm đào trễ xuống dưới nương long/Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/ Một lạch đào nguyên nước chửa thông” hay hình ảnh cô gái đang xoan trong bài thơ Đề tranh tố nữ : “Hỏi bao nhiêu tuổi hỡ cô mình ?/ Chị cũng xinh mà em cũng xinh/Đôi lứa như in tờ giấy trắng/ Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh”

Nhưng với Hồ Xuân Hương, người phụ nữ “nổi loạn” của thi đại, thì bà lại không dừng lại ở việc ca ngợi vẻ ngoài hấp dẫn, đài cát mà bà còn có cái nhìn mới về vẻ đẹp người phụ nữ đứng ở vị trí là người phát ngôn cho vẻ đẹp của giới mình Bà tìm thấy vẻ đẹp thực sự của họ, nêu bật vẻ đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ hơn là một vẻ ngoài lộng lẫy Điều này bà đã khẳng định

rất rõ qua các bài thơ như : Quả mít, Con ốc nhồi, Bánh trôi nước

Dù thân em có là “quả mít”, “phận ốc nhồi” hôi hám lăn lóc ở đám cỏ hôi hay bảy nội ba chìm như chiếc bánh trôi nước thì em vẫn sáng lấp lánh

vẻ đẹp tâm hồn

Cùng với các yếu tố hình thức, phẩm chất đạo đức thì chất trí tuệ cũng

là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên vẻ đẹp hoàn thiện cho người phụ

nữ Vốn không thua kém giới mày râu, nhưng do ảnh hưởng của chế độ xã hội, người phụ nữ xưa ít được học hành Tuy vậy, với tư chất thông minh thiên bẩm, cùng ý thức tự trau dồi, tự học hỏi; người phụ nữ đã tích lũy được

Trang 40

một vốn tri thức khá phong phú trên tất cả các lĩnh vực: từ những hiểu biết về thiên nhiên, đất nước con người Việt Nam, những kinh nghiệm lao động sản xuất, kinh nghiệm sống cho đến những kiến thức về lịch sử, địa lí, văn hóa đã không khỏi khiến người ta ngạc nhiên và khâm phục:

- Anh bứt cỏ ngựa, ngồi đầu cửa ngọ

Kẻ bắn con nây, ngồi cội cây non Chàng mà đối được thiếp trao tròn một quan [28, tr.98]

- Hỏi chàng đọc sách Kinh thi Đàn bà đi lọng chữ chi rứa chàng? [26, tr.1106]

Xưa nay, Truyện Kiều – Nguyễn Du đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá Việt Nam Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển

hình cho những mẫu người trong xã hội cũ, mang những tính cách tiêu biểu

Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải, và đều đi vào thành ngữ Việt Nam Trong đó,

“hai ả tố nga”: Thúy Kiều, Thúy Vân “Một người một vẻ, mười phân vẹn mười” đã khiến giới văn sĩ tốn không ít giấy mực trước vẻ đẹp nghiêng nước,

nghiêng thành của họ và đặc biệt là sự thông minh, tài tình của Kiều khiến cho Kim Trọng hết lòng nể phục Hay đó còn là vẻ đẹp của người cung nữ trong

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, nàng không chỉ có vẻ đẹp khiến

“chim sa, cá lặn” mà cả cầm kỳ thi họa đều là sở trường của nàng

Trong ca dao, dân ca, trong văn học viết Trung đại, người phụ nữ đẹp nết, đẹp người là thế Còn đối với Nhất Linh - con người của thế kỷ mới, thế

kỷ giao thoa giữa Đông và Tây, vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong tiểu thuyết của ông có như xưa không?

Như một sự thống nhất đầy ngụ ý giữa Nhất Linh và các tác giả dân gian, tác giả thơ văn Trung đại, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện trong tác phẩm của ông lúc nào cũng xinh đẹp, nết na Họ không chỉ có vẻ ngoài mềm

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[14] Bằng Giang (1992), Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930
Tác giả: Bằng Giang
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1992
[15] Lê Thị Đức Hạnh (2007), Bàn thêm về mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
[17] Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1989
[18] Lê Thị Đức Hạnh (1991), “Thêm mấy ý kiến về Tự lực văn đoàn”, Tạp chí Văn học, (số 3), tr.76-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm mấy ý kiến về Tự lực văn đoàn”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1991
[19] Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999), Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[20] Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1968
[21] Khái Hưng (2010), Nửa chừng xuân, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa chừng xuân
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[22] Khái Hưng (2010), Thoát ly, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoát ly
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[23] Khái Hưng (2010), Trống mái, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trống mái
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[24] Khái Hưng, Nhất Linh (2010), Gánh hàng hoa, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh hàng hoa
Tác giả: Khái Hưng, Nhất Linh
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[25] Vũ Thị Thu Hương (Tuyển chọn) (2007), Ca dao Việt Nam và những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương (Tuyển chọn)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2007
[26] Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt, tập 1, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1995
[27] Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt, tập 2, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1995
[28] Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt, tập 3, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1995
[29] Nhất Linh (1961), Viết và đọc tiểu thuyết, NXB Đời nay, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết và đọc tiểu thuyết
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: NXB Đời nay
Năm: 1961
[30] Nhất Linh (2010), Lạnh lùng, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạnh lùng
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[31] Nhất Linh (2003), Bướm trắng, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bướm trắng
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
[32] Nhất Linh (2007), Đoạn tuyệt và Đôi bạn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoạn tuyệt và Đôi bạn
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2007
[33] Nhất Linh, Khái Hưng (2009), Đời mưa gió, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời mưa gió
Tác giả: Nhất Linh, Khái Hưng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
[34] Nguyễn Lộc (1976), Văn Học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1976

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w