1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học qua môn địa lý lớp 4, 5

114 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học qua môn địa lý lớp 4, 5
Tác giả Nguyễn Thị Xuân Diệu
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Kim Cúc
Trường học Đại học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn này giúp học sinh nhận biết được một số đặc điểm khái quát về tự nhiên, dân cư, hoạt động của con người ở các miền địa hình, ở các châu lục và một số nước tiêu biểu trên thế giới, gi

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GD TIỂU HỌC - MẦM NON

Trang 2

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã tận tình dạy dỗ, giúp tôi trang bị cho mình hành trang kiến thức vững chắc trong suốt 4 năm học qua

Đặc biệt, em xin gởi đến cô giáo - Thạc Sĩ Trần Thị Kim Cúc lời biết ơn sâu sắc Cô là người đã hết lòng giúp đỡ, dìu dắt và chỉ bảo em tận tình, cũng như chia

sẻ những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình em hoàn thiện luận văn

Bên cạnh đó, để có được thành công ngày hôm nay, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo ở trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Tiểu Học Trần Cao Vân

và Nguyễn Văn Trỗi đã tạo điều kiện, giúp đỡ em rất nhiều để hoàn thành tốt luận văn

Đồng thời tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn luôn cổ vũ sát cánh bên tôi, động viên nhiệt tình, luôn luôn tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa luận

Trong một thời gian ngắn, kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, nên trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài không thể tránh khỏi những khuyết điểm Tôi rất mong muốn nhận được sự động viên, đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và các bạn

để đề tài được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Xuân Diệu

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Khách thể nghiên cứu 4

7 Đối tượng nghiên cứu 4

8 Giả thuyết khoa học 4

9 Phương pháp nghiên cứu 4

10 Cấu trúc khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 6

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1.1 Tổng quan về môi trường 6

1.1.1.1 Khái niệm môi trường 6

1.1.1.2 Thành phần môi trường 7

1.1.1.3 Các chức năng của môi trường 8

1.1.1.4 Tình hình môi trường ở Việt Nam hiện nay 10

1.1.1.5 Những hậu quả gây nên do sự tác động của con người vào môi trường 12

1.1.2 Tình hình và quan điểm chung về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường ở nước ta 13

1.1.2.1 Quan điểm chung về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường ở nước ta 13

1.1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường nước ta 15

1.1.2.3 Tìm hiểu về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học 17 1.1.3 Nội dung của chương trình môn Địa lí lớp 4,5 19

1.1.3.1 Mục tiêu của chương trình môn Địa lí lớp 4,5 19

1.1.3.2 Nội dung của chương trình môn Địa lí lớp 4,5 20

Trang 4

1.1.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 20

1.1.4.1 Đặc điểm các quá trình nhận thức 20

1.1.4.2 Đặc điểm nhân cách học sinh Tiểu học 23

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 25

1.2.1 Vai trò của người giáo viên Tiểu học về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 25

1.2.2 Tìm hiểu thực tế của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học qua môn địa lí lớp 4,5 26

1.2.2.1 Đối tượng điều tra 26

1.2.2.2 Nội dung điều tra 26

1.2.2.3 Phương pháp điều tra 26

1.2.2.4 Kết quả điều tra 27

* Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CÁC BÀI HỌC, CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY ĐỂ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4, 5 45

2.1 CÁC BÀI HỌC CÓ NỘI DUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4,5 45

2.1.1 Các mức độ tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5 45

2.1.1.1 Mức độ toàn phần 45

2.1.1.2 Mức độ bộ phận 45

2.1.1.3 Mức độ liên hệ 46

2.2 HỆ THỐNG CÁC BÀI HỌC CÓ NỘI DUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4,5 46

2.2.1 Lớp 4 46

2.2.2 Lớp 5 50

2.3 CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4,5 52

2.3.1 Dạy học trên lớp 53

2.3.1.1 Dạy học cá nhân 53

2.3.1.2 Dạy học nhóm 54

2.3.1.3 Dạy học theo lớp 54

2.3.2 Dạy học tại hiện trường 54

Trang 5

2.3.3 Tham quan 55

2.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4,5 55

2.4.1 Phương pháp trực quan 56

2.4.2 Phương pháp vấn đáp 56

2.4.3 Phương pháp thảo luận nhóm 57

2.4.4 Phương pháp điều tra 59

2.4.5 Phương pháp kể chuyện 59

2.4.6 Phương pháp thực hành 60

* Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62

3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 62

3.2 CHUẨN BỊ THỰC NGHIỆM 62

3.2.1 Địa điểm thực nghiệm 62

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 62

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 62

3.2.4 Tiến hành thực nghiệm 62

3.2.5 Kết quả thực nghiệm 63

3.2.5.1 Xử lí kết quả thực nghiệm 63

3.2.5.2 Nhận xét kết quả thực nghiệm 65

* Tiểu kết chương 3 65

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

I Kết luận 67

II Kiến Nghị 68

III Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 - Bảng kết quả mức độ liên hệ thực tế về thực trạng môi trườngở địa

phương 27

Bảng 1.2 - Bảng hiệu quả mang lại được qua việc dạy tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5 29

Bảng 1.3 - Bảng biểu thị những thuận lợi trong quá trình tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Địa lí lớp 4,5 30

Bảng 1.4 - Bảng biểu thị những khó khăn trong quá trình tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Địa lí lớp 4,5 31

Bảng 1.5 - Bảng biểu thị các phương pháp dạy giáo viên thường dùng để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường 32

Bảng 1.6 - Bảng biểu thị mức độ sử dụng các hình thức dạy học để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 33

Bảng 1.7 - Bảng thể hiện thái độ, ý kiến của giáo viên đối với các quan điểm 34

Bảng 1.8 - Bảng thể hiện các hình thức giáo viên có tổ chức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ngoài những giờ học trên lớp 35

Bảng 1.9 - Bảng biểu thị mức độ giáo viên tham dự các lớp tập huân về giáo dục bảo vệ môi trường 36

Bảng 1.10 - Bảng kết quả sự yêu thích môn Địa lí của học sinh 37

Bảng 1.11 - Bảng nhận thức của học sinh về vai trò của môi trường đối với cuộc sống con người 38

Bảng 1.12 - Bảng nhận thức của học sinh về môi trường sống xung quanh chúng ta hiện nay 38

Bảng 1.13 - Bảng biểu thị nhận thức của học sinh về trách nhiệm bảo vệ môi trường 39

Bảng 1.14 - Bảng nhận thức của học sinh về các nguyên nhân gây ô nhiễmmôi trường 40

Bảng 1.15 - Bảng kết quả của học sinh về sự mong muốn liên hệ về môi trường ở địa phương và cách bảo vệ môi trường trong môn Địa lí 40

Bảng 1.16 - Bảng thể hiện các hoạt động dã ngoại do nhà trường tổ chức để các em tham gia tìm hiểu về môi trường 41

Bảng 1.17 - Bảng thể hiện mức độ các em tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường do nhà trường tổ chức 41

Bảng 3.1 - Đối tượng thực nghiệm 62

Bảng 3.2 - Bảng kết quả đạt được ở khối lớp 4 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ 63

Bảng 3.4 - Bảng kết quả đạt được ở khối lớp 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi 64

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 - Biểu đồ biểu thị mức độ liên hệ thực tế về thực trạng môi trườngở địa

phương 28 Biểu đồ 1.2 - Biểu đồ biểu thị mức độ sử dụng phương pháp dạy học để giáo dục

bảo vệ môi trường 32 Biểu đồ 1.3 - Biểu đồ biểu thị mức độ giáo viên tham dự các lớp tập huấn về giáo

dục bảo vệ môi trường 36 Biểu đồ 1.4 - Biểu đồ biểu thị nhận thức của học sinh về vai trò của môi trường đối

với cuộc sống con người 38 Biểu đồ 3.1 - Biểu đồ biểu thị kết quả đạt được ở khối lớp 4 trường Tiểu học Huỳnh

Ngọc Huệ 62 Biểu đồ 3.2 - Biểu đồ biểu thị kết quả đạt được ở khối lớp 5 trường Tiểu học

Nguyễn Văn Trỗi 63

Trang 8

giới quan tâm

Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, đang phải gánh chịu những hậu quả

về ô nhiễm môi trường Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP

và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “ Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt những mối nguy cơ

về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ, hiểu biết của họ.” Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường” Ý thức được vấn

đề đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục môi trường vào trường học nhằm tác động đến quá trình nhận thức của học sinh bằng chương trình tích hợp giáo dục môi trường trong các môn học ở Tiểu học cũng như các cấp học khác Giáo dục môi trường cho học sinh các cấp học nói chung và ở Tiểu học nói riêng là việc làm hết sức cần thiết, thường xuyên và liên tục Vì giáo dục môi trường sẽ hình thành và phát triển kĩ năng, hành động trong môi trường cho học sinh, từ đó tạo nên một lối sống có trách nhiệm và thân thiện với thiên nhiên Việc giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học mang một ý nghĩa to lớn, bởi Tiểu học

là bậc học nền tảng, cơ bản cho sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Giáo dục ở bậc Tiểu học không chỉ đặt nền móng cho giáo dục phổ thông mà còn đặt nền

Trang 9

móng cho toàn bộ sự hình thành nhân cách của con người Vì vậy, việc giáo dục môi trường ở tiểu học mang tính quyết định đối với việc hình thành thái độ, hành vi ứng xử, sự nhận thức của các em về bảo vệ môi trường trong cấp học này và các cấp học sau

Giáo dục môi trường được dạy tích hợp qua các môn học ở Tiểu học, trong đó

có môn Địa lí Môn này giúp học sinh nhận biết được một số đặc điểm khái quát về

tự nhiên, dân cư, hoạt động của con người ở các miền địa hình, ở các châu lục và một số nước tiêu biểu trên thế giới, giúp học sinh nhận biết, thích ứng các sự vật gần gũi với môi trường xung quanh các em đang sống để các em dần hình thành kiến thức về môi trường xung quanh của mình, thành phần môi trường, mối quan hệ giữa con người và các thành phần môi trường, xác định được nguyên nhân làm ô nhiễm và biện pháp bảo vệ môi trường để sống hòa hợp, gần gũi và bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh mình

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Giáo dục ý thức bảo vệ môi

trường cho học sinh tiểu học qua môn Địa lí lớp 4,5”

2 Lịch sử vấn đề

Tích hợp nội dung bảo vệ môi trường trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Địa lí ở tiểu học nói riêng là một trong những nội dung được Bộ giáo dục hết sức chú trọng Đã có một số công trình nghiên cứu về tích hợp giáo dục môi trường ở các cấp học trong nhiều môn học khác nhau như Tự nhiên Xã hội, Hóa học, Sinh hoc, Văn học…

Giáo dục môi trường cho học sinh là một đề tài đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau , tiêu biểu như

- Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Văn Đức trong cuốn “ Giáo dục môi trường qua môn Địa Lí ở trường phổ thông”, Nhà xuất bản Hà Nội – 2003 Ba tác giả đã nêu một số nhận thức cơ bản về môi trường, hiện trạng khai thác, sử dụng và việc bảo vệ các nguồn tài nguyên, thiên nhiên và môi trường Đồng thời giáo dục môi trường qua môn Địa lí cho học sinh phổ thông

- Chất thải trong quá trình sản xuất và vấn đề bảo vệ môi trường của tác giả Lê Văn Trình, Phạm Văn Hải, Nguyễn Thắng Lợi, Bùi Hồng Quang đã đưa ra khái niệm cơ bản về chất thải trong sản xuất và ảnh hưởng của nó đến môi trường, các

Trang 10

văn bản pháp lý về kiểm soát chất thải và bảo vệ môi trường Các giải pháp xử lí chất thải

- Phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh của tác giả Trần Thị Thảo đã nêu lên vị trí, ý nghĩa, nhiệm vụ, phương pháp, hình thức giúp trẻ làm quen với môi trường xung quanh

- Sức khỏe môi trường của tác giả Trịnh Thị Thanh – Đại học Quốc gia Hà Nội 2007 đã nhắc đến các hình thức tác động và một số yếu tố ảnh hưởng độc tính đến con người Ảnh hưởng của chất độc và môi trường đến sức khỏe con người Các tác giả đã đưa ra nội dung giáo dục môi trường trong các môn học khác nhau mà chưa đề cập đến giáo dục môi trường trong môn Địa lí ở Tiều học Tuy nhiên, tất cả là những tài liệu quý báu để tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nội dung về giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5 để xác định các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học dùng để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4,5 Trên

cơ sở đó, đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học

- Tìm hiểu nội dung các bài học được dạy tích hợp để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học qua môn Địa lí lớp 4,5

- Đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

- Thiết kế một số kế hoạch bài học giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường

và thực nghiệm sư phạm

5 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung Địa lí lớp 4,5

Trang 11

6 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học thông qua môn Địa lí lớp 4,5

7 Đối tượng nghiên cứu

- Giáo viên và học sinh lớp 4,5 trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Nguyễn Văn Trỗi

- Các bài học được dạy tích hợp để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học qua môn Địa lí lớp 4,5

- Các phương pháp, hình thức tổ chức để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học qua môn Địa lí lớp 4,5

8 Giả thuyết khoa học

- Nếu giáo viên nắm vững nội dung các bài học được dạy tích hợp để giáo

dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học trong môn địa lí lớp 4,5 , đồng thời phải kết hợp với việc sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học thích hợp, cùng với nội dung liên hệ vào bài học được thực tế, gần gũi với các em

thì sẽ giúp các em khắc sâu, ghi nhớ được nội dung bài học trong việc hình thành ý

thức và thói quen bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

9 Phương pháp nghiên cứu:Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng cácphương

pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Đọc và phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để thu thập thông tin, cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát các giờ dạy môn Địa lí lớp 4,5

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

Thống kê, phân tích, xử lí số liệu,đánh giá kết quả của việc thực nghiệm

- Phương pháp điều tra Anket

Dùng hệ thống các câu hỏi để thu thập ý kiến của giáo viên về vấn đề cần nghiên cứu

Trang 12

10 Cấu trúc khóa luận

- Đối tượng nghiên cứu

- Giả thuyết khoa học

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC

Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Tổng quan về môi trường

1.1.1.1 Khái niệm môi trường

Thuật ngữ “ môi trường”đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau Hiểu theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tổng hợp những yếu tố bao quanh một vật thể và có quan hệ nhất định với vật thể đó Như vậy, nói đến môi trường tức là nói tới môi trường của một vật thể, một đối tượng nhất định

Chương trình môi trường của UNEP định nghĩa : “ Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”

Theo UNESCO (1981), môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và những cái vô hình, trong

đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình [1,2]

Định nghĩa về môi trường, viện sĩ địa lí người Nga S.V.Kalesnik đã đưa ra định nghĩa nổi tiếng về môi trường: “ Môi trường là một bộ phận của Trái Đất bao quanh xã hội loài người ở một thời điểm nhất định, bị thay đổi bởi xã hội loài người

ở mức độ này hay mức độ khác Còn xã hội loài người ở một thời điểm nhất định có quan hệ trực tiếp với nó trong đời sống và trong hoạt động sản xuất của mình” ( Các quy luật chung của Trái Đất – NXB KHKT, Hà Nội, 1972)

Với nhà địa lí học Nga Geraximox thì “ môi trường là khung cảnh của cuộc sống, của lao động, và sự nghỉ ngơi giải trí của con người”

Trong cuốn Luật môi trường ban hành tháng 12 năm 1993, điều I, có đưa ra khái niệm về môi trường: “ Môi trường bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên và các

Trang 14

yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” [1]

Theo Từ điển bách khoa Larouse, thì môi trường được mở rộng hơn “ là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật Nói cụ thể hơn, đó là các yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó có thể có sự sống hoặc không có sự sống Các yếu tố chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định luật vật lý, mang tính tổng quát hoặc chi tiết như luật hấp dẫn vũ trụ, năng lượng phát xạ, bảo tồn vật chất…Trong đó hiện tượng hóa học và sinh học là những đặc thù cục bộ Môi trường bao gồm tất cả những nhân tố tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật” [1,3]

Như vậy, cho dù các định nghĩa trên có khác nhau về quy mô, mức độ và giới hạn nhưng có thể hiểu môi trường là một tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và những hoạt động của sinh vật Môi trường là nơi sống của sinh vật, cho phép các sinh vật sinh trưởng và phát triển Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại

và diễn biến trong một môi trường nhất định Đối với con người, môi trường còn chứa đựng nội dung rộng hơn, còn được gọi là “ môi trường sống của con người”

1.1.1.2 Thành phần môi trường

Môi trường sống của con người thường bao gồm các thành phần môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo

a Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại khách quan Chính là khoảng không gian nguyên sinh của bề mặt Trái Đất, trong đó có chứa các thành phần vật chất của tự nhiên tạo cơ sở đầu tiên cho sự sống của con người Môi trường tự nhiên có nhiều thành phần cấu tạo nên như: nham thạch, đất, nước, không khí, nhiệt, ánh sáng, âm thanh, năng lượng, thực vật, động vật, vi khuẩn Các thành phần này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một tổng thể tự nhiên đặc trưng của Trái Đất, nó tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, hoặc ít chịu sự chi phối của con người[1, 6]

Trang 15

b Môi trường nhân tạo

Môi trường nhân tạo bao gồm các yếu tố vật lí, sinh học, xã hội…do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người như thành phố, làng mạc, đường

sá, nhà máy, đồng ruộng, trường học, bệnh viện, công viên…Trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, xã hội ngày càng phát triển thì môi trường nhân tạo càng thay đổi nhanh chóng để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người [2,6]

c Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế xã hội gồm các mối quan hệ giữa con người với con người,

là các hệ thống tổ chức xã hội và kinh tế cùng các mối quan hệ của chúng như các hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa, xã hội, giáo dục…

Như vậy ba thành phần môi trường này cũng tồn tại, xen lẫn vào nhau và tương tác chặt chẽ với nhau Các thành phần môi trường luôn chuyển hóa và diễn ra theo chu kì Thông thường là ở dạng cân bằng động Sự cân bằng này đảm bảo cho

sự sống trên trái đất phát triển ổn định Các chu trình tuần hoàn phổ biến thường gặp là chu trình tuần hoàn cacbon, nitơ, lưu huỳnh, photpho…gọi chung là chu trình sinh-địa-hóa học

Sinh vật và môi trường xung quanh luôn có quan hệ tương hỗ với nhau về vật chất và năng lượng thông qua các thành phần môi trường như khí quyển, thủy quyển, địa quyển, sinh quyển cùng các hoạt động của hệ mặt trời

Con người vừa là một thực thể sinh học, vừa là một thực thể văn hóa – môi trường sống của con người – còn gọi là môi trường nhân văn, là tổng hợp các điều kiện vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa bao quanh và có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của từng cá nhân và của các cộng đồng người [11,2]

1.1.1.3 Các chức năng của môi trường

Đối với sự sống nói chung và với con người nói riêng thì môi trường sống có các chức năng cơ bản sau:

a Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định

để phục vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất, đường xá…

Trang 16

Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình độ kĩ thuật và công nghệ sản xuất Con người có thể gia tăng không gian sống của mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian như cải tạo các vùng đất mới, khai hoang…Việc khai thác quá mức không gian và các tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống trên Trái đất không thể phục hồi.[1,2]

b Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên

Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ nhu cầu và sự phát triển của xã hội loài người

Môi trường là nơi cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu, năng lượng, thông tin (kể cả thông tin di truyền) cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất và quản lí của con người

Việc khai thác nguồn tài nguyên của con người đang có xu hướng làm cho tài nguyên không tái tạo bị cạn kiệt, tài nguyên tái tạo không được phục hồi Dẫn đến môi trường bị cạn kiệt, suy thoái và ô nhiễm [2, 6]

c Môi trường là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người

Môi trường là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, sự tiến hóa của sinh vật, sự xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người

Môi trường là nơi cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính tín hiệu, báo động sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật trên Trái đất : bão, động đất, núi lửa, sóng thần…

Môi trường là nơi lưu giữ, cung cấp cho con người sự đa dạng về các nguồn gen, các loài sinh vật, các hệ sinh thái tự nhiên, các cảnh quan thiên nhiên, giá trị văn hóa, tôn giáo…[1,2]

d Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra

Trong quá trình sống, sản xuất, tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn đào thải các chất thải vào môi trường Các chất thải dưới tác dụng của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường sẽ bị phân hủy, biến đổi, nó tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hóa phức tạp

Trang 17

Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, làm cho lượng chất thải tăng lên không ngừng Ở nhiều nơi, nhiều chỗ lượng chất thải trở nên quá tải đối với môi trường

Môi trường có khả năng biến đổi, phân hủy các chất thải:

+ Biến đổi lí - hóa học: pha loãng hoặc phân hủy hóa học nhờ ánh sáng , nhờ hấp thụ, nhờ tách, chiết…

+ Biến đổi sinh hóa : sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình ni tơ và các bon, khử độc bằng sinh hóa…

+ Biến đổi sinh học: khoáng hóa các chất hữu cơ, mùn hóa, amôn hóa… [2]

1.1.1.4 Tình hình môi trường ở Việt Nam hiện nay

Nước ta là nước giàu về tài nguyên thiên nhiên, đất đai phì nhiêu, khí hậu nóng

ẩm tạo điều kiện cho cây trồng và vật nuôi sinh trưởng, phát triển quanh năm, khoáng sản phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta đã gây ra không ít những hậu quả xấu đến tự nhiên và môi trường Con người đã tác động mạnh mẽ đến các tài nguyên đất, rừng, biển, khoáng sản…làm cho môi trường biến đổi sâu sắc Trong các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về môi trường và phát triển tại Hà Nội tháng 12-1990 đã nêu ra những biểu hiện cụ thể về suy thoái môi trường ở Việt Nam, mà thể hiện rõ nhất ở các mặt

sau:

- Tài nguyên rừng: Năm 1943 rừng vẫn còn 14,352 triệu ha (chiếm ½ diện

tích lãnh thổ) Nhưng đến năm 1984 rừng chỉ còn lại là 7,8 triệu ha ( chiếm 23,6% diện tích lãnh thổ cả nước), ở những năm 90 con số trên còn giảm sút rất nhiều, cứ

tốc độ như trên thì chỉ 40 năm sau nước ta sẽ không còn rừng [2, 14]

- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất nước ta là 33 triệu ha, chia bình quân

đầu người diện tích này chỉ được 0,51 ha/ người (năm 1990) và 0,44ha/ người (năm 2000) Trong 33 triệu ha đất của nước ta thì đất sử dụng vào nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 7 triệu ha ( 20,84%) Diện tích đất canh tác đã quá ít, thì quá trình canh tác lại chưa hợp lí nên đất bị thoái hóa, bạc màu nhiều, dân số ở các vùng nông thôn

tăng nhanh nên diện tích canh tác tính trên đầu người lại càng giảm đi

Trang 18

Diện tích đồi núi chiếm khoảng 22 triệu ha (67% diện tích cả nước), đất đồi núi thì dốc, địa hình phức tạp nguy hiểm trở nên sử dụng khó khăn Nạn dốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản bừa bãi cũng làm cho diện tích đồi trọc và đất trống tăng

nhanh [3, 11]

- Tài nguyên khoáng sản: Nước ta có khoảng 3500 mỏ quặng và trên 80 loại khoáng sản, trong đó có nhiều loại quý và quan trọng như: than, dầu mỏ, khí đốt, sắt, thiếc, đồng, vàng, bô – xít, apatit…Nhưng do trình độ khoa học còn thấp, lại thiếu sót trong quá trình thăm dò, thiết kế mỏ và quá trình khai thác, chế biến mà làm tổn thất, lãng phí nặng nề bằng 2 – 3 lần chỉ tiêu cho phép Tình trạng chỉ khai thác các quặng giàu hoặc chỉ lựa chọn quặng cần thiết, bỏ loại quặng nghèo, không tổng hợp lợi dụng toàn bộ quặng đã khai thác xảy ra ở khắp nơi trong các khu mỏ gây lãng phí 1/3 lượng tài nguyên tiềm tàng Có những nơi để đáp ứng được nhu cầu trước mắt đã sử dụng những quặng quý dùng vào những việc bình thường như: lấy đá dùng làm vật liệu ốp lát, trang trí, làm đá rải đường… các bãi thải bừa bãi, bố trí tùy tiện vừa làm ô nhiễm môi trường vừa làm biến đổi cảnh quan tự nhiên [1,

13]

- Tài nguyên sinh vật: Cho đến nay nước ta đã thống kê hơn 7000 loài thực vật bậc cao có mạch, nhưng theo dự đoán của các nhà khoa học thực vật thì nước ta

có tới 12000 loài Nhân dân ta cũng đã biết được nhiều loài thực vật có ích, ít nhất

là 2300 loài đã được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, dược phẩm, lấy gỗ, lấy dầu…Hệ thống động vật nước ta cũng rất phong phú, chúng ta thống kê được

273 loài thú, 773 loài chim, 1801 loài bò sát, 80 loài ếch nhái… Chủ yếu những loài thực, động vật sống ở rừng Nước ta lại có hệ thống sông, suối, hồ, đầm dày đặc, ở đây lại chứa một lượng cá và các sản phẩm nước ngọt rất lớn khoảng 20000 đến

30000 tấn/năm Đặc biệt sinh vật biển ở nước ta rất đa dạng, có nhiều loài đặc sản quý giá Biển nước ta có khoảng 2000 loài cá, 70 loài tôm, 650 loài rong tảo biển và nhiều loài đặc sản quý khác Thế nhưng việc sử dụng và khai thác chưa được là bao,

và cũng chưa hợp lí, phương tiện khai thác thô sơ, không đúng quy cách nên đã làm

cho nhiều loài bị mất đi, hoặc phải di cư làm tổn hại lớn tài nguyên sinh vật [1]

- Môi trường sống: Ở nước ta, nguồn gây ô nhiễm chủ yếu là các quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất công nghiệp Công nghiệp nước ta đang ở thời kì đầu chưa

Trang 19

phát triển mạnh, nhưng do kĩ thuật còn lạc hậu, các thết bị còn cũ kĩ, chắp vá nên vấn đề rác thaair là nguy cơ gây ô nhiễm hàng đầu Các loại khí độc, bụi, các loại nước thải độc…gây ô nhiễm cho bản thân người lao động và các khu dân cư lân cận Bên cạnh công nghiệp là các hệ thống phương tiện giao thông Ở các thành phố lớn lưu lượng ô tô lên tới 6000 – 8000 ô tô và 40000 – 50000 xe gắn máy/ ngày Trong nông nghiệp, người ta sử dụng một cách thiếu khoa học cấc loại thuốc trừ sâu

và số lượng sử dụng ngày càng tăng nhanh, năm 1959 khoảng 100 tấn/ năm, năm

1978 là 22000 tấn/ năm Hiện nay khoảng 50% diện tích đất canh tác được phu các loại thuốc trừ sâu Nhiều vùng thâm canh rau nồng độ phun thuốc cao hơn nồng độ cho phép 2 - 3 lần, có khi gấp 10 lần Tình hình trên đã gây ô nhiễm môi trường nặng, đặc biệt là môi trường sinh thái đồng ruộng, nước ngầm bị nhiễm độc…không những thế còn gây nhiễm độc cho con người, hàng năm có tới hàng nghìn người bị

nhiễm độc, ngộ độc và có hàng trăm người chết [3]

1.1.1.5 Những hậu quả gây nên do sự tác động của con người vào môi trường

Từ khi con người xuất hiện đã có những tác động đến môi trường tự nhiên,

đặc biệt là trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua các hoạt động sản xuất xã hội đã làm cho môi trường biến đổi nhanh chóng và sâu sắc Chính những biến đổi ấy đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng về môi trường Những hậu quả gây nên do sự tác động của con người vào môi trường được thể hiện

cụ thể qua:

- Hoạt động nông nghiệp: thực trạng môi trường nông thôn cho thấy vấn đề môi trường bức xúc nhất trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay là suy thoái các loại tài nguyên ( rừng, đất, nước và đa dạng sinh học), ô nhiễm môi trường do chất thải (chủ yếu là chất thải rắn), sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, nước sạch và vệ sinh môi trường

Sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian dài đã sử dụng quá nhiều phân hóa học cho độ phì đất suy giảm, một khối lượng lớn về đạm, lân đã bị rửa trôi, nước bị ô nhiễm hữu cơ, hàm lượng nitrat, nitrit tăng mạnh đã làm cho môi trường nước, đất giảm chất lượng và ngày càng xấu đi Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật quá mức dẫn đến dư lượng thuốc trong đất và nước ngày càng nhiều đã nhiễm

Trang 20

độc trở lại nông phẩm, thực phẩm, gây tác hại cho môi trường sống và sức khỏe của con người [3]

- Hoạt động công nghiệp: là hoạt động tác động mạnh nhất đến môi trường và gây nhiều hậu quả xấu nhất đối với môi trường Cụ thể là việc khai thác mỏ là phá hủy môi trường tự nhiên, gây nên sự sụt lún, làm thay đổi mạng lưới thủy văn, thay đổi hệ sinh thái…

Mặc khác các nhà máy điện nguyên tử là nguồn thải các chất phóng xạ độc hại nhất vào môi trường Các chất thải công nghiệp cùng với nhiều khí nhà kính khác đã làm Trái Đất nóng lên, hủy hoại tầng ôzôn, nguy cơ tan băng ở hai cực làm cho nước đại dương dâng lên, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con người [1,3]

- Hoạt động giao thông vận tải: Giao thông vận tải phát triển nhanh chóng ở tất cả các loại phương tiện, nó tiêu thụ khoảng 30% năng lượng toàn cầu và đồng thời cũng thải ra một khối lớn các khí thải như Co2, NO2… cùng với tiếng ồn và bụi cũng gây ô nhiễm môi trường nặng nề [3, 10]

1.1.2 Tình hình và quan điểm chung về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường ở nước ta

1.1.2.1 Quan điểm chung về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường

ở nước ta

Trong mấy chục năm gần đây, nhất là sau các hội nghị quốc tế về môi trường trên thế giới, đặc biệt là hội nghị về giáo dục bảo vệ môi trường tổ chức ở Bêôgrát ( Nam Tư) vào tháng 10 năm 1975 thì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều thấy rõ tầm quan trọng và vị trí của giáo dục môi trường trong nhà trường, từ đó mỗi nước đã xây dựng cho mình một chiến lược giáo dục môi trường phù hợp với đối tượng và thực tế của quốc gia

Ở nước ta vấn đề giáo dục môi trường trong nhà trường được chính thức bắt đầu vào những năm 1980, với những nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục kết hợp với các trường Đại học trong cả nước, đã đưa ra được một số định hướng cho các trường sư phạm trong việc giáo dục môi trường cho sinh viên của một số khoa như: Địa lí, Sinh học, Hóa học, Vật lí… và một số nội dung cơ bản trong việc giáo dục môi trường ở các trường phổ thông, thông qua các môn học có nhiều thuận lợi

Trang 21

như: Tìm hiểu tự nhiên – xã hội, Đạo đức, Giáo dục sức khỏe (Tiểu học), Địa lí, Sinh học…[2]

Năm 1986, tài liệu đầu tiên về giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông được biên soạn, dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên các trường phổ thông dưới góc độ định hướng và cung cấp một số kiến thức cơ bản về giáo dục môi trường

Gần đây nhất từ năm 1997 đến nay, Bộ Giáo dục – Đào tạo và chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc – UNDP đã tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề giáo dục môi trường ( Dự án VIE 95/041), từ việc xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp giáo dục môi trường Đặc biệt đã biên tập được tài liệu hướng dẫn giáo dục môi trường cho những người đào tạo giáo viên Chương trình nghiên cứu đã đưa ra được quan điểm mới về giáo dục môi trường ở nước ta là:

- Giáo dục môi trường có ý nghĩa sống còn đối với tương lai của đất nước, đặc biệt là nguyên tắc giáo dục “ vì môi trường” phải trở thành đạo lí của thời đại

- Giáo dục môi trường là quá trình giáo dục, không phải là một môn học nên

nó được tiến hành ở tất cả các môn học, cấp học, bậc học và là một quá trình giáo dục suốt đời

- Giáo dục môi trường được hòa nhập vào chương trình học chung, bởi tất cả các môn học đều cho ta hiểu được cách thức con người nhận thức về thế giới và sử dụng thế giới của mình vì thế chỉ định hướng lại chương trình hiện có ở các môn học chứ không đòi hỏi thêm thời gian trong chương trinh

- Giáo dục môi trường là một quá trình giáo dục được tổ chức bằng các hoạt động thực tiễn Quan điểm mới này cho thấy, nhà nước Việt Nam đã coi giáo dục môi trường là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục đào tạo và là sự nghiệp của toàn dân, giáo dục môi trường được thực hiện trong nhà trường, trong gia đình

và ngoài xã hội Trong nhà trường giáo dục môi trường được thông qua tất cả các môn học, cấp học, bậc học Mỗi môn học có thể có cơ hội và mức độ riêng, nhưng đều phải có trách nhiệm giáo dục môi trường [7,8]

Đó chính là những cơ sở pháp lí rất quan trọng và những định hướng chung nhất để các bộ môn học trong nhà trường xác định nội dung và phương pháp giáo

Trang 22

dục môi trường phù hợp với đặc trưng và cơ hội của từng bộ môn riêng, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục môi trường, người thực hiện trách nhiệm này chính là các giáo viên bộ môn Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục môi trường trong thời gian qua chưa liên tục, chưa đều, chưa đồng bộ, chưa gắn với thực tế và chưa trở thành pháp lệnh nên hiệu quả chưa cao Cần phải có một bước chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong việc tiến hành giáo dục môi trường thì mới đạt được hiệu quả mong muốn

1.1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường nước ta

a Mục tiêu của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường nước ta

Nhà nước ta coi giáo dục môi trường trong trường học là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp của toàn dân Với tư tưởng chiến lược đó, giáo dục môi trường được đưa ra vào nhà trường chính thức từ năm 1980 Giáo dục môi trường không phải là một môn học mà là một quá trình nên nó có thể được thực hiện thông qua bất kì môn học nào một cách tự nhiên và ở bất kì một cấp học nào: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học… Giáo dục môi trường trong nhà trường phải làm cho học sinh đạt được các mục tiêu sau:

+ Có ý thức thường xuyên và luôn nhạy cảm đối với mọi khía cạnh của môi trường và những vấn đề liên quan đến môi trường

+ Thu nhận được những thông tin, những kiến thức cơ bản về môi trường và

sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hoạt động của con người và môi trường, về quan hệ giữa con người và môi trường

+ Phát triển những kĩ năng bảo vệ và giữ gìn môi trường, kĩ năng dự đoán, phòng tránh và giải quyết những vấn đề môi trường nảy sinh

+ Tham gia tích cực vào những hoạt động khôi phục, giữ gìn và bảo vệ môi trường

+ Có ý thức về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với sức khỏe con người, với chất lượng cuộc sống, phát triển thái độ tích cực đối với môi trường [8, 6]

Trang 23

- Phải hướng việc giáo dục Bảo vệ môi trường tới việc cung cấp cho học sinh những kiến thức về môi trường và kĩ năng bảo vệ môi trường phù hợp với tâm, sinh

lý từng lứa tuổi

- Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải chú trọng các vấn đề thực hành, trên cơ sở đủ hình thành các kĩ năng, phương pháp, hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động bảo vệ môi trường của địa phương, của đất nước phù hợp với lứa tuổi Đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải liên quan trực tiếp đến môi trường của địa bàn nhà trường -Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường nhằm tạo điều kiện cho người học chủ động tham gia vào quá trình học tập tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn

đề môi trường và tìm ra hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên

-Tận dụng các cơ hội để giáo dục bảo vệ môi trường nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản của môn học, tính logic của nội dung và không làm quá tải kiến thức và tăng thời gian của bài học

-Giáo dục môi trường được thực hiện về môi trường, trong môi trường và vì môi trường, trong đó hiệu quả cao nhất sẽ đạt được khi tạo ra được thái độ và tình cảm vì môi trường

- Làm cho người học và người dạy nhận thấy giá trị của môi trường đối với chất lượng cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân Làm cho mọi người hiểu rằng trong những quyền cơ bản của con người, bất kể chủng tộc, màu da hay tín ngưỡng nào đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có nước sạch để dùng và không khí trong lành để thở.[2]

Trang 24

1.1.2.3 Tìm hiểu về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

a Khái niệm giáo dục

Khái niệm giáo dục được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng: “Giáo dục bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sư phạm khác diễn ra trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường cũng như trong gia đình và ngoài xã hội” Còn theo nghĩa hẹp: “ Giáo dục được hiểu như là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo đức, tư tưởng và hành vi… nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động

cơ, tình cảm, thái độ và những thói quen hành vi cư xử đúng đắn trong xã hội

b.Khái niệm giáo dục môi trường

Giáo dục bảo vệ môi trường là một trong các con đường có tác dụng tích cực

và hiệu quả đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và đảm bảo chiến lược cho cuộc sống bền vững

Giáo dục bảo vệ môi trường là quá trình hình thành và phát triển ở người học

sự hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái

Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và sự nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó, những khái niệm

cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường, những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường, những kĩ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia, tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và có những hành động thích hợp giải quyêt vấn đề

c.Vai trò và ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

Bậc Tiểu học là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân Số lượng học sinh ở bậc học này rất lớn Theo thống kê năm 2008, ở nước ta có 7 triệu học sinh tiểu học Đây là một lực lượng hùng hậu, những chủ nhân tương lai của đất nước

Các em đều là những học sinh ở lứa tuổi nhỏ từ 6 đến 11 tuổi, là lứa tuổi đang phát triển và định hình về nhân cách, các em coi trọng và dễ nghe lời người lớn, nhất là thầy cô giáo Việc chuẩn bị cho các em những hiểu biết về môi trường,

Trang 25

để các em có ý thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường là điều vô cùng quan trọng đối với tương lai của đất nước

Học sinh tiểu học có đặc điểm tâm sinh lí rõ nét nhất đó là hiếu động, nghịch ngợm, dễ hưng phấn và dễ xúc cảm Giáo viên rất dễ dàng giáo dục tình cảm yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây, chim thú, biết nâng niu, chăm sóc, nhưng nếu không giáo dục kịp thời, đúng lúc các em cũng rất dễ có những hành động phá hoại môi trường một cách vô ý thức, hoặc có ý thức như leo cây, bẻ cành, bắt chim…

Bậc tiểu học còn là bậc học phổ cập, đây là cơ hội rất tốt để có thể giáo dục ý thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường cho đông đảo nhân dân, điều này có ý

nghĩa chiến lược to lớn trong phát triển bền vững quốc gia

d.Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

Mục đích cuối cùng của việc giáo dục môi trường trong nhà trường nói chung và trong trường Tiểu học nói riêng là: mỗi trẻ em được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của Trái Đất, một khả năng biết đánh giá

vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách sâu sắc bởi một nền tảng đạo lí vì môi trường Mục tiêu cụ thể giáo dục môi trường ở bậc tiểu học:

* Về kiến thức: Giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc tiểu học nhằm giúp học sinh

có một số kiến thức cơ bản, thiết thực về:

+ Các thành phần môi trường tự nhiên: đất, nước, không khí, ánh sáng , động, thực vật và mối quan hệ giữa chúng

+Mối quan hệ giữa con người và các thành phần của môi trường tự nhiên +Sự ô nhiễm, suy thoái môi trường tự nhiên và hậu quả đối với con người +Biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh như môi trường nhà ở, lớp học, trường học, thôn xóm, bản làng…

*Về thái độ: Từng bước phát triển những tình cảm và thái độ:

+ Tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên, yêu quý gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước

+ Thái độ thân thiện với môi trường

+ Có ý thức quan tâm đến các vấn đề môi trường xung quanh, giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường xung quanh

*Về kĩ năng: Bước đầu hình thành và rèn luyện các kĩ năng, hành vi:

Trang 26

+ Phát triển các kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh

+ Kĩ năng chăm sóc cây cối và động vật

+ Kĩ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường

+ Hành vi sống ngăn nắp, sạch sẽ Sống hòa nhã, gần gũi với thiên nhiên

+ Tham gia các hoạt động trồng, chăm sóc cây xanh, các loài vật, làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp

+ Biết sống tiết kiệm, chia sẻ và hợp tác

Trẻ em cần được rèn luyện để có kiến thức và giá trị cho phép các em sống một cách bền vững Điều này đòi hỏi giáo dục môi trường phải gắn liền với giáo dục xã hội: Giáo dục môi trường giúp cho trẻ em hiểu được thế giới tự nhiên xung quanh và con người cần phải sống hòa hợp với thế giới đó Giáo dục xã hội đem lại hiểu biết về cách ứng xử của con người và sự tôn trọng đối với tính đa dạng của văn hóa [6]

1.1.3 Nội dung của chương trình môn Địa lí lớp 4,5

1.1.3.1 Mục tiêu của chương trình môn Địa lí lớp 4,5

Trong chương trình môn Địa lí lớp 4 tập trung kiến thức về thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở ba địa hình đặc trưng ở Việt Nam, cụ thể đó là thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền núi và trung du; thiên nhiên

và hoạt động sản xuất của con người ở miền đồng bằng; vùng biển Việt Nam Qua Địa lí lớp 4, học sinh nắm bắt được đặc điểm, nét đặc trưng và hoạt động sản xuất riêng biệt của từng loại địa hình, biết được một số thông tin, đặc điểm của các thành phố lớn cũng như các núi, một số dân tộc ở Việt Nam Còn trong Địa lí lớp 5 gồm các nội dung liên quan đến địa lí Việt Nam và địa lí thế giới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau cùng hướng đến một mục tiêu chung nhằm giúp học sinh:

a.Về kiến thức

- Học sinh nhận biết được một số đặc điểm khái quát về tự nhiên, dân cư và hoạt động của con người ở các miền địa hình của nước ta, các châu lục và một số nước trên thế giới

- Hiểu biết về môi trường sống gắn bó với các em, môi trường sống của con người trên trái đất

Trang 27

- Nhận biết được những tác động của con người làm biến đổi môi trường, sự cần thiết phải khai thác và bảo vệ môi trường

- Có ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường.[4]

1.1.3.2 Nội dung của chương trình môn Địa lí lớp 4,5

a Nội dung Địa lí lớp 4

Hệ thống bài giảng Địa lí lớp 4 gồm có 32 bài, tất cả đều nói về địa lí Việt Nam Được chia làm 3 phần cụ thể về 3 miền địa hình đặc trưng ở Việt Nam, đó là miền núi và trung du; miền đồng bằng; miền duyên hải Theo phân phối chương trình thì tổng số tiết là 35 trong đó có 28 tiết học bài mới và 7 tiết ôn tập kiểm tra

b Nội dung Địa lí lớp 5

Hệ thống bài giảng địa lí lớp 5 gồm có 29 bài, tăng thời lượng cho địa lí Việt Nam, trong đó có 16 bài địa lí Việt Nam và 13 bài địa lí thế giới Địa lí Việt Nam tiếp tục rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ, biết tìm hiểu phân tích các mối quan hệ địa lí giữa các sự vật, hiện tượng địa lí, giúp học sinh nắm được các vấn đề về địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế của nước Việt Nam Về Địa lí Thế giới giúp học sinh nắm được các vấn đề về địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế của các châu lục, đại dương Theo phân phối chương trình thì tổng số tiết là 35 trong đó có 29 tiết học bài mới và 6 tiết ôn tập kiểm tra

1.1.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học

1.1.4.1 Đặc điểm các quá trình nhận thức

a.Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan,

Trang 28

đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích,

có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó…)

Nắm được điều này, giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác hoạt động tích cực và chính xác [5]

b Chú ý

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học

có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn, có nhiều tranh ảnh, trò chơi… Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ

bị phân tán trong quá trình học tập

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nổ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và

cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định [5]

Vì vậy, giáo viên nên giao cho các em những công việc hay bài tập đòi hỏi

sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ

c Trí nhớ

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa Chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Trang 29

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em [3]

Giáo viên phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản, dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lí hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

d Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và

dễ thay đổi Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng sáng tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ, trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này

bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em [3,5]

Qua đây, giáo viên phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “ khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

e Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng

cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể

- Về khả năng phân tích khái niệm: Nhờ ảnh hưởng của việc học, học sinh Tiểu học dần dần chuyên từ nhận thức các mặt bề ngoài của hiện tượng ( lớp 1,2) đến nhận thức được thuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng tư duy

Trang 30

- Về khả năng khái quát hóa: Học sinh đầu bậc Tiểu học thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan, bề ngoài có liên quan đến chức năng đối tượng Nhờ hoạt động học tập, trình độ nhận thức phát triển, học sinh lớp 3,4 đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, nhìn ra các mối liên hệ giữa các khái niệm trừu tượng

- Hoạt động phức tạp – tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu Tiểu học chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát [5,9]

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Lớp 4,5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

Từ những đặc điểm tư duy của học sinh, trong dạy học giáo viên nên sử dụng phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm phát huy tính tích cực học tập, chủ động của học sinh

1.1.4.2 Đặc điểm nhân cách học sinh Tiểu học

Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi Đây là lứa tuổi các em trở thành một học sinh ở trường tiểu học, chứ không còn là một em bé mẫu giáo

“học mà chơi, chơi mà học” nữa Đó là một chuyển biến rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng của lứa tuổi này Bước chân đến trường, đó là một biến đổi quan trọng trong đời sống của trẻ trong xã hội, trong gia đình, cũng như thay đổi cả nội dung và tính chất hoạt động của chúng Trở thành một học sinh chính thức, trẻ bắt đầu tham gia một hoạt động nghiêm túc, một hoạt động xã hội, với đầy đủ ý nghĩa xã hội trọn vẹn của nó Vì vậy đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học cụ thể là:

a Tính cách

Nét tính cách của học sinh Tiểu học mới hình thành, nên chưa ổn định Hành

vi của trẻ mang tính xung đột cao ( bột phát), các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên trong và bên ngoài Các em rất hồn

Trang 31

nhiên trong mọi quan hệ, hồn nhiên đến cả tin, trẻ thích bắt chước hành vi của người xung quanh và đã có thái độ đối với mọi người xung quanh Người giáo viên nên tận dụng niềm tin này để giáo dục các em, thầy cô giáo phải làm mẫu đúng, lời nói phải đi đôi với việc làm Mặc khác ở các em sự điều chỉnh ý chí với hành vi còn thấp ( do tính hiếu động) [7, 9]

Học sinh Tiểu học ở nước ta sớm có thói quen và thái độ tốt với lao động Lao động đã rèn cho các em những phẩm chất tốt Nhà trường và gia đình cần tổ chức cho học sinh lao động như dọn dẹp môi trường học, bãi biển…để các em được lao động trong tập thể đông vui và có ý nghĩa xã hội

b Nhu cầu nhận thức

Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đã phát triển khá rõ nét, cụ thể là

từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật hiện tượng riêng lẻ ( lớp 1 và lớp 2: ví dụ : Cá sống ở đâu?) đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật và các mối liên

hệ, quan hệ ( lớp 3,4,5 ví dụ: Vì sao nước biển mặn?) Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với việc phát triển kĩ xảo đọc Có khả năng tự đánh giá bản thân mình (hay tự

ti, mặc cảm hay tự tin thái quá) Dần dần hình thành cho mình tính tự chủ [7, 5] Nhu cầu nhận thức là nhu cầu tinh thần có ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì không có tính tích cực trí tuệ Nhu cầu nhận thức khi đã được thỏa mãn với đặc trưng này nó lại ảnh hưởng vào đối tượng mới Đây là tính không ngưng nghỉ của nhu cầu này Quá trình nhận thức không tách khỏi hình tượng thực tiễn của trẻ Vì thế nhu cầu nhận thức được thỏa mãn trong hoạt động Từ đây, giáo viên cần tổ chức tốt hoạt động học của trẻ, làm cho học sinh tin vào khả năng của mình, từ đó các em sẽ khắc phục được khó khăn,

tự chiếm lĩnh tri thức

c Tình cảm

Đối tượng gây xúc cảm cho học sinh tiểu học thường là sự vật hiện tượng cụ thể nên xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với đặc điểm trực quan, hình ảnh cụ thể Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Sự chuyển hoá cảm xúc nhanh Việc hiểu đặc điểm tâm lí học sinh giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu

Trang 32

tâm lí của chúng thì cũng như ta đập búa trên một thanh sắt nguội Chính vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần phải dựa vào những đặc điểm tâm lí đối tượng

để lựa chọn và xây dựng những phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù hợp, có như thế đổi mới phương pháp dạy học mới mang lại hiệu quả như mong muốn [9, 5]

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Vai trò của người giáo viên Tiểu học về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

Để thực hiện được nhiệm vụ giáo dục môi trường, vai trò của người giáo

viên đặc biệt quan trọng Bởi vì, giáo dục môi trường được đưa vào nhà trường với hình thức chủ yếu là lồng ghép thông qua tất cả các môn học, là quá trình giáo dục suốt đời Như vậy nếu người giáo viên nhận thức được điều đó, mới biến nhận thức trở thành trách nhiệm, từ trách nhiệm mới chuyển thành hành động trong mỗi bài dạy, tiết dạy của mình Trong cuốn Hướng dẫn chung về giáo dục môi trường dành cho người đào tạo giáo viên, khi đề cập đến vai trò và nhiệm vụ của người giáo viên

có nêu: “Có thể hình dung người giáo viên như một người nhạc trưởng trong dàn nhạc, mỗi một loại đàn hay kèn, hay sáo đều thổi một nốt nhạc theo cách riêng đặc trưng của mỗi nhạc cụ, song tất cả vẫn đều hòa đồng để tạo ra được một bản nhạc Bản nhạc đó là chuẩn mực, trong đó mỗi nhạc cụ phản ánh nó bằng cách riêng của mình”

Muốn cho hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục môi trường nói riêng mang lại hiệu quả đích thực cho người học, thì người giáo viên nên làm đúng nhiệm vụ: “ thiết kế hoạt động” và hướng dẫn học sinh “ thi công” Người giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và giúp học sinh tìm tòi những tri thức mới bằng cách tạo ra tình huống, hướng dẫn học sinh cách giải quyết vấn đề: cung cấp tài liệu cần thiết, giúp các em nhận thức, lập giả thiết và thử nghiệm các giả thiết để rút ra kết luận…, còn toàn bộ quá trình hoạt động học tập, giáo viên hướng dẫn vào yêu cầu, khả năng, hứng thú học tập của học sinh Vì mục đích chính là nhằm phát triển ở học sinh năng lực tư duy, khả năng độc lập tìm cách khắc phục những khó khăn trong quá trình lĩnh hội những tri thức mới

Trang 33

Đối với học sinh tiểu học, người giáo viên không chỉ giữ vai trò chỉ đạo, hướng dẫn mà giáo viên còn phải là một tấm gương để học sinh noi theo, nói những lời hay như cô giáo, làm những việc tốt như cô giáo Nhiều khi người giáo viên phải trở thành người bạn cùng chơi, cùng làm với các em, tác dụng giáo dục càng cao

1.2.2 Tìm hiểu thực tế của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học qua môn địa lí lớp 4,5

1.2.2.1 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra của trong đề tài này làhọc sinh và giáo viên đang giảng dạy các lớp 4,5 ở trường Tiểu học Để thực hiện đề tài này, tôi tiến hành điều tra tại

2 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

1.2.2.2 Nội dung điều tra

a Đối với giáo viên

- Mức độ sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và liên hệ thực tiễn của các buổi học có nội dung về môi trường

- Hiệu quả của việc dạy tích hợp giáo dục môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5

- Tầm quan trọng và mức độ lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong môn Địa lí lớp 4,5

- Các phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học mà giáo viên thường xuyên sử dụng để tích hợp giáo dục học sinh bảo vệ môi trường

- Nhận thức của giáo viên về những thuân lợi và khó khăn khi dạy các bài học

có nội dun tích hợp về giáo dục môi trường

- Thái độ, ý kiến của giáo viên trước các quan điểm về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong các môn học nói chung và Địa lí nói riêng

b Đối với học sinh

- Vai trò của môi trường đối với cuộc sống

- Nhận thức của học sinh về môi trường sống xung quanh các em

-Ý thức của học sinh về việc bảo vệ môi trường

- Mức độ vận dụng ý thức bảo vệ môi trường vào cuộc sống của học sinh

1.2.2.3 Phương pháp điều tra

Nội dung mà tôi đưa ra trên đây được thể hiện dưới dạng câu hỏi trong phiếu điều tra anket gửi tới tận tay giáo viên Những số liệu thu được qua phiếu điều tra

Trang 34

được tôi xử lí thống kê bằng phương pháp thống kê, trên cơ sở đó khái quát được thực trạng

Bên cạnh đó, nhằm thu được kết quả điều tra khách quan và chính xác tôi còn sử dụng phương pháp quan sát Quan sát thông qua dự giờ ở lớp, tôi tìm hiểu giáo viên sử dụng phương pháp, hình thức dạy học nào để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường qua các bài học và để biết hiệu quả của giờ học Cụ thể như quan sát học sinh có tiếp thu đầy đủ nội dung về bảo vệ môi trường của bài dạy, quan sát hành vi, thái độ của học sinh như dọn dẹp vệ sinh lớp học, vứt rác đúng nơi quy định… Việc thăm dò ý kiến và quan điểm của giáo viên về vấn đề giáo dục ý thức bảo

vệ môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5 bước đầu giúp tôi có thể biết được thực trạng nhận thức và thực tế việc giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Tiểu học, cũng như tìm hiểu ý thức bảo vệ môi trường của học sinh Đó là cơ sở quan trọng giúp tôi

có căn cứ để tiến hành thực nghiệm

1.2.2.4 Kết quả điều tra

a.Đối với giáo viên

Qua các phương pháp điều tra đã sử dụng, tôi đã thu được những kết quả như sau:

Tổng số phiếu phát ra : 52

Tổng số phiếu thu lại : 50

Câu 1: Theo thầy (cô) việc tích hợp ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trong môn Địa lí lớp 4,5 là:

100% giáo viên cho rằng rất quan trọng

Câu 2: Trong quá trình dạy học môn Địa lí, mức độ mà thầy (cô) liên hệ thực tế về thực trạng môi trường ở địa phương và cách bảo vệ môi trường để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh

Bảng 1.1 - Bảng kết quả mức độ liên hệ thực tế về thực trạng môi trường

Trang 35

Biểu đồ1.1 - Biểu đồ biểu thị mức độ liên hệ thực tế về thực trạng môi trường

ở địa phương

Nhận xét

Qua kết quả thăm dò, tôi nhận thấy rằng tất cả các giáo viên đều liên hệ thực

tế về thực trạng môi trường ở địa phương và cách bảo vệ môi trường để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh Trong đó chỉ có 84% (42 phiếu) giáo viên liên

hệ thực tế một cách thường xuyên, còn 16% còn lại (8 phiếu) giáo viên thỉnh thoảng mới liên hệ thực tế Như vậy, tất cả các giáo viên đều hiểu được tác dụng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và liên hệ thực tế về thực trạng môi trường ở địa phương thông qua môn Địa lí Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên chưa tích cực trong việc liên hệ thực tế về thực trạng môi trường ở địa phương và cách bảo vệ môi trường để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinhtrong các môn học nói chung và trong Địa lí lớp 4,5 nói riêng Qua tìm hiểu thì được biết thực trạng này là

do nhiều nguyên nhân khách quan như:

- Không có nhiều thời gian để có thể vừa truyền tải các kiến thức trong chương trình vừa liên hệ thực tế cho học sinh

- Thiếu các phương tiện, đồ dùng dạy học và các tài liệu tham khảo

0%

16%

Trang 36

Câu 3: Theo thầy (cô) hiệu quả mang lại được qua việc dạy tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5 là

Bảng 1.2 - Bảng hiệu quả mang lại được qua việc dạy tích hợp nội dung giáo dục

môi trường trong môn Địa lí lớp 4,5

Lớp học sôi nổi, học sinh thích thú, nắm bắt được nội

dung bài học, cũng như cách bảo vệ môi trường

Học sinh chán nản, không quan tâm và không hứng thú

với những gì giáo viên cung cấp và đề cập

Trang 37

Câu 4: Trong quá trình tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Địa lí lớp 4,5, thầy (cô) gặp những thuận lợi gì?

Bảng 1.3 - Bảng biểu thị những thuận lợi trong quá trình tích hợp nội dung giáo

dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Địa lí lớp 4,5

Thuận lợi Tỉ lệ

Số phiếu

Phần trăm

Học sinh đã có những hiểu biết cơ bản về

bảo vệ môi trường xung quanh

28 56%

Trường thường xuyên tổ chức các hoạt động

ngoại khóa để bảo vệ môi trường

0 0%

Học sinh tích cực tìm hiểu, thu thập tài liệu 0 0%

Nhận xét

Qua điều tra cho thấy, đa số giáo viên đều thấy được những ảnh hưởng tích cực trong quá trình giáo dục môi trường qua môn Địa lí, như học sinh tiếp thu bài học nhanh (24%), học sinh đã có những hiểu biết cơ bản về bảo vệ môi trường xung quanh (56%) và cơ sở dạy học có nhiều thuận lợi (20%) Chính những thuận lợi này nhằm giúp giáo viên có cơ hội lồng ghép giáo dục môi trường vào môn học, để tiết học đạt được hiệu quả tốt đồng thời đáp ứng và mở rộng vốn kiến thức về môi trường ở địa phương cho học sinh

Trang 38

Câu 5: Trong quá trình tích hợp nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Địa lí lớp 4,5, thầy (cô) gặp những khó khăn gì?

Bảng 1.4 - Bảng biểu thị những khó khăn trong quá trình tích hợp nội dung giáo

dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Địa lí lớp 4,5

Khó khăn Tỉ lệ

Số phiếu Phần trăm

Giáo viên chưa có đủ kiến thức về môi trường và bảo vệ

- 34% (17 phiếu) cho rằng thiếu thời gian lên lớp

- 54% (27phiếu) thiếu các phương tiện, đồ dùng dạy học và các tài liệu tham khảo

- 12% (6 phiếu) thì đưa ra các ý kiến khác, cụ thể như không có những khó khăn

gì, không có điều kiện cho các em tham quan tìm hiểu thực tế, giáo viên không có thời gian đầu tư, thu thập tài liệu để làm phong phú tiết dạy

Đó là những lí do khách quan, tuy nhiên còn có những lí do như học sinh không hứng thú khi học môn học này vì các em xem nó là môn phụ Vì vậy giáo viên cần tổ chức nhiều hoạt động sinh động hơn để cuốn hút các em học và làm các em yêu thích môn học

Trang 39

Câu 6: Thầy (cô) thường sử dụng các phương pháp dạy học nào để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường?

Bảng 1.5 - Bảng biểu thị các phương pháp dạy giáo viên thường dùng để giáo

dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường

STT Phương pháp dạy học

Mức độ sử dụng

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Số phiếu

Phần trăm

Số phiếu Phần trăm

Số phiếu Phần trăm

Trang 40

Nhận xét

Qua kết quả điều tra ta có thể thấy giáo viên đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Trong đó, phổ biến nhất là 100% giáo viên đều sử dụng phương pháp trực quan, phương pháp vấn đáp (thường xuyên: 88%, thỉnh thoảng: 12%), phương pháp thảo luận nhóm (thường xuyên: 82%, thình thoảng: 18%) Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, giáo viên đã

sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng vẫn có nhiều phương pháp ít được sử dụng như phương pháp kể chuyện ( thường xuyên: 4%, thình thoảng: 20%, không bao giờ: 76%), phương pháp điều tra (thường xuyên: 6%, thỉnh thoảng: 72%, không bao giờ: 22%) Việc giáo viên ít sử dụng các phương pháp như điều tra bởi học sinh Tiểu học còn quá nhỏ nên việc tiến hành điều tra thực trạng ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian, hiệu quả đạt được không được cao Phương pháp thực hành chỉ được giáo viên sử dụng thỉnh thoảng bởi vì không có điều kiện để cho học sinh được tiếp xúc, được gặp gỡ, tham quan, biết được môi trường, địa hình, địa điểm mà mình đang học để học sinh tiến hành thực hành các hành vi bảo vệ môi trường ở các vùng miền, khu vực mà các em được học Phương pháp kể chuyện cũng ít được giáo viên sử dụng bởi theo tìm hiểu thì do giáo viên không có thời gian đầu tư, thu thập tài liệu, các câu chuyện để liên hệ thực tế môi trường vào môn Địa lí lớp 4,5

Từ đó cho thấy phần lớn giáo viên đều đã sử dụng rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau với những mức độ khác nhau để giúp học sinh tự nhận ra vấn đề về môi trường, tự giải quyết những vấn đề và hình thành kĩ năng bảo vệ môi trường, bồi dưỡng tình cảm tích cực với môi trường

Câu 7: Thầy (cô) thường sử dụng các hình thức dạy học nào để giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường?

Bảng 1.6 - Bảng biểu thị mức độ sử dụng các hình thức dạy học để giáo dục ý

thức bảo vệ môi trường

STT Hình thức dạy học

Mức độ sử dụng Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Số phiếu Phần trăm Số phiếu Phần trăm Số phiếu Phần trăm

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lương Hữu Bằng, Phương pháp dạy học môn Lịch sử - Địa lí, Ban Giáo dục và đào tạo Khác
[2] TS. Đậu Thị Hòa, Giáo dục môi trường, 2004 Khác
[3] Bùi Văn Huệ, Giáo trinh tâm lí học Tiểu học, NXB ĐHSP Hà Nội, 2003 Khác
[4] Bùi Phương Nga, Tự nhiên xã hội, Lịch sử, Địa lí và phương pháp dạy học tự nhiên xã hội, Địa lí, Lịch sử ở Tiểu học, NXB Giáo dục 2006 Khác
[5] Lê Quang Sơn, Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm Khác
[6] Lê Văn Trưởng - Nguyễn Kim Tiến, Giáo dục môi trường, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, NXB Giáo dục, 2008 Khác
[7] TS. Lê Thanh Vân, Con người và môi trường, NXB ĐHSP Hà Nội, 2006 [8] Giáo dục môi trường, NXBGD, 2006[9] Google.com.vn Khác
[12] Phương pháp dạy học Tự nhiên xã hội, Địa lí và Lịch sử ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 2005 Khác
[13] Sách giáo viên môn Lịch sử - Địa lí lớp 4,5 NXB Giáo dục [14] Sách giáo khoa Lịch sử - Địa lí lớp 4, 5, NXB Giáo dục Khác
[15] Thiết kế bài giảng Tự nhiên - xã hội, Địa lí, Lịch sử, NXB Hà Nội, 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w