Nhưng, bất chấp những khoảng cách địa lý, sự khác biệt về chính trị và những rào cản văn hóa – ngôn ngữ, theo dòng thời gian, văn học Việt Nam ở hải ngoại đã từng bước chinh phục độc giả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG THỊ THU HIỀN
CẢM THỨC LƯU VONG TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HẢI NGOẠI
(QUA KHẢO SÁT TÁC PHẨM CỦA THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ VÀ NAM LÊ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ MINH HIỀN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
HOÀNG THỊ THU HIỀN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Bố cục luận văn 13
CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ VÀ NAM LÊ TRONG DÒNG CHẢY VĂN XUÔI VIỆT NAM
HẢI NGOẠI 14
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 14
1.1.1 Lưu vong 14
1.1.2 Văn học hải ngoại 15
1.2 VĂN XUÔI VIỆT NAM HẢI NGOẠI TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA VĂN HỌC DI DÂN THẾ GIỚI 16
1.2.1 Nhu cầu văn hóa, văn học của người Việt Nam hải ngoại 16
1.2.2 Những ám ảnh, mặc cảm và khát vọng hợp lưu, hội nhập 21
1.3 THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ VÀ NAM LÊ – HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHỮNG THÂN PHẬN LY HƯƠNG 26
1.3.1 Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê – những mảnh đời văn chương xa xứ 26
1.3.2 Sự gặp gỡ của tâm thức Việt và ám ảnh về nguồn cội trong văn xuôi của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê 30
CHƯƠNG 2 VĂN XUÔI THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ VÀ NAM LÊ – THẾ GIỚI CỦA NHỮNG PHẬN NGƯỜI XA XỨ 38
2.1 NHỮNG KIẾP NGƯỜI LẠC LOÀI NƠI ĐẤT KHÁCH 38
2.1.1 Trên hành trình lạc xứ 38
Trang 42.1.2 Với ám ảnh “về nguồn” 46
2.2 NHỮNG TÂM HỒN LƯU VONG GIỮA CÕI NGƯỜI 51
2.2.1 Mặc cảm cô đơn 51
2.2.2 Mặc cảm vong thân 61
2.2.3 Khát vọng truy tìm bản thể 65
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM THỨC LƯU VONG TRONG VĂN XUÔI THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ VÀ NAM LÊ 71
3.1 CỐT TRUYỆN 71
3.1.1 Cốt truyện phân mảnh, lắp ghép 71
3.1.2 Kết thúc mở 74
3.2 KHÔNG GIAN – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 76
3.2.1 Kết hợp không gian hành trình và không gian tâm lí 76
3.2.2 Thời gian đa chiều 81
3.3 NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 85
3.3.1 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 85
3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại đa thanh 89
3.4 GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT 92
3.4.1 Giọng trữ tình đậm chất triết lí 92
3.4.2 Giọng tự vấn – hoài nghi 94
3.5 MÔ TÍP GIẤC MƠ VÀ HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT 97
3.5.1 Mô típ giấc mơ 97
3.5.2 Hệ thống biểu tượng nghệ thuật 102
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn chương nhân loại, hiện tượng các nhà văn hải ngoại
thành danh ngày càng nhiều Giải Nobel văn chương danh giá hằng năm được
tổ chức tại Viện Hàn lâm Thụy Điển đã từng chứng kiến và tôn vinh nhiều tài
năng văn chương hải ngoại kiệt xuất Đó là nhà văn Pháp gốc Do Thái
H.Bergson (Nobel 1927), nhà văn Đức Thomas Mann (Nobel 1929), nhà văn
Colombia Gabriel Garcia Marquez (Nobel 1982), nhà văn Mỹ gốc Nga J
Brodsky (Nobel 1987), nhà văn Pháp gốc Trung Quốc Cao Hành Kiện (Nobel
2000), nhà văn Anh gốc Ấn Độ V.Naipaul (Nobel 2001)… Điều đó chứng tỏ
rằng, không có ranh giới địa lý cho văn chương nghệ thuật Những tác phẩm
văn chương đích thực vẫn được khẳng định dù người khai sinh ra nó đang
sống ở đâu, mang quốc tịch nào bởi tầm nhân loại mà các tác phẩm đó vươn tới
Dẫu vậy, ở Việt Nam, trong suốt một thời gian dài, những danh xưng:
“văn học Việt Nam hải ngoại”, “văn học lưu vong”, “văn học di dân”…
thường bị các nhà nghiên cứu văn học trong nước né tránh vì nó ít nhiều đụng
chạm tới vấn đề chính trị Những lí luận kiểu “Người Việt Nam ở hải ngoại
không thể đóng góp vào văn học Việt Nam được vì họ đang mất dần sự thuần
chất của ngôn ngữ, mất cái tiếng đang được nói ở Việt Nam” [67] không phải
là cá biệt Nhưng, bất chấp những khoảng cách địa lý, sự khác biệt về chính
trị và những rào cản văn hóa – ngôn ngữ, theo dòng thời gian, văn học Việt
Nam ở hải ngoại đã từng bước chinh phục độc giả quốc tế bằng những tác
phẩm cảm động về đất nước và con người Việt Nam, thực sự làm nên một
diện mạo mới và góp phần mở rộng tấm bản đồ của văn chương Việt Nam
đương đại
Trang 6Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê là những tên tuổi nổi bật trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại những năm gần đây Các tác phẩm của họ đến tay độc giả trong nước dù được viết bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng ngoại ngữ, đều thấm đẫm nỗi cô đơn, lạc loài nơi đất khách và khát
vọng “về nguồn” của những tâm hồn Việt đầy ưu tư và mẫn cảm Cảm thức
lưu vong đã trở thành một dòng cảm thức đặc biệt xuyên suốt nhiều tác phẩm
văn xuôi của bốn tác giả hải ngoại này, dẫn dắt độc giả dấn thân vào những địa hạt rộng lớn của hiện thực cuộc sống và tâm hồn con người hiện đại
Trong văn chương hải ngoại nói chung và văn xuôi Việt Nam hải ngoại
nói riêng, lưu vong đã trở thành một dòng chảy ngầm làm nên dấu ấn và bản
sắc cho tác phẩm của các nhà văn xa xứ Với ám ảnh về sự mất mát, trôi dạt,
lưu vong vừa là một trạng huống mang tính khách quan của hoàn cảnh, vừa là
một nét tâm lí đặc thù của con người hiện đại, đặc biệt là những kiếp phận tha hương Bởi lẽ, sự thay đổi không gian sống tất yếu sẽ kéo theo hệ lụy về những đổi thay trong tâm lí con người, đẩy con người vào bi kịch “lưu vong kép” với nỗi cô độc, bơ vơ đến tận cùng… Mặc dù chưa có độ sâu về lý
thuyết và tầm rộng về ảnh hưởng nhưng cùng với nữ quyền, hậu thực dân,
hậu thuộc địa, liên văn bản…, lưu vong cũng được xem là một trong những
phát hiện độc đáo của lí thuyết văn học và văn hóa học thế giới những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI
Chọn đề tài Cảm thức lưu vong trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại (qua
khảo sát tác phẩm của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê),
chúng tôi mong muốn phát hiện và lí giải những khía cạnh tiêu biểu của cảm thức lưu vong - một phạm trù mĩ học mới mẻ - trong văn xuôi của bốn tác giả hải ngoại qua hai bình diện nội dung và nghệ thuật Qua đó, bước đầu khát
quát những đặc điểm cơ bản của cảm thức lưu vong trong văn xuôi Việt Nam
hải ngoại sau năm 1975 Thực hiện đề tài, chúng tôi cũng hi vọng góp thêm
Trang 7một tiếng nói khẳng định giá trị của văn xuôi Việt Nam hải ngoại, triển vọng phát triển cũng như khả năng hợp lưu với văn học trong nước của dòng văn học “ngoài biên giới” này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam hải ngoại
Việc nghiên cứu văn học Việt Nam hải ngoại đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm
Đáng chú ý là cuốn tiểu luận Nghĩ về văn học hải ngoại của Nguyễn
Mộng Giác Tiểu luận là sự tập hợp của nhiều bài viết tiêu biểu của tác giả đã được in trên các tạp chí văn học hải ngoại từ những thập niên trước đó như:
Khả năng và triển vọng của văn học hải ngoại, Nhìn lại những trang viết cũ, Sống và viết ở hải ngoại, Đồng hồ dừng lại từ 30 - 4 - 1975, Sơ thảo về các giai đoạn hình thành và phát triển của giòng văn xuôi ở hải ngoại từ năm
1975 đến nay… và một số bài trả lời phỏng vấn của tác giả trên các báo Với
tiểu luận này, Nguyễn Mộng Giác đã thể hiện sự hiểu biết của mình về đời sống văn học Việt Nam ở hải ngoại sau năm 1975, đồng thời bày tỏ niềm tin tưởng về triển vọng phát triển của dòng văn học này “Một thế hệ người viết trẻ xuất hiện, ngay từ tác phẩm đầu tay đã tỏ ra già dặn lão luyện Phải công nhận người cầm bút hiện nay ở hải ngoại có quá nhiều chất liệu để sáng tác” [16] Ông cũng hi vọng “Viết sách, in sách, ra báo, hội họp, tuy không phải là một business, nhưng là lẽ sống, một phương cách đi tìm “căn cước” của nhiều người Việt lưu vong Chính đó là sức mạnh trường cửu, là nguồn sống nuôi dưỡng văn học hải ngoại” [16]
Năm 1996, Nguyễn Văn Nam trong bài viết Văn học hải ngoại như một
món quà cho quê hương đã ghi nhận một số hình thái cơ bản của văn học hải
ngoại Bài viết đã thể hiện thái độ trân trọng những thành tựu mà văn học hải ngoại trong những năm qua đạt được: “Một cộng đồng tương đối nhỏ, độ
Trang 8chừng hai triệu người sống rải rác trên khắp thế giới, mà tạp chí văn chương không khan hiếm (…) Cộng đồng ta đã có nhật báo, tuần báo, nguyệt san, bên cạnh các tạp chí văn học đã hiện diện lâu dài trong suốt thời gian 20 năm
nơi xứ người: tạp chí Văn, Thế Kỷ 21, Văn Học, Khởi Hành, Thời Tập, Làng
Văn, Hợp Lưu, Quê Mẹ (…) Các nhà sách người Việt cũng không thiếu
những tác phẩm văn chương đã được xuất bản, bên cạnh vô số các loại sách khác Số người làm văn chương cũng rất đông đảo, nhiều nhất là các thi sĩ” [55] Cho nên, cùng với “món quà khoa học, món quà kinh tế”, thì “món quà văn học cũng (…) bắc một nhịp cầu giao cảm cho người nội địa với đất trời
viễn xứ” [55]
Với bài viết Văn học hải ngoại: dòng riêng có gặp dòng chung?, Nguyễn
Vĩnh Nguyên đã bày tỏ niềm hi vọng trước sự xuất hiện của các tác phẩm hải ngoại trong đời sống văn chương quốc nội: “Có những cuốn sách của người viết hải ngoại xuất hiện trong “mặt bằng” văn học trong nước, bản thân sự xuất hiện đã minh chứng sự cởi mở văn học bất ngờ, đáng mừng” [59] Tác giả đã nêu bật khả năng và yêu cầu hội nhập của văn học hải ngoại với văn học trong nước khi cho rằng “Với nhiều nhà văn chân chính ở hải ngoại, không bị câu thúc bởi những hằn học quá khứ và những lý do cầm bút phi văn chương, ai cũng muốn được hợp lưu trước khi hội nhập Nhìn nhận và đón nhận dòng chảy văn chương hải ngoại là một câu thúc nội tại để đưa nền văn học phát triển hơn” [59]
PGS.TS Sử học Anatoly Sokolov trong bài viết Văn học Việt Nam ở hải
ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay đã đưa ra nhiều nhận định có
giá trị về dòng văn chương Việt Nam hải ngoại Bên cạnh việc phân kì các giai đoạn phát triển, tác giả còn đề cập tới các khuynh hướng chủ yếu của dòng văn học này, góp phần định hướng tiếp cận cho độc giả trong nước Theo ông: “Nếu thử nêu lên vắn tắt tình hình văn học Việt Nam ở hải ngoại
Trang 9thì đó là sự phân chia rạch ròi của các nhà văn ra làm hai khuynh hướng mà quan điểm tư tưởng - nghệ thuật và sáng tác được định hướng vào quá khứ hay vào hiện tại Từ khoá đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng đầu
là hoài niệm, còn đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng thứ hai là hội nhập Văn học Việt Nam ở hải ngoại được hình thành và tiếp tục tồn tại chính
là trong cái hệ toạ độ ấy” [45]
Nguyễn Mạnh Trinh trong bài nghiên cứu Thử phác họa một vài chân
dung tác giả gốc Việt đã thể hiện sự am hiểu của mình về văn chương hải
ngoại trong những năm qua và điểm mặt một số tên tuổi đang được văn đàn thế giới quan tâm: Phạm Xuân Quang, Andrew Lam, Nam Lê, Monique Trương, Nguyễn Minh Bích Ở những nhà văn thuộc thế hệ di dân một rưỡi hoặc hai này, “họ tuy có những suy nghĩ độc lập nhưng vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Việt Nam Từ lối sống và suy nghĩ, họ như người đi song song giữa hai nền văn hóa” [68] Cho nên “Đọc những tác phẩm viết bằng ngoại ngữ của các tác giả Việt Nam, từ tiểu thuyết đến thơ ca, từ tiểu luận văn chương đến những ký sự có nét sinh động của đời sống, tất cả bàng bạc bản sắc của dân tộc” [68]
Cũng tác giả này, trong bài Vài ghi nhận về văn học hải ngoại năm 2012
đã điểm lại những đóng góp của các nhà xuất bản, các nhà thơ, nhà văn hải ngoại Việt Nam chủ yếu sống tại Mỹ trong năm qua Tuy bài viết này chưa phải là một tổng kết tình hình văn học Việt Nam hải ngoại năm 2012 nhưng với những nỗ lực của mình, Nguyễn Mạnh Trinh đã giúp người đọc nhận diện được sự khởi sắc và triển vọng tốt đẹp của văn học Việt Nam hải ngoại qua việc điểm mặt các tác giả với những tác phẩm có giá trị như: Nhật Tiến với
Hành trình chữ nghĩa; Nguyễn Xuân Thiệp với Tôi cùng gió mùa, Thơ Nguyễn Xuân Thiệp, Tản mạn bên tách cà phê; Nguyễn Văn Sâm với Quê
Trang 10hương vụn vỡ, Nguyễn Tường Thiết với Căn nhà An Đông của mẹ tôi, Huy
Phương với Những người muôn năm cũ, Song Thao với Phiếm… [69]
Cuối năm 2012, trong bài Văn học di dân Việt Nam trong bối cảnh văn
học di dân các nước Đông Á tại Hoa Kỳ, Trần Lê Hoa Tranh đã đưa ra nhiều
nhận định có giá trị về văn học di dân trên nhiều bình diện: khái niệm, đề tài
và lịch sử phát triển của văn học di dân các nước Đông Á tại Hoa Kỳ, trong
đó có Việt Nam Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến xu hướng vượt thoát khỏi
“dân tộc tính” của các tác phẩm văn học hải ngoại: “Dòng văn chương màu-mới, trong bối cảnh di dân đương đại ít than vãn hơn, ít dùng những hồi
da-ức không tưởng về truyền thống lịch sử họ để đòi chỗ đứng xứng đáng gần trung tâm hơn trong cộng đồng dân tộc Mỹ Những mô tả về những người ở quê hương không nằm trong quá khứ mà thường là những tiến trình đang xảy
ra, vì những quan hệ xuyên quốc gia vẫn tiếp diễn, nếu không muốn nói chúng đã biến thành kinh nghiệm phổ quát của đa số con người trên mặt đất ở thế kỷ chúng ta” [66] Vì thế, theo tác giả, khái niệm “văn học di dân” ngày nay mang tính chất toàn cầu và được hiểu với một biên độ rất rộng
Tuy xuất hiện còn rải rác nhưng những bài viết, bài tiểu luận trên đã bước đầu lên tiếng khẳng định giá trị của bộ phận văn chương Việt Nam ở hải ngoại
2.2 Những công trình nghiên cứu về cảm thức lưu vong trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại
Trong Lưu vong như một phạm trù mĩ học Nguyễn Hưng Quốc đã đưa ra
một cái nhìn đa diện về khái niệm lưu vong: “Lưu vong không phải chỉ là một hình thái xã hội (social form) mà còn là một kiểu ý thức (type of consciousness) và là một phương thức sản xuất văn hoá (mode of cultural production) Ứng dụng vào lãnh vực văn học nghệ thuật, kiểu ý thức và phương thức sản xuất này có thể được xem như một phạm trù mỹ học mới
Trang 11mẻ, từ đó có khả năng mở ra nhiều góc độ và viễn cảnh khác nhau, giúp chúng ta hiểu rõ hơn không những các tác phẩm văn nghệ hay giới văn nghệ
sĩ mà còn về cả nền văn hoá văn chương làm nền tảng cho mọi hoạt động sáng tạo và cảm thụ của con người nói chung” [62]
Còn trong Sống và viết như những người lưu vong, Nguyễn Hưng Quốc
lại nêu ra những biểu hiện cụ thể của tâm lí con người trong cuộc sống lưu vong: “tâm lý lưu vong là một thứ tâm lý bảo thủ Điều người lưu vong không thể cảm nhận nổi là ý niệm về sự vận động trên quê hương mình” [36]
Bài viết Nỗi niềm thế hệ trong ký và tự truyện của Văn học di dân Việt
Nam của Nguyễn Hạnh Nguyên là cái nhìn về quá khứ xuyên qua tâm tư của
thế hệ sinh trưởng trong thập niên 60 ở miền Nam, từ sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, thể hiện sự am hiểu và thấu cảm của tác giả với những mảnh đời di dân: “Hầu hết những cây bút của Văn học di dân Việt Nam đã sáng tác với tâm nguyện như thế - ghi lại những nỗi niềm mà chính họ đã trải nghiệm bằng ký và tự truyện Nỗi niềm ấy vượt ra khỏi tâm tình của một cá nhân cụ thể, bởi tìm được sự đồng điệu của nhiều tâm hồn khác nữa Sự đồng điệu của chung một quá khứ và gần như chung những chuyến tàu vượt biên
Do vậy, là nỗi niềm chung của cả một thế hệ - thế hệ thuyền nhân và di tản phải lìa xa tổ quốc trong mất mát” [58]
Không đi sâu cắt nghĩa khái niệm và những biểu hiện cụ thể của cảm thức lưu vong trong bài nghiên cứu của mình, Hoàng Ngọc Tuấn lại hướng người đọc tới một vấn đề mang tính chất quyết định trong sáng tạo văn chương – vấn đề ngôn ngữ Người viết ý thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với các nhà văn lưu vong: “Đến sống trên một xứ sở xa lạ, không ai tránh khỏi trở ngại ngôn ngữ Đối với người làm văn chương, trở ngại này còn nặng nề gấp muôn lần: ngôn ngữ không chỉ đơn giản là công cụ thông tin mà chính là đối tượng của văn chương” [70] Bài viết đem tới cái nhìn toàn cảnh
Trang 12về đặc điểm ngôn ngữ văn chương của các thế hệ những nhà văn di dân tiêu biểu trên thế giới, từ đó làm cơ sở để soi chiếu vào đặc điểm ngôn ngữ văn chương Việt Nam hải ngoại
2.3 Những công trình nghiên cứu bàn về tác phẩm của Thuận, Đoàn Minh Phương, Linda Lê và Nam Lê
Nghiên cứu về tác phẩm của Thuận, các nhà phê bình đã chú tâm vào đánh giá kĩ thuật viết và cảm thức về sự lạc loài của con người trong xã hội tiêu thụ
Trong đó, PGS.TS Nguyễn Thị Bình khẳng định sự cách tân trong ngôn ngữ, kĩ thuật viết văn mang âm hưởng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Thuận: “Rõ ràng, tiểu thuyết của Thuận đã giúp những người nghiên cứu tìm thấy những vấn đề đích đáng, nhất là lối viết” [47]
Tác giả Hoàng Nguyễn trong bài viết Đôi nét về thi pháp và kết cấu của
Chinatown thì cho rằng, Chinatown ra đời thực sự đã “quấy rầy” độc giả, đặc
biệt là trên phương diện thi pháp và kết cấu Tác giả đã ví von Chinatown như
một “bản nhạc Jazz; một nhịp điệu đều đều, lặp lại qua các giai điệu khác nhau Tỏa ra từ nhịp điệu ấy là sự day dứt, cay đắng về thân phận của kẻ tha hương, lữ thứ, thậm chí mang ba quốc tịch mà vẫn vô tổ quốc” [60]
Còn Trịnh Đặng Nguyên Hương lại đi sâu cắt nghĩa và lí giải khá chi tiết cảm thức lạc loài trong các tác phẩm của Thuận Theo tác giả, “Cảm thức lạc loài không phải phát kiến của Thuận trên hành trình sáng tạo nhưng đến Thuận, nhân vật lạc loài trở thành phổ biến, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, màu da, giới tính, quốc gia: một thế giới lạc loài không biên giới” [51]
Các vấn đề “thi pháp”, “dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại”, “nhân vật hiện
sinh” trong tiểu thuyết của Thuận đã được nghiên cứu khá kĩ lưỡng ở các
Trang 13công trình nghiên cứu của Đỗ Minh Phúc [33], Phạm Thị Thu [40], Hà Thị Thanh Huế [20]
Thái Phan Vàng Anh là một trong số những tác giả dành nhiều quan tâm đến tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Bên cạnh những bài viết trực tiếp chọn
tác phẩm của Đoàn Minh Phượng làm đối tượng nghiên cứu như Những cái
tôi kể chuyện trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng [5], tác giả còn dùng tiểu
thuyết Đoàn Minh Phượng làm cứ liệu cho các bài nghiên cứu về Thời gian
trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại [2], Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại [4]… Nhìn chung, những bài viết của
Thái Phan Vàng Anh đều tập trung khai thác khía cạnh kĩ thuật viết tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Đỗ Minh Phúc với đề tài Thi pháp tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 của
Thuận và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng dưới góc nhìn so sánh [33]
đã mở ra cánh cửa Và khi tro bụi bằng chiếc chìa khóa của thi pháp học và
văn học so sánh
Tác giả Lê Tuấn Anh cũng chọn tiếp cận tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
dưới góc nhìn tự sự học với đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn
Minh Phượng [1]
Tác giả Trần Thị Yến Minh trong đề tài Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết
Đoàn Minh Phượng lại đi vào cắt nghĩa những giá trị triết lí, ý nghĩa nhân
sinh - là những yếu tố làm nên bản sắc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng [27] Với Linda Lê, nữ nhà văn gốc Việt, một trong những nhà văn gốc Việt ở nước ngoài thành công nhất hiện nay, dịch giả Nguyễn Khánh Long đã bày tỏ
sự yêu thích đặc biệt với tác phẩm của nhà văn này: “Đọc Linda Lê, khi nắm được những gì gửi gắm trong từng từ, từng câu, phải nói đó quả là một niềm hoan lạc, dẫu cho tác phẩm nói lên những nỗi bi quan” [53]
Trang 14Trong bài viết Linda Lê: Cuộc đời và tác phẩm, Đào Như đã khẳng định:
mặc dù cuộc đời Linda Lê cô đơn và thiếu vắng tình thương nhưng “chưa bao giờ Linda Lê cảm thấy cô đơn trong dòng văn học Pháp hiện tại Trái lại cô được các giới trí thức và báo chí văn học Pháp tích cực chia sẻ với cô Tác phẩm của Linda Lê, chẳng những được trọng vọng tại Pháp, được nhiều giải văn học tầm cỡ của Pháp, mà còn được dịch sang Anh ngữ, Đức ngữ” [61] Thời báo uy tín của Pháp Le Monde cũng dành những lời tốt đẹp khi viết về
nữ nhà văn gốc Việt này: “Ngòi bút của Linda Lê rất tinh tế, khắt khe, cổ điển, được thấm nhuần khả năng phân tích sắc bén như là sự kế thừa của dòng văn chương thế kỉ XVII” [46]
Thu Thủy trong bài viết Linda Lê – trăn trở Viết và Chết đã phát hiện
rằng “các sáng tác của Linda Lê đề cập nhiều đến sự “lưu vong” “Lưu vong”
ở đây không nên hiểu theo cách hiểu của địa lý mà là sự lưu vong trong tâm tưởng Các nhân vật của cô luôn luôn ở một nơi nào khác, không gắn bó với thế giới họ sống Khi viết văn, và cả trong cuộc sống, bản thân Linda Lê cũng cho mình là một kẻ lưu vong, là một nhà văn không quốc tịch” [65] Nhưng chính tác giải cũng khẳng định sức hút “khó cưỡng” mà tác phẩm của Linda
Lê mang lại: “ẩn sâu trong bóng tối của chết chóc, trong những lưu đày khổ ải của việc viết là nét đẹp huyền bí pha lẫn cao ngạo của văn chương đích thực, vượt xa mọi thứ đèm đẹp của câu từ mà người ta vẫn gặp ở khắp mọi nơi” [65]
Ra mắt tập truyện ngắn Con thuyền vào năm 2008, Nam Lê thực sự đã
làm rúng động đời sống văn chương thế giới trong một thời gian dài Nhiều tờ
báo uy tín như The New Yord Times, The Times, Library Journal, San
Francisco Chronicle… đã dành những lời có cánh để ca ngợi tác giả và tập
truyện ngắn xuất sắc này Theo đó, Con thuyền là “Một tác phẩm đầu tay tinh
tế và mạnh mẽ đáng kinh ngạc Tự tin tột bậc” [22, bìa 3] Họ còn khẳng định,
Trang 15“Sự khẩn thiết nhiệt thành và đầy cảm xúc của Nam Lê trao cho ngòi bút nhà văn một sức mạnh bản năng vĩ đại” [22, bìa 3], và “Nam Lê đã viết một tập truyện ngắn về cả thế giới, mỗi nhân vật đều điển hình và sống động, mỗi mẩu truyện đều phong phú sánh ngang một tiểu thuyết Rất đáng đọc” [22, bìa 3]…
Giới phê bình trong nước cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới Con
thuyền Trương Quế Chi trong Lên thuyền cùng Nam Lê cho rằng “các nhân
vật trong truyện của Nam Lê đều là những thân phận phải đối mặt và đấu tranh với nỗi sợ hãi của con người hiện đại” [48] Chính điều này đã đưa tác phẩm của Nam Lê vượt thoát khỏi “dân tộc tính” và vươn tới tầm nhân loại rộng lớn
Nguyễn Thanh Sơn trong bài viết Trên con thuyền của Nam Lê đã nhận
ra dụng ý nghệ thuật trong sự kiến tạo nhân vật và cấu trúc tác phẩm : “Những truyện ngắn của anh tạo ra một tình thế cân bằng vi diệu giữa một cực là cái thế giới tàn nhẫn bên ngoài (…), một cực là thế giới tình cảm bên trong (…),
và trôi nổi giữa hai cực đó là những con người nhỏ bé hoặc “có trái tim tan nát” hay “có một quá khứ đau thương” Họ quá cô đơn để thuộc về thế giới tình cảm, và cũng quá tình cảm để thuộc về thế giới tàn nhẫn bên ngoài, nhưng chính sự cô đơn và trăn trở của những con người nhỏ bé đó lại tạo nên sức ảnh hưởng lớn lao của một cực thứ ba nữa trong thế giới truyện ngắn này” [64]
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các nhà phê bình, nghiên cứu đã quan
tâm đến cảm thức lưu vong trong văn học Việt Nam hải ngoại và cả trong các
tác phẩm của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê Tuy nhiên,
chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về cảm thức lưu vong trong văn xuôi của bốn tác giả hải ngoại này Vì thế, vấn đề Cảm thức lưu
vong trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại (qua khảo sát tác phẩm của Thuận,
Trang 16Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê) có thể được coi là một hướng
nghiên cứu mới, có tính khoa học Việc nghiên cứu, nếu thành công, không
chỉ chỉ ra những biểu hiện cụ thể của cảm thức lưu vong trong văn xuôi của
bốn tác giả hải ngoại trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật, lí giải nó một cách hệ thống, góp phần làm nổi bật các giá trị của văn xuôi Việt Nam hải ngoại mà còn góp thêm nguồn tư liệu hữu ích cho những người quan tâm tới văn học Việt Nam hải ngoại và sáng tác của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tác phẩm văn xuôi của bốn nhà văn hải ngoại Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê Cụ thể:
Thuận: Made in Vietnam (Nxb Văn mới, California, 2003), Paris 11
tháng 8 (Nxb Đà Nẵng, 2005), T mất tích (Nxb Hội nhà văn, 2006), Chinatown (Nxb Văn học, 2009), Vân Vy (Nxb Đà Nẵng, 2009)
Đoàn Minh Phượng: Và khi tro bụi (Nxb Trẻ, 2006), Mưa ở kiếp sau
Trang 174 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Cấu trúc toàn bộ các tác phẩm văn xuôi của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê thành một hệ thống hoàn chỉnh; tiến hành khảo sát các tác phẩm trong tính hệ thống nhằm xem xét, đánh giá cảm thức lưu vong trong hệ thống đó
4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Xem xét, lí giải, đánh giá các vấn đề của cảm thức lưu vong được đặt ra trong tác phẩm văn xuôi của bốn tác giả, khái quát các biểu hiện cụ thể của cảm thức lưu vong trên các bình diện nội dung và nghệ thuật
4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Tìm ra nét tương đồng, dị biệt của cảm thức lưu vong trong sáng tác của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác
Trang 18CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ
VÀ NAM LÊ TRONG DÒNG CHẢY VĂN XUÔI
VIỆT NAM HẢI NGOẠI
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM
1.1.1 Lưu vong
Lưu vong vốn không phải là một khái niệm mới Trước khi xuất hiện
trong văn học, nó đã xuất hiện trong đời sống văn hóa của nhiều quốc gia với nhiều tầng nghĩa phong phú
Ở Ấn Độ, từ xa xưa, người ta xem “lưu vong” - vanavasa (tiếng
Sanskrit) có nghĩa đen là “đời sống ở trong rừng” là một thử thách đẹp cần có cho tâm hồn Khái niệm “lưu vong” đã xuất hiện trong tiếng Hi Lạp nhiều thế
kỉ trước công nguyên, được dùng để chỉ hiện tượng người Do Thái bị đánh bật khỏi quê hương của họ và tản mát khắp nơi cả mấy chục năm trời Chữ
“lưu vong” trong tiếng Tây Ban Nha là destierro, nghĩa đen là “bứng khỏi mặt
đất” Nó gợi đến một ý nghĩa sâu xa hơn: đó là sự cắt lìa mối liên hệ giữa linh
hồn và mặt đất Còn ở Việt Nam, người Việt thường chiết tự từ lưu vong một
cách đơn giản theo nghĩa Hán – Việt: “lưu” với nghĩa trôi nổi, “vong” với
nghĩa mất mát Trôi nổi và mất mát, nội hàm ý nghĩa này đã chứng tỏ lưu
vong là một vấn đề nhuốm màu sắc bi kịch Như vậy, lưu vong trong từ điển
ngôn ngữ của đa số các dân tộc lại gắn liền với ám ảnh về sự mất gốc
Những năm gần đây, khái niệm lưu vong đã được nghiên cứu kĩ hơn Đó
là “Sống xa hẳn quê hương, do nghèo đói phải tha phương cầu thực”, “Sống hoặc hoạt động chính trị ở nước ngoài, do không có điều kiện và cơ sở để sống và hoạt động trong nước” [29] Tuy nhiên, trong tâm thức người Việt
“thừa nhận lưu vong có vẻ như thừa nhận sự hiện hữu của một cộng đồng đối
Trang 19kháng đông đảo, từ đó, thừa nhận phần nào sự thất bại của họ hoặc về chính trị hoặc về kinh tế” [62]
Để nhận diện hiện tượng lưu vong, có nhiều tiêu chí đã được đặt ra nhưng các ý kiến đều mang ý nghĩa tương đối Cho đến nay, thuyết phục số đông hơn cả là các tiêu chí do William Safran nêu lên trong một bài tiểu luận
đăng trên số ra mắt của tạp chí Diaspora tại Canada Theo ông, lưu vong bao
gồm tất cả những người: (1) hoặc bản thân họ hoặc tổ tiên của họ rời khỏi quê gốc để đến một hay nhiều vùng đất tạm dung nào đó; (2) ở đó, họ vẫn giữ kí
ức tập thể và huyền thoại về quê gốc; (3) họ luôn luôn cảm thấy lạc lõng trên đất tạm dung và không tin vùng đất tạm dung ấy chấp nhận họ hoàn toàn; (4) với họ, quê gốc mới là quê thật: đó là nơi họ sẽ trở về khi có điều kiện; (5) trong lúc chưa trở về được, họ cảm thấy có bổn phận bảo vệ hoặc khôi phục quê gốc; (6) bằng cách này hay cách khác, họ tiếp tục duy trì mối quan hệ với quê gốc ấy [62]
Quan niệm của Safran không hẳn đạt tới chân lí nhưng với một cái nhìn rộng mở về hiện tượng lưu vong, do đó đã được số đông học giả chấp nhận Bởi các tiêu chí mà Safran đưa ra đều hướng người đọc tới một cách hiểu
thống nhất: lưu vong vừa là một tình trạng (người bị xa nước), vừa là một tâm trạng (nhớ nước) Do đó, lưu vong chính là động cơ thúc đẩy con người
hướng về đất nước, về quê tổ
1.1.2 Văn học hải ngoại
Văn học hải ngoại (còn gọi là văn học lưu vong hay văn học di dân) là
khái niệm được dùng phổ biến để chỉ sáng tác của các nhà văn sống ở nước ngoài Đây là mảng văn chương xuất hiện ở Âu – Mỹ từ trên 100 năm nay, khởi đầu với Josept Conrad, tiếp theo là những tên tuổi lớn như James Joyce, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez… Ở dòng văn học này, các nhà văn có thể sáng tác
Trang 20tác phẩm của mình bằng tiếng mẹ đẻ hoặc tiếng nước sở tại Vì vậy, sáng tác của họ luôn đứng giữa hoặc vượt qua lằn ranh của hai ý thức hệ: ý thức hệ đang tồn tại trên quê hương họ và ý thức hệ đang chủ trì trên chính quốc gia
mà hiện thời họ sinh sống
Nhiều học giả đã đưa ra các tiêu chí để nhận diện một tác phẩm thuộc dòng văn chương hải ngoại Trong đó, ngoài việc chú ý đến tính phi – yếu tính luận với đặc tính không thuần nhất, không ổn định, các tiêu chí: địa lí (tác giả ở trong nước hay nước ngoài), chính trị (các hệ tư tưởng chính trị), ngôn ngữ (trường hợp các tác giả viết bằng ngoại ngữ), nơi xuất bản sách (in ở trong nước hay nước ngoài)… cũng được đề cập Tuy nhiên, trên thực tế, ranh giới địa lí không đồng nhất với ranh giới văn học vì văn chương nghệ thuật là địa hạt vượt không gian và thời gian “Quốc tịch” của một tác phẩm văn học, ngoài địa lý, chính trị, ngôn ngữ… là những vấn đề về nguồn cội, về quê hương, về va đập văn hóa giữa hai dân tộc được nhà văn phản ánh trong tác phẩm của họ
Với quan điểm như vậy, ở luận văn này, chúng tôi giới hạn tiêu chí khảo sát văn chương hải ngoại trong những sáng tác của những nhà văn Việt Nam hiện đang sinh sống (định cư hoặc tạm trú) tại nước ngoài, được viết bằng tiếng Việt hoặc chính thứ quốc ngữ nơi nhà văn đó sinh sống, đề cập đến những vấn đề liên quan đến đất và người Việt Nam hoặc những vấn đề về con
người trong một kỉ nguyên hội nhập Cảm thức lưu vong trong luận văn này
được dùng với nghĩa truyền thống: cảm giác về sự cô đơn, lạc loài, mất mát, phiêu dạt của con người hiện đại
1.2 VĂN XUÔI VIỆT NAM HẢI NGOẠI TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA VĂN HỌC DI DÂN THẾ GIỚI
1.2.1 Nhu cầu văn hóa, văn học của người Việt Nam hải ngoại
Trang 21Lịch sử đấu tranh và phát triển của loài người gắn liền với hiện tượng di dân Di dân vừa là bản năng sinh tồn, vừa là kết quả của xu hướng toàn cầu hóa và sự bành trướng ngày càng sâu rộng của chủ nghĩa thực dân Vì vậy, di dân thường được coi là đặc trưng của loài người Từ nguồn gốc lúc đầu là ở Châu Phi, các nhóm người đã tỏa đi các vùng đất khác trên hành tinh này Hiện thực đời sống xã hội sinh động ấy được phản ánh vào trong văn học, tạo
nên dòng văn học di dân Theo đó, dòng văn học này đã tồn tại từ rất lâu
trong lịch sử văn chương nhân loại
Trong những thập niên cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, con số những nhà văn di dân trên thế giới ngày càng đông và tác phẩm của họ hiện đang được độc giả khắp hành tinh tán thưởng nồng nhiệt Sống trong thời
kỳ mà “tiếng nói bình đẳng” được cất lên từ mọi đối tượng, thế hệ các nhà văn chuyển di cũng bắt đầu định hướng được vị trí của mình trên văn đàn thế giới Các sáng tác của họ không còn nằm trong “vòng cấm địa” của quê nhà cũng như nơi họ đang sinh sống, mà ngược lại, được dịch, được xuất bản, được đánh giá một cách công khai Hiện tượng các nhà văn di dân giành được giải thưởng văn học lớn ở quốc gia bản xứ không còn hiếm hoi như trước Điều này cũng có nghĩa là nhà văn di dân có độc giả trên khắp thế giới và vì vậy, việc sách của họ có được đọc ở chính trên mảnh đất chôn rau cắt rốn hay không giờ đây không còn là yếu tố quyết định trong việc sáng tác và đánh giá nữa
Ở Châu Á, trong những năm gần đây, văn học di dân cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Những cái tên Cáp Kim, Amy Tan (nhà văn Trung Quốc), Philip Kan Gotanda, Karen Tei Yamashita (nhà văn Nhật Bản), Nora Okja Keller, Sook Nyul Choi (nhà văn Hàn Quốc) hay Monique Trương, le thi diem thuy (nhà văn Việt Nam)… đã trở nên quen thuộc đối với độc giả văn chương quốc tế Điều đó cho thấy văn học di dân dường như đã
Trang 22trở thành một trào lưu văn học có tiếng nói mạnh mẽ và công khai tại những quốc gia có nhiều sắc dân nhập cư Tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh khẳng định:
“Văn học di dân nên là một phần của văn học dân tộc và cũng là một phần của văn học nước sở tại trong bối cảnh văn học không biên giới như hiện nay” [66]
Đặt trong mối tương quan với văn học di dân thế giới và khu vực, văn học di dân Việt Nam cũng phát triển và đạt được thành tựu nổi bật vào cuối thế kỉ XX, đặc biệt là sau năm 1975 Đây là mốc đánh dấu sự di dân hàng loạt của người Việt sau những biến cố chính trị lớn Mặc dù đã được manh nha từ đầu thế kỉ nhưng phải đến thời điểm này, văn học hải ngoại Việt Nam mới hình thành nên một “dòng” văn học đúng nghĩa bởi sự hội tụ của các nhân tố cần và đủ của một nền văn chương hiện đại
Hiện tượng người Việt Nam lưu vong trên khắp thế giới gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trước năm 1975, người Việt Nam chỉ mới lẻ
tẻ di trú ở một vài nước Những di dân đầu tiên ra đi khi nước Việt Nam còn
là thuộc địa, chủ yếu sinh cơ lập nghiệp ở Pháp với số lượng không lớn Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ yếu vào những năm 1960 - 1970, các nhóm sinh viên từ miền Nam Việt Nam đến học ở Mỹ, Canada, Nhật, Ý
và các nước tư bản khác Nhưng sau tháng Tư năm 1975, có trên 150.000 người di tản Từ năm 1979, liên tiếp nhiều đợt vượt biên diễn ra đã nâng tổng
số người Việt sống ở nước ngoài lên gần hai triệu người Bơ vơ giữa đất khách, phần lớn những người Việt xa xứ chưa đọc được ngoại ngữ Nhưng họ cần một cái gì đó để đọc, để tìm sợi dây liên hệ với tổ quốc, với thế giới xung quanh Do đó, thưởng thức văn chương trở thành một nhu cầu tất yếu Hiện tại, chưa có một công trình khảo sát nào có thể thống kê đích xác số lượng độc giả Việt Nam ở hải ngoại Tuy vậy, xét theo địa dư thì hiện tại số độc giả sách Việt cư ngụ vùng Bắc Mỹ cao nhất, tiếp theo đó mới tới Âu châu và Úc
Trang 23châu Tại Bắc Mỹ, số độc giả phụ thuộc vào mật độ tập trung của các cộng đồng người Việt Ðông đảo nhất là vùng Nam tiểu bang California Hoa Kỳ, nhất là ở hai hạt Los Angeles và Orange Tiếp đó là các tụ điểm như San Jose, Houston, Seattle, Washington DC, Toronto (Canada), Montréal (Canada)… Ở
Âu châu, tụ điểm văn hóa là Paris, còn ở Úc châu là Sydney bang New South Wales [16]
Nhu cầu thưởng thức văn chương của cộng đồng hải ngoại đông đảo như vậy đòi hỏi phải hình thành một đội ngũ người viết giàu tâm huyết và đủ nhiệt thành Cùng với các nhà văn Việt Nam sống ở hải ngoại trước năm 1975, các nhà văn thế hệ một rưỡi hoặc hai đã nỗ lực vượt lên hoàn cảnh, tập hợp lực lượng sáng tác để hình thành một sinh hoạt văn học Bù đắp cho những thiếu thốn về vật chất và tinh thần trong thời kì đầu, người cầm bút hải ngoại có một kho tàng chất liệu sáng tác dồi dào lấy từ thực tại đời sống, thậm chí
“không cần tưởng tượng thêm thắt, nhiều người chỉ cần kể lại cuộc đời họ đã
đủ thành một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm” [16] Cho nên “nếu ai có
“can đảm” đọc lược qua toàn bộ tác phẩm của người Việt ở hải ngoại trong 25 năm nay (từ 1975 đến 2000 – NV), thì sẽ ghép được mảnh puzzle lớn lao về lịch sử, xã hội, chính trị Việt Nam trong cuộc dâu bể nửa thế kỉ này” [52] Nỗ lực đáng ghi nhận của các nhà văn hải ngoại Việt Nam đã tạo nên một bức tranh văn học sôi động ở bên ngoài lãnh thổ
Cũng như văn học di dân của các dân tộc khác, văn học của các nhà văn Việt Nam xa xứ có thể được phân ra hai dòng: “dòng chính” (Mainstream Literature) bao gồm sáng tác của các nhà văn gốc Việt được viết bằng tiếng nước sở tại và “dòng thiểu số” (Ethic Literature) bao gồm sáng tác được viết bằng tiếng mẹ đẻ Hai “dòng” văn học này phát triển độc lập với đối tượng độc giả riêng nhưng tựu trung lại đều tập trung miêu tả hoặc đề cập tới những vấn đề về cội nguồn, bản thể (identiy), về quê hương, về sự va đập văn hóa
Trang 24dân tộc mà bản thân họ hoặc đã trải nghiệm hoặc đã từng chứng kiến Những nhà văn thuộc “dòng chính” tiêu biểu như Monique Trương, Bich Minh Nguyen, le thi diem thuy, Dương Văn Mai Elliott… ở Hoa Kì, Linda Lê ở Pháp, Nam Lê ở Úc Những tác giả thuộc thế hệ một rưỡi hay thế hệ thứ hai này ít bị mặc cảm quá khứ chi phối nên tư duy của họ mới mẻ và sáng tác của
họ cũng dễ hòa nhập vào dòng chảy văn chương nơi mảnh đất họ định cư Tuy nhiên, tác phẩm của họ hầu như vẫn là “người lạ” với bạn đọc tiếng Việt Còn những tác giả thuộc “dòng thiểu số” viết bằng tiếng mẹ đẻ như Võ Phiến, Mai Thảo, Nhã Ca, Trùng Dương…, thành công của họ chủ yếu được công nhận trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại Đối với độc giả trong nước, việc tiếp cận và bình giá các tác phẩm văn chương hải ngoại này còn có phần hạn chế, trừ một vài trường hợp hiếm hoi các tác giả có sách in trong nước như Nguyễn Mộng Giác, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Trần Mộng Tú
Tuy nhiên, những năm gần đây, các tác phẩm hải ngoại viết bằng tiếng
mẹ đẻ đã xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống văn chương dân tộc Tên tuổi của Phạm Hải Anh, Lê Minh Hà, Mai Ninh, Thuận, Đoàn Minh Phượng… đã trở nên gần gũi với độc giả Việt Những giải thưởng của Hội nhà văn dành cho sáng tác hải ngoại vào các năm 2000, 2005, 2007 chính là
sự ghi nhận cho đóng góp bước đầu của các tác giả đối với văn chương trong nước, đặc biệt là về phương diện đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết – một nhân tố quan trọng giúp văn học nước nhà xích lại gần với trào lưu hậu hiện đại của văn chương thế giới Bên cạnh đó, tác phẩm của các nhà văn đã gia nhập vào
“dòng chính” như Linda Lê, Nam Lê cũng bắt đầu được dịch và giới thiệu đến độc giả trong nước Dẫu số lượng chưa nhiều và còn có phần dè dặt nhưng phải nhận thấy rằng cuối thế kỉ XX và đặc biệt là vào thập niên đầu của thế kỉ XXI, sáng tác của các nhà văn Việt Nam xa xứ được in tại quê nhà đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn chương Việt
Trang 251.2.2 Những ám ảnh, mặc cảm và khát vọng hợp lưu, hội nhập
Như một lẽ tất yếu, trong tâm thức của các cá thể di dân luôn tồn tại song song hai nền văn hóa khác nhau, thậm chí là đối chọi nhau Và để có tiếng nói trong dòng văn học chính thống ở ngoại xứ, họ phải tìm cách dung hòa tình trạng một bên là “ngoại quốc”, một bên là “cố hương” trong bản sắc của mình Tuy nhiên với những nhà văn di dân gắn bó máu thịt với mảnh đất chôn rau cắt rốn, việc cắt bỏ bản sắc thuộc về cội rễ của mình là điều không bao giờ xảy ra bởi hơn ai hết, họ ý thức rất rõ về nguồn gốc và giá trị của con người mình Trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại, những ám ảnh quá khứ, hoài niệm
về một thời đã qua trở thành tâm điểm, gốc rễ của mọi xúc cảm thực tại
Với mỗi con người, không ai sống mà không cần kí ức, bởi lẽ kí ức là nguyên liệu của lịch sử và là nền tảng của văn hóa Với những kẻ tha hương,
kí ức không chỉ là tài sản mà còn là bầu khí quyển thuần khiết mà họ có thể quay về trên bước đường di dân mệt mỏi Kí ức giúp họ lưu giữ hình ảnh của quê hương, nguồn cội Bởi thế, họ cần kí ức và bị ám ảnh bởi kí ức một cách day dứt “Chân trời mới nhìn thấy nào cũng vẫn từ chân trời trí nhớ” [36] là tâm lý chung của những người tị nạn xa xứ gửi gắm vào trong văn chương
Ám ảnh quá khứ đã khiến cho tâm lí lưu vong trở thành một thứ tâm lí bảo thủ Nỗi nhớ quê hương, cố quốc đã biến mọi hình ảnh họ lưu giữ trong quá khứ trở nên lấp lánh, đẹp đẽ hơn bao giờ hết Đối sánh với những hình ảnh hóa thạch ấy, thực tại nào với họ cũng trở thành lạ lùng Chính vì mang tâm lí bảo thủ này nên những nhà văn di dân trở thành những kẻ xa lạ với văn học quốc gia mình định cư Với sinh hoạt văn chương dân tộc, chỗ đứng của
họ cũng nhạt nhòa Ở đâu họ cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng là “người ngoại quốc” như cách nói của Julia Kristeva, bởi không gian mà họ thuộc về lại nằm trên lằn ranh giữa các quốc gia, giữa các nền văn hóa, giữa đó và đây, giữa quá khứ và hiện tại Cảm giác không thuộc về bất cứ đâu đã mang tới
Trang 26cho các nhà văn mặc cảm của một trú dân với tâm thế vô xứ Họ là những
“nhà thơ bị mất nhà” (unhoused), là những “kẻ lang thang băng qua ngôn ngữ” Linda Lê đã từng có lần chia sẻ: “Tôi không hề cảm thấy mình là một người Pháp, dù cho tôi đã ở Paris từ hơn hai mươi năm nay và đã rất quen với cách sống phương Tây Tôi cảm thấy mình lúc nào cũng ở vị thế chênh vênh, chứa đựng tất cả các khả năng có thể” [13]
Với nhà văn hải ngoại, hòa nhập vào văn chương “dòng chính” không phải là hành động một sớm một chiều Đặc biệt, để đạt tới đỉnh cao lại là một quá trình đầy chông gai thử thách Bởi, thật không dễ dàng khi nhà văn phải
sử dụng ngoại ngữ như một ngôn ngữ văn học chứ không chỉ là ngôn ngữ giao tiếp đơn thuần Hơn nữa, ngôn ngữ bao giờ cũng gắn với văn hóa: nó là truyền thống, là quá khứ, là kỉ niệm; nó được nuôi dưỡng bằng truyền thuyết
và những giấc mơ Kí ức làm cho ngôn ngữ có tính khả xúc Hiện nay, trên thế giới, số lượng nhà văn Việt Nam lưu vong sử dụng song ngữ thành công rất hiếm hoi dù con số thử ngiệm có thể lên đến hàng chục ngàn, thậm chí, hàng trăm ngàn Còn lại tuyệt đại đa số, dù muốn hay không cũng làm “tù nhân chung thân của tiếng mẹ đẻ” (từ dùng của Nguyễn Hưng Quốc), tìm thú vui trong cộng đồng sắc tộc nhỏ bé của mình Độc giả không nhiều, người tri
âm văn chương lại càng hiếm hoi, những nhà văn xa xứ ắt cảm thấy lạc lõng Bởi lẽ, khi cho xuất bản một tác phẩm nơi vùng đất tạm dung, sau bao gian khó thử thách, họ mong cầu đón nhận sự phản hồi từ người đọc, kể cả tích cực lẫn tiêu cực Với họ, đó là “dư âm kì thú (hay kì dị) đưa cả tác giả lẫn tác phẩm vào một cuộc phiêu lưu mới” [36] Nhưng đáng buồn thay “Ở hải ngoại, đăng một bài viết trên báo hay in một cuốn sách, nhiều lúc ngỡ ngàng như nói vào ống điện thoại chưa nối đường dây… Hoàn toàn lặng ngắt” [36] Điều này khiến cho các nhà văn ở hải ngoại cảm thấy tự ti không chỉ với dòng văn chương chính mạch ở quốc gia mình định cư mà còn tự ti với cả dòng văn học
Trang 27ở cố quốc Bởi vậy, “Ở hải ngoại, viết văn không thể là một nghề nghiệp mà trên thực tế, cũng không còn là danh phận Viết văn trở thành một cách hành lạc đau đớn của những người bị bất lực” [36]
Những năm gần đây, trong văn xuôi Việt Nam hải ngoại, nỗi hoài hương phảng phất chút trầm buồn đã được thay thế bởi tâm thế hợp lưu và hội nhập
Xu hướng hợp lưu với văn học dân tộc dường như đã được manh nha từ những thập niên 70 – 80 của thế kỉ trước, khi “dòng văn học của người Việt sống ở nước ngoài có những lưu lượng ghềnh thác, chung nhịp với dòng văn học đổi mới ở trong nước” [52] Bởi “Cùng phôi thai từ những năm 78 - 79
Cả hai dòng văn học hải ngoại và đổi mới cùng phát triển mạnh mẽ những năm 86 - 88 với số tác phẩm và tác giả cao nhất về phẩm cũng như về lượng Rồi cùng trầm lắng xuống, từ năm 90 trở đi, với những lí do hoàn toàn khác nhau, nhưng ít nhiều, cả hai đã tìm cách giao lưu âm thầm với nhau, để hợp chung thành một dòng văn học Việt có trong, có ngoài, trong sự cảm thông giữa những người cầm bút” [52] Đặc biệt, vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỉ trước, trên văn đàn hải ngoại đã xuất hiện một tuyển tập khá đồ sộ
dày 797 trang của 27 tác giả hải ngoại viết về 79 tác giả trong nước - Trăm
hoa vẫn nở trên quê hương Mặc dù sự ra đời của tuyển tập này đón nhận
nhiều ý kiến trái chiều từ dư luận, nhưng nó thể hiện một cố gắng lớn của lớp văn sĩ hải ngoại, nhằm thực hiện sự giao lưu “trong – ngoài” giữa những người cầm bút đấu tranh cho tự do và sự thật Với mong muốn xóa đi những hằn học quá khứ để sáng tạo với tâm thế hòa hợp và cởi mở hơn, để những trang văn nơi xứ người không mất đi hồn dân tộc, nhiều tác phẩm văn xuôi hải ngoại đã thể hiện được “khát vọng chung của dân tộc, tấn công mạnh mẽ vào thành trì lạc hậu, tha hóa, chia rẽ, lầm than, đói nghèo, vong thân cũng như phô diễn được cái đẹp, cái hay của ngôn ngữ Việt” [52] Các tác phẩm
Trang 28văn xuôi của Nhật Tiến, Đỗ Khiêm, Đỗ Mạnh Trinh, Hoàng Khởi Phong… lần lượt ra đời đều hướng tới mục tiêu sáng tạo giàu tính nhân văn ấy
Cùng với khát vọng tìm về bản sắc văn hóa dân tộc, văn xuôi hải ngoại cũng nỗ lực hết mình để hòa chung với dòng văn học nơi quốc gia họ định cư Phạm vi những vấn đề mà các tác giả đề cập tới được mở rộng và trình độ tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm được nâng cao rõ rệt Phải thừa nhận rằng,
xu hướng toàn cầu hóa sôi nổi trên văn đàn thế giới đã tác động tích cực tới văn chương hải ngoại Việt Nam Kinh nghiệm hội nhập vào cuộc sống mới trở thành đề tài chủ yếu trong các tác phẩm (phần lớn là truyện ngắn) của các nhà văn thuộc thế hệ thứ hai viết bằng tiếng Việt: Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Nam, Ngọc Khôi, Hoàng Mai Đạt, Dương Như Nguyện, Vũ Quỳnh N.H., Đỗ Kh., Bùi Diễm Âu, Võ Đình, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Hương, Nguyễn Danh Bằng ở Mĩ; Trần Vũ, Mai Ninh, Thuận ở Pháp; Nam Giao ở Canada; Lê Minh Hà ở Đức Họ tập trung viết về cuộc sống hiện tại nơi vùng đất định cư, tự tin, thoải mái trong việc thể hiện tình cảm và bộc lộ những nhận định, đánh giá
Bên cạnh những nhà văn hội nhập văn chương bằng những tác phẩm văn xuôi viết bằng tiếng Việt, một bộ phận không nhỏ đã chuyển sang tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác với tư cách là công cụ sáng tác và giao tiếp, bởi lẽ sự lựa chọn này giúp họ hoà nhập nhanh chóng vào dòng chảy của văn học ở nước họ định cư và vào văn học thế giới nói chung Tác phẩm của
họ đã thu hút được sự chú ý của những nhà xuất bản sách và giới phê bình văn học bản xứ Andrew Lam, Monique Trương, Aime Phan, Lan Cao, Kien Nguyễn, le thi diem thuy, Dao Strom, Nguyễn Minh Bit, Mộng Lan đã làm nên diện mạo mới cho văn xuôi Việt Nam hải ngoại tại Mỹ Kim Lefevr và Linda Lê đã viết những áng văn xuôi rất hay bằng tiếng Pháp Ở Úc, nhà văn trẻ Nam Lê cũng thử nghiệm những truyện ngắn đầu tay bằng tiếng Anh…
Trang 29Họ cũng đã giành được nhiều giải thưởng lớn của văn học chính quốc và thế
giới Cuốn Book of Salt (Nxb Houghton - Mifflin, 2003) của Monique Trương
được trao tặng nhiều giải văn chương giá trị ở Mỹ như của Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ năm 2004, nhận được tài trợ để sáng tác của PEN/American Robert
Bingham Fellowship Với tác phẩm đầu tay We Should Never Meet (Chúng ta đừng nên gặp nhau), Aime Phan đã được giải Sách Quý của Kiryama Prize về tiểu thuyết và vào chung khảo giải Asian American Literary năm 2005 Linda
Lê cũng giành được nhiều giải thưởng lớn của văn học Pháp: giải thưởng Tài
năng Vocation (1990), giải Fénéon (1997), giải Prix Femina, Grand Prix của
Viện Hàn lâm Pháp (2007) Nam Lê với tập truyện ngắn The Boat (Con
thuyền – Nxb Hội nhà văn, 2011) đã được trao tặng nhiều giải thưởng văn
chương danh giá: Dylan Thomas Prize (2008), Australian Prime Minister’s
Literary Award (2009), PEN/Malamud Award for Excellence in the Short Story (2010)… Mới đây, Lại Thanh Hà - nhà văn Mỹ gốc Việt giành giải Newbery Honor Book 2012 và trước đó là giải National Book Award 2011 của
văn học Mỹ cho hạng mục Young People Literature (Văn học trẻ)… Những
thành tựu đạt được trong những năm qua đã góp phần khẳng định tiềm năng
và sự trưởng thành của các cây bút Việt trên trường văn chương quốc tế
Như vậy, từ nhu cầu tin tức, thông báo thiết thực trong những ngày đầu nhập cư, những nhà văn di dân đã đặt nền móng và bước đầu tạo nên một cộng đồng văn chương hải ngoại đa dạng, vừa không ngừng cách tân để phù hợp với xu thế văn chương toàn cầu, vừa lưu giữ những bản sắc vốn có của văn chương dân tộc Sự xuất hiện ngày càng đông đảo các tác phẩm văn xuôi hải ngoại trên văn đàn Việt trong những năm gần đây là một tín hiệu khả quan cho sự giao lưu trong - ngoài, đồng thời giúp bạn đọc trong nước hiểu hơn về cuộc sống nơi một trú xứ xa lạ và những trăn trở, suy tư của một bộ phận người Việt tha hương
Trang 301.3 THUẬN, ĐOÀN MINH PHƯỢNG, LINDA LÊ VÀ NAM LÊ – HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHỮNG THÂN PHẬN LY HƯƠNG 1.3.1 Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê – những mảnh đời văn chương xa xứ
Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê là những nhà văn hải ngoại đã định hình được tên tuổi
Nhà văn Thuận tên đầy đủ là Đoàn Ánh Thuận, chị sinh năm 1967 tại Hà Nội Tuổi thơ của Thuận gắn bó trọn vẹn với mảnh đất Hà Thành Mười bảy tuổi, nhà văn rời Việt Nam để bắt đầu con đường học hành trên nhiều đất nước khác nhau Năm 1991, Thuận tốt nghiệp khoa Anh ngữ Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Pyatigorsk (Liên bang Nga), sau đó làm cao học văn học Anh cổ điển tại Đại học Paris 7 (1991 - 1992) và cao học văn học Nga đương đại tại Đại học Sorbonne (1992 - 1993) Hiện Thuận là nhà văn viết tiếng Việt tại Pháp, tác giả của bảy tiểu thuyết, trong đó có năm cuốn đã được bạn đọc
Việt Nam biết đến: Made in Vietnam (Nxb Văn mới, California, 2003), Paris
11 tháng 8 (Nxb Đà Nẵng, 2005), T mất tích (Nxb Hội nhà văn, 2006), Chinatown (Nxb Văn học, 2009), Vân Vy (Nxb Đà Nẵng, 2009) Đặc biệt, vào
năm 2005, tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 đã vinh dự nhận được giải thưởng văn
xuôi của Hội nhà văn Việt Nam Sáng tạo trong tâm thế một nhà văn nhập cư, các tác phẩm văn xuôi của Thuận luôn ngập tràn những suy ngẫm về thân phận tha hương và lưu lạc Nhưng, không mặc cảm hay tự ti, né tránh, những trang văn thấm đẫm hồn quê của Thuận mỗi ngày lại tô đậm thêm cái nhìn trực diện vào thân phận ấy của chính mình và của biết bao người đang “neo đậu” nơi đất khách
Âm thầm xuất hiện trong làng điện ảnh Việt năm 2005 với tư cách đồng
đạo diễn của bộ phim Hạt mưa rơi bao lâu, từng được biết đến với bút danh Đoàn Minh Hà qua truyện ngắn Tội lỗi hồn nhiên (1998), nhưng phải đến
Trang 31năm 2007, Đoàn Minh Phượng mới khẳng định được tên tuổi trên văn đàn
dân tộc sau giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam dành cho tiểu thuyết Và
khi tro bụi Cũng trong năm đó, Mưa ở kiếp sau ra mắt độc giả nước nhà
Đoàn Minh Phượng sinh năm 1960 tại Sài Gòn, cha mẹ gốc miền Trung Vào năm 1977, Đoàn Minh Phượng rời Việt Nam theo diện đoàn tụ gia đình tại Cộng hòa Liên Bang Đức Gần hai mươi năm nơi đất khách, hành trang sống
mà chị mang theo là rất nhiều kỷ niệm về quê hương và kí ức tuổi thơ Người phụ nữ này nhận ra rằng mình mãi mãi chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi nơi xứ người Không chỉ mong được “làm việc, khẳng định mình và ổn định được cuộc sống ở đó - một cuộc sống khắc nghiệt đối với một người châu Á” [56], những tản văn, tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng còn hướng tới ghi lại tâm
sự của mình Trong tác phẩm của Đoàn Minh Phượng, giữa rất nhiều khoảng lặng mà ngôn từ không nói hết là nỗi cô đơn lớn lao và sâu thẳm của những tâm hồn đã cách xa quá lâu gốc gác, cội nguồn Vì lẽ đó mà những hình ảnh, những nhân vật, tên đất, tên người, những bi kịch kiếm tìm và đánh mất… trong tác phẩm của nhà văn đều được viết ra từ nỗi dâng trào xúc cảm của một con người gần hai mươi năm sống trong thân phận ly hương nay trở về đất mẹ
Từ những năm 90 của thế kỉ trước, nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê đã được giới phê bình Pháp đặc biệt chú ý bởi sự thể hiện tài năng ở nhiều lĩnh vực văn học: tiểu thuyết, truyện ngắn lẫn tiểu luận Sinh năm 1963, sang Pháp định cư năm 1977, đến năm 23 tuổi, Linda Lê đã cho xuất bản tác phẩm đầu
tay Sự dịu dàng của ma cà rồng (1986) Năm 1992, tiểu thuyết Phúc Âm tội
ác ra đời gây được tiếng vang trong văn giới Pháp và được báo chí tán dương
nhiệt liệt Trong khoảng 20 năm kế tiếp Linda Lê đã khẳng định tên tuổi của
mình với hàng loạt tiểu thuyết (Vu khống - 1993, Lời tên khùng - 1995, Ba nữ
thần số mệnh – 1997, Tiếng nói - 1998), truyện ngắn (Lại chơi với lửa -
Trang 322010), tiểu luận (Mặc cảm Caliban - 2005)… Trong số đó, tiểu thuyết Vu
khống và tập truyện ngắn Lại chơi với lửa đã được dịch giả Nguyễn Khánh
Long chuyển ngữ và xuất bản tại Việt Nam vào năm 2009 và 2010 Linda Lê
từng đoạt nhiều giải thưởng văn chương lớn như Giải thưởng Tài năng (1990), Giải văn chương sáng tạo (1993), Giải thưởng Fénéon (1997) Đặc biệt, năm 2007, tác phẩm Hồi tưởng đã được Viện Hàn lâm Pháp trao tặng giải thưởng Prix Femina và giải nhất giải thưởng Grand Prix Những sáng tác
của Linda Lê được giới văn nghệ sĩ và độc giả đánh giá rất cao bởi nhiều sáng tạo mới mẻ, tinh tế
Linda Lê sinh ra ở Đà Lạt Năm mười bốn tuổi, nhà văn cùng mẹ và ba chị em gái rời Sài Gòn sang định cư ở Pháp Tại đất Pháp, Linda Lê lao vào học tập và sáng tác văn chương Với tác giả, viết văn là niềm đam mê thiên bẩm và dường như cũng là cuộc chạy trốn chính mình để quên đi quá khứ với hình ảnh của một người cha bị phản bội, bị bỏ quên cùng một quê hương Việt Nam cấm kị không được nói đến Nhưng trên đất Pháp, từ trong tâm thức, Linda Lê luôn “cảm thấy mình đang lưu vong Cho dù đã sống từ lâu ở Pháp, tôi không bao giờ tự nhủ đây là quê hương mình Nhưng tôi cũng không tự nhủ Việt Nam là quê hương tôi” [Dẫn theo [20]] Viết trong tâm thế lưu vong với thân phận vô xứ nên tác phẩm của Linda Lê luôn thấm đẫm nỗi cô đơn và
bi kịch đánh mất mình Ở tác phẩm của Linda Lê, người đọc luôn bắt gặp một tâm hồn cô lẻ, bất định, khước từ mọi căn cước Ở đó, Linda Lê “như người cưỡi ngựa đi giữa hai thế giới” [65] và “Người phụ nữ ấy viết văn như một cái cây được cấy ghép, sống dai dẳng ở nơi đất lạ, cố gắng để không bị xếp vào bất kỳ danh mục thống kê nào và để tâm hồn trôi bồng bềnh vô định giữa những khoảng không riêng biệt, giữa phương Đông và phương Tây” [65]
So với Thuận, Đoàn Minh Phượng và Linda Lê, Nam Lê có một tuổi đời
và tuổi nghề còn khá trẻ Tên thật là Lê Hữu Phúc Nam, sinh năm 1978 tại
Trang 33Rạch Giá, Kiên Giang, Nam Lê theo gia đình sang Úc bằng con đường của những thuyền nhân tị nạn khi mới ba tháng tuổi Sau khi hoàn thành chương trình bậc trung học, Nam Lê giành học bổng về ngành nghệ thuật và luật tại Đại học Melbourne, từng làm việc tại một hãng luật danh tiếng ở Úc sau khi
ra trường Không lâu sau đó, Nam Lê lại nhận giải thưởng của Hội Truman Capote dành cho lớp viết văn và học bổng cao học của Đại học Iowa (Mỹ) Chọn Mỹ để học cao học và theo đuổi nghiệp văn chương, Nam Lê đã trở thành nhà văn Việt Nam hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai thành danh trên đất khách
Tác phẩm đầu tay The Boat (Con thuyền) gồm bảy truyện ngắn được sáng tác năm 2008 đã nhận được giải thưởng Dylan Thomas khiến Nam Lê trở thành một “hiện tượng”, một tài năng văn học mới ở Mĩ The Boat liên tục gây tiếng vang với các giải thưởng lớn: Dylan Thomas Prize (2008), Syney
Morning Herald Best Young Novelist Award (2009), Australian Prime Minister’s Literary Award (2009), PEN/Malamud Award for Excellence in the Short Story (2010)… và đã được dịch sang 14 thứ tiếng Con thuyền của Nam
Lê đến Việt Nam vào cuối năm 2011, do dịch giả Thiên Nga và Thuần Thục chuyển ngữ
Rời Việt Nam khi nhận thức về cuộc sống xung quanh chưa thực sự định hình, Nam Lê chưa thể hình dung cho mình một kí ức vẹn nguyên về quê
hương, tổ quốc Song, Nam Lê đã thổi được vào Con thuyền những ám ảnh về
sự nổi trôi của những thân phận di dân Dẫu vậy, so với Thuận, Đoàn Minh Phượng và Linda Lê, ám ảnh này ở Nam Lê không thực sự đậm nét Hoài niệm ngày ra đi chỉ vương lại trong kí ức Nam Lê như một làn khói mỏng manh, mơ hồ Nhưng dường như, đây cũng là một thuận lợi giúp ngòi bút của nhà văn trẻ thoát khỏi “dân tộc tính” để vươn tới tầm nhân loại trong sáng tác
Trang 34Cả bốn nhà văn hải ngoại đều sáng tác trong thân phận xa xứ Tác phẩm của họ là kết tinh của một quá trình hấp thu, tiếp biến và giao thoa các vùng văn hóa; là sự nới rộng nhãn quan thẩm mỹ của những con người đã đi nhiều, sống nhiều Và có lẽ, chính bởi những cảm xúc có thật ở trái tim họ khi sống
và viết trên mảnh đất không phải là nơi chôn rau cắt rốn của mình đã tạo nên
sự lan tỏa và đồng cảm sâu sắc trong trái tim người đọc
1.3.2 Sự gặp gỡ của tâm thức Việt và ám ảnh về nguồn cội trong văn xuôi của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê
Rời xa tổ quốc ngay từ thuở thiếu thời và không ít nhà văn đã thành danh trên đất khách, nhưng các cây bút hải ngoại vẫn luôn đau đáu trong lòng nỗi nhớ quê hương với những ký ức mơ hồ nhưng đầy ám ảnh Tác phẩm của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê cũng không phải là một ngoại lệ
Có thể nhận thấy một điều rằng, tác phẩm của những người sống xa quê bao giờ cũng cồn cào một nỗi nhớ: nhớ về tuổi thơ, quê nhà, về những ngày tháng đã qua nơi vùng đất tạm dung… Dẫu không hẳn dựa vào ký ức để viết, nhưng với các cây bút hải ngoại, ký ức là điểm tựa cho những ưu tư, suy ngẫm trước ngổn ngang sự đời Trong dòng hoài niệm miên man ấy, kí ức về quê hương bao giờ cũng mới mẻ và lấp lánh đẹp, tạo nên một nét tâm thức bàng bạc xuyên suốt nhiều tác phẩm
Nhắc đến Việt Nam, nhiều người nước ngoài nghĩ ngay tới chiến tranh,
và nhiều nhà văn Việt cũng mặc định chiến tranh là “đặc sản” để xuất ngoại Trong khi đó, nhà văn Thuận lại chọn con đường khác và đưa đến cho độc giả quốc tế một cái nhìn đa chiều về tổ quốc mình Trong buổi tọa đàm về tác
phẩm T mất tích ở Hà Nội vào đầu năm nay, nhà văn đã phát biểu: “Việt Nam
đâu chỉ có chiến tranh Với tôi, sức cuốn hút nằm ở sự phong phú của 85 triệu mảnh đời trên dải đất này Và đấy là “đặc sản” của Việt Nam cần viết ra cho
Trang 35thế giới thấy chứ không phải chiến tranh!” [54] Vì vậy, tác phẩm của Thuận
là tấm gương phản chiếu hình ảnh của một Việt Nam đẹp theo cảm nhận của nhà văn trong thời hiện đại và trở đi trở lại trong hầu như sáng tác của Thuận
là không gian của thủ đô Dường như, nhà văn đã vượt qua cái bóng của các nhà văn đi trước, vượt qua hình ảnh cố hữu của một Hà Nội nhỏ bé với vị bún
ốc thơm nồng, của phủ Tây Hồ bàng bạc khói sương, hay hình ảnh cầu Thê Húc e lệ nép mình bên hồ Gươm mỗi sớm… để khoác lên hình hài thủ đô một
tấm áo hoa bảy sắc Made in Vietnam là Hà Nội của mấy nghìn buồng tắm
giống nhau như những giọt nước đầy đủ cả vòi hoa sen lẫn bình nóng lạnh
được bày bán ở phố Hàm Long; Chinatown là Hà Nội của khu Hàng Buồm năm 1979; Paris 11 tháng 8 là Hà Nội của nhà máy giày vải Yên Viên với
500 nhân viên toàn nữ là nữ Trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên Báo
Người lao động, Thuận cũng khẳng định: “Tôi không thích ủy mị nên rất ngại
hoài cổ Tuy thế, không thể phủ nhận rằng quê hương và quá khứ, dù muốn
hay không, vẫn là những ám ảnh Made in Vietnam, Chinatown, Pari 11
tháng 8 hay Vân Vy đều không thể thiếu Hà Nội của cả ngày hôm nay lẫn thời
bao cấp” [63] Và Việt Nam trong tâm thức của nhà văn nhiều khi không cần đến sự phô trương những nét văn hóa dân tộc mà hiện lên rất đời thường với những mảnh đời, những cảnh huống, những không gian sống bình dị Với Thuận, Hà Nội là tuổi thơ, là bạn bè, là kỉ niệm, và Việt Nam trong lòng nhà văn là cội nguồn, là ám ảnh không thể nào quên Cho nên, dù đã tu nghiệp tại Pháp với một sự nghiệp văn học đáng để ngưỡng mộ nhưng Thuận vẫn tìm sợi dây gắn kết mình với Việt Nam, bằng những chuyến trở về, bằng những tác phẩm thuần túy tiếng Việt Có thể nói, tâm cảm về Việt Nam dường như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm văn xuôi mà nhà văn đã gửi tới bạn đọc quê nhà
Trang 36Với Đoàn Minh Phượng, quá khứ và nguồn cội giữ một vai trò quan trọng bởi “Không có một người nào đủ rộng lớn để chứa cả dòng nước trong lòng mình, đủ sống cho cả đời Khi cần nước, người ta thả gàu xuống lòng giếng Để thả được gàu, người ta phải giữ sợi dây nối gàu, sợi dây đó cũng là sợi dây nối một người với cội nguồn của mình Để mất sợi dây đó, người ta sẽ
chết khát” [56] Nhân vật An Mi trong tiểu thuyết Và khi tro bụi đã lạc gần
nửa đời người nơi xứ lạ, lạc vào đời sống khác mà không sao hòa nhịp được Đoàn Minh Phượng cũng vậy Gần ba chục năm sống tại Đức và làm việc mê mải trong guồng quay chóng mặt của truyền hình, nhưng mãi mãi nhà văn vẫn không thành nổi người Đức Để rồi khi mọi lo toan đời thường qua đi, người phụ nữ đa cảm ấy lại tìm mọi cách về lại Việt Nam, để thở với gió Việt, nói tiếng Việt, làm phim, viết văn và kinh doanh trên mảnh đất ông cha Sinh ra ở Việt Nam, sống hơn nửa phần đời ở Đức mà dường như sự xa cách quê hương chỉ làm cho phần phương Đông sâu thẳm nơi người đàn bà này càng đầy ắp hơn, nỗi ám ảnh khôn nguôi về quê hương, nguồn cội sâu hơn Đoàn Minh Phượng đã tìm sách đọc và đi những chuyến đi dài tại các nước châu Á để làm những bộ phim tài liệu về văn hóa và đời sống của người dân xứ này, trong đó, Việt Nam là một phần quan trọng Những chuyến đi ấy cứ tích bồi lên trong tâm hồn người đàn bà đa cảm biết bao suy ngẫm về cố hương và thân phận lưu lạc của mình, để rồi những tản văn, tiểu thuyết bắt đầu chào đời
vì mục đích ghi lại tâm sự nhiều hơn là nhu cầu viết văn Hình ảnh người phụ
nữ tha hương trong Và khi tro bụi phải chăng là tấm gương phản chiếu thân
phận lưu vong của chính tác giả Và bóng dáng những con phố quen thuộc
của Hà Nội, Huế, Sài Gòn trở đi trở lại trong Mưa ở kiếp sau cũng là minh
chứng cho nỗi ám ảnh quê hương luôn thường trực nơi trái tim đa cảm Dù mới chỉ ra mắt hai cuốn tiểu thuyết cùng một truyện ngắn trên văn đàn nhưng chừng ấy cũng đủ để neo giữ trong tim người đọc hình ảnh một nhà văn hải
Trang 37ngoại nặng lòng với quê hương, tổ quốc, luôn mang trong mình niềm thổn thức về sự tha hương Để rồi, sau những day dứt triền miên trong nỗi đau vô
xứ, chị đã thực sự trở về, đúng nghĩa, cả trong văn chương lẫn cuộc đời
Cả Thuận và Đoàn Minh Phượng rời quê hương khi nhận thức về cuộc sống đã phần nào được định hình với những kí ức vẹn nguyên về tuổi thơ và
tổ quốc Việt Nam trong các sáng tác của họ dường như là sự phản ảnh của một nỗi niềm nhớ nhung đau đáu, luôn thường trực khát khao về lại quê nhà Còn ở Linda Lê, chúng ta bắt gặp một tâm thức về nguồn cội không ổn định Bởi chăng, tuổi ấu thơ của Linda nơi quê nhà chứa đầy những ám ảnh bi thương Vì vậy, trong những trang văn huyền bí của một nhà văn đã thành danh trên đất Pháp, người đọc nhận thấy bóng dáng của một đất nước nơi tuổi thơ chị đã từng đi qua với biết bao trăn trở, dằn vặt
Tuổi ấu thơ của Linda Lê gắn liền với những năm tháng đất nước phải chịu cảnh đạn bom Năm 1968, Linda Lê cùng gia đình chạy từ Đà Lạt xuống Sài Gòn Hình ảnh đau thương của đất nước khắc sâu vào tâm trí Linda Lê mãi mãi sau này khiến có lần nhà văn đã phải thốt lên: “từ đó tôi có cảm tưởng trong tôi luôn luôn có một xác em bé đang chết… Việt Nam, quê hương tôi, giờ này sao như xác chết của một trẻ thơ” [44] Ám ảnh đau thương về tổ quốc tạo nên một mô típ song hành trong các tác phẩm của
Linda Lê: Viết và chết Trong ký ức nhà văn, quê hương là một mảng màu u
tối, cất giữ những hoài niệm buồn của một tuổi thơ không trọn vẹn và hình ảnh người cha bị phản bội, bị lãng quên nơi quê nhà cũng luôn làm nhà văn nhói đau mỗi lần lật giở từng trang ký ức
Có thể nói, những ám ảnh về tuổi thơ, về cuộc sống đã vô thức tạo nên một nét tâm cảm đặc biệt về quê hương trong tác phẩm của Linda Lê, tuy chỉ bàng bạc nhưng làm nhức nhối lòng người Sống ở Pháp với tư cách một “trú dân” (métèque), Linda Lê đã viết văn với một quá khứ ám ảnh sau lưng Hoàn
Trang 38cảnh này đã được chuyển hóa phần nào vào cuốn tiểu thuyết đầu tiên được
xuất bản tại Việt Nam - Vu khống Trong truyện, hai cậu cháu người Việt
Nam đều ham muốn viết văn, nhưng một người tìm cách tách khỏi quá khứ bằng sách vở (người cậu), còn người kia như thể muốn dùng chữ nghĩa để thâu tóm lại những gì đã mất (cô cháu gái) Cả hai cách thức đều dẫn tới sự vô vọng, bế tắc Một cốt truyện viết về thân phận những người Việt Nam tha hương làm người đọc day dứt bởi cách thể hiện đầy ám ảnh của một ngòi bút
đã sống và trải nghiệm tận cùng nỗi đau vô xứ, lạc loài
Rời quê hương khi chưa tròn ba tháng tuổi, Nam Lê không thể cất giữ cho mình hình ảnh vẹn nguyên về tổ quốc như những nhà văn đi trước Đây
có lẽ là nét tâm lí chung của những cây bút hải ngoại sinh trưởng sau năm
1975 Với họ, nguồn cội vẫn là một ẩn số luôn khơi gợi khát khao giải mã và kiếm tìm Từ bỏ ngành luật, Nam Lê đã chọn văn chương như một lối đi riêng
để về lại quê nhà Tập truyện ngắn Con thuyền là một câu trả lời thuyết phục
cho những băn khoăn về nguồn cội bấy lâu của nhà văn: “Tôi vẫn chưa hiểu mối quan hệ giữa tôi với Việt Nam trong tư cách nhà văn Tuyển tập này là một khát vọng để minh chứng: tôi càng lúc càng ổn hơn với các băn khoăn này” [48]
Với Con thuyền (2008), Nam Lê đã chinh phục độc giả quốc tế bằng một
giọng văn đầy tính trải nghiệm Nhà văn tập trung vào những chủ đề đang được quan tâm trong thế giới hiện đại như sự dời đổi của cuộc sống con người, những hiểm nguy cũng như cái giá phải trả của cuộc sống trong những xoay chuyển của thời thế Bảy truyện ngắn là bảy đề tài khác nhau, thời gian khác nhau, tính chất khác nhau và môi trường địa lý cũng khác nhau Nhưng, điều đáng trân trọng là Nam Lê đã viết với căn cước của một người Việt Nam Nhà văn nhìn cuộc sống bằng cái nhìn của một con người bị chi phối bởi những ám ảnh của cuộc chiến tranh đau thương nhưng vĩ đại nơi quê nhà, của
Trang 39những cuộc vượt biên đầy sóng gió mà đồng bào đã trải qua sau biến cố chính trị vào những năm 80 của thế kỉ trước Điều đó đã được nhà văn phản ánh trực
tiếp trong hai tác phẩm đầu và cuối của tập truyện Tình yêu và danh dự và
thương hại và kiêu hãnh và cảm thông và hi sinh và Con thuyền đã khơi gợi
được sự đồng cảm sâu xa trong tâm hồn độc giả quốc tế bởi cái nhìn hướng thiện và đầy tính nhân văn về cuộc sống và con người Việt Nam
Các tác phẩm văn xuôi của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Linda Lê và Nam Lê là một minh chứng cho sự neo đậu của những dư ảnh quá khứ trong tâm cảm người Việt Nam lưu vong Với mỗi nhà văn, tâm cảm ấy có thể đậm
- nhạt; có thể là những kí ức bình yên hay những hoài niệm buồn; có thể là tình yêu, có thể là nỗi đau; có thể là khát khao mãnh liệt được tìm về, có thể là
sự chối bỏ nghiệt ngã… Nhưng trên hết, họ ý thức được một điều rằng, mảnh đất sinh thành có một mãnh lực khó cưỡng mà dẫu có lưu lạc bao năm nơi đất khách họ vẫn không thể nào lãng quên Những giá trị văn hóa truyền thống, những biến cố đau thương của dân tộc, những kí ức êm đềm của tuổi thơ… được họ trân trọng cất giữ vào một góc kín của tâm hồn, và chỉ cần một tác động nhỏ của ngoại cảnh cũng có thể làm rung lên những cung bậc tình cảm thiết tha
Tâm thức Việt và ám ảnh về nguồn cội còn chi phối cách lựa chọn ngôn ngữ sáng tác của các nhà văn hải ngoại Đến sống trên một xứ sở xa lạ, không
ai tránh khỏi trở ngại ngôn ngữ Đối với người làm văn chương, trở ngại này còn nặng nề gấp muôn lần bởi ngôn ngữ không chỉ đơn giản là công cụ thông tin, mà còn là đối tượng của văn chương Một số nhà văn đã nhanh chóng hòa nhập với văn chương “dòng chính” khi viết bằng ngôn ngữ nơi mình định cư Nhưng điều đó không ngăn cản họ thể hiện tình yêu và sự trân trọng những giá trị thiêng liêng của tiếng mẹ đẻ Nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh của
le thi diem thuy (The Gangster We Are All Looking for – Tên Gangster chúng
Trang 40ta đang tìm kiếm – 2003), Monique Trương (The Book of Salt – Sách muối –
năm 2003)… đã để nguyên những từ tiếng Việt như “nước”, “Má”, “Ba”, “áo dài”, “phở”… Việc sử dụng nhiều ngôn ngữ trong tiểu thuyết đã mở ra những khả tính mới cho ngôn từ, thể hiện những sắc thái văn hóa đa chủng trong văn phong, đối thoại
Trong bốn tác giả mà chúng tôi chọn để khảo sát, Linda Lê và Nam Lê là hai nhà văn sáng tác bằng ngôn ngữ ngoại quốc và đã thành danh ngay chính trên quốc gia họ định cư Song đáng quý thay, những áng văn xuôi viết bằng ngôn ngữ bản xứ ấy đều mang đậm hồn dân tộc Trong tác phẩm của mình, Nam Lê đã đưa vào các đại từ nhân xưng, các thành ngữ, tục ngữ mà các nhân vật người Việt giao tiếp với nhau trong môi trường Anh ngữ; đặc biệt là
sự xuất hiện những câu thơ trong khúc ngâm Chinh phụ ngâm nổi tiếng của
văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVIII trong truyện ngắn cuối cùng của tập
truyện Con thuyền khiến người đọc tin chắc rằng những sáng tác văn chương
hải ngoại luôn thấm đượm hơi thở dân tộc
Cùng với những áng văn xuôi viết bằng ngôn ngữ bản xứ, tâm thức Việt còn thể hiện một cách rõ nét qua các tác phẩm lấy ngôn ngữ mẹ đẻ làm chất liệu sáng tác Thế giới đã từng chứng kiến việc nhà văn lưu vong gốc Ba Lan Isaac Bashevis Singer kiên trì chọn tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ văn chương nơi hải ngoại Tất cả các tác phẩm của Singer đều xoay quanh đề tài diệt chủng và lưu vong của người Do Thái Yiddish Nhà văn muốn giữ lại tiếng Yiddish - một thứ tử ngữ - để tưởng niệm hàng triệu người Yiddish đã bỏ mình trong Holocaust Ông nhấn mạnh điều này rất nhiều lần, đặc biệt trong tiểu thuyết
Người nô lệ (1962) nổi tiếng của mình Và trên thế giới, có nhiều nhà văn di
dân nổi tiếng tuy sử dụng tiếng Anh để sáng tác nhưng không bao giờ nhận
mình là một nhà văn Mĩ hay một nhà văn Anh như Toni Morison (giải Nobel Văn chương năm 1993), Salman Rushdie (giải Booker Prize năm 1981)…