ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGÔ THỊ LÝ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VÀNG Chuyê
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGÔ THỊ LÝ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG
NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA
HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VÀNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BẢO HOÀNG THANH
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Ngô Thị Lý
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu: 5
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 7
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1 Một số nghiên cứu của thế giới 7
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CỦA ĐỀ TÀI 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Giáo dục 13
1.2.3 Quản lý giáo dục 13
1.2.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 20
1.2.5 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 20
1.2.6 Ngân hàng câu hỏi 18
1.3 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH 24
Trang 41.3.2 Quản lý hoạt động xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của học sinh 29
1.3.3 Hoạt động KT-ĐG kết quả học tập môn Toán trường Tiểu học 24
1.3.4 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán
của Hiệu trưởng trường Tiểu học 25
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN
HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN TOÁN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
2.1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC HUYỆN HÒA VANG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng hiện nay 34
2.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Hòa Vang, thành
phố Đà Nẵng giai đoạn 2012-2015 35
2.1.3 Khái quát tình hình phát triển giáo dục Tiểu học của huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng 36
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI
KT-ĐG KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG
TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG 40
2.2.1 Mô tả quá trình khảo sát 40
2.2.2 Thực trạng về công tác xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết
quả học tập môn Toán ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng 41
Trang 5Đà Nẵng 43
2.4 NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KT-ĐG KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN 54
Tiểu kết chương 2 55
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 58
3.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KT-ĐG KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 58
3.1.1 Đảm bảo tính pháp lý và tính khoa học 58
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp và khả thi 59
3.1.3 Nguyên tắc hiệu quả và công bằng 59
3.1.4 Nguyên tắc phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình dạy học 59
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 60
3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 61
3.2.1 Biện pháp nâng cao nhận thức về quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh 61
Trang 6ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán 66
3.2.4 Biện pháp quản lý đồng bộ các khâu trong quá trình xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của Hiệu trưởng trường Tiểu học trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng .69
3.4 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI 74
3.4.1 Mục đích của biện pháp 75
3.4.2 Nội dung và tổ chức thực hiện 75
3.5 KHẢO NGHIỆM KẾT QUẢ CÁC BIỆN PHÁP 77
3.5.1 Mục đích của khảo nghiệm 77
3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 78
3.5.4 Tiến trình khảo nghiệm 78
3.5.5 Kết quả khảo nghiệm và phân tích kết quả khảo nghiệm 78
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 7Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
KT-ĐG Kiểm tra đánh giá
PGS-TS Phó Giáo sư -Tiến sĩ
CNH – HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Trang 8Số
2.1 Thống kê số lượng học sinh ở huyện Hòa Vang, thành
So sánh kết quả môn Toán các đợt thi, giao lưu cấp TH
huyện Hòa Vang với quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng
giai đoạn 2012 - 2014
38
2.4
Tổng hợp số lượng đội ngũ giáo viên, nhân viên bậc Tiểu
học ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng giai đoạn
Mức độ quan tâm đến công tác xây dựng ngân hàngcâu
hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của CB-GV các
trường TH huyện Hòa Vang
41
2.7
Mức độ năng lực công tác xây dựng ngân hàng câu hỏi
KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của CB-GV các
trường TH huyện Hòa Vang
42
2.8 Công tác bồi dưỡng phương pháp xây dựng câu hỏi
KT-ĐG kết quả học tập học sinh của GV ở Huyện Hòa Vang 44
2.9
Công tác bồi dưỡng phương pháp xây dựng ngân hàng
câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của CBQL ở
Huyện Hòa Vang
45
Trang 9CBQL-GV các trường TH huyện Hòa Vang
2.11 Phương pháp kiểm tra thường xuyên kết quả học tập môn
Toán các trường TH huyện Hòa Vang
48
2.12 Phương pháp kiểm tra định kỳ kết quả học tập môn Toán
các trường TH huyện Hòa Vang
49
2.13
Thống kê nhận thức vai trò về việc thống kê và phân tích
điểm kiểm tra của CBQL-GV các trường Tiểu học huyện
Hòa Vang
50
2.14
Thống kê nhận thức mục đích về việc thống kê và phân
tích điểm kiểm tra của CBQL-GV các trường Tiểu học
huyện Hòa Vang
50
2.15
Thống kê đánh giá mức độ thực hiện việc quản lý điểm
kiểm tra của Hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Hòa
Vang
51
2.16
Thống kê kết quả CBQL-GV đánh giá về mức độ phản
hồi thông tin sau xử ký kết quả kiểm tra và kết quả thực
hiện của HT các trường TH huyện Hòa Vang
52
2.17
Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng quản lý
công tác xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả
học tập môn Toán của HT các trường TH huyện Hòa
Vang
54
3.1 Ý kiến của HT, P.HT về cần thiết, tính thuận lợi và tính
hiệu quả của các biện pháp
79
3.2 Ý kiến đánh giá của chuyên gia về tính khoa học, tính lô
gíc và tính hiệu quả của các biện pháp
81
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, không một dân tộc nào có thể phát triển mà không cần đến sự học tập tích cực Sự phồn vinh của một quốc gia sẽ phụ thuộc vào khả năng học tập của mọi người Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học-công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước, đã mở ra cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam những cơ hội và thách thức mới Điều đó, đòi hỏi nền kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, tri thức khoa học và công nghệ đang nhanh chóng trở thành nguồn lực chính để tạo ra lợi thế cạnh tranh Do đó, hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới đã đặt giáo dục vào vị trí “Quốc sách hàng đầu” Trước những điều kiện và thách thức trong giai đoạn mới của đất nước, ngành giáo dục và đào tạo cần phải có những đổi mới thực sự để có thể thực hiện
được nhiệm vụ của mình trong tiến trình đi lên của xã hội
Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI về Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế" đã nêu rõ : “.Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo bao
gồm: đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm…, trong toàn hệ thống (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, đào tạo nghề)”
Trang 11Nhiệm vụ hiện nay của sự nghiệp giáo dục và đào tạo là phải góp phần quyết định vào việc bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tiềm năng trí tuệ, tư duy sáng tạo, năng lực tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề để thích
ứng được với thực tiễn và cuộc sống hiện tại Một trong những giải pháp
ngành giáo dục cần quan tâm hiện nay là đổi mới phương pháp dạy-học Muốn đổi mới phương pháp dạy học, trước hết cần phải đổi mới phương pháp KT-ĐG kết quả học tập của học sinh KT-ĐG là một hoạt động thường xuyên, giữ một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng đào tạo Trong dạy học, KT-ĐG tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của thầy, việc học của trò, người dạy hoàn thiện quá trình dạy, người học tự đánh giá lại bản thân, các nhà quản lí có cái nhìn khách quan hơn về chương trình, cách tổ chức đào tạo
Cụ thể là đối với thầy, kết quả của việc KT-ĐG sẽ giúp họ biết trò của mình học như thế nào để từ đó hoàn thiện phương pháp dạy học của mình; đối với trò, việc kiểm tra sẽ giúp họ tự đánh giá, tạo động lực thúc đẩy họ chăm lo học tập; đối với các nhà quản lý giáo dục, KT-ĐG đúng sẽ giúp họ có cái nhìn khách quan hơn để từ đó có sự điều chỉnh về nội dung chương trình cũng như
về cách thức tổ chức đào tạo Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, việc dạy và học theo chuẩn, việc KT-ĐG cũng căn cứ theo chuẩn KT-KN của từng môn học
Nhưng làm thế nào để kiểm tra đánh giá được toàn diện, khách quan,
đảm bảo chuẩn? Đây là một trong những vấn đề mang tính thời sự, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà quản lý trường học Các phương pháp KT-
ĐG kết quả học tập rất đa dạng, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm nhất định, không có một phương pháp nào là hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo
dục Để thực hiện tốt công tác kiểm tra thì việc xây dựng đề kiểm tra rất quan trọng Một đề kiểm tra đảm bảo chuẩn KT-KN sẽ đánh giá kết quả học tập của HS một cách khách quan và thực chất Đồng thời là cơ sở để thầy – trò -
Trang 12nhà quản lý xây dựng kế hoạch cho hoạt động của mình trong thời gian kế tiếp hiệu quả hơn
Điều này khẳng định rằng các nhà quản lý trường học cần phải có những
biện pháp quản lý trong việc xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài kiểm tra đảm bảo chuẩn qui định và đánh giá kết quả học tập của HS một cách toàn diện, khách quan nhất là yêu cầu cần thiết Đặc biệt là môn Toán Bởi lẽ, môn Toán
là môn học công cụ và rất quan trọng cho các em để học lên lớp trên Bên cạnh đó, hiện nay, ở bậc TH đã bỏ thi tốt nghiệp cuối cấp, kết quả bài kiểm tra cuối năm học là cơ sở để xếp loại học lực môn năm và cũng là căn cứ để xét hoàn thành chương trình TH
Thực tế ở các trường TH hiện nay, việc quản lý xây dựng hệ thống câu hỏi KT-ĐG chưa thực hiện tốt Hầu hết các nhà quản lý chỉ có thể chỉ đạo suông cho GV căn cứ vào chương trình, chuẩn KT-KN để ra đề kiểm tra chứ chưa có biện pháp chỉ đạo cụ thể nào; việc xây dựng ngân hàng đề, phân tích
xử lý đề chưa được thực hiện Chính vì vậy, công tác KT-ĐG chưa mang tính khách quan, chưa toàn diện, không đảm bảo chuẩn và thậm chí vượt chương trình
Xuất phát từ những yêu cầu và thực tế trên, đồng thời qua thực tiễn quản
lý chúng tôi lựa chọn đề tài “ Biện pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu
hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của Hiệu trưởng trường Tiểu học trên địa bàn huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý công tác xây dựng đề KT-ĐG kết quả học tập môn Toán, đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG giá kết quả học tập môn Toán theo chuẩn KT-KN góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
4 Giả thuyết khoa học
Nếu các trường TH có các biện pháp phù hợp trong công tác quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học và đánh giá kết quả học tập môn Toán một cách chính
xác
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi
KT-ĐG kết quả học tập của HS, lý luận về KT-ĐG
5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng đề kiểm tra và
quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của
HT các trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG
kết quả học tập môn Toán của HT các trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu nhằm khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận trong các tài liệu, sách, báo
có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu để xác định cơ sở lý luận cho việc
Trang 14xác lập các biện pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bao gồm các phương pháp điều tra, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra, công tác quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Vùng đồng bằng: Tiểu học số 1 Hòa Châu, Tiểu học số 1 Hòa Tiến, Tiểu học Hòa Phước
Vùng trung du: Tiều học số 1 Hòa Nhơn, Tiểu học An Phước, Tiểu học Hòa Khương
Vùng miền núi: Tiểu học Hòa phú, Tiểu học số 2 Hòa Liên, Tiểu học Hòa Ninh
- Đề tài tập trung xác lập các biện pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012-2015
8 Đóng góp của luận văn
Trang 15+ Làm phong phú thêm lý luận về quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán, lý luận về hoạt động kiểm tra
+ Hệ thống hoá các phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán ở trường TH
+ Đưa ra một số biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả trong công tác xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán nhằm nâng cao chất lượng dạy học của các trường TH huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi
KT-ĐG kết quả học tập của học sinh
- Chương 2: Thực trạng về quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Các biện pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập môn Toán của HT trường TH trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Kết luận và khuyến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Một số nghiên cứu của thế giới
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nhận rõ rằng: Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho sự phát triển Vì vậy không một quốc gia nào, dân tộc nào lại không quan tâm đến sự phát triển giáo dục
Từ lịch sử phát triển giáo dục và thực tiễn trên thế giới cho chúng ta thấy trong dạy học, việc KT-ĐG chất lượng học sinh là khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học, nó vừa là động lực, vừa là nhân tố nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Đây là vấn đề có ngay từ khi nhà trường xuất hiện Để đánh giá được hiệu quả của quá trình truyền thụ và tiếp thu tri thức đạt được đến đâu thì phải thông qua KT-ĐG Chính vì vậy mà ngay từ khi xuất hiện mô hình nhà trường thì các hình thức KT-ĐG mức độ nhận thức của học sinh cũng ra đời Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có
sự khác nhau nhưng cũng đều đưa ra quy định chuẩn phù hợp với việc đánh giá theo yêu cầu của xã hội hiện tại
Từ thời thượng cổ trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập được thực hiện bằng đàm thoại với mục đích để KT-ĐG các tu sĩ, các học giả để chọn các cá nhân tài năng phục vụ đất nước v.v Nhưng mãi đến thế kỷ XIX thì trắc nghiệm các năng lực mới trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học Theo O.W Caldwell và S.A.Courtis ngay từ năm 1845 Thomas Mann đã có kế hoạch áp dụng hình thức kiểm tra theo tinh thần đảm bảo sự khách quan và độ tin cậy như trắc nghiệm hiện nay
Trang 17Ở Mỹ, năm 1963 đã xuất hiện công trình của Ghécbêrich dùng máy tính điện tử để xử lý các kết quả trắc nghiệm trên diện rộng Vì thế mà trắc nghiệm
tiêu chuẩn hoá được nghiên cứu rộng rãi và tổ chức nhiều hình thức để thi, KT-ĐG kiến thức, kỹ năng ở nhiều môn học từ phổ thông đến phổ thông trung học, cao học và đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Canada, Pháp, Australia, Nhật, Hàn Quốc, Newzealand, Thái Lan, Trung Quốc.v.v [15-tr.28 ]
Song những vấn đề nghiên cứu về quản lý xây dựng câu hỏi trắc nghiệm dùng KT-ĐG kết quả học tập của học sinh phổ thông thì chưa được nhiều nhà khoa học đề cập đến
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta việc KT-ĐG chất lượng học tập được coi là một nhiệm vụ
quan trọng của các trường học Đây là một hoạt động để người học, người dạy
và nhà quản lý đánh giá lại việc làm của mình nhằm có hướng phát huy và
điều chỉnh phù hợp
Tại chế độ phong kiến Việt Nam việc chọn nhân tài cho đất nước phải thông qua các kỳ thi tuyển: Thi Hương, thi Hội, thi Đình Từ đó chọn tuyển nhân tài rồi phong quan để phục vụ cho đất nước và tuỳ theo cấp thi mà chức quan được bổ nhiệm phù hợp với trình độ kỹ năng của họ
Thời kỳ những năm 1950 đến đầu 1970 đất nước còn chia cắt hai miền, thì tại miền Bắc việc nâng cao chất lượng học sinh trên cơ sở nâng cao tính
độc lập, tự giác, tích cực của người học Việc nghiên cứu trong giai đoạn này
chủ yếu nhằm hoàn thiện quá trình dạy học, trong đó có kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh
Trong lĩnh vực nghiên cứu kiểm tra, đánh giá của Giáo sư – Tiến sỹ Hoàng Đức Nhuận, Phó giáo sư – tiến sỹ Lê Đức Phúc đã nêu cơ sở lý luận
Trang 18của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh Giáo sư Đặng Vũ Hoạt đã nêu hệ thống chức năng kiểm tra, đánh giá
Phó giáo sư - tiến sỹ Hà Thị Đức đã nghiên cứu cơ sở lý luận thực tiễn
và hệ thống biện pháp bảo đảm tính khách quan trong quá trình kiểm tra, đánh giá tri thức học sinh sư phạm (1986) đã nêu lý luận và việc thực hiện các chức năng kiểm tra, đánh giá theo đơn vị kiến thức là phương pháp đánh giá khách quan nhất
Phó giáo sư – tiến sỹ Trần Kiều (Viện chiến lược và chương trình giáo dục) chất lượng giáo dục là một vấn đề hàng đầu luôn được xã hội quan tâm
vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước Mọi hoạt
động được thực hiện trong khuôn khổ một chủ thể đều hướng đến mục đích
cuối cùng là đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục [18]
Ngày nay, việc KT-ĐG được thực hiện dưới nhiều dạng, nhiều hình thức Việc sử dụng các trắc nghiệm vào thực tiễn còn là vấn đề mới mẻ Trong lĩnh vực giáo dục có cuốn "Trắc nghiệm giáo dục" của Huỳnh Huynh, Nguyễn Ngọc Đính và Lê Như Dực (1973) dùng để hướng dẫn cụ thể việc dùng trắc nghiệm trong trường học cho các thầy cô giáo Còn giáo trình dùng
để giảng dạy cho hệ cao học có cuốn "Trắc nghiệm và đo lường kết quả học
tập" của Dương Thiệu Tống (1973)
Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện các chủ trương đổi mới phương pháp, chương trình, nội dung đào tạo và cải tiến hoạt động KT-ĐG kết quả học tập của học sinh và sinh viên Do đó có nhiều công trình khoa học nghiên cứu việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm để KT-ĐG kết quả học tập của học sinh đã được triển khai ở các trường phổ thông trung học và cao đẳng trên toàn quốc như: công trình của Bùi Tuấn Khang (1997), Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (1997, 1998, 2000, 2001, 2002), Phạm Thị Thu Hà (1998), Lê Phước Lượng (1998), Trương Hữu Đẳng
Trang 19(1999); Nguyễn Tăng Sang (1999) Song cũng chưa thấy các công trình nghiên cứu về các phương pháp quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi dùng để KT-ĐG kết quả học tập của học sinh
Tóm lại: Có thể nói, trắc nghiệm đã có một lịch sử phát triển khá dài và
đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu và áp dụng thực nghiệm Nhiều
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ngày càng nhiều nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, cải tiến các phương pháp KT-ĐG, thi ở các bậc học Song làm thể nào để quản lý việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm KT-ĐG kết quả học tập của học sinh thì thật sự chưa được các nhà khoa học quan tâm nhiều
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Quản lý
"Quản lý là gì?" là câu hỏi mà bất cứ người học quản lý ban đầu nào cũng cần hiểu và mong muốn lý giải Nó liên quan đến định nghĩa về quản lý Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó; theo Đại từ điển Tiếng Việt: Quản lý là trông coi và giữ gìn; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [ 17- tr.789 ]; theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác
động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài
tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hệu quả cao nhất.” [5- tr.8 ]; theo tác giả Hà Sĩ Hồ “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.” [6- tr.28 ]; theo tác
giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.”
Trang 20[9- tr.8]; theo Đặng Quốc Bảo cho rằng: “ Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn
để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, quá trình “lý” bao gồm sự sửa sang,
sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển” Như vậy quá trình quản lý
là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lượng cao hơn.”; Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức.” [4- tr.1 ]
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu quản lý là tác
động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách
thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả
Các chức năng của quản lý:
Quản lý có 4 chức năng chủ yếu, cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa: có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành
tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Kế hoạch hóa có ba nội dung chủ yếu: xác định hình thành mục tiêu đối với tổ chức; xác định đảm bảo các nguồn lực của tổ chức
để đạt được mục tiêu đề ra và quyết định xem những hoạt động nào là cần
thiết để đạt được mục tiêu đó
- Tổ chức: Khi đã lập xong kế hoạch, người quản lý cần chuyển hóa
những ý tưởng trừu tượng ấy thành hiện thực, chức năng tổ chức của quản lý
có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa đó Tổ chức là quá trình hình
Trang 21thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ tổ chức, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực (nhân lực, vật lực) Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả
- Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được xác lập, cơ cấu bộ máy đã hình
thành, nhân lực đã được tuyển dụng thì cần có người đứng ra chỉ đạo, dẫn dắt
tổ chức Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên, hướng dẫn họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu tổ chức Chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất
mà nó còn tác động trở lại, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng đó
- Kiểm tra: kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý,
thông qua một cá nhân, một nhóm, một tổ chức mà người quản lý theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết [10- tr.12,13] Đó là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có chu kỳ như sau:
Sơ đồ : Chức năng quản lý
Kiểm tra
Kế hoạch
Thông tin Tổ chức
Chỉ đạo
Trang 221.2.2 Giáo dục
Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục xã hội được coi là lĩnh vực hoạt
động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội- lịch sử chuẩn bị
cho thế hệ trẻ trở thành lực lượng nối tiếp sự phát triển của xã hội kế thừa và phát triển nền văn hóa của loài người và của dân tộc Giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp là giáo dục trong nhà trường, đó là quá trình tác động có tổ chức, có
kế hoạch, có qui trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ hành vi đạo đức cho thanh thiếu niên, xây dựng và phát triển nhân cách theo mô hình mà xã hội mong muốn [2- tr.13]
1.2.3 Quản lý giáo dục
Có nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục cả trong nước, nước ngoài
Theo P.V Khuđôminki (nhà lý luận Liên xô cũ) là tác động có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường) nhằm mục
đích bảo đảm việc giáo dục Cộng Sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát
triển toàn diện và hài hoà của họ
Tại Việt Nam: Giáo sư – Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã đưa ra một nội dung khái quát nhưng vẫn cụ thể, hợp lý và dễ hiểu về khái niệm “Quản lý giáo dục” (cũng là khái niệm quản lý trường học) “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là
đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo
dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện các tính chất của nhà trường phổ thông Việt
Trang 23Nam XHCN…, mới quản lý được giáo dục tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân”; Theo PGS-TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc
đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [1- tr.3];
Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt để cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân, trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý
từ trung ương đến địa phương và cũng là hệ thống tự quản độc lập của xã hội Nhiệm vụ quan trọng của nhà trường là đào tạo nguồn nhân lực nhân tài, đáp
ứng với đòi hỏi của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, phối hợp với tiến trình
toàn cầu hoá và hội nhập WTO Trong nhà trường, quản lý con người là nhiệm vụ trọng tâm số một, con người trong nhà trường chính là giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh Dưới tác động (chỉ đạo) của người quản lý (HT) để bộ máy nhà trường vận hành quá trình dạy học – giáo dục nhằm đào tạo ra sản phẩm là nhân cách người lao động mới, (nhân cách học sinh) Việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh và các hoạt động của các tổ chức, cá nhân liên quan, quan tâm đến nhà trường để đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường (hiệu quả trong và hiệu quả ngoài) Người cán bộ quản lý (HT) phải nắm vững các đặc trưng cơ bản trên thì mới có thể quản lý nhà trường một cách hiệu quả, chất lượng giáo dục sẽ được nâng cao hơn
12.4 Kiểm tra
Tổng quát nhất thì “kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” (Từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên) Theo giáo sư Trần Bá Hoành việc kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở đánh giá Việc thu thập thông tin thường tiến hành
Trang 24trong một ngày, một buổi, hoặc một giờ, thậm chí ít hơn một giờ bằng cách tạo điều kiện để đối tượng sử dụng kiến thức, kĩ năng của mình trả lời bài kiểm tra đã được tiêu chuẩn hoá (là bài kiểm tra đã đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về nội dung và kĩ thuật)
Kiểm tra và đánh giá là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau Có khi người ta tiến hành kiểm tra mà không thực hiện toàn bộ quá trình đánh giá, chẳng hạn như tìm hiểu kinh nghiệm học tập, kiến thức đã
có của HS Nhưng đánh giá kết quả học tập của HS thì nhất thiết phải thông qua kiểm tra để người học bộc lộ mức độ đạt mục tiêu học tập của mình Do
đó kiểm tra được coi là phương tiện và hình thức của đánh giá, và có chức
năng cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá
Ở trường học có các loại hình kiểm tra :
(1) Kiểm tra thường xuyên: Là quá trình thu thập thông tin về việc học tập của học sinh một cách liên tục trong lớp học Các hình thức kiểm tra thường xuyên dùng để đánh giá những phương diện cụ thể hay những phần của chương trình học Kết quả của kiểm tra này để theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong suốt tiến trình giảng dạy và nó cung cấp những phản hồi liên tục cho học sinh và giáo viên, giúp GV có biện pháp điều chỉnh kịp thời việc giảng dạy, giúp cho học sinh nhận ra những tiến bộ và chưa tiến bộ của bản thân để từ đó tự điều chỉnh và phát triển
(2) Kiểm tra định kỳ: Là phương thức xem xét kết quả học tập của học sinh theo thời điểm Mục đích của kiểm tra định kì giúp giáo viên biết mỗi học sinh tiếp thu được những gì sau mỗi đơn vị bài học hoặc sau mỗi phần bài học để kịp thời bổ khuyết hay điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học những phần kế tiếp
(3) Kiểm tra tổng kết: Hình thức kiểm tra này được thể hiện vào cuối năm học hoặc cuối cấp học Nhằm đánh giá kết quả chung của môn học,
Trang 25chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm sau Kiểm tra tổng kết được xem là phương tiện để đo mức độ lĩnh hội của học sinh trong các lĩnh vực học tập và được dùng để xếp loại học tập hoặc để xác định thành quả của người học đạt được so với kết quả học tập tổng quát đã được xác định trong mục tiêu dạy học Với vai trò như vậy, kiểm tra tổng kết ở Tiểu học chính là kiểm tra cuối năm
1.2.5 Đánh giá
Đánh giá được định nghĩa là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu
quả công việc [7] Nhấn mạnh đến khía cạnh phải đi đến quyết định “đánh giá
được xem như toàn bộ quá trình thu thập các số liệu và thông tin cần thiết về
chương trình học cụ thể để cung cấp bằng chứng cơ sở cho các nhà hoạch
định chương trình có quyết định liên quan đến chương trình” (14 – Tr 50)
1.2.6 Kết quả học tập
Kết quả học tập là xác định cụ thể cái mà HS sẽ biết, hiểu và có thể làm,
coi như là kết quả nỗ lực cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định và
được hỗ trợ từ bên ngoài (chương trình, sách giáo khoa, tài liệu học tập, kích
thích và hướng dẫn của giáo viên, hỗ trợ của phương tiện dạy học,…) Ngoài
ra, UNESCO còn nhấn mạnh đặc điểm “có thể chứng minh sau khi hoàn thành quá trình học tập”
Có một số khái niệm về kết quả học tập, “Kết quả học tập là bằng chứng
sự thành công của học sinh/sinh viên về kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ
đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” ( James Madison University, 2003;
James O Nichols, 2002) Một quan niệm khác là “Kết quả học tập là kết quả của một môn học, một chuyên ngành hay của một khóa đào tạo” hay “Kết quả
Trang 26học tập của học sinh sinh viên bao gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ họ
có được” Các kiến thức, kỹ năng này được tích lũy từ các môn học khác nhau trong suốt quá trình học tập được qui định cụ thể trong chương trình đào tạo Những khái niệm này tuy cách nói khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng kết quả học tập là gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học có
được trong quá trình học tập và rèn luyện
1.2.7 Đánh giá kết quả học tập
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình
độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân
của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên
và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ
Quá trình kiểm tra đánh giá trong dạy học nói chung gồm các khâu :
- Đo: Trong đánh giá giáo dục, đo được hiểu là so sánh hệ thống các kiến
thức, kĩ năng và thái độ của một cá nhân hoặc tập thể người học đã đạt được với một hệ thống các kiến thức, kĩ năng và thái độ dùng làm chuẩn, tiêu chí
- Lượng giá: Là việc giải thích các thông tin thu được về KT-KN của
HS, làm sáng tỏ trình độ tương đối của một HS so với thành tích chung của một tập thể hoặc trình độ của một HS so với yêu cầu của chương trình học tập
- Đánh giá : Là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình
độ của HS, xét trong mối quan hệ với quyết định cần đưa ra Các bài kiểm tra,
bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra KT-KN trong dạy học Vì vậy việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong việc KT-ĐG
Tất cả những định nghĩa trên đều được xem xét phù hợp với mục đích
đối tượng KT-ĐG Kiểm tra và đánh giá là hai công việc có thứ tự và đan xen
Trang 27nhau nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng giúp xác định mức độ đạt
được các mục tiêu giáo dục và đào tạo
1.2.8 Ngân hàng câu hỏi
a Câu hỏi trắc nghiệm tự luận
TNTL (luận đề) là hình thức tự trình bày câu trả lời bằng ngôn ngữ của mình Loại trắc nghiệm này ngược với TNKQ, cho phép có một sự tự do tương đối để trả lời vấn đề đặt ra, đòi hỏi người được kiểm tra biết sắp xếp câu trả lời cho đúng và sáng sủa Bài TNTL được chấm điểm một cách chủ quan, điểm số cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất nên loại trắc nghiệm này gọi là trắc nghiệm chủ quan [8]
Câu hỏi TNTL là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải tự viết đầy
đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình Đây chính là loại
hình câu hỏi và bài tập lâu nay chúng ta vẫn quen dùng để ra các đề kiểm tra viết Loại trắc nghiệm này có những ưu điểm và nhược điểm sau đây
- Ưu điểm: Tạo điều kiện để HS bộc lộ khả năng diễn đạt những suy luận của mình, có thể thấy được quá trình tư duy của HS để đi đến đáp án, soạn dễ hơn và mất ít thời gian hơn so với soạn đề bằng các hình thức khác
- Nhược điểm: Thiếu tính toàn diện và hệ thống; thiếu tính khách quan; việc chấm bài khó khăn, mất nhiều thời gian, điểm số có độ tin cậy thấp; không thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại để chấm bài cũng như phân tích kết quả kiểm tra
b Trắc nghiệm khách quan
Là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn, hoặc nếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ duy nhất
có một cách viết đúng Trắc nghiệm này được gọi là "khách quan" vì tiêu chí
đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
người chấm So với TNTL thì TNKQ có một số ưu điểm và nhược điểm sau
Trang 28- Ưu điểm: Bài kiểm tra bằng TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi nên có thể bao quát một phạm vi rất rộng của nội dung chương trình, có tiêu chí đánh giá đơn nhất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm, sự phân
bố điểm của các bài kiểm tra bằng TNKQ được trải trên một phổ rộng hơn nhiều, có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong việc chấm điểm
và phân tích kết quả kiểm tra
- Nhược điểm: Không cho phép đánh giá năng lực diễn đạt của HS cũng như không cho thấy quá trình suy nghĩ của HS để trả lời một câu hỏi hoặc giải
đáp một bài tập, việc biên soạn đề kiểm tra rất khó và mất nhiều thời gian
c Ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá
Ngân hàng câu hỏi KT-ĐG là một tập hợp các câu hỏi TNKQ và tự luận
được xây dựng một cách hệ thống theo từng mức độ yêu cầu nhận thức của
chuẩn KT-KN từng mảng kiến thức Nó là công cụ để đổi mới phương pháp dạy học, KT-ĐG và quản lý chất lượng đào tạo
Trong dạy học: GV căn cứ vào ngân hàng câu hỏi để thực hiện phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy thu thập thông tin, dạy năng lực xử
lý thông tin và năng lực xử lý vấn đề
Trong học tập: giúp HS xác định kiến thức chuẩn môn học mình cần phải nắm, tự học và tự kiểm tra nhận thức của mình, mở rộng kiến thức qua các tài liệu tham khảo khác nhau; giúp HS có thể học nhóm, trao đổi thảo luận trên cơ sở câu hỏi có sẵn trong ngân hàng
Trong KT-ĐG: sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có sẵn giúp tiện lợi cho việc ra đề kiểm tra, hạn chế tiêu cực trong thi cử
Sử dụng câu hỏi KT-ĐG cũng là hình thức đa dạng hóa loại hình đào tạo (tại chức, từ xa, E-Learning ) nhằm mở rộng qui mô đào tạo mà vẫn giữ vững và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 291.3 LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
1.3.1 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
a Mục đích của kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Tùy từng trường hợp việc KT-ĐG có thể có các mục đích khác nhau Cụ thể trong dạy học KT-ĐG gồm 3 mục đích chính:
+ Kiểm tra KT-KN để đánh giá trình độ xuất phát của người học có liên quan đến việc xác định nội dung, phương pháp dạy học một môn học, một học phần sắp bắt đầu
+ KT-ĐG nhằm mục đích dạy học: Bản chất việc KT-ĐG nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy
+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích, kết quả học tập hoặc nhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu, phương pháp dạy học
Mục đích KT-ĐG kết quả học tập theo chuẩn KT-KN chính là: Cung cấp những thông tin tương đối chính xác về: nội dung học tập và mức độ nhận biết, hiểu, vận dụng của HS theo yêu cầu của mục tiêu, của chuẩn KT-KN đề
ra, nguyên nhân ở đâu, từ đó đề xuất các biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt
động dạy học; góp phần điều chỉnh phương pháp dạy và phương pháp học; đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với mục tiêu,
chuẩn KT-KN đã định trong chương trình bộ môn; đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với mặt bằng chất lượng chung của HS cùng lớp trong học tập, cung cấp thông tin ngược cho HS về quá trình học để
tự điều chỉnh, kích thích hoạt động học, khuyến khích tự đánh giá
b Chức năng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập
GS Trần Bá Hoành đề cập đến ba chức năng của KT-ĐG trong dạy học:
- Chức năng sư phạm: KT-ĐG thể hiện ở tác dụng có ích cho bản thân
HS được kiểm tra cũng như chất lượng dạy của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy
- Chức năng xã hội: Công khai hóa kết quả học tập của mỗi HS trong tập thể lớp, trường, thông báo nội dung kết quả học tập cho HS, gia đình và xã hội
Trang 30- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực tế dạy và học, về hiệu quả dạy học của một sáng kiến, cải tiến nào đó trong dạy học Tùy theo mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào
đó sẽ được đưa lên hàng đầu
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, chúng ta chủ yếu quan tâm
đến các chức năng sư phạm của KT-ĐG bao gồm 3 chức năng chính :
+ Chức năng chuẩn đoán: Các bài kiểm tra trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượm thông tin cần thiết cho việc xác định hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học Dựa trên kết quả KT-ĐG kiến thức ta biết rõ trình độ xuất phát của người học để điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp, cho phép đề xuất định hướng bổ sung những sai sót, phát huy những kết quả trong cải tiến hoạt động dạy học đối với những phần kiến thức đã giảng dạy Dùng các bài KT-ĐG khi bắt đầu dạy học một phần để thực hiện chức năng chuẩn đoán
+ Chức năng định hướng hoạt động học: Các bài kiểm tra trắc nghiệm có thể được sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học; đó là các câu hỏi kiểm tra từng phần, kiểm tra thường xuyên được sử dụng để chỉ đạo hoạt
động học Các bài kiểm tra trắc nghiệm được soạn thảo công phu, nó là cách
diễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể đối với các KT-KN nhất định, nó có tác dụng
định hướng hoạt động tích cực của HS, sinh viên Việc xem xét thảo luận các
câu hỏi trắc nghiệm nếu được tổ chức một cách khoa học, đúng lúc có thể xem như một phương pháp dạy học tích cực, giúp cho người học chiếm lĩnh
được kiến thức một cách tích cực, sâu sắc và vững chắc, đồng thời có thể giúp
cho người dạy kịp thời bổ sung, điều chỉnh hoạt động dạy cho có hiệu quả + Chức năng xác nhận thành tích học tập, xác nhận trình độ KT-KN của người học: Với chức năng này đòi hỏi nội dung các bài kiểm tra trắc nghiệm
và các tiêu chí đánh giá căn cứ theo các mục tiêu dạy học đã xác định cụ thể cho từng KT-KN Các bài kiểm tra trắc nghiệm như vậy có thể được sử dụng
để nghiên cứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quả phương pháp dạy học
Trang 31c Các yêu cầu sư phạm đối với kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
KT-ĐG kiến thức, kỹ năng của HS chỉ có tác dụng khi thực hiện tốt các yêu cầu sau:
* Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá: Phản ánh tính
trung thực kết qua lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của HS so với yêu cầu qui
định; nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu của chương trình qui định; tổ chức thi phải nghiêm minh để đảm bảo tính khách quan trong KT-ĐG
từ khâu ra đề, tổ chức thi, tới khâu cho điểm Xu hướng chung là tùy theo đặc trưng môn học mà lựa chọn hình thức thích hợp
* Đảm bảo tính toàn diện, hệ thống và thường xuyên: Đảm bảo tính hệ
thống và thường xuyên tức là KT-ĐG kiến thức của HS cần phải tiến hành thường xuyên và có hệ thống, có kế hoạch, cần phối hợp nhiều hình thức kiểm tra Thực tế dạy học đã chứng minh, kết hợp theo dõi thường xuyên với KT-
ĐG định kỳ và đánh giá tổng kết cuối học kỳ đã giúp cho GV có cơ sở đánh
giá đúng thực trạng học lực của HS, mặt khác nó cũng có ảnh hưởng đến
động cơ học tập và kết quả học tập của HS
* Đảm bảo tính phát triển: Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó; trân trọng sự
cố gắng của HS, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của HS; đảm bảo
tính công khai trong đánh giá
d Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá
Để đảm bảo tính khoa học của việc KT-ĐG kiến thức, kỹ năng thì việc
đó phải được tiến hành theo một quy trình hoạt động chặt chẽ như sau:
- Xác định rõ mục đích KT-ĐG
- Xác định rõ nội dung cụ thể của các KT-KN cần KT-ĐG, các tiêu chí
cụ thể của mục tiêu dạy học từng KT-KN đó, để làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu Việc xác định nội dung kiến thức cần chính xác, cô đọng
Trang 32Việc xác định các mục tiêu, yêu cầu đánh giá cần dựa trên quan niệm rõ ràng
và sâu sắc về các nội dung dạy học
- Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp với đặc điểm của nội dung KT-KN cần kiểm tra, phù hợp với mục đích cần kiểm tra Cần nhận rõ ưu, nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra để có thể sử dụng phối hợp và tìm biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục tối đa các nhược điểm của mỗi hình thức đó
- Xây dựng các câu hỏi, các đề bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm cho phép thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định
- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin (chấm), xem xét kết quả và kết luận đánh giá
e Các hình thức kiểm tra đánh giá cơ bản
Ghép đôi khuyết Điền
Đúng sai
-Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Tiểu luận
Trang 331.3.2 KT-ĐG kết quả học tập môn Toán trường Tiểu học
Hiện nay trên thế giới không còn thực hiện đánh giá học sinh bằng điểm
số mà tất các môn học đều được đánh giá bằng nhận xét Hiện nay Bộ GD-ĐT cũng đã thực hiện chủ trương không cho điểm đối với học sinh lớp 1 và chính thức thí điểm đánh giá bằng nhận xét đối với cấp TH (những trường tham gia thí điểm Vnen) Đây là tiền đề dẫn đến đổi mới KT-ĐG học sinh TH Song để
có kết quả đánh giá chính xác, dù có đánh giá bằng nhận xét hay điểm số đều cần có câu hỏi kiểm tra để làm công cụ thu thập thông tin
Hiện nay việc thực hiện KT-ĐG vẫn còn thực hiện theo Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 20 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định đánh giá xếp loại học sinh Tiểu học Điều 6 thông tư này qui định trường TH có hai loại đánh giá là: đánh giá thường xuyên và
đánh giá định kì
- Đánh giá thường xuyên được thực hiện ở tất cả các tiết học theo quy
định của chương trình nhằm mục đích theo dõi, động viên, khuyến khích hay
nhắc nhở HS học tập tiến bộ, đồng thời để GV đổi mới phương pháp, điều chỉnh hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục nhằm đạt hiệu quả thiết thực
Đánh giá thường xuyên được tiến hành dưới các hình thức kiểm tra thường
xuyên, gồm: kiểm tra miệng, kiểm tra viết (dưới 20 phút), quan sát học sinh qua hoạt động học tập, thực hành vận dụng KT-KN
- Đánh giá định kì kết quả học tập của HS được tiến hành sau từng giai
đoạn học tập, nhằm thu nhận thông tin cho GV và các cấp quản lí để chỉ đạo, điều chỉnh quá trình dạy học; thông báo cho gia đình nhằm mục đích phối hợp động viên, giúp đỡ HS Đánh giá định kỳ ở TH được thực hiện 4 lần trong
một năm gồm: giữa kỳ I, cuối kỳ I, giữa kỳ II và cuối năm Trong đó, lần
đánh giá cuối năm còn được xem như đánh giá tổng kết, bởi vì kết quả
Trang 34KT-ĐG lần này có ý nghĩa quan trọng là quyết định HS lên lớp thẳng hay kiểm tra
1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT
KT-ĐG là bộ phận hợp thành và là khâu cuối cùng của hoạt động dạy học KT-ĐG kết quả học tập của HS được tiến hành theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhau nhằm khảo sát, xem xét cả mặt định lượng lẫn định tính kết quả học tập của HS Quản lý KT-ĐG cần quản ý đồng bộ các nội
dung sau: [13- tr28-33]
- Quản lý thời gian kiểm tra đánh giá: Thời gian KT-ĐG được quy định
rõ trong Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27/10/2009 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh TH và Biên chế năm học do
Sở GD&ĐT thành phố qui định Do đó Hiệu trưởng cần quản lý chặt chẽ thời gian kiểm tra từng tháng của toàn thể GV các lớp để phân tích, tổng kết tình hình thực hiện việc KT-ĐG kết quả học tập của HS và có những chỉ dẫn, bổ khuyết khi cần thiết Việc quản lý thời gian kiểm tra này là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các trường TH trong toàn quốc, do đó khi thực hiện việc này yêu cầu các nhà quản lý trường TH phải đảm bảo theo quy định một cách
khoa học và hiệu quả
Trang 35- Quản lý nội dung và hình thức KT-ĐG: Nội dung kiểm tra bao hàm tất
cả những yêu cầu của bài kiểm tra đối với từng môn học, từng khối học Căn
cứ vào KT-KN được qui định trong mục tiêu và các cấp độ yêu cầu của chuẩn
đề ra nội dung cụ thể cần phải kiểm Hình thức kiểm tra bao gồm kiểm tra
miệng trên bảng, trên lớp, kiểm tra viết đối với các môn đánh giá bằng điểm
số, đối với các môn đánh giá bằng nhận xét thì hình thức kiểm tra tập trung ở kiểm tra miệng trong từng tiết học và theo dõi hành vi của học sinh để ghi nhận xét vào sổ theo dõi cá nhân Quản lý các hình thức kiểm tra là một yêu
cầu bắt buộc và phải thường xuyên liên tục
- Quản lý công tác xây dựng câu hỏi kiểm tra: Câu hỏi kiểm tra là công
cụ để thu thập thông tin Quản lý công tác xây dựng đề kiểm tra là một khâu rất quan trọng, bởi lẽ câu hỏi càng tốt thì thông tin thu được càng có độ tin cậy cao Quản lý công tác xây dựng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập của HS là quản lý đồng bộ các khâu trong qui trình xây dựng câu hỏi
- Quản lý lực lượng tham gia kiểm tra đánh giá: Trong trường tiểu học
thì lực lượng tham gia KT-ĐG bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, giáo viên
chuyên, phụ huynh HS
- Quản lý kết quả kiểm tra đánh giá: Việc KT-ĐG kết quả học tập của
học sinh là sự chỉ đạo của ngành và riêng của trường, song việc quản lý kết quả đó phải đảm bảo nguyên tắc chính xác, công bằng, dân chủ và khách quan Hiệu quả, chất lượng dạy – học luôn phụ thuộc vào việc KT-ĐG của
GV Do đó việc quản lý kết quả học tập của HS là vô cùng quan trọng, nó giúp người quản lý biết chất lượng học tập của HS toàn trường đang ở mức nào, đã đến mục tiêu mà kế hoạch đề ra hay chưa, cần điều chỉnh và khắc
phục như thế nào trong năm học và các năm tiếp theo
Trang 361.5 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
1.5.1 Vai trò, ý nghĩa của việc quản lý xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Với câu hỏi đặt ra cho chúng ta là công tác KT-ĐG chất lượng HS có cần thiết trong nhà trường hiện nay không? Nó có ảnh hưởng tới việc dạy và học như thế nào? Ảnh hưởng gì tới sự phát triển nhân cách HS? Nó có quan
hệ ra sao đối với việc phát triển xã hội? Vậy tổ chức quản lý như thế nào cho phù hợp với bối cảnh hiện nay, làm thế nào để đạt hiệu quả trong chiến lược phát triển con người toàn diện? Những vấn đề được giải quyết từng bước theo
cơ sở biện chứng của lý luận khoa học giáo dục
Để CNH – HĐH đất nước vào năm 2020 thì phải đào tạo đội ngũ con
người có tình yêu quê hương đất nước, có tình cảm, tri thức, có kỹ năng lao
động sáng tạo, ham học hỏi và nắm bắt, áp dụng nhanh những tiến bộ của
khoa học công nghệ trên khu vực và thế giới vào nước ta Để có con người như vậy phải thông qua giáo dục mà giáo dục không thể bỏ qua khâu KT-ĐG chất lượng của thầy cô giáo, của HS trong quá trình dạy và học Trong thực tiễn chúng ta thấy rằng, muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì không thể bỏ qua vấn đề KT-ĐG tri thức Kiểm tra nhằm nắm bắt, thu thập thông tin, đối chiếu thực tiễn việc làm (dạy và học) xem có đúng, đủ theo yêu cầu hay không, phù hợp để đạt mục tiêu đề ra chưa Đánh giá nhằm xác định rõ thực chất trình độ tri thức của HS, việc dạy của GV đảm bảo đạt hay chưa đạt Chỉ
số của đánh giá cho phép nhà trường và các cấp quản lý giáo dục hoạch định những chiến lược tiếp theo, hoặc là cơ sở cho những thay đổi trong chương trình
Như vậy KT-ĐG chất lượng HS trong nhà trường là vấn đề rất quan trọng, nó bao hàm, xâm nhập và có tác dụng tương hỗ qua lại đảm bảo mối
Trang 37liên hệ nghịch thường xuyên và bền vững trong quá trình dạy và học, do đó việc quản lý tổ chức thực hiện là vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường
Kiểm tra là quan sát kiểm nghiệm sự phù hợp giữa quá trình hoạt động của khách thể với các quyết định quản lý, với các đạo luật, các mục tiêu, đó chính là một loại hoạt động quản lý nhằm đo lường phát hiện những sai lệch,
để chấn chỉnh những công việc đang làm cho phù hợp với mục tiêu đề ra
Kiểm tra trong quản lý trường học là phương thức thu nhận thông tin về tình hình chất lượng, về nội dung, về tổ chức của các hoạt động giáo dục trong nhà trường [11] Để KT-ĐG kết quả học tập của HS một cách chính xác thì khâu xây dựng đề kiểm tra theo chuẩn rất quan trọng Để có các bộ đề kiểm tra đảm bảo chuẩn thì nhà quản lý, người kiểm tra cần có ngân hàng câu hỏi Đây là công cụ phục vụ cho việc thu thập thông tin trong đánh giá Xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập của HS là một quá trình gồm nhiều bước Việc quản lý tốt các bước trong hoạt động này có vai trò quan trọng Nó giúp cho nhà trường có một ngân hàng đề theo các mức độ nhận thức Từ đó, giáo viên, nhà quản lý dễ dàng lựa chọn đề làm công cụ thu thập thông tin về học tập của HS trong từng giai đoạn hay theo mục đích nào đó Trong nhà trường việc đánh giá thường được dựa trên kết quả kiểm tra mà công cụ của
nó là các đề kiểm tra, kiểm tra là phương tiện của đánh giá, người học trong nhà trường qua được tất cả các kỳ kiểm tra coi như đã đến đích cuối cùng của
đánh giá Đánh giá tốt là phương tiện củng cố lòng tin cho HS vào sức học và
khả năng của mình, cũng là phương tiện để bù trừ những sai lầm trong học tập
và cuộc sống Qua đánh giá cũng hình thành ở HS khả năng tự đánh giá, tự ý thức về bản thân Theo Robert F.Mager (Pháp): Đánh giá là việc miêu tả tình hình của HS và GV để dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp HS tiến bộ [12]
Trang 38Từ những ý kiến trên, ta có thể rút ra nhận xét: Xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập theo chuẩn KT-KN giúp nhà giáo dục có được công cụ để kiểm tra nhằm thu thập thông tin trong quá trình đánh giá Từ đó
xử lý kịp thời, nắm chắc được thông tin về hiện trạng, nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục Căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về trình độ, khả năng
thực hiện mục tiêu học tập của HS và việc dạy của GV nhằm tìm ra những nguyên nhân của tình hình đó, tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm để giúp HS học tập tiến bộ hơn, phát triển nhân cách ngày một tốt hơn Chính vì vậy quản lý việc xây dựng ngân hàng câu hỏi phục vụ cho KT-ĐG chất lượng
HS là hết sức quan trọng trong quá trình lao động của người Hiệu trưởng Xem xét quá trình dạy học không thể tách rời việc nghiên cứu xây dựng câu hỏi KT-ĐG chất lượng học tập HS theo chuẩn, đồng thời nghiên cứu xây dựng câu hỏi KT-ĐG chất lượng học tập HS theo chuẩn cũng không thể tách rời mối liên hệ đồng bộ với giáo dục và đào tạo nói chung và quá trình dạy học ở nhà trường nói riêng Chúng ta có thể khẳng định lại rằng có học tập thì phải có KT-ĐG, KT-ĐG cần phải có công cụ - ngân hàng câu hỏi Quản lý tốt công tác xây dựng ngân hàng câu hỏi KT-ĐG kết quả học tập của HS là hình thành được những bộ công cụ tốt giúp cho hoạt động KT-ĐG một cách chính xác, toàn diện, xác định kết quả học tập và là tiền đề để ra các quyết định quản lý đúng đắn trong việc chỉ đạo của nhà trường
1.5.2 Hoạt động xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để có một ngân hàng câu hỏi tốt, bao trùm được nội dung và đảm bảo được chuẩn KT-KN của môn học, cần thực hiện tốt các bước sau [15- tr.28 ]
Trang 39Bước 1: Xác định mục đích, nội dung môn học cần kiểm tra:
Một bài kiểm tra có thể phục vụ nhiều mục tiêu nhưng bài kiểm tra có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để phục vụ cho một mục tiêu chuyên biệt nào đó Nếu bài kiểm tra là một bài kiểm tra cuối năm nhằm xếp loại học sinh thì các câu soạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới phát hiện ra được HS giỏi và HS yếu; nếu là bài kiểm tra nhằm kiểm tra những
điều hiểu biết tối thiểu về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao
cho hầu hết HS đều đạt được điểm tối đa; nếu bài kiểm tra nhằm mục tiêu chuẩn đoán, tìm ra những chỗ mạnh, yếu của HS, giúp cho GV điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp, thì câu hỏi được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho
HS phạm tất cả mọi sai lầm về môn học nếu chưa học kĩ Bên cạnh các mục
đích nói trên ta có thể dùng bài kiểm tra với mục tiêu tập luyện giúp cho HS
hiểu thêm bài học Tóm lại, bài kiểm tra có thể phục vụ nhiều mục tiêu, người soạn câu hỏi phải biết rõ mục tiêu của mình thì mới soạn thảo được bài kiểm tra giá trị vì mục tiêu chi phối nội dung, hình thức bài kiểm tra
Sau khi xác định mục đích kiểm tra, người quản lý cần quản lý nội dung chi tiết các KT-KN quan trọng của môn học mà HS lĩnh hội Tùy theo thời
điểm kiểm tra trong năm học, nội dung kiến thức có thể chỉ trong nửa học kỳ,
học kỳ hay cả năm Kết quả của công việc này là một bảng kê những nội dung trọng tâm về KT-KN cần đo lường Như vậy khi phân tích nội dung môn học, chúng ta nên chú ý đến chuẩn về KT-KN mà HS phải đạt được sau quá trình học tập (HS biết gì, hiểu gì, trình bày thế nào, thực hiện đạt kết quả gì )
Bước 2: Xác định các mục tiêu nhận thức:
Các mục tiêu dạy học cần kiểm tra đánh giá của chương trình có thể dựa trên sự phân loại của về mục tiêu nhận thức của B.S.Bloom Theo cách phân loại của B.S.Bloom, lĩnh vực nhận thức được chia thành 6 phạm trù chính, xếp từ mức độ đơn giản nhất đến phức tạp nhất tạo thành hình kim tự tháp là:
Trang 40Nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá Song trong thực tế hiện nay, việc áp dụng các mức độ nhận thức này trong quá trình soạn câu hỏi ở nước ta còn mới mẻ nên nhiều nhà giáo dục trong nước đề nghị nên dùng 3 hoặc 4 mức độ nhận thức đầu:
Mức độ nhận biết: Mức độ này được xem như là nhận ra được, phát
ngôn lại được, nhớ lại đúng, xây dựng lại được tri thức, diễn đạt được những nội dung đã học một cách thành thạo
Mức độ thông hiểu: Mức độ này đòi hỏi HS hiểu được các khái niệm cơ
bản và có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách GV đã giảng hoặc như các ví dụ tiêu biểu về chúng trên lớp
Mức độ vận dụng ở cấp độ thấp: Tức là có thể hiểu được khái niệm ở một
cấp độ cao hơn thông hiểu, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản
và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đã được trình bày giống với bài giảng của GV hay trong SGK
Mức độ vận dụng ở cấp độ cao: HS có thể sử dụng các khái niệm về
môn học – chủ đề để giải quyết những vấn đề mới, không giống với những
điều đã được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa nhưng phù hợp khi được giải quyết với KT-KN được giảng dạy ở mức độ nhận thức này Đây là
những vấn đề giống với các tình huống mà HS sẽ gặp ngoài xã hội Ở cấp độ này có thể hiểu nó tổng hòa cả ba cấp độ nhận thức là Phân tích, Tổng hợp và
Đánh giá theo bảng phân loại các cấp độ nhận thức của Bloom
Bước 3 Thiết lập dàn bài trắc nghiệm:
Dàn bài trắc nghiệm (còn gọi Bảng qui định hai chiều) là một ma trận 2 chiều, trong đó một chiều biểu thị các chủ điểm nội dung, chiều còn lại biểu thị mục tiêu nhận thức mà bài trắc nghiệm cần khảo sát