TRẦN ANH VIỆT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH THPT CỦA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Quản l
Trang 1TRẦN ANH VIỆT
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH THPT CỦA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Anh Việt
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ L LUẬN CỦA VIỆC QUẢN L PHỐI HỢP GIÁO DỤC CH NH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA QUẬN ĐOÀN TNCS HCM VÀ TRƯỜNG THPT 6
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ 6
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 8
1.2.1 Giáo dục chính trị tư tưởng 8
1.2.2 Huyện (Quận) Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 12
1.2.3 Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường 17
1.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THPT 22
1.3.1 Sự phát triển về trí tuệ và thể lực 23
1.3.2 Sự phát triển của tự ý thức 24
1.3.3 Sự hình thành thế giới quan 25
1.4 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC GDCTTT CHO HỌC SINH THPT 26
1.4.1 Nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với chế độ Xã hội chủ nghĩa, với Đảng, với dân tộc của HS THPT 26
Trang 4nước và xây dựng lối sống lành mạnh cho HS THPT 271.5 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GDCTTT CỦA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT CHO HỌC SINH THPT 281.5.1 Khái niệm quản lý phối hợp giáo dục chính trị tư tưởng của Quận đoàn và trường THPT 281.5.2 Mục đích phối hợp của Quận đoàn và trường THPT trong GDCTTT 291.5.3 Vai trò của Đoàn TNCS HCM với công tác GDCTTT 301.5.4 Vai trò của trường THPT trong công tác GDCTTT 311.5.5 Nội dung quản lý sự phối hợp giữa Quận đoàn và trường THPT trong công tác GDCTTT cho học sinh THPT 33Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH THPT CỦA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 36
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ QUẬN ĐOÀN TNCS HCM VÀ CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU 362.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của quận Hải Châu 362.1.2 Quận đoàn TNCS HCM quận Hải Châu (Quận đoàn Hải Châu) 382.1.3 Trường THPT trên địa bàn Quận Hải Châu 422.2 THỰC TRẠNG GDCTTT CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 45
Trang 52.2.4 Kết quả khảo sát 46
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRONG CÔNG TÁC GDCTTT CHO HỌC SINH THPT 56 2.3.1 Giới thiệu khảo sát 56
2.3.2 Kết quả khảo sát 57
2.4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRONG CÔNG TÁC GDCTTT CHO HỌC SINH THPT 65 2.4.1 Nhận thức về mục đích, vai trò của hoạt động quản lý sự phối hợp GDCTTT cho HS của Quận đoàn và trường THPT 65
2.4.2 Thực trạng quản lý kế hoạch, chương trình phối hợp giữa Quận đoàn và trường THPT trong công tác GDCTTT cho HS THPT 68
2.4.3 Tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa Quận đoàn và trường THPT trong công tác GDCTTT cho HS THPT 70
2.4.4 Giám sát, kiểm tra sự phối hợp giữa Quận đoàn và trường THPT trong công tác GDCTTT cho HS THPT 72
2.5 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRONG CÔNG TÁC GDCTTT CHO HỌC SINH THPT 74
2.5.1 Ưu điểm 75
2.5.2 Hạn chế 75
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 77
Tiểu kết chương 2 80
Trang 6THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 82
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC XÁC LẬP CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GDCTTT CHO HỌC SINH THPT 82
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 82
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 83
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 84
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 84
3.2 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GDCTTT CHO HỌC SINH THPT CỦA QUẬN ĐOÀN VÀ TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 85
3.2.1 Nâng cao nhận thức của CBQĐ, CBQL, GV về tầm quan trọng của công tác quản lý phối hợp GDCTTT cho HS THPT của Quận đoàn và trường THPT 85
3.2.2 Đa dạng hóa nội dung, hình thức và cải tiến phương pháp GDCTTT cho học sinh 88
3.2.3 Cải tiến việc xây dựng kế hoạch phối hợp GDCTTT cho HS của Quận đoàn và trường THPT 96
3.2.4 Tăng cường tổ chức thực hiện sự phối hợp giữa Quận đoàn và trường THPT trong GDCTTT cho HS 99
3.2.5 Cải tiến việc kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý phối hợp GDCTTT cho HS của Quận đoàn và trường THPT 101
3.2.6 Sử dụng hợp lí và tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho những hoạt động GDCTTT cho HS 102
Trang 7Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 8BGH : Ban giám hiệu
GVBM : Giáo viên bộ môn
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
Trang 9Nhận thức và tầm quan trọng hoạt động phối hợp giữa
Quận đoàn và trường THPT trong công tác GDCTTT
cho HS
58
2.6 Các nội dung phối hợp GDCTTT cho HS THPT của
Quận đoàn và trường THPT 59
2.7 Mức độ thực hiện các hoạt động phối hợp GDCTTT cho
HS THPT của Quận đoàn và trường THPT 61
2.8 Những hình thức phối hợp GDCTTT cho HS của Quận
đoàn và trường THPT 63
2.9
Nhận thức về mục đích, vai trò của hoạt động quản lý
sự phối hợp GDCTTT cho HS của Quận đoàn và trường
THPT
66
2.10 Quản lý kế hoạch, chương trình phối hợp GDCTTT cho
HS của Quận đoàn và trường THPT 68
Trang 102.12
3.1
Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết của một số biện
pháp quản lý phối hợp GDCTTT cho HS THPT của
Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng
105
3.2
Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của một số biện
pháp quản lý phối hợp GDCTTT cho HS THPT của
Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng
107
Trang 11biểu đồ
2.1 Các nội dung phối hợp GDCTTT cho HS THPT của
Quận đoàn và trường THPT 60
2.2 Mức độ thực hiện hoạt động phối hợp giữa Quận đoàn
và trường THPT trong công tác GDCTTT cho HS 61
2.3
Nhận thức về mục đích, vai trò của hoạt động quản lý
sự phối hợp GDCTTT cho HS của Quận đoàn và trường THPT
67
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước,
là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước Nghị quyết TW 4 (Khóa VII) của Đảng ta đã chỉ rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên”
Trong việc bồi dưỡng, giáo dục thanh niên, công tác GDCTTT luôn được xác định là công tác quan trọng, là bộ phận “đi trước”, “đi cùng” và “đi sau” mọi hoạt động cách mạng Đó cũng là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách, đồng thời là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trong những năm qua, nền giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, sự nghiệp giáo dục đã có bước phát triển về quy mô, có sự chuyển biến bước đầu về chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó có giáo dục phổ thông Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, giáo dục nước ta đang bộc lộ một số hạn chế mà trong đó tình trạng thiên về dạy chữ, nhẹ dạy
về tư tưởng chính trị vẫn chưa được khắc phục
Với độ tuổi đang trong giai đoạn trưởng thành, HS THPT luôn nhạy cảm với cái mới, mong muốn được khẳng định vai trò cá nhân, dám nghĩ dám làm,
Trang 13ham hiểu biết và sáng tạo, đồng thời cũng dễ bị tác động bởi những mặt tiêu cực trong đời sống xã hội Hiện nay, do ảnh hưởng bởi mặt trái của cơ chế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, một bộ phận HS, SV, đặc biệt là HS THPT
ít quan tâm đến tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị đạo đức, mờ nhạt về
lý tưởng, thiếu ước mơ, không có hoài bão vì tương lai của chính bản thân mình và đất nước, có biểu hiện suy thoái về đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng Vì vậy, hơn lúc nào hết, công tác GDCTTT cho HS THPT càng có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách cho HS
Trong công tác GDCTTT, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn đóng vai trò tích cực và đặc biệt quan trọng Là một tổ chức độc lập dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng cơ sở và hoạt động theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật cho phép; mọi hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên đều hướng đến mục tiêu chung là giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ một cách toàn diện
Tổ chức Đoàn thanh niên trong các trường THPT được đặt dưới sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Quận đoàn Trong thực tế những năm qua, Quận đoàn đã phối hợp với các trường THPT hoạt động tích cực trong công tác GDCTTT cho HS Tuy nhiên, dù đã cố gắng nhưng phương pháp chỉ đạo và
tổ chức thực hiện của Quận đoàn trong công tác phối hợp GDCTTT với trường THPT còn nhiều bất cập Chính điều này đã làm hạn chế chất lượng của công tác GDCTTT cho HS
Với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý phối hợp GDCTTT của Quận đoàn và trường THPT, thông qua đó nâng cao chất lượng của công tác GDCTTT cho HS THPT, chúng tôi
đã chọn vấn đề “Các biện pháp quản lý phối hợp giáo dục chính trị tư
tưởng cho học sinh THPT của Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn
quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát, phân tích thực trạng phối hợp giữa Quận đoàn và các trường THPT trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; luận văn
đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả sự phối hợp của Quận đoàn
và các trường trung học phổ thông trong công tác này
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác phối hợp giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh ở các trường trung học phổ thông của Quận đoàn và trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý phối hợp giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh THPT của Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng
4 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh ở các trường trung học phổ thông nói chung và trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nói riêng đã bộc lộ một số hạn chế và bất cập, chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Những hạn chế này sẽ được khắc phục, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh THPT của Quận Hải Châu sẽ đạt hiệu quả hơn nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý sự phối hợp giữa Quận đoàn và trường trung học phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận của vấn đề quản lý phối hợp giáo dục chính trị
tư tưởng cho học sinh THPT
- Khảo sát và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý phối hợp GDCTTT cho học sinh của Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu,
Trang 15thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các biện pháp quản lý sự phối hợp trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh THPT giữa Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận của quản lý công tác GDCTTT cho học sinh trường THPT
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: bao gồm phương pháp điều
tra, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý phối hợp GDCTTT cho học sinh các trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.3 Phương pháp thống kê toán học: nhằm xử lý các kết quả nghiên
cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sự phối hợp giữa Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp quận với các trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2007-2012
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm các phần sau:
- Mở đầu: Những vấn đề chung của đề tài
- Nội dung gồm 03 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý phối hợp GDCTTT cho học sinh THPT của Quận đoàn TNCS HCM và trường THPT
Trang 16+ Chương 2: Thực trạng quản lý sự phối hợp GDCTTT cho học sinh THPT của Quận đoàn và trường THPT trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố
- Tài liệu tham khảo
- Quyết định giao đề tài
- Phụ lục
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ L LUẬN CỦA VIỆC QUẢN L PHỐI HỢP GIÁO DỤC CH NH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA QUẬN ĐOÀN TNCS HCM
VÀ TRƯỜNG THPT
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ
Công tác GDCTTT là một bộ phận của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm đảm bảo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn dân tộc và nhân dân Chính vì vậy, GDCTTT cho cán
bộ đảng viên và học sinh, sinh viên là nhiệm vụ thường xuyên hàng đầu của Đảng, luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
Ở nước ta, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về công
tác GDCTTT Tiêu biểu như tác phẩm Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư
tưởng cho cán bộ đảng viên ở cơ sở của TS Vũ Ngọc Am [1] Tác phẩm đã
nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác GDCTTT, đồng thời, tác giả cũng nêu lên quá trình đổi mới, thực trạng của công tác GDCTTT hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác GDCTTT ở cơ sở
Tác phẩm Công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam
hiện nay của tập thể tác giả do PGS.TS Trần Thị Anh Đào, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền làm chủ biên [5], đã làm rõ một số khái niệm và vai trò của giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên, phân tích thực trạng công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay, đồng thời, tác phẩm cũng đề ra những phương hướng cơ bản và các giải pháp chủ yếu để nâng cao
Trang 18chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam trong tình hình mới
Ngoài ra, năm 2007, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cũng đã xuất bản
tác phẩm Tăng cư ng giáo dục, r n luyện chính trị, tư tưởng, đ o đức cách
m ng, nâng -cao năng lực ho t động thực ti n cho cán bộ, đảng viên trong tình hình mới của nhiều tác giả [15] Cuốn sách là tập hợp nhiều bài viết của
các học giả chuyên nghiên cứu về công tác GDCTTT giúp cho vấn đề nghiên cứu được phản ảnh dưới nhiều góc độ khác nhau, nên đã cung cấp cho người
đọc nhiều thông tin hữu ích
Bên cạnh các tác phẩm đã xuất bản, trên các tạp chí nghiên cứu cũng có nhiều bài viết liên quan đến vấn đề GDCTTT cho sinh viên, học sinh như:
Hào Hải, Một vài suy nghĩ xung quanh việc đổi mới công tác giáo dục chính
trị, tư tưởng [9, tr 129-133]; Đỗ Tường Vi, Giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh trong th i kỳ mới [21, tr 11-13]; Võ Văn Giảng, Để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh [6, tr 31-32]
Công tác GDCTTT cho học sinh, sinh viên cũng là đề tài thu hút sự nghiên cứu của khá đông sinh viên và học viên cao học của các trường đại
học Điển hình như đề tài Thực tr ng và các giải pháp tổ chức giáo dục nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Học viện Kỹ thuật Quân sự của Nguyễn Văn Châu [3]; Một số biện pháp tổ chức ho t động văn hoá nghệ thuật nhằm giáo dục chính trị tư tưởng cho học sinh của
Lê Trọng Hà [7]
Với những cách tiếp cận khác nhau, các công trình, bài viết trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác GDCTTT cho cán bộ, đảng viên và sinh viên, học sinh như khái niệm, mục tiêu, nội dung, tầm quan trọng của công tác GDCTTT trong tình hình mới, đặc biệt, các tác giả đều cố
Trang 19gắng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác GDCTTT cho sinh viên, học sinh
Nếu công tác GDCTTT dành được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học thì ngược lại những công trình nghiên cứu, bài viết về quản lý công tác GDCTTT trong nhà trường lại khá khiêm tốn Năm 2007 tiêu biểu có đề
tài Các biện pháp tăng cư ng quản lý công tác GDCTTT cho sinh viên Đ i
học Đà Nẵng trong giai đo n hiện nay của tác giả Lê Khánh Hương, Luận
văn Thạc sĩ [11] Với hơn 90 trang nội dung, công trình nghiên cứu này đã bước đầu làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý công tác GDCTTT, phân tích những đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên có ảnh hưởng đến việc quản lý công tác GDCTTT Trên cơ sở khảo sát thực trạng, tác giả đã đưa ra một số biện pháp hữu hiệu để tăng cường quản lý công tác GDCTTT cho sinh viên Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
Trong công tác GDCTTT và quản lý GDCTTT, sự phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn đóng vai trò tích cực và quan trọng Tuy nhiên, hiện nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về các biện pháp quản lý sự phối hợp giữa Quận đoàn và trường THPT trong công tác
GDCTTT cho học sinh THPT Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Các biện pháp
quản lý phối hợp GDCTTT cho học sinh trung học phổ thông của Quận đoàn
và trư ng THPT trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” là cần
thiết và phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của công tác GDCTTT trong giai đoạn hiện nay
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Giáo dục chính trị tư tưởng
Thuật ngữ “Công tác GDCTTT” đã được sử dụng phổ biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều tài liệu, sách báo trong nước và nước ngoài cũng đề cập Đó là một thuật ngữ được nhiều môn khoa học sử
Trang 20dụng như: xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng, chính trị học Tùy theo tính chất, đặc điểm, mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách khai thác
và tiếp cận khác nhau
Xét về mặt cấu trúc của khái niệm, thuật ngữ “chính trị tư tưởng” là từ ghép giữa “chính trị” và “tư tưởng”
* Chính trị
Trước hết cần thấy rằng, Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, rất phức tạp,
nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của giai cấp và các lực lượng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau
Trong Từ điển Triết học giản yếu cho rằng: “Chính trị là lĩnh vực hoạt
động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các tập đoàn
xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước” [14, tr.23]
Những quan niệm trên đã nêu lên bản chất chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước
Khi tiếp cận chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành quan hệ của bộ máy của Đảng, của Nhà nước Vì vậy, chính trị có thể hiểu là những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước, giành quyền lực chính trị
Mặt khác, khi tiếp cận chính trị với tư cách là những hoạt động để giành
và giữ chính quyền, hoạt động chính trị có những dạng sau: hoạt động của một tổ chức, một đảng của giai cấp nhằm hình thành quan điểm, đường lối để giành và giữ chính quyền; những hoạt động tổ chức thực hiện-hiện thực hóa
Trang 21quan điểm, đường lối; những hoạt động nhằm nâng cao tính tự giác của quần chúng để nhận thức đường lối, quan điểm của Đảng
Như vậy, có thể thấy Chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều mối
quan hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học Song, điều quan trọng của tất cả các vấn đề
liên quan đến Chính trị là thực hiện được mục đích của chính trị, tức là giành
được quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn xã hội
Từ đó, có thể hiểu Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng
đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ
và điều khiển hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình
Để đạt được mục đính đó đòi hỏi các giai cấp phải tiến hành công tác giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, làm cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, từ
đó tổ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng Điều đó có nghĩa là làm cho
hệ tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, nhằm duy trì và bảo vệ chế độ kinh tế hiện đang tồn tại Hoặc ngược lại, nó hướng dẫn cuộc đấu tranh để xóa bỏ cái trật tự thống trị xã hội đang có nhưng đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của lịch sử và cùng với
nó là xóa bỏ tình trạng kinh tế tương ứng nhằm giải phóng xã hội giai cấp Qua thực tiễn của Việt Nam, ở đây chúng tôi tiếp cận chính trị với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân, trong đó cán bộ đảng viên cơ sở là lực lượng nòng
Trang 22cốt của cách mạng Việt Nam để lãnh đạo, tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện mục đích của Đảng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2005 cho rằng: tư tưởng là quan điểm
và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan, đối với xã hội,
do đó có tư tưởng tiến bộ, tư tưởng lạc hậu [20, tr 211]
Những luận điểm trên cho thấy sự đa dạng, đa diện của tư tưởng nhưng cái chung nhất của tư tưởng là sự phản ảnh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức, biểu hiện những lợi ích của một con người, một tập đoàn, một giai cấp, một dân tộc, một thời đại nhất định Sự phản ảnh đó có thể đúng và chưa đúng, thậm chí có thể sai Vì vậy, có tư tưởng tiến bộ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, có tư tưởng lạc hậu và cả tư tưởng phản động, kìm hãm sự phát triển của xã hội Do đó, trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng để truyền bá tư tưởng của giai cấp mình nhằm mục đích tập hợp quần chúng, giác ngộ họ theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình, tạo nên sức mạnh hành động, giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp
* Giáo dục chính trị tư tưởng
Trang 23Với cách tiếp cận về chính trị và tư tưởng như phần trên đã trình bày, bản chất của công tác GDCTTT là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của một đảng, một giai cấp, một tổ chức của quần chúng, nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tư tưởng của họ về quan điểm, đường lối chính trị để quy tụ, tập hợp quần chúng tham gia vào quá trình đấu tranh cách mạng để giành và bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị nhằm đáp ứng, thoả mãn các nhu cầu về lợi ích Những lợi ích đó có thể là lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế Trong đó, lợi ích kinh tế là mục đích sâu xa nhất, cốt lõi nhất phản ánh quan hệ đấu tranh giữa các giai cấp, nhưng lại được thể hiện ở mục tiêu trực tiếp trước mắt là lợi ích chính trị
Vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Đó là lợi ích chính trị đầu tiên của các cuộc đấu tranh giai cấp mà các giai cấp lãnh đạo phong trào cách mạng đều hướng tới, tìm mọi cách để giành lấy Tuy nhiên, trong xã hội cũng như ngay trong một giai cấp, nhận thức về nhu cầu, lợi ích không hoàn toàn giống nhau về mức độ Do đó, các giai cấp đều thông qua các tổ chức chính trị của mình để xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng (nhà tư tưởng), xây dựng hệ thống tổ chức cùng các thể chế tư tưởng thống trị toàn xã hội, thông qua nhiều con đường, nhiều hình thức và phương pháp khác nhau
để đưa hệ tư tưởng đó tác động vào nhận thức của quần chúng nhân dân, lực lượng cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng
1.2.2 Huyện (Quận) Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1931, là
tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 24* Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có 3 chức năng chính:
- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đoàn TNCS là tổ chức do Đảng trực tiếp sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến tự nguyện phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng, đó là những đoàn viên cộng sản trẻ tuổi, nguồn bổ sung quan trọng, đảm bảo cho Đảng phát triển không ngừng
- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên,
do thanh niên và vì thanh niên, do đó Đảng trực tiếp giao cho Đoàn giáo dục, giúp đỡ từ những thanh niên tiên tiến trở thành đoàn viên, từ những đoàn viên
ưu tú trở thành đảng viên Vì vậy, Đoàn là tổ chức quần chúng gần Đảng nhất
- Đảng cho phép tổ chức Đoàn được thay mặt như một đảng viên chính thức khi giới thiệu đoàn viên ưu tú được kết nạp Đảng
Đoàn luôn tuyên truyền giáo dục, giới thiệu để thanh niên ngày càng hiểu sâu về bản chất của Đảng, đóng góp ý kiến cho Đảng, phê bình cán bộ, đảng viên, tích cực tham gia cuộc vận động xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết TW VI (lần 2) và tích cực hưởng ứng, học tập, nghiên cứu, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Chức năng đội dự bị còn thể hiện ở chỗ Đoàn Thanh niên là đội quân xung kích cách mạng của Đảng, đi đầu trong mọi khó khăn trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như lời Bác đã khẳng định: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”
Ngày nay, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh càng thể hiện rõ là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, Đoàn động viên đoàn viên thanh niên phát huy vai trò xung kích sáng tạo, đi đầu trong phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, trung thành
Trang 25với sự nghiệp đổi mới của Đảng, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, là đội xung kích cách mạng, là nơi bổ sung nguồn sinh lực mới quan trọng cho Đảng
- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam
Đây là chức năng cơ bản nhất cần được quán triệt trong công tác thanh niên nói chung và trong công tác Đoàn nói riêng Hiệu quả giáo dục con người được Đoàn TNCS Hồ Chí Minh coi là thước đo khả năng thể hiện vị trí, vai trò của Đoàn trong thanh niên và trong xã hội
Trường học XHCN hiểu theo nghĩa rộng là môi trường giáo dục, rèn luyện, định hướng giá trị cho thanh niên theo lý tưởng của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn Với chức năng này, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải thông qua các nội dung, phương thức hoạt động khác nhau, với nhiều loại hình giáo dục khác nhau để đoàn kết tập hợp, giáo dục thanh niên
Thực hiện tốt chức năng này có nghĩa là Đoàn đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc định hướng các giá trị Xã hội chủ nghĩa cho tuổi trẻ
- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là người đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tuổi trẻ
Chức năng này đã được xác định trong Nghị quyết (10/1930) của BCH Trung ương Đảng, là chức năng cơ bản đầu tiên khi chuẩn bị cho thành lập Đoàn TNCS Chức năng này quyết định sự tồn tại hay không của Đoàn thanh niên, vì bất kỳ một tổ chức nào ra đời trước hết là nhằm mục đích đại diện và bảo vệ lợi ích cho các thành viên của nó Nhu cầu và lợi ích luôn gắn liền với mỗi con người trong đời sống xã hội Bất kỳ một tổ chức chính trị - xã hội nào cũng không thể tồn tại và phát triển được nếu trong thực tiễn những hoạt động của nó không phản ánh được những nhu cầu và lợi ích ở những mức độ nhất định Vì vậy, nếu xem nhẹ chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi của tuổi trẻ
Trang 26thì chắc chắn thanh niên sẽ xa rời tổ chức Đoàn, còn đoàn viên sẽ trở nên
“chán” Đoàn, bỏ sinh hoạt đoàn Thực hiện tốt chức năng này là một điều kiện quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Đoàn TNCS
* Nhiệm vụ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
- Đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên, thực hiện tốt vai trò nòng cốt, định hướng chính trị trong việc xây dựng tổ chức hoạt động của Hội LHTN, Hội Học sinh Việt Nam…nhằm đưa thanh niên vào trong tổ chức của Hội và Đoàn cùng phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, công bằng, xã hội văn minh theo định hướng XHCN Việc tập hợp lực lượng thanh niên, đưa họ vào trong các tổ chức của Hội, của Đoàn là bước khởi đầu quan trọng tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần của Đoàn TNCS, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ với quần chúng thanh niên nói riêng và với quần chúng nhân dân nói chung V.I Lênin đã cho chúng ta thấy rằng: “Đừng quên rằng sức mạnh của một tổ chức cách mạng là ở số lượng những mối liên hệ của nó”
- Giáo dục lý tưởng XHCN cho đoàn viên, thanh niên thông qua các phong trào hành động cách mạng Mảng hoạt động giáo dục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hoạt động của Đoàn - đối tượng giáo dục chủ yếu là đoàn viên, thanh niên - lực lượng to lớn, có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, suy cho cùng là hình thành bộ mặt nhân cách con người trong xã hội mới phù hợp với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tham gia công tác giáo dục thanh niên phải thông qua những phong trào, những hành động cách mạng cụ thể Đoàn không thể chỉ nói suông, giáo dục mang tính kinh viện, giáo điều mà phải tổ chức, đưa thanh niên vào các phong trào hành động cách mạng, qua các công việc và phong trào thiết thực đáp
Trang 27ứng nhu cầu, nguyện vọng của tuổi trẻ Kết hợp chặt chẽ nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, lý luận gắng liền với thực tiễn
- Tham gia xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, coi nhiệm vụ xây dựng Đảng
là một tất yếu trong xây dựng tổ chức Đoàn, ngược lại Đoàn TNCS phải là đội quân trung thành, kế tục sự nghiệp của Đảng, mang ngọn cờ, lý tưởng của Đảng đến đích cuối cùng, đưa nghị quyết và đường lối của Đảng vào trong cuộc sống Đoàn TNCS là nguồn cung cấp bổ sung cho Đảng lực lượng trẻ,
có tri thức, đạo đức, sức khoẻ để gánh vác công việc tạo sinh lực mới cho Đảng Quán triệt tinh thần công tác xây dựng, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, lấy xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Đoàn thanh niên phải là lực lượng nòng cốt trong việc tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, tích cực hưởng ứng cuộc vận động, xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VI lần 2
* Hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp:
- Cấp cơ sở (gồm Đoàn cơ sở và chi đoàn cơ sở)
- Cấp huyện và tương đương
- Cấp tỉnh và tương đương
- Cấp Trung ương
Quận đoàn TNCS HCM (Quận đoàn) là tổ chức Đoàn tương đương cấp huyện, trực thuộc Thành đoàn (tương đương với tổ chức Đoàn cấp tỉnh) có chức năng tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Quận đoàn về công tác của Đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên (LHTN), Đội Thiếu niên tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh và phong trào Thanh niên, Thiếu nhi (Thanh, Thiếu nhi) trên địa bàn quận Các Đoàn trường THPT trên địa bàn quận chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Quận đoàn
Quận đoàn có các nhiệm vụ sau:
Trang 28- Nghiên cứu, tham mưu với Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Quận đoàn về các chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác của Đoàn và phong trào Thanh, Thiếu nhi
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các Tổ chức Đoàn trong việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, của Đoàn Thanh niên
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của Đoàn và phong trào Thanh, Thiếu nhi trên địa bàn Chuẩn bị các báo cáo về công tác Đoàn và phong trào Thanh, Thiếu nhi, cung cấp kịp thời thông tin phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Quận đoàn
- Tổng hợp, tham mưu, đề xuất với Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Quận đoàn, để đề xuất, kiến nghị với Quận uỷ, Ban Thường vụ Quận uỷ, UBND Quận
và các Ngành có liên quan về chủ trương, chế độ, chính sách đối với Thanh, Thiếu nhi và tổ chức Đoàn, Hội LHTN, Đội TNTP Hồ Chí Minh
- Giúp Ban Thuờng vụ, Ban Chấp hành Quận đoàn phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Thanh, Thiếu nhi và công tác Thanh, Thiếu nhi
- Quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật đảm bảo điều kiện hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Quận đoàn; quản lý tổ chức, biên chế, ngân sách, tài sản và công tác thi đua, khen thưởng của Đoàn theo quy định
- Tổ chức thực hiện công tác văn thư, lưu trữ theo các quy định hiện hành
1.2.3 Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường
a) Quản lý
Ngày nay, nhiều người thừa nhận rằng quản lý trở thành một nhân tố của
sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan với mọi người C.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội Ông viết
Trang 29“bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó”, “Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [4, tr.30] Như vậy C.Mác
đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Theo Taylor PH.W (1856-1915), đã định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [19, tr 43] Đó cũng là tư tưởng của ông về quản lý
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [17, tr 45]
Trong quá trình phát triển lý luận quản lý, có nhiều khái niệm khác nhau
về quản lý do các nhà nghiên cứu lý luận cũng như thực hành quản lý đưa ra: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” hay “ Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp,
sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong và
Trang 30ngoài tổ chức, chủ yếu là nội lực một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [10, tr 76]
Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ năm 2005, quản lý được định nghĩa là: “trông coi và giữ gìn theo những nhu cầu nhất định, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những nhu cầu nhất định” [20, tr 178]
Từ các khái niệm quản lý khác nhau, có thể hiểu một cách khái quát: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
Giáo dục là lĩnh vực rất quan trọng của xã hội, do đó quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội phải được đặc biệt quan tâm, sau đây chúng ta đi sâu vào khái niệm quản lý giáo dục
b) Quản lý giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm “giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục” [12, tr 26] Ở khái niệm về quản lý giáo dục ông đã đưa ra hai nhóm khái niệm quản lý giáo dục tương ứng: một cho quản lý một nền (hệ thống) giáo dục đó là quản lý vĩ mô
và một cho quản lý một nhà trường là quản lý vi mô
Đối với cấp vĩ mô ông cho rằng “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các hệ thống giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.” [12, tr 27]
“Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (chỉ khả năng mới
Trang 31của hệ thống mà khi các phần tử đứng riêng rẽ thì không thể tạo ra được) của
hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm
sự công bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động.” [12, tr 27] Đối với cấp vi mô ông cho rằng “quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [12, tr 27]
Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng cơ bản sau:
- Phải có thể chế quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý nhà nước mà
cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo Dục và Đào Tạo, ở tầm vi mô
là quản lý của hiệu trưởng nhà trường
- Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình, kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội, phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác GDCTTT cùng với hệ thống cơ sở vật chất tương ứng
Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất
Trang 32c) Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường (trường học) là quản lý nhà nước trên một lĩnh vực
cụ thể là giáo dục, tại một đơn vị cụ thể là trường học Trong đó chủ thể của hoạt động quản lý nhà trường là hiệu trưởng thực hiện hoạt động điều hành, điều chỉnh khách thể của quá trình quản lý gồm các giáo viên, học sinh để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là một tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường
mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [17, tr.19] Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người thầy; bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong mọi thành viên của nhà trường vừa
là chủ thể của quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện theo mục tiêu giáo dục và được xã hội thừa nhận Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD&ĐT, nơi quản
lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô; có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD&ĐT ở các tỉnh và Phòng GD&ĐT ở các quận Cấp quản lý
Trang 33quan trọng và trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục và tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả
để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người có tri thức, sáng tạo, năng động,
tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội Tóm lại: quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theo đường lối quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu
kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”
1.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THPT
Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận lứa tuổi học sinh THPT luôn gắn với những quy luật biến đổi về tâm lý như: sự hình thành phát triển khả năng phân tích và suy luận, biết nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách toàn diện, thể hiện sự chín chắn, ham thích cái mới, say mê sáng tạo, mong muốn tự khẳng định mình, ý thức tự lập, tự quyết định… và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt lứa tuổi THPT với các lứa tuổi khác Với những đặc điểm nói trên, hầu hết các em đều có đời sống tình cảm phong phú, đa dạng; đặc biệt các em rất dễ xúc cảm trước những hoàn cảnh khác nhau, nhạy cảm với những điều mới mẻ Đây là lứa tuổi có sự phát triển về tình bạn, tình yêu Các em luôn có nhu cầu sinh hoạt, chia sẻ những buồn vui với các bạn cùng lứa tuổi, muốn bạn bè thừa nhận uy tín, vị trí của mình trong nhóm bởi lẽ trong giai đoạn này các em đang bước sang giai đoạn hình thành và xác lập vai trò cá nhân thông
Trang 34qua các hoạt động độc lập với tư cách công dân Từ đây, một số phẩm chất tốt
về đạo đức được hình thành: trung thực, biết tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau Không riêng tình bạn, tình yêu trong sáng tuổi học trò cũng bắt đầu xuất hiện, tuy nhiên ở lứa tuổi này, để có một tình yêu chân chính đúng nghĩa thì rất khó, tình yêu ở các em thường dễ tan vỡ, hầu hết đều có ảnh hưởng nhất định đến việc học tập và rèn luyện của học sinh
Ngoài ra, với đặc điểm nhiệt tình sôi nổi, tự tin và chủ động nhưng mọi ứng xử chưa đạt tới sự chín chắn, học sinh THPT thường có những tình cảm bộc phát mãnh liệt, đôi khi dẫn đến sự thiếu kiềm chế, tinh thần bất ổn dễ bị kích động… đây là khởi đầu cho những hành vi thiếu suy nghĩ có thể dẫn đến hậu quả khôn lường gây ra bởi chính các em Là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ bị phụ thuộc sang giai đoạn độc lập, là một trong những chủ thể của xã hội, ý thức công dân của các em thể hiện rất rõ nét qua việc nêu cao ý thức cá nhân đối với tổ chức Đoàn và rộng hơn với xã hội Ý thức tự chịu trách nhiệm với các hành vi của bản thân phát triển rõ rệt Quá trình này làm xuất hiện ở các em sự nôn nóng, mong muốn tìm đến cốt lõi của cuộc sống Các em dám nói lên những chính kiến riêng và nhận định của bản thân Vui mừng khi được khen ngợi và cũng buồn lòng, thậm chí hụt hẫng khi nhận những lời phê bình, đánh giá thấp từ mọi người; điều này cho thấy những tác động bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ và hành động của các em Chính vì vậy việc hình thành nhân cách của người học sinh phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể giáo dục trong nhà trường
1.3.1 Sự phát triển về trí tuệ và thể lực
Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của con người đang vào giai đoạn hoàn chỉnh: sự gia tăng chiều cao, trọng lượng cơ thể phát triển nhanh; cơ bắp, sức lực, sự bền bỉ dẻo dai và đặc biệt là thời kỳ trưởng thành về giới tính Có thể nói đây là lứa tuổi chấm dứt giai đoạn trẻ em
Trang 35để trở thành người lớn, người trưởng thành Chính vì vậy, tính chủ định được phát triển mạnh, thể hiện rõ trong nhận thức và hành động của các em Tri giác có mục đích đạt đến mức cao; việc quan sát mọi sự vật và hiện tượng trở nên có mục đích và toàn diện
Ở lứa tuổi học sinh THPT, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt Các em có khả năng tự phân tích một cách động lập sáng tạo; tư duy của các em chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán Có thể nói đây
là giai đoạn mà các em luôn muốn tự khẳng định trước tập thể
1.3.2 Sự phát triển của tự ý thức
Học sinh THPT là lứa tuổi luôn muốn khẳng định mình thông qua việc
tự ý thức và tự giáo dục cá nhân Chính vì vậy trong nhận thức và đánh giá, các em có thể dễ dàng mắc sai lầm Tuy nhiên, đây là biểu hiện cho thấy các
em đang định hình nhân cách của chính mình từ sự phân tích mọi sự vật hiện tượng một cách có mục đích, đó cũng chính là hoạt động tự giáo dục của chính các em- những học sinh đang ở độ tuổi trưởng thành
Với nhu cầu tự giáo dục, học sinh THPT có khả năng tự ý thức rất cao Các em bắt đầu biết tự đánh giá cá nhân thông qua việc so sánh mình với những người xung quanh Từ những việc nhỏ thường gặp đó là sự thi đua trong học tập, rèn luyện và tham gia các hoạt động xã hội cho đến việc tự đánh giá vị trí của mình trong xã hội, biết so sánh, đối chiếu những biểu hiện
cụ thể của bản thân và mọi người so với những tấm gương điển hình hoặc những yêu cầu mà xã hội đã đặt ra Trong quá trình này, các em thường có tâm lý đánh giá người khác khắc khe hơn đánh giá bản thân; bao giờ cũng nhìn nhận thành quả của mình đạt được là sáng giá hơn những kết quả mà người khác gặt hái – đây cũng là biểu hiện cho việc đánh giá thiếu tính biện chứng, bản thân đôi khi lại mắc những mâu thuẫn ngay trong chính mình
Trang 36Học sinh ngày nay được sống trong môi trường văn hóa hết sức đa dạng, phong phú và chính môi trường này đã và đang tác động mạnh mẽ, nhiều chiều đến sự nhận thức của chính các em Có thể nhận thấy, hầu hết những sở thích của các em đều chịu ảnh hưởng bởi bạn bè, chưa xuất phát từ động cơ vì mục đích xã hội, cộng đồng Trong môi trường giao tiếp mở rộng như hiện nay, học sinh THPT là lứa tuổi cần có sự định hướng của cộng đồng xã hội để các có thể phát triển nhân cách với những thái độ đúng đắn, có tình cảm, có niềm tin, thẩm mỹ, đạo đức, văn hóa trong sáng, lối sống lành mạnh phù hợp với yêu cầu của xã hội
1.3.3 Sự hình thành thế giới quan
Với việc ý thức rằng mình là người lớn, người trưởng thành, các em học sinh THPT bắt đầu quan tâm nhiều đến vạn vật tự nhiên, các vấn đề xã hội cũng như về cách cư xử các mối quan hệ Đây là sự khởi đầu của việc hình thành thế giới quan ở các em
Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan biểu hiện ở sự hứng thú nhận thức với những quy luật phổ biến của tự nhiên và xã hội, sự hình thành
và phát triển của xã hội loài người Dễ nhận thấy những thiên hướng và khả năng đặc biệt của các em được bộc lộ rõ rệt ở lứa tuổi này Thông qua việc học tập tại trường, việc tìm tòi và nhận thức những “bí mật” xảy ra xung quanh cuộc sống của chính mình mà sự hình thành thế giới quan của các em ngày càng phát triển Có thể nói, học sinh THPT khá nhạy cảm đối với những mối quan hệ giữa con người trong xã hội, quan tâm hơn đến quyền lợi và nghĩa vụ tình cảm Bộ phận các em đã đề cao lý tưởng và ý nghĩa cuộc sống cho riêng mình
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành thế giới quan của các em học sinh THPT- những thanh niên mới lớn Trong xu thế mới của thế giới và sự phát triển không ngừng của đất nước, việc hình thành thế giới
Trang 37quan, nhân sinh quan cách mạng là vấn đề quan trọng trong quá trình hoàn thiện phát triển nhân cách của học sinh THPT; con đường và môi trường góp phần vào thành công đó không gì khác hơn đó chính là thông qua quá trình dạy và học, giáo dục và đào tạo trong nhà trường hiện nay
1.4 VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC GDCTTT CHO HỌC SINH THPT
Công tác GDCTTT cho HS THPT có vai trò đặc biệt quan trọng góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho HS theo mục tiêu giáo
dục mà Luật giáo dục Việt Nam quy định: “Đào t o con ngư i Việt Nam phát
triển toàn diện, có đ o đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [18] Công tác này đòi hỏi phải tiến
hành một cách liên tục, thường xuyên và đang trở thành một trong những nội dung không thể thiếu được trong các mặt giáo dục của nhà trường nhằm tạo ra lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” như mong muốn của Bác Hồ Đây cũng chính là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách, đồng thời là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay Vai trò của công tác GDCTTT cho học sinh THPT được thể hiện qua một số nội dung sau:
1.4.1 Nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với chế độ Xã hội chủ nghĩa, với Đảng, với dân tộc của HS THPT
GDCTTT cho HS, trước hết là trang bị cho họ có những kiến thức và hiểu biết cơ bản về chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, về Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó giúp họ giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, lập trường cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với chế độ, với Đảng, với dân tộc Điều này sẽ giúp HS “miễn dịch” trước những tác động xấu từ bên ngoài như âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, sự cám đỗ của những dục vọng vật chất tầm thường,
Trang 38không tỏ ra hoang mang, dao động trước những biến động chính trị và tác động phức tạp của cuộc sống xã hội cũng như những khó khăn, thách thức đối với bản thân… Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu, là phẩm chất thiết yếu nhất đối với mọi người Việt Nam yêu nước; là nguồn gốc sức mạnh của dân tộc ta Chính vì vậy, đây cũng là mục tiêu, phương hướng và yêu cầu hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam
1.4.2 Giúp HS hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Thông qua công tác GDCTTT, HS sẽ hiểu đúng, hiểu đủ về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, qua đó giáo dục HS thấy được vai trò, trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước để thực hiện tốt trách nhiệm công dân là sống, làm việc theo Hiến pháp, Pháp luật; làm cho thế hệ trẻ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Vịêt Nam và sự quản lý của Nhà nước, từ đó tuân thủ và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện lý tưởng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, do đó giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước cũng nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia bổ sung, góp ý xây dựng đường lối, chính sách để chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế đất nước Đồng thời, khi đã hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nó còn góp phần đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch, các luận điệu xuyên tạc, nói xấu chế độ, từ đó nâng cao tính tích cực trong mỗi HS, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước
1.4.3 Giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc, bồi dưỡng lòng yêu nước và xây dựng lối sống lành mạnh cho HS THPT
GDCTTT cũng là giáo dục cho HS tinh thần trọng nghĩa, trung thực, tôn trọng kỷ cương pháp luật, bảo vệ môi trường, chống mọi tệ nạn và tiêu cực xã
Trang 39hội, tích cực bài trừ các hủ tục lạc hậu cản trở tiến bộ xã hội… Giáo dục cho
HS thái độ đúng, đấu tranh không khoan nhượng với thói hư tật xấu, lên án hành vi vô văn hóa, phi đạo đức Thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao, tình nguyện cũng góp phần nâng cao nhận thức, ý thức bảo tồn và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chống mọi biểu hiện văn hóa lai căng, xa lạ với thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm biến dạng nền văn hóa Việt Nam đã được tạo dựng qua hàng ngàn năm lịch sử Bên cạnh đó, giáo dục cho HS nếp sống văn minh, tác phong công nghiệp, lối sống vì mọi người trong cả học tập lẫn sinh hoạt hàng ngày
1.5 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GDCTTT CỦA QUẬN ĐOÀN
VÀ TRƯỜNG THPT CHO HỌC SINH THPT
1.5.1 Khái niệm quản lý phối hợp giáo dục chính trị tư tưởng của Quận đoàn và trường THPT
Theo Mary Parker Follett thì “quản lý là một quá trình động, liên tiếp
nhau chứ không tĩnh t i Bởi một vấn đề đã được giải quyết thì trong quá trình giải quyết nó, ngư i quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh” [8, tr.16]
Bằng quan sát trực tiếp hoạt động của người quản lý, Bà đi đến kết luận rằng sự phối hợp là điều kiện sống còn của quản lý hiệu quả Bà đề xuất 4
nguyên tắc phối hợp mà người quản lý cần áp dụng, đó là: 1- Sự phối hợp sẽ
thành đ t nhất nếu những ngư i chịu trách nhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc với nhau; 2- Sự phối hợp ở những giai đo n đầu của việc lập kế ho ch và triển khai dự án có một ý nghĩa quyết định; 3- Sự phối hợp phải chú ý tới mọi nhân tố trong mọi tình huống, hoàn cảnh cụ thể; 4- Sự phối hợp phải được duy trì liên tục [8, tr.16]
Theo đó, chúng ta hiểu “phối hợp” là một khái niệm có tính chất liên minh của các lực lượng tham gia hoạt động, trước hết thể hiện cùng nhau, gắn
Trang 40kết với nhau, không tách rời nhau và diễn ra trong cả quá trình Phối hợp trong hoạt động giáo dục thể hiện sự thống nhất từ nhận thức đến hành động giữa các thành viên tham gia phối hợp trong giáo dục, phối hợp thể hiện sự ràng buộc, gắn bó chặt chẽ với nhau về mục tiêu, về quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm và sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn hay thuận lợi
Trong quản lý, hoạt động quản lý sự phối hợp là một lĩnh vực rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người quản lý phải có năng lực quản lý vững vàng, toàn diện; khả năng vận dụng các biện pháp quản lý một cách linh hoạt
Quản lý sự phối hợp là những tác động có ý thức của nhà quản lý nhằm
định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp đúng với nguyên lý giáo dục, phương pháp giáo dục, đảm bảo nguyên tắc quản lý về giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Đó là hoạt động vạch kế hoạch, tổ chức, phân công, kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa các chủ thể tham gia giáo dục
Mục tiêu của quản lý sự phối hợp là làm cho quá trình giáo dục vận hành đồng bộ, hiệu quả tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục HS trong nhà trường cũng như ngoài xã hội
Quản lý phối hợp GDCTTT của Quận đoàn và trường THPT về bản chất
là quá trình tổ chức quản lý việc phối hợp giáo dục của nhiều thành viên cùng tham gia tạo ra sự thống nhất chung của các thành viên nhằm huy động hợp lý khả năng của các thành viên phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường
1.5.2 Mục đích phối hợp của Quận đoàn và trường THPT trong GDCTTT
Sự phối hợp của Quận đoàn và trường THPT trong GDCTTT cho HS nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, phát huy được những tiềm năng phong phú