Trong thành phần cấu trúc của máu thì bên cạnh huyết tương còn có các yếu tố hữu hình là các TB hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.. Nhiệm vụ cụ thể: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của dịch chiết t
Trang 1C N N
C SƢ P M KHOA SINH
K ÓA LUẬN TỐT N ỆP C
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA DỊCH CHIẾT TỪ CÂY CỎ LÀO (Eupatorium
odoratum l King et Robinson) ĐẾN SỰ THAY ĐỔI
MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH LÝ MÁU CỦA CHUỘT
NHẮT TRẮNG (Mus musculus Var.Albino)
Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Hồng Hạnh
Chuyên ngành : Cử nhân Sinh Môi Trường
Người hướng dẫn : Nguyễn Công Thùy Trâm
Trang 2MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cơ thể con người, máu là một thành phần không thể thiếu và đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự sống Với khả năng vận chuyển chất dinh dưỡng và năng lượng máu tham gia vào quá trình trao đổi chất và năng lượng giữa các cơ quan, ngoài ra máu con có khả năng bảo vệ cơ thể
Trong thành phần cấu trúc của máu thì bên cạnh huyết tương còn có các yếu tố hữu hình là các TB hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu Hàm lượng các yếu tố này được xem như là những chỉ tiêu sinh lý quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến tình trạng sức khỏe cơ thể Vì những ý nghĩa đặc biệt đó mà các nhà khoa học từ nhiều thế kỷ qua
đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu trên rất nhiều lĩnh vực về máu Một trong những hướng nghiên cứu mới là việc tìm ra các loại thảo dược thiên nhiên có tác dụng tốt đến máu do ưu điểm chính của các thảo dược này là ít gây tác dụng phụ và hiệu quả điều trị là tương đối bền vững Điều này đã được khẳng định qua các thành tựu, các công trình nghiên cứu y học cổ truyền tại Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…
Cây cỏ lào là một trong những cây thuốc đã được sử dụng từ lâu đời trên thế giới cũng như Việt Nam Trong y học dân tộc, thông thường ta hay dùng lá tươi cầm máu vết thương, các vết cắn chảy máu không cầm Cũng được dùng chữa bệnh
lỵ cấp tính và bệnh ỉa chảy của trẻ em, chữa viêm đại tràng đau nhức xương, viêm răng lợi, chữa ghẻ, lở, nhọt độc… cũng có hiệu quả cao Tuy nhiên, những minh chứng về liều lượng của dịch chiết từ cây cỏ lào ảnh hưởng như thế nào đối với từng chỉ số máu là chưa được chú ý nghiên cứu
Xuất phát từ những cơ sở lý luận trên, chúng tôi tiến hành chọn đề tài: “BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH CHIẾT TỪ CÂY CỎ LÀO
(Eupatorium odoratum l King et Robinson) ĐẾN SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ
SỐ SINH LÝ MÁU CỦA CHUỘT NHẮT TRẮNG (Mus musculus Var.Albino)”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3a. Mục tiêu nghiên cứu:
- Bước đầu nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số sinh lý máu của chuột nhắt
trắng dưới tác dụng của dịch chiết từ cây cỏ lào (Eupatorium odoratum L King et Robinson) nhằm góp phần bổ sung tư liệu trong việc nghiên cứu tác dụng của cây
cỏ lào đến chỉ số máu ở động vật thực nghiệm
- Góp phần bổ sung nguồn tư liệu làm cơ sở để nghiên cứu tác dụng của dịch chiết từ cây cỏ lào đến hiệu quả phòng và trị bệnh ở con người
b Nhiệm vụ cụ thể:
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của dịch chiết từ cây cỏ lào đến:
- Số lượng các yếu tố hữu hình: hồng cầu, bạch cầu trong máu chuột nhắt trắng
- Hàm lượng Hemoglobin trong máu chuột nhắt trắng
- Thời gian máu đông, thời gian máu chảy của chuột nhắt trắng
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. ại cương về cây cỏ Lào (Eupatorium odoratum L.; Chromolaena
odorata King & Robinson)
1.1.1 Tên gọi cây cỏ lào
Tên khoa học: Eupatorium odoratum L.; Chromolaena odorata King &
Trang 5 Phân bố, trồng trọt và thu hái [2], [10]
Cây cỏ lào có nguồn gốc ở Nam Mỹ Cho đến nay người ta phát hiện ra cây mọc hoang ở các nước nhiệt đới thuộc Châu Á (tỉnh Vân Nam, Quảng Đông của Trung Quốc) Ở Việt Nam, cây mọc phổ biến ở các nơi đất hoang, nhiều nhất là ven rừng thưa ở các tỉnh thuộc miền Bắc, ở vùng đồi hoang trung du Cỏ lào mọc rất khỏe, phát tiển nhanh trong mùa mưa Cây có khả năng tái sinh rất mạnh cho năng suất cao từ 20 – 30 tấn/ha Có thể thu hái lá và toàn cây quanh năm
Bộ phận sử dụng: toàn cây gồm lá, thân, rễ nhưng trong đó lá được sử dụng chủ yếu do tác dụng của nó là mạnh nhất
- Cầm máu, liền sẹo: cao chiết với cồn của các bộ phận trong cây cỏ lào trừ rễ
có tác dụng chống co thắt cơ trơn gây bởi histamin và acetycholin trên hồi tràng cô lập chuột lang
- Rút ngắn thời gian điều trị vết thương: khi sử dụng cao lá cỏ lào để điều trị tại chỗ vết thương phần mềm nhiễm khuẩn và vết thương phần mềm lâu liền và đã chứng minh cỏ lào có những tác dụng sau:
+ Làm giảm tiết dịch, giảm mùi hôi, hoại tử rụng nhanh hơn hẳn nhóm đối chứng
+ Làm rút ngắn thời gian điều trị vết thương do thúc đẩy nhanh quá trình loại
bỏ hoại tử, tân tạo mô hạt và liền sẹo
- Ức chế sự sinh trưởng in vitro và in vivo của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết thương như tụ cầu khuẩn vàng, Escherichia coli, Proteus, trực khuẩn mủ xanh
- Ngoài ra, cây cỏ lào còn dùng để chữa tiêu chảy, kiết lỵ, đau nhức xương, ghẻ lở, phòng và trị đỉa cắn Mỗi chế phẩm từ cao lá cỏ lào chữa một số bệnh về răng miệng Cỏ lào còn dùng chữa bỏng và vết thương phần mềm
Trang 6- Chữa ho, cảm lạnh, cúm: Người Campuchia và Haiti uống nước sắc cỏ lào chữa ho, cảm lạnh, cúm
- Chữa mụn nhọt, vết loét: Người Dominic, Trinidat dùng lá cỏ lào đắp chữa mụn nhọt và vết loét lâu liền
- Có tác dụng trực tiếp tới tăng trưởng tế bào gốc: cỏ lào có thể tác động tích cực đến khả năng di cư lấp đầy vết thương trong các thực nghiệm của tế bào gốc dây rốn Với ghép tế bào, thời gian làm liền tổn thương nhanh hơn điều trị bằng phương pháp thông thường
1.1.3 Thành phần hóa học
Những nghiên cứu khoa học cho thấy thành phần cây cỏ Lào chứa 2,65% đạm; 0,5% phosphor và 2,48% kalium Ngoài ra cỏ Lào còn chứa tinh dầu, tannin (thuộc nhóm tanin pyrogalic), flavonoid (flanovol, flanaval, chalcol, dihydroflanovol), coumarin, ankaloit, antraquinon, glucocid,…nhưng chủ yếu là tinh dầu và flanovoid
Tinh dầu[7], [9]
Tinh dầu được trích từ lá và hoa bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước sau đó phân tích tinh dầu bằng sắt kí khí mao quản đã xác định đươc thành phần chính của tinh dầu lá và hoa trong cây cỏ lào như sau:
- Tinh dầu trích từ lá (0,16%): geiren (42,54%), acetat bornil (3,46%) và cubeben (12,51%)
- Tinh dầu trích từ hoa (0,01%): geiren (7,98%), acetat bornil (22,93%) và B-cubeben (26,1%)
Tinh dầu từ cây cỏ lào có tác dụng kháng sinh tốt, ức chế hai loại vi khuẩn staphylococcus và shigella shigae Nước sắc lá có tác dụng kháng sinh mạnh nhất
do có hàm lượng tinh dầu cao nhất Điểm đặc biệt là thân rễ không có tác dụng với
Trang 7Flavonoid là nhóm hợp chất phenol có cấu tạo khung theo kiểu C6-C3 C6 hay nói cách khác là khung cơ bản gồm 2 vòng benzen A và B nối với nhau qua một mạch 3 carbon
+ Phân loại:
Flavonol
Flavonol là một loại hợp chất thuộc họ Flavoniod, thuộc nhóm Hidroxit - 3OH Chất này tồn tại trong các loại trái cây và rau củ và đýợc đánh giá là tốt cho sức khỏe
Flavanon
Hợp chất flavanon có tác dụng tãng cýờng chức nãng mạch máu hoặc giảm viêm nhiễm, có liên quan đến đột quỵ
+Tắnh chất sinh học của flavonoid:
-Các flavonoid có khả năng dập tắt các gốc tự do như HO., ROO Các gốc này sinh ra trong tế bào và cạnh tranh với DNA sẽ gây ra những ảnh hưởng nguy hại cho cơ thể như gây biến dị, hủy hoại tế bào, gây ung thư, tăng nhanh sự lão hoá Đặc biệt, khả năng chống oxy hóa của flavonoid còn mạnh hơn các chất khác như vitamin C, F, selenium và kẽm
-Flavonoid cùng với acid ascorbic tham gia quá trình hoạt động của enzym oxy hóa Ờ khử, Flavonoid còn ức chế hoạt động của hyalunorydase, enzym làm tãng tắnh thấm của mao mạch
-Thành phần của màng tế bào có các chất lipid dễ bị peroxyd hoá, tạo ra những
sản phẩm làm rối loạn sự trao đổi chất cũng dẫn đến sự huỷ hoại tế bào Đưa các chất chống oxy hoá như flavonoid vào cơ thể để bảo vệ tế bào thì có thể ngăn ngừa các nguy cơ như xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hoá , tổn thương do bức xạ, thoái hoá gan
Tannin [8], [17], [28]
Tanin là các chất thuộc nguồn gốc thực vật, không có nitơ, có cấu trúc
polyphenol, tan trong nước, cồn, axeton, không tan trong ether và chlororm
Tannin pyrogalic là taninin có khả năng thủy phân tạo ra phần đường là các glycose và phần không đường là các acid
Trang 8+Tác dụng của tannin
-Dung dịch tanin kết hợp với protein, tạo thành màng trên niêm mạc nên ứng dụng làm thuốc săn da Tanin còn có tác dụng kháng khuẩn nên dùng làm thuốc súc miệng khi niêm mạc miệng, họng bị viêm loét, hoặc chỗ loét khi nằm lâu Tanin có thể dùng trong để chữa viêm ruột, chữa tiêu chảy
- Tanin kết tủa với kim loại nặng và với alcaloid nên dùng chữa ngộ độc đường tiêu hoá
- Tanin có tác dụng làm đông máu nên dùng đắp lên vết thương để cầm máu, chữa trĩ, rò hậu môn
Coumarin [8], [17]
Coumarin là những dẫn chất α- pyron có cấu trúc C6- C3 Benzo α-pyron là chất coumarin đơn giản nhất tồn tại trong thực vật được biết từ năm 1820 trong hạt của cây Dipteryx odorata Willd thuộc họ Ðậu
Trong tự nhiên, coumarin hay gặp là glucose, ít tồn tại dạng glycosid, nếu có thì mạch đường thường có dạng đơn giản
Tác dụng đáng chú ý của các dẫn chất coumarin là chống co thắt, làm giãn nở động mạch vành mà cơ chế tác dụng tương tự như papaverin
Tác dụng chống đông máu của coumarin cũng được biết từ lâu Đồng thời tác dụng như vitamin P (làm bền và bảo vệ thành mạch), ví dụ bergapten , aesculin, fraxin Đồng thời nhiều dẫn chất coumarin có tác dụng kháng khuẩn
Ngoài ra, các chất aflatoxin là những coumarin có tính chất độc có thể gây ung thư
Alkaloid [8], [17], [28]
Alkaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa nito, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường găp trong thực vật và đôi khi có trong động vật, thường có dược tính mạnh và cho những phản ứng hóa học với một số thuốc thử chung của alkaloid
Công dụng của alkaloid rất đa dạng và phong phú tùy theo từng loại alkaloid
- Tác dụng lên hệ thần kinh: strychnine, caffeine, morphin, codeine
Trang 9- Tác dụng hạ huyết áp: reserpine, serpentin
- Tác dụng chống ung thư: taxol, vinblastine, vincristine
- Tác dụng diệt ký sinh trùng, diệt khuẩn: quinine, berberine, arecoline, emetine
1.2. CHUỘT NHẮT TRẮNG (Mus musculus Var.Albino)
1.2.1 Đặc điểm sinh học của chuột nhắt trắng [24]
Chuột nhắt trắng trưởng thành có chiều dài cơ thể (tính từ mũi đến gốc đuôi) là 7,5–10 cm và chiều dài đuôi là 5–10 cm Khối lượng cơ thể chúng vào khoảng 10–25g
Bộ lông : lông chuột ngắn, ở tai và đuôi thì ít lông hơn Chân sau của chuột nhắt khá ngắn, nhưng chúng có thể nhảy cao đến 45 cm
Vòng đời và sinh sản: con đực trưởng thành sinh dục sau khoảng 6 tuần tuổi và con cái là khoảng 8 tuần tuổi Chuột cái có chu kỳ động dục dài 4 – 6 ngày Chuột trắng dòng thuần trong điều kiện nuôi có thời gian mang thai ngắn ( trung bình là 30 ngày), chuột đẻ chủ yếu vào ban đêm, đẻ trung bình 6 con/ 1 lứa
1.3 CƯƠN VỀ MÁU
1.3.1 Ý nghĩa sinh học của máu
Máu là một mô lỏng có màu đỏ, vị mặn, lưu thông trong hệ thống tuần hoàn.[14]
Máu có các chức năng sau:
Trang 10- Chức năng hô hấp: máu vận chuyển O2 từ phổi đến các tế bào và CO2 từ các
Chức năng bảo vệ cơ thể: các loại bạch cầu của máu có khả năng thực bào, khử độc, tiêu diệt vi trùng Trong máu có các kháng thể, kháng độc tố… tham gia vào cơ chế bảo vệ cơ thể
Chức năng thống nhất điều hòa hoạt động cơ thể: máu mang các hormone, các loại khí O2 và CO2, các chất điện giải khác Ca++, K+, Na+… để điều hòa hoạt động của các nhóm tế bào, các cơ quan khác nhau trong cơ thể nhằm đảm bảo sự hoạt động đồng bộ của các cơ quan trong cơ thể
Máu còn có khả năng điều hòa nhiệt độ cơ thể một cách nhanh chóng làm cho các phần khác nhau trong cơ thể luôn có cùng một nhiệt độ tương đương nhau [3], [5]
Trang 11-Thành phần của hồng cầu là huyết tố (hemoglobin) Hemoglobin chiếm 34% trọng lượng tươi và trên 90% trọng lượng khô của hồng cầu.[3], [5], [14], [19]
Vai trò hemoglobin trong hồng cầu
Hồng cầu là những túi chứa đựng hemoglobin Chính những phần tử hemoglobin này thực hiện chức năng vận chuyển khí O2 và CO2 của hồng cầu Mỗi hồng cầu có khoảng 34,6 – 35 microgam hemoglobin
Cấu tạo hemoglobin
Hemoglobin là một protein có màu gồm 2 thành phần là hem và globin.[3]
Hình 1.2 Hemoglobin A: hình thái hemoglobin B: nhóm heme chứa sắt
Sự sản sinh hồng cầu
Ở giai đoạn bào thai, hồng cầu được sản sinh trong gan và lá lách Ở cuối giai đoạn bào thai và từ khi sinh ra đến khi già, hồng cầu sinh ra ở tủy xương Tất cả tủy xương đều sinh ra hồng cầu cho đến tuổi trưởng thành
Sự tạo ra hồng cầu bắt đầu từ những tế bào cơ bản (hemocytoblast) tách
ra từ nội mô các mao mạch của tủy xương Sau đó lần lượt trải qua các giai đoạn: hemocytoblast, erythroblast ưa kiềm, erythroblast đa sắc, normoblast, reticulocyt và cuối cùng tạo thành erythrocyt
Ở giai đoạn normoblast, khi hàm lượng hemoglobin được hình thành trong bào tương đạt mức 34% thì normoblast mất nhân Lượng reiculocyt trong máu
Trang 12không chiếm quá 0,5% Erythrocyt là hồng cầu chính thức, không có nhân Chúng xuyên qua mao mạch đi vào hệ tuần hoàn
Các chất cần thiết cho quá trình sản sinh hồng cầu
Để tạo thành hồng cầu, trong cơ thể có hai quá trình song song: sự tạo thành tế bào hồng cầu và sự tổng hợp hemoglobin Đây là những quá trình rất phức tạp, đòi hỏi nhiều nguyên liệu như protein, cholin, thymidin, acid nicotinic, thiamin, pyridoxin, acid folic, vitamin B12, Fe++, nhiều enzim và chất xúc tác cho quá trình tổng hợp này
Bệnh thiếu máu ác tính không phải do thiếu vitamin B12 trong thức ăn mà do
cơ thể không hấp thụ được vitamin B12 vì dạ dày thiếu sự bài tiết yếu tố nội tại (là chất tiết ra từ phần đáy và thân dạ dày, bản chất là mucopolysacarit hay mucopolypeptit) Yếu tố nội tại này kết hợp với vitamin B12 để tạo thành phức hợp, phức hợp này gắn với receptor màng tế bào niêm mạc hồi tràng và vitamin B12 được hấp thụ theo cơ chế ẩm bào
Vitamin B12 vào máu, dự trữ ở gan Nhu cầu vitamin B12 là 1 – 3 mg/24h trong khi đó sự dự trữ vitamin B12 của gan có thể gấp 1000 lần nhu cầu của cơ thể trong một ngày
- Chất sắt
Sắt là một chất quan trọng trong sự thành lập Hb, sắt được hấp thu ở phần trên của bộ máy tiêu hóa, chủ yếu là tá tràng Sắt được hấp thu bằng cơ chế chủ động
Trang 13Sắt được hấp thu dưới dạng nhị (Fe++) hơn là dạng tam (Fe+++)
Sắt tham gia vào thành phần của heme, thiếu sắt sẽ gây bệnh thiếu máu nhược sắt
- Axit folic (vitamin L1, vitamin B9)
Axit folic là một vitamin tan trong nước, có nhiều trong rau cải xanh, ốc, gan, thịt Hằng ngày cần 50 – 100 mg
Axit folic cần thiết cho sự trưởng thành các hồng cầu do sự tăng sự methyl hóa quá trình thành lập AND
Sự hấp thu axit folic ở ruột nhưng chủ yếu diễn ra ở hỗng tràng dưới tác dụng của mônglutamat
Bạch cầu là những tế bào có nhân được tạo thành trong tủy xương và các hạch
bạch huyết Chúng có khả năng di động trong mạch máu, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây nhiễm khuẩn và nhiễm độc bằng quá trình thực bào và quá trình miễn dịch Kích thước khác nhau tùy từng loại bạch cầu nhưng nói chung lớn hơn hồng cầu, trung bình đường kính 8 – 15 µm [5]
Các loại bạch cầu
Có hai loại bạch cầu: bạch cầu đa nhân (có hạt) và bạch cầu đơn nhân (không
hạt)
Trang 14- Bạch cầu không hạt đơn nhân: là những bạch cầu mà trong bào tương không
có hạt và nhân không phân thùy Nhóm bạch cầu này chiếm khoảng 1/3 tổng số bạch cầu trong máu và được chia thành hai loại là bạch cầu đơn nhân lớn mono (monocyte), bạch huyết bào hay còn gọi là lympho bào (lymphocyte)
- Bạch cầu đa nhân: là những bạch cầu mà trong bào tương có các hạt bắt màu đặc trưng và nhân chia ra nhiều thùy Bạch cầu này chiếm khoảng 2/3 tổng số bạch cầu trong máu Căn cứ vào sự bắt màu của các hạt chúng đươc chia ra thành: bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophil), bạch cầu đa nhân ưa acid (eosinophil), bạch cầu
đa nhân ưa bazo (basophil).[5]
Công thức tính bạch cầu thông thường ở người Việt Nam trưởng thành:
Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách sau:
- Thực bào là khả năng mà bạch cầu sẽ ăn những chất lạ hoặc các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, tạo cho cơ thể có sức đề kháng tự nhiên dẫn tới hình thành sự miễn dịch bẩm sinh
- Đáp ứng miễn dịch: kháng nguyên và những chất lạ khi đưa vào cơ thể sẽ gây ra một đáp ứng miễn dịch bằng cách sản sinh ra các kháng thể tương ứng đặc hiệu với kháng nguyên để bảo vệ cơ thể Đáp ứng miễn dịch gồm 2 dạng:
+ Miễn dịch dịch thể: do limpho B tiết ra IgG hoà tan huyết thanh, huyết thanh này được dùng dể để phòng chữa bệnh như huyết thành phòng dại, huyết thanh chống uốn ván…
+ Miễn dịch tế bào: do limpho T bị kích thích bới các kháng nguyên, độc tố… Limpho bào T trở thành limpho cảm ứng để tiết ra IgG gắn trên màng tế bào Nhờ
đó lipho T tiêu diệt được các tác nhân xâm nhập trực tiếp hay gián tiếp vào cơ thể
Trang 15- Tạo interferon do bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính sản sinh ra khi có các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể Interferon có tác dụng ức chế sự sản sinh ra các virut, hạn chế hiện tượng ung thư [3], [5], [14], [19]
và tiếp theo là myeloblast Lúc này nó phân thành ba loại bạch cầu non (myelocyt)
là trung tính, ưa acid và ưa base Sau khi trải qua một vài dạng trung gian, ví dụ: metamyelocyt, ba loại bạch cầu trưởng thành và vào máu
Lympho bào được sinh ra từ tổ chức lưới của lách và ống tiêu hóa Từ tế bào lưới phân hóa thành tế bào lymphoblast, rồi trưởng thành tạo thành lympho bào Bạch cầu đơn nhân lớn chưa có nguồn gốc rõ ràng Người ta cho rằng chúng được sinh ra từ hệ võng mạc nội mô Tuy nhiên khi bị cắt lá lách, tủy xương cũng
có thể sản xuất bạch cầu đơn nhân
Sự sản sinh của bạch cầu đòi hỏi một số chất như vitamin, acid amin Thiếu acid ffolic, vitamin nhóm B sự trưởng thành của bạch cầu bị cản trở [15]
Một số bệnh lý liên quan đến bạch cầu
Ung thư bạch cầu hay còn có tên gọi ngắn gọn là bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu, thuộc loại ung thư ác tính Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong
cơ thể người bệnh tăng đột biến Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo
vệ cơ thể nên chúng cũng khá "hung dữ", đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết
Bệnh lý gia tăng các bạch cầu non: xuất hiện khi tình trạng nhiễm trùng quá nặng làm tiêu hủy nhiều bạch cầu trưởng thành, khi ấy các bạch cầu mới được sản xuất chưa đủ lớn đã được tung ra chiến đấu với tác nhân gây nhiễm
Trang 16HIV: virus gây ra tình trạng tấn công hủy diệt các bạch cầu lymphocytes Nhiễm HIV dẫn đến bệnh lý AIDS, làm cho hệ miễn dịch không còn khả năng chống chọi lại bệnh tật, cho dù đó là bệnh thông thường nhất.[14], [16]
Đôi nét về sự đông máu
Ðông máu là một quá trình chuyển máu ở thể lỏng (sol) sang thể đặc (gel), mà
thực chất là chuyển fibrinogen ở dạng hòa tan thành dạng không hòa tan
Quá trình đông máu diễn ra với sự tham gia của 13 yếu tố và trải qua 3 giai đoạn chính
Các yếu tố tham gia vào quá trình đông máu:
Yếu tố I: Fibrinogen
Yếu tố II: Prothrombin
Yếu tố III: Thromboplastin tổ chức
Yếu tố IV: Calcium
Yếu tố V: Proaccelerin
Yếu tố VII: Proconvertin
Yếu tố VIII: Yếu tố chống chảy máu A
Yếu tố IX: Yếu tố chống chảy máu B còn gọi là yếu tố Christmas
Yếu tố X: Yếu tố Stuart
Yếu tố XI: Tiền Thromboplastin huyết tương
Yếu tố XII: Yếu tố Hageman
Yếu tố XIII: Yếu tố ổn định Fibrin
Các giai đoạn của quá trình đông máu
Trang 17- Giai đoạn 1: hình thành tromboplastin nội sinh và ngoại sinh
- Giai đoạn 2: hoạt hóa protrombin thành trombin
- Giai đoạn 3: tạo thành sợ fibrin và cục máu đông [3], [5], [14], [18]
Bệnh lý do tiểu cầu và do các yếu tố đông máu khác
Thiếu tiểu cầu là bệnh lý thường gặp gây ra các chứng xuất huyết bất thường Nguyên nhân có thể do tác dụng phụ của thuốc, do nhiễm trùng, ung thư bạch cầu Bệnh Hemophilia: Do cơ thể thiếu yếu tố đông máu số VIII, một chấn thương nhẹ cũng có thể gây ra các vết bầm tím, sưng nề, chảy máu liên tục
Bệnh Von Willebrand: đây cũng là chứng bệnh do thiếu hụt yếu tố đông máu Protrombin, một yếu tố quan trọng do gan sản xuất Nếu gan bị tổn thương (viêm, xơ, teo cấp tính) sẽ làm máu khó đông
Vitamin K kích thích tạo protrombin Khi cơ thể không hấp thu đủ vitamin
K, hoặc khi gan bị bệnh hay tắc ống dẫn mật sẽ làm giảm sự hấp thu vitamin K, làm máu khó đông
Yếu tố chống đông máu Anti hemophilia (yếu tố VIII) do thành mạch máu tạo ra, nếu thiếu, làm máu khó đông Nguyên nhân chủ yếu là do di truyền liên kết với giới tính và gen gây bệnh nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X (ở nam giới thường mắc bệnh này nhiều hơn) [14],[16],[19]
1.3.3 Vài nét về bệnh thiếu máu
1.3.3.1 Định nghĩa
Thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu hay huyết sắc tố dưới mức bình thường so với người cùng tuổi, cùng giới sức khỏe
1.3.3.2 Nguyên nhân gây thiếu máu
- Thiếu máu do thiếu sắt:
Do mất sắt vì kinh nguyệt nhiều, xuất huyết đường tiêu hóa, điều trị dài ngày với aspirine và thuốc kháng viêm không steroid, nhiễm giun móc, xuất huyết đường niệu
Giảm cung cấp sắt ở người bị cắt dạ dày, khấu phần ăn không đủ sắt ở người già thiếu dinh dưỡng, nhịn ăn Nhu cầu sắt cao ở phụ nữ và trẻ em
Trang 18- Thiếu máu do mất máu:
Khi mất máu, Fe++ và các thành phần của hồng bị mất khỏi cơ thể, mất máu có thể cấp tính hoặc kinh niên
Thiếu máu do mất máu như chấn thương, xuất huyết tiêu hóa khi lượng máu mất hơn 10% dù cơ thể vận dụng cơ chế bù trừ (co mạch, tăng nhịp tim, tăng sức co bóp, tái phân phối máu) huyết áp vẫn giảm dần do giảm thể tuần hoàn Khi lượng máu mất đến 30 – 40 % thì xảy ra shock Nếu sự mất máu được kiểm soát, số lượng hồng cầu sẽ phục hồi trong 3 – 4 tuần
Thiếu máu do mất máu kinh niên như do trĩ, rong kinh, giun Cơ thể thích nghi với tình trạng thiếu máu Hồng cầu có ít hemoglobin thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ
- Thiếu máu do huyết tán:
Thiếu máu huyết tán có đặc điểm là hồng cầu vỡ sớm, tích tụ lại trong cơ thể
Fe++ và các sản phẩm của sự hủy hoại hồng cầu Do đời sống hồng cầu ngắn nhưng tủy xương thường ở trạng thái hoạt động mạnh gây tăng số lượng hồng cầu lưới trong máu Ngoài biểu hiện thiếu máu còn biểu hiện vàng da
- Khiếm khuyết ở màng hồng cầu
Bệnh hồng cầu hình cầu di truyền có sự bất thường của protein màng hồng cầu (chất spectin), sự rối loạn về cấu trúc và chức năng của men ATPase, chất phospholipid ở màng hồng cầu giảm các rối loạn về cấu trúc màng làm cho màng hồng cầu tăng tính thấm đối với Na+ làm cho hồng cầu phình lên ở dạng cầu vận chuyển được oxi nhưng dễ vỡ khi đi qua xoang tĩnh mạch và tuần hoàn ở lách Di truyền mang tính trội, nhiễm sắc thể thường
- Huyết tán do các nguyên nhân ngoài hồng cầu:
Một số yếu tố mắc phải, ngoại sinh đối với hồng cầu gây tan máu bởi tác động trực tiếp gây tổn thường màng hồng cầu hoặc bởi kháng thể bao gồm: thuốc, chất hóa học, nộc rắn, vi khuẩn, sốt rét, ngoài ra còn có các yếu tố cơ học như: van tim nhân tạo, phỏng, viêm mạch máu
- Thiếu máu huyết tán do nhiễm khuẩn: tổn thương hồng cầu có thể theo các cơ chế:
Trang 19+ Do tác động trực tiếp của độc tố vi khuẩn như Clostridium pefringens tiết
lecithinase tác động lên lipoprotein gây vỡ hồng cầu
+ Do cơ chế miễn dịch: polysaccharide từ vi khuẩn được gắn lên bề mặt hồng cầu, cơ thể tạo kháng thể chống lại gây vỡ hồng cầu
+ Kí sinh trùng tác động trực tiếp gây vỡ hồng cầu
+ Động mạch nội mạch rải rác: gây tan máu do hồng cầu qua lòng mạch bị hẹp
- Thiếu máu do tủy xương kém hoặc không hoạt động
Sự sinh hồng cầu giản nếu tủy xương bị cốt hóa hoặc xơ tủy: tủy xương bị xâm lấn bởi ác tính; tủy xương bị ngộ độc bởi thuốc, hóa chất; thiếu hormon eryhtroppoieine như suy thận, bất sản tủy không rõ nguyên nhân Ngày nay, người
ta nghĩ rằng bất sản tủy do:
Tổn thương tế bào gốc làm giảm số lượng tế bào gốc
Tổn thương vi mô trường ở tủy xương ( tổn thương tế bào chất đệm)
Do cơ chế miễn dịch, là cơ chế được đề cập nhiều nhất do quá trình miễn dịch hay tự miễn, gây tình trạng ức chế miễn dịch ở tủy xương Các tế bào lympho
đã hoạt hóa sản xuất ra các γINF và βTNF có tác động ức chế sự tăng trưởng của tế bào gốc, tế bào chất đẹm thì bị ức chế bởi γINF.[1]
1.3.3.3 Phòng chống thiếu máu
- Bổ sung bằng viên sắt
Cải thiện nhanh tình trạng thiếu máu ở các đối tượng bị đe dọa Trong điều kiện nguồn thuốc và cán bộ hạn chế nên ưu tiên cho đối tượng có tỉ lệ mắc bệnh cao như người mẹ có thai, trẻ em, học sinh và lao động một số ngành nghề khác
- Cải thiện chế độ ăn
Trước hết chế độ ăn cần cung cấp đầy đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt Đồng thời tăng cường khả năng hấp thu sắt nhờ tăng lượng vitamin C từ rau quả ( ô dinh dưỡng, vườn rau gia đình) Tỷ lệ hấp thu của sắt không ở dạng heme tăng lên thuận chiều với lương vitamin C trong khẩu phần Nên khuyến khích các cách chế biến nảy mầm, lên men (giá đỗ, dưa chua) Vì các quá trình này làm tăng lượng vitamin c và làm giảm lương Tamin và Phytic trong thực phẩm
Trang 20- Tăng cường sắt cho một số thức ăn
Đây là một hướng kỹ thuật khóa khăn nhưng đang được thăm dò ở nhiều nước Vấn đề đặt ra là đảm bảo hoạt tính sinh học của sắt mà không gây ra mùi vi khó chiu cho thực phẩm Các loại thực phẩm được thử nghiệm tăng cường là gạo, muối, đường, nước mắm, bột cá, chè [1],[3]
1.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM [11],[13],[19], [23]
Năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh trong công trình “nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp bào chế đối với tác dụng bổ huyết của Hà thủ ô đỏ (polygonum multiflorum thunb) trên chuột nhắt trắng gây thiếu máu Kết quả cho thấy Hà thủ ô đỏ có tác dụng tăng các chỉ tiêu sinh lý máu
Năm 2005, tác giả Lê Thị Phương Thảo đã nghiên cứu tác dụng của trứng kiến thủy phân và rượu trứng kiến lên một số chỉ số sinh học trên động vật thực nghiệm Kết quả cho thấy viên nang trứng kiến thủy phân làm tăng số lượng hồng cầu và bạch cầu của chuột cống trắng
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hoàn Mỹ đã nghiên cứu, khảo sát sự ảnh
hưởng của Vừng (Sesamum orientale) lên một số chỉ tiêu sinh lý của chuột nhắt
trắng bằng phương pháp cho uống Kết quả cho thấy nước Vừng có tác dụng tốt đến
sự sản sinh hồng cầu, làm tăng bạch cầu và hàm lượng hemoglobin trong máu chuột nhắt trắng
Năm 2007, tác giả Nguyễn Phương Dung đã nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp bào chế đối với tác dụng bổ huyết của Hà thủ ô đỏ trên chuột nhắt trắng thiếu máu thực nghiệm Nghiên cứu trên 50 con chuột nhắt trắng, được gây thiếu máu bằng APH, theo dõi 14 ngày Đánh giá số lượng hồng cầu, bạch cầu, Hb, Hct, trọng lượng lách chuột Kết quả sau 7 ngày điều trị bằng 2 loại cao lỏng Hà thủ
ô (20g/kg chuột nhắt), trọng lượng, số lượng hồng cầu, Hb, Hct và số lượng bạch cầu đều được cải thiện Dạng hà thủ ô đã chế biến có tác dụng tốt hơn dạng chư chế biến Phương pháp bào chế Hà thủ ô có ảnh hưởng đến tác dụng bổ huyết trên thực nghiệm
Năm 2008, tác giả Đồng Thị Hải Yến đã tiến hành đề tài nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số máu của chuột nhắt trắng dưới tác dụng của Hà thủ ô đỏ Kết quả
Trang 21cho thấy Hà thủ ô đỏ có tác dụng làm tăng cường các chỉ số sinh lý máu trên cơ thể chuột nhắt trắng: Hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin
Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Trâm đã nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ số máu ở chuột nhắt trắng dưới tác dụng của thành phần thức ăn có bổ sung bột lạc Kết quả cho thấy bột lạc có tác dụng làm tăng cường các chỉ số sinh lý máu trên cơ thể chuột nhắt trắng: hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin
Năm 2009, tác giả Đoàn Suy Nghĩ đã nghiên cứu ảnh hưởng của độc tố cá nóc (S.Spadiceus rich) lên một số chỉ tiêu huyết học của chuột nhắt trắng và khả năng thải độc của nấm hoàng chi Kết quả cho thấy nấm hoàng chi có thể hạn chế được tác động của độc tố cá nóc đối với sự phá hủy hồng cầu và bạch cầu
Trang 22Chương 2 Ố TƯỢN , DƯỢC L ỆU, MÔ ÌN BỐ TRÍ
T Í N ỆM V P ƯƠN P ÁP N ÊN CỨU
2.1 ối tượng nghiên cứu:
Chuột nhắt trắng (tên khoa học: Mus musculus Var.Albino - chi Mus - họ
Muridae - bộ Rodentia - lớp Mammalia - ngành Chordata) do trung tâm kiểm
nghiệm dược – mỹ phẩm Huế cung cấp gồm 50 con, không phân biệt đực cái, độ
tuổi từ 7 – 9 tuần tuổi, trọng lượng trung bình từ 20-30g/con, khỏe mạnh
Toàn bộ số chuột trên được nuôi trong cùng điều kiện, cùng chế độ dinh dưỡng trong suốt quá t nh nghiên cứu tại p ng thí nghiệm “Di truyền và sinh học động vật” thuộc khoa Sinh – Môi Trường, Trường Đại học sư phạm Đà Nẵng
2.2 Dược liệu được sử dụng trong nghiên cứu:
Lá của cây cỏ lào (Chromolaena odorata L) được bào chế thành dịch chiết
toàn phần bằng kỹ thuật chiết Soxhlet, dung môi được sử dụng là cồn 900, khi dùng pha với nước cho chuột uống theo các liều thích hợp với thể trọng.[18]
2.3 Mô hình bố trí thí nghiệm:
Chuột nhắt trắng được chia thành 2 nhóm:
- 01 nhóm uống dịch chiết liên tục trong vòng 15 ngày
- 01 nhóm uống dịch chiết liên tục trong vòng 30 ngày
Mỗi nhóm gồm 5 lô:
Lô ĐC âm: Uống nước bình thường
Lô 1: Uống dịch chiết liều: 0.035ml/20g thể trọng/1 ngày
Lô 2: Uống dịch chiết liều: 0.04ml/20g thể trọng/1 ngày
Lô 3: Uống dịch chiết liều: 0.045ml/20g thể trọng/1 ngày
Lô 4: Uống dịch chiết liều: 0.05ml/20g thể trọng/1 ngày
Chuột uống dịch chiết một lần trong ngày vào lúc 9h sáng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp xác định số lượng hồng cầu
Số hồng cầu được xác định bằng phương pháp pha loãng máu và đếm dưới
kính hiển vi trong buồng đếm USA
Trang 23 Phương pháp tiến hành:
- Bắt chuột vào lúc 9h sáng và cho chuột vào ống nhốt chuột
- Vuốt nhẹ đuôi theo chiều dài đuôi
- Sát trùng đuôi chuột bằng cồn và để cho da khô
- Dùng kéo cắt đoạn ngắn khoảng 2 cm đuôi chuột, vuốt nhẹ cho máu chảy
ra
- Hút máu vào ống trộn hồng cầu đến vạch 0.5 Sau đó hút thêm dung dịch pha loãng hồng cầu đến vạch 101 Máu lúc này được pha loãng 200 lần
- Đưa dung dịch vào buồng đếm, quan sát
- Số lượng hồng cầu được xác định trong 5 ô lớn gồm 4 ô lớn ở 4 góc và 1 ô lớn ở giữa Mỗi ô lớn gồm 16 ô nhỏ
X
Hình 2.1 Mô tả cách đếm hồng cầu trong buồng đếm
- Gọi N là tổng số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu A là tổng số hồng cầu trong 80 ô nhỏ Số hồng cầu trung bình trong mỗi ô nhỏ là A/80
2.4.2 Phương pháp xác định số lượng bạch cầu
Số bạch cầu được xác định bằng phương pháp pha loãng máu và đếm dưới kính hiển vi trong buồng đếm USA
Phương pháp tiến hành:
- Bắt chuột vào lúc 9h sáng và cho chuột vào ống nhốt chuột
- Vuốt nhẹ đuôi theo chiều dài đuôi
Trang 24- Sát trùng đuôi chuột bằng cồn và để cho da khô
- Dùng kéo cắt đoạn ngắn khoảng 2 cm đuôi chuột, vuốt nhẹ cho máu chảy
ra
- Hút máu vào ống trộn bạch cầu đến vạch 0.5 Sau đó hút thêm dung dịch pha loãng bạch cầu đến vạch 11 Máu lúc này được pha loãng 20 lần
- Đưa dung dịch vào buồng đếm, quan sát
- Số lượng bạch cầu được xác định trong 25 ô lớn
- Gọi M là tổng số bạch cầu trong 1mm3 máu B là tổng số bạch cầu trong 25
ô lớn Đếm số lượng bạch cầu ở hai buồng đếm khác nhau nên:
B = (B1 + B2)/2
- Khi đếm bạch cầu người ta đếm ở 25 ô lớn tức là: 25 * 16 = 400 ô nhỏ
- Số bạch cầu trong 1mm3 máu là:
M = B/400 * 4000 * 20 = B* 200/mm3 [6], [12].
2.4.3 Phương pháp xác định hàm lượng Hemoglobin
Hàm lượng Hemoglobin được xác định bằng huyết sắc kế Sali
Phương pháp tiến hành:
- Bắt chuột vào lúc 9h sáng và cho chuột vào ống nhốt chuột
- Vuốt nhẹ đuôi theo chiều dài đuôi
- Sát trùng đuôi chuột bằng cồn và để cho da khô
- Dùng kéo cắt đoạn ngắn khoảng 2 cm đuôi chuột, vuốt nhẹ cho máu chảy
Trang 25nghiệm với màu nâu ở hai ống mẫu hai bên cho đến khi đồng màu thì đọc kết quả [6], [12]
2.4.4 Phương pháp xác định thời gian máu đông, máu chảy
Thời gian máu đông, máu chảy được xác định bằng phương pháp Pin và uây
Ly- Phương pháp tiến hành:
- Bắt chuột vào lúc 9h sáng và cho chuột vào ống nhốt chuột
- Vuốt nhẹ đuôi theo chiều dài đuôi
- Sát trùng đuôi chuột bằng cồn và để cho da khô
- Bắt chuột vào ống nhốt chuột và vuốt nhẹ đuôi theo chiều dài đuôi
- Sát trùng đuôi chuột bằng cồn và để cho da khô
- Tính thời gian máu đông:
Dùng kéo cắt đoạn ngắn khoảng 2 cm đuôi chuột, vuốt nhẹ cho máu chảy ra, loại bỏ giọt máu đầu
Đặt một giọt lên lam kính sao cho giọt tròn đều và có đường kính khoảng 5-7
mm cứ 10 giây lại nghiên lam kính một lần cho đến khi giọt máu không thay đổi hình dạng lệch về phía nghiêng là được Thời gian máu đông tính bằng giây
- Tính thời gian máu chảy
Dùng dao chà sát nhẹ vào đuôi chuột cho đến khi có máu chảy ra, để máu chảy
Trang 26Chương 3: K T QU V B ỆN LUẬN 3.1 nh hưởng của dịch chiết cây cỏ lào đến số lượng hồng cầu
Kết quả nghiên cứu về số lượng hồng cầu của chuột nhắt trắng sau khi sử dụng dịch chiết từ cây cỏ lào được trình bày trong bảng 3.1, hình 3.1, hình 3.2 và hình
3.3
Bảng 3.1: Số lượng hồng cầu của chuột nhắt trắng (Triệu TB/mm3
)
Thời gian uống
dịch chiết Phân lô
Liều lượng (ml/ 20g /ngày)
Số lượng hồng cầu( triệu TB/
mm3)
Độ tin cậy (p) Giữa các lô So với ĐC