1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi nghe nhạc cổ điển không lời tại trường mầm non

105 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện Pháp Tổ Chức Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 - 6 Tuổi Nghe Nhạc Cổ Điển Không Lời Tại Trường Mầm Non
Tác giả Nguyễn Thị Thư
Người hướng dẫn ThS. Tôn Nữ Diệu Hằng
Trường học Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[10] Và riêng đối với trẻ em, nhà sư phạm Xu- Khôm- Lin- Xki đã tổng kết: “Tuổi ấu thơ không thể thiếu âm nhạc cũng như không thể thiếu trò chơi và chuyện cổ tích, thiếu những cái đó,

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GD TIỂU HỌC - MẦM NON

TẠI TRƯỜNG MẦM NON

Giáo viên hướng dẫn : ThS Tôn Nữ Diệu Hằng Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thư

Đà Nẵng, tháng 5/2014

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Giả thiết khoa học 4

6 Nhiệm vụ ngiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Những đóng góp của đề tài 6

9 Cấu trúc đề tài 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới 7

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước 9

1.2 Khái quát về nhạc cổ điển không lời 11

1.2.1 Một số khái niệm 11

1.2.1.1 Nhạc cổ điển 11

1.2.1.2 Nhạc cổ điển không lời 12

1.2.2 Các giai đoạn chính của nhạc cổ điển 12

1.2.2.1 Thời kì trung cổ ( trước 1450) – Thời kì Hy Lạp – La Mã: 12

1.2.2.2 Thời kì phục hưng ( Thế kỉ XIV – XIV) 14

1.2.2.3 Thời kì Baroc ( 1600 – 1700) 15

1.2.2.4 Thời kì cổ điển ( 1730 – 1820) 16

1.2.2.5 Thời kì lãng mạn ( 1800 – 1910) 17

1.2.2.6 Thời kì hiện đại 18

Trang 4

1.2.3 Các trường phái của nhạc cổ điển 19

1.2.3.1 Trường phái cổ điển: 19

1.2.3.2 Trường phái lãng mạn 20

1.2.4 Một số thể loại nhạc cổ điển không lời 21

1.2.4.1 Symphony 21

1.2.4.2 Concerto 23

1.2.4.3 Sonata 23

1.2.4.4 Serenade 26

1.2.4.5 Nocturne 28

1.2.5 Dàn nhạc giao hưởng 28

1.2.6 Nhạc trưởng 29

1.2.7 Nhạc công 30

1.2.8 Nhạc cụ 31

1.2.8.1 Bộ dây ( Strings)Auble 31

1.2.8.2 Bộ gỗ ( Woodwinds) 34

1.2.8.3 Bộ đồng ( Brass) 36

1.2.8.4 Bộ gõ ( Percussions) 38

1.3 Hoạt động nghe nhạc cổ điển không lời cho trẻ mầm mẫu giáo 5 – 6 tuổi 39

1.3.1 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động nghe nhạc cổ điển không lời cho trẻ 5 – 6 tuổi 39

1.3.1.1 Là phương tiện giáo dục thẩm mỹ 40

1.3.1.2 Là phương tiện tác động đến sự phát triển sinh lí của trẻ 40

1.3.1.3 Phát triển trí tuệ 40

1.3.1.4 Là phương tiện giáo dục đạo đức 41

1.3.2 Khả năng nghe nhạc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 42

1.3.3 Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức nghe nhạc cổ điển không lời cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 43

1.3.3.1 Nội dung 43

Trang 5

1.3.3.2 Phương pháp 43

1.3.3.3 Hình thức 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI NGHE NHẠC CỔ ĐIỂN KHÔNG LỜI 46

2.1 Khái quát quá trình điều tra thực trạng 46

2.1.1 Mục đích điều tra 46

2.1.2 Nội dung điều tra 46

2.1.3 Đối tượng điều tra 46

2.1.4 Phương pháp tiến hành 47

2.1.4.1 Phương pháp điều tra (Anket) 47

2.1.4.2 Phương pháp đàm thoại 48

2.1.4.3 Phương pháp quan sát 48

2.1.4.4 Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê: Tính tỉ lệ phần trăm 49

2.1.5 Xây dựng các tiêu chí và thang đánh giá 49

2.1.5.1 Tiêu chí và thang đánh giá 49

2.2 Kết quả điều tra 50

2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 56

2.3.1 Nguyên nhân chủ quan: 56

2.3.2 Nguyên nhân khách quan: 56

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG BIỆN PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58 3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nghe nhạc cổ điển không lời 58

3.1.1 Khái niệm 58

3.1.2 Cơ sở xây dựng biện pháp: 59

3.1.2.1 Căn cứ vào mục tiêu giáo dục mầm non: 59

3.1.2.2 Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 60

Trang 6

3.1.2.3 Căn cứ vào đặc thù của hoạt động nghe nhạc 61

3.1.2.4 Đi từ kết quả nghiên cứu lí luận và điều tra thực trạng 61

3.2 Các biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nghe nhạc cổ điển không lời 62

3.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng làm nhạc nền cho các hoạt động nghệ thuật 62

3.2.1.1 Hoạt động đọc thơ, kể chuyện 62

3.2.1.2 Hoạt động đóng kịch 63

3.2.1.3 Kết hợp âm nhạc cổ điển không lời với nghệ thuật tạo hình 63

3.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng làm nhạc nền cho hoạt động vui chơi, 64

3.2.3 Biện pháp 3: Trò chơi âm nhạc 65

3.2.4 Biện pháp 4: Nhảy múa với âm nhạc cổ điển 66

3.2.5 Biện pháp 5: Nghe trước khi ngủ 66

3.3 Thực nghiệm sư phạm 67

3.3.1 Khái quát quá trình thực nghiệm 67

3.3.1.1 Mục đích thực nghiệm 67

3.3.1.2 Nội dung thực nghiệm 67

3.3.1.3 Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm 68

3.3.1.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 68

3.3.1.5 Qui trình thực nghiệm 68

3.3.1.6 Cách đánh giá kết quả 69

3.3.1.7 Tiến hành thực nghiệm 69

3.3.2 Kết quả thực nghiệm 71

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 78

1 KẾT LUẬN 78

2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc tổ chức cho trẻ nghe nhạc cổ

điển không lời 50 Bảng 2: Nhận thức của giáo viên về việc trẻ nghe nhạc có ý thức: 51 Bảng 3: Nhận thức của giáo viên về những yếu tố giúp trẻ nghe nhạc có hiệu quả: 51 Bảng 4: Thực trạng việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nghe nhạc cổ điển

không lời ở trường mầm non 52 Bảng 5: Các biện pháp giáo viên sử dụng để tổ chức cho trẻ nghe nhạc cổ điển

không lời 53 Bảng 6: Mức độ biểu hiện nghe nhạc có ý thức của trẻ nhóm đối chứng và nhóm

thực nghiệm trước thực nghiệm 70 Bảng 7: So sánh mức độ biểu hiện nghe nhạc có ý thức của trẻ nhóm đối chứng và

nhóm thực nghiệm sau khi thực nghiệm 71 Bảng 8: So sánh biểu hiện nghe nhạc có ý thức của trẻ nhóm đối chứng trước thực

nghiệm và sau thực nghiệm 73 Bảng 9: So sánh biểu hiện nghe nhạc có ý thức của trẻ nhóm thực nghiệm trước

thực nghiệm và sau thực nghiệm 74

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Âm nhạc là bộ môn nghệ thuật lấy âm thanh làm phương tiện biểu hiện

để khắc hoạ cuộc sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người [3,2]

Âm nhạc gắn bó mật thiết với đời sống con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng Bằng các hình tượng âm thanh, các giai điệu đẹp mang tính biểu cảm rất cao, âm nhạc có sức kì lạ hấp dẫn như một thế giới kỳ diệu đầy cảm

xúc, nó có tác động rất lớn đến thế giới nội tâm của con người Sô-xta-cô-vits

đã viết: “Âm nhạc nâng con người lên, làm con người cao quí hơn, củng cố

phẩm chất, củng cố niềm tin vào sức mạnh bên trong của bản thân, vào sứ mệnh lớn lao của mình” [10]

Và riêng đối với trẻ em, nhà sư phạm Xu- Khôm- Lin- Xki đã tổng kết:

“Tuổi ấu thơ không thể thiếu âm nhạc cũng như không thể thiếu trò chơi và

chuyện cổ tích, thiếu những cái đó, trẻ em chỉ còn là những bông hoa khô héo…Âm nhạc dẫn dắt trẻ đi vào thế giới của điều thiện, tạo ra được sự đồng cảm và là phương tiện bồi dưỡng năng lực sáng tạo của trí tuệ mà không một phương tiện nào sánh được”.[10]

Âm nhạc có nhiều thể loại, và nhạc cổ điển không lời chính là đỉnh cao

của nghệ thuật này, là thể loại âm nhạc "bác học" được sáng tác và trình diễn

bằng các nhạc cụ và bắt nguồn từ truyền thống âm nhạc nghệ thuật 323 Châu

Âu

Nhạc cổ điển không lời có một vai trò quan trọng đối với con người nói chung và trẻ em nói riêng Mới đây nhất, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng nghe nhạc cổ điển không lời, đặc biệt là nhạc Mozart có tác dụng chữa bệnh: làm giảm stress, tăng cường trí thông minh, ổn định nhịp tim, điều trị chứng động kinh, và suy giảm trí nhớ v.v…[15]

Trang 9

Các bác sĩ tại Viện thần kinh London trong một lần chữa trị cho bệnh nhân mắc bệnh động kinh đã tình cờ phát hiện ra rằng nghe nhạc Mozart 45 phút mỗi ngày có thể giúp bệnh nhân nhanh chóng bình phục Sau quá trình điều trị, kết quả kiểm tra não của bệnh nhân này đã cho thấy có sự thay đổi đáng kể về số lượng các tế bào não, tăng khả năng học tập, chỉ số IQ, những tổn thương về thần kinh được hạn chế và thị lực cũng có những dấu hiệu được cải thiện một cách đáng kể Hay sau một đợt điều trị thử nghiệm bằng nhạc Mozart, các bác sĩ thuộc bệnh viện tổng hợp Mexico đã cho biết: Trong số 9 bệnh nhân mắc chứng động kinh được áp dụng phương pháp kích thích sóng não bằng nhạc Mozart, thì có 4 bệnh nhân có dấu hiệu chuyển biến bệnh /đạt mức 95%, 4 bệnh nhân đạt mức phục hồi 50% đến 70%.[15]

Bên cạnh đó, nghe nhạc cổ điển không lời có thể khiến cho nhịp tim con người trở nên ổn định hơn Nghiên cứu khoảng 23 trường hợp thanh niên tình nguyện tham gia nghiên cứu, các bác sĩ thuộc Bệnh viện Oberwalliser – Thụy Điển đã khẳng định: việc nghe nhạc rất ích lợi đối với bệnh tim [15]

Một nghiên cứu được thực hiện bởi trường ĐH California ở Irvane cho biết nhạc Mozart có thể tác động đến khả năng toán học và không gian của trẻ Cụ thể, sau cuộc kiểm tra IQ, các nhà khoa học nước này đã cho biết: nhóm học sinh được thư giãn bằng bản sonata K488 của Mozart có kết quả trắc nghiệm IQ trung bình cao hơn nhóm khác từ 9 đến 10 điểm Tốc độ hoạt động não và nhiều hoạt động khác của trẻ được nghe nhạc Mozart trở nên nhanh nhạy hơn, năng động hơn bình thường [14]

Đối với trẻ sơ sinh, được nghe nhạc Mozart cũng giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc các vấn đề về thần kinh sau sinh Trong quá trình nghe nhạc, một thiết bị camera đã ghi lại toàn bộ những hoạt động và biểu hiện của trẻ sơ sinh và đã công nhận âm nhạc Mozart đã có những ảnh hưởng tuyệt vời đến trạng thái tinh thần của trẻ [14]

Trang 10

Như vậy, có thể coi nhạc cổ điển không lời như một thứ ngôn ngữ nuôi dưỡng và kích thích đến toàn bộ con người, có ảnh hưởng đến cơ thể, cảm xúc, trí tuệ và phát triển khả năng thưởng thức vẻ đẹp từ bên trong, xác nhận

và đánh thức những phẩm chất không thể diễn tả bằng lời được của chúng ta

Ở trường mầm non, nghe nhạc cổ điển không lời có vai trò giáo dục quan trọng không chỉ phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, mà còn giúp trẻ cảm nhận ý nghĩa đạo đức giữa cái thiện với cái ác góp phần phát triển cảm xúc âm nhạc, hình thành ở trẻ thói quen nghe nhạc có kiến thức, đặc biệt là trình độ thưởng thức thẩm mỹ của trẻ, giúp trẻ biết ghi nhớ tác phẩm, phân biệt nội dung, từ đó hình

thành mối liên hệ giữa âm nhạc và cuộc sống

Vì vậy, để trẻ mầm non thưởng thức được nhạc cổ điển thì chỉ có một cách duy nhất, đó là thường xuyên lắng nghe, bởi cái đẹp và ý nghĩa thật sự của nhạc cổ điển không lời chỉ có thể tìm thấy ở một nơi duy nhất Đó là âm

thanh

Với một bản nhạc, khi mới nghe lần đầu và không lắng nghe, các giai điệu chỉ vang lên trong tai một cách tự nhiên, nhưng khi nghe nhiều lần và biết lắng nghe, trẻ sẽ hiểu được những mẫu hình trừu tượng của âm nhạc Tuy nhiên, hiện nay ở các trường mầm non ít tổ chức cho trẻ nghe nhạc

cổ điển không lời, thường là không tổ chức, mặc dù Vụ Giáo dục Mầm non đã tuyển chọn các trích đoạn của một số tác phẩm nhạc cổ điển và in sang thành các đĩa CD nhằm hỗ trợ cho giáo viên Nhưng do nhận thức của giáo viên hạn chế, cho nên trẻ vẫn không được tiếp xúc với thể loại âm nhạc tinh hoa của nhân loại Điều này đã làm hạn chế khả năng cảm thụ âm nhạc của trẻ, làm giảm hiệu quả giáo dục âm nhạc cho trẻ ở trường mầm non

Với những nguyên nhân trên, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu:

“ Biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nghe nhạc cổ điển không lời tại trường mầm non" để nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc

Trang 11

nói riêng và chất lượng giáo dục mầm non nói chung nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời Trên cơ sở đó đề xuất một số tác động sư phạm nhằm tổ chức hoạt động nghe nhạc cổ điển cho trẻ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục âm nhạc nói riêng và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ nói chung

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình tổ chức hoạt động nghe nhạc cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời

4 Phạm vi nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu hoạt động nghe nhạc của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non trên thành phố Đà Nẵng

5 Giả thiết khoa học

Việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời có vai trò quan trọng Nếu giáo viên có những tác động sư phạm phù hợp, có những hình thức tổ chức hợp lý như thông qua trò chơi; lồng ghép vào các môn học: tạo hình, thể dục, văn học, lồng ghép vào các hội thi, các buổi văn nghệ…; mặt khác, giáo viên biết tuyển chọn các tác phẩm phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục âm nhạc cho trẻ ở trường mầm non

6 Nhiệm vụ ngiên cứu

6.1 Nghiên cứu một số cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

6.2 Tìm hiểu thực trạng tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời trong các hoạt động ở một số trường mầm non tại Đà Nẵng

Trang 12

6.3 Đề xuất và thực nghiệm biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nghe nhạc cổ điển không lời

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể hóa lý thuyết nhằm xây dựng

cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Dự giờ quan sát việc tổ chức cho trẻ nghe nhạc cổ điển không lời thông qua một số hoạt động trong ngày của trẻ

7.2.2 Phương pháp đàm thoại

Tiến hành trò chuyện, trao đổi với giáo viên nhằm tìm hiểu nhận thức

của họ về vai trò của việc nghe nhạc cổ điển không lời Trao đổi với giáo viên

về những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức cho trẻ nghe nhạc cổ điển không lời Trò chuyện với trẻ về nhu cầu, hứng thú với việc nghe nhạc

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket

Sử dụng phiếu thăm dò, điều tra các giáo viên ở các trường mầm non trong TP Đà Nẵng để nắm được nhận thức, thái độ, kinh nghiệm, và các biện pháp mà các giáo viên sử dụng trong việc tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm được tiến hành nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất và khẳng định sự phù hợp của kết quả thu được với giả thuyết khoa học

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các công thức thống kê toán học để xử lý số liệu

Trang 13

8 Những đóng góp của đề tài

8.1 Về lý luận

Góp phần hệ thống các vấn đề lý luận như nhạc cổ điển không lời,vai trò của nhạc cổ điển không lời đối với trẻ, đặc điểm nghe nhạc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, về biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời thông qua các hoạt động ở trường mầm non

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 3: Một số biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn nghe nhạc cổ điển không lời và thực nghiệm sư phạm

• Phần kết luận và kiến nghị sư phạm

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới

Những thí nghiệm sớm nhất về tác động của âm nhạc lên não người được tiến hành từ năm 1988, khi nhà sinh học thần kinh Gordon Shaw cùng học trò thử mô hình hóa hoạt động của não trên máy tính tại Đại học California ở Irvine Dưới dạng mô phỏng, họ thấy rằng các tế bào não được kết nối với nhau thiên về những nhóm có những kiểu lóe sáng và nhịp điệu đặc thù nhất định

Shaw phỏng đoán rằng những kiểu lóe sáng này là sự trao đổi cơ bản của hoạt động não Do tò mò, họ quyết định biến đổi những tín hiệu đầu ra trong thí nghiệm mô phỏng thành âm thanh thay vì in ra như thường lệ Thật ngạc nhiên, những kiểu nhịp điệu như vậy nghe khá giống âm nhạc thời đại mới, hay nhạc phương Đông, với một chút sắc thái baroque

Nghiên cứu các tác dụng của âm nhạc đối với học hành có những bước

tiến trong hàng thập kỷ qua Khi nghiên cứu về Hiệu ứng Mozart – thuyết đề

xướng việc nghe nhạc Mozart có thể tạm thời nâng cao hiệu quả làm việc và

cả IQ – đã trở nên thịnh hành vào cuối những năm 1950 Phụ huynh ở khắp nơi bắt đầu thử cho con cái nghe nhạc cổ điển Thuyết Mozart nổi tiếng đến nỗi mà chính quyền Georgia đã đề xuất ngân sách cho phép mỗi đứa trẻ sinh

ra ở Georgia được nhận một đĩa nhạc cổ điển Vậy liệu những đứa trẻ ở Georgia bây giờ có trí thông minh cao hơn trí thông minh trung bình trên toàn nước Mỹ hay không? Liệu Mozart có thực sự làm cho trẻ thông minh hơn?

Như với hầu hết các thuyết, những cuộc tranh luận xung quanh Hiệu ứng

Mozart vẫn đang diễn ra Nhưng có một điều không thể phủ nhận được, đó là

sự thật khi các bài học âm nhạc được giảng dạy một cách đều đặn giúp trẻ

Trang 15

vượt qua được hầu hết các tiêu chí kiểm tra – bao gồm cả kết quả học vấn nói chung Một nhóm nghiên cứu Canada từ trường Đại học McMaster đã so sánh

2 nhóm bao gồm 6 trẻ từ độ tuổi 4 đến 6 tuổi; một nhóm học các lớp học âm nhạc và nhóm còn lại không được học Kết quả đã được xuất bản trên tạp chí Khối óc (Brain) vào ngày 20 tháng 9 năm 2006, chứng tỏ rằng trẻ được học nhạc vượt trội so với trẻ đồng lứa trong khả năng ghi nhớ cũng như các khả năng không liên quan đến âm nhạc như văn học, toán học và cả IQ [15]

Sau một cuộc kiểm tra IQ được tiến hành tại Mỹ, các nhà khoa học nước này đã cho biết: nhóm học sinh được thư giãn bằng bản sonata K488 của Mozart có kết quả trắc nghiệm IQ trung bình cao hơn nhóm khác từ 9 đến 10 điểm Tốc độ hoạt động não và nhiều hoạt động khác của trẻ được nghe nhạc Mozart trở nên nhanh nhạy hơn, năng động hơn bình thường [12]

Kết quả một cuộc thử nghiệm mới của các nhà khoa học về tác động của bản sonata K448 đối với 60 bệnh nhân tại Trường đại học y dược Sao Paolo

đã hé mở những khả năng về việc vùng não kiểm soát chức năng thị giác của con người được tăng cường tốc độ phân tích, và xử lý hình ảnh với độ chính xác cao

Những người tham gia cuộc thử nghiệm đã được “thưởng thức” những bản sonata soạn cho 2 piano của Mozart tại một phòng kín trong 10 phút Sau

đó, họ bắt đầu các cuộc kiểm tra sự phối hợp chức năng của thị lực và não bộ Quá trình xử lý thông tin diễn ra rất nhanh và chính xác ở vùng não chức năng [12]

Nghiên cứu do Bộ Giáo Dục Mỹ thực hiện trong 10 năm, với khoảng 25.000 trẻ em Cuộc nghiên cứu cho thấy các môn nghệ thuật, nhất là âm nhạc, đã giúp các em có những tiến bộ rõ rệt trong các môn toán, lịch sử, địa lý… Âm nhạc làm phát sinh những tình cảm rất đặc biệt Nó có thể làm cho ta uốn éo thân hình theo điệu nhạc hay lắc lư cái đầu theo mỗi dòng cảm xúc [14]

Trang 16

Nghiên cứu mới nhất của Anne Blood và các đồng nghiệp ở Viện thần kinh trường Đại học Mc Gill (Montréal – Canada) khám phá ra rằng, những vùng trong não chịu sự tác động của âm nhạc rất khác so với quá trình cảm xúc và nhận thức đã biết Họ xác nhận sở thích âm nhạc cũng có chỗ đứng trong não, bằng kỹ thuật chụp ảnh, người ta ghi nhận những vùng chịu sự tác động của âm nhạc nằm phần lớn ở bán cầu não phải, phần giàu cảm xúc nhất

và chiếm một vị trí riêng biệt trong vùng dành cho sự thể hiện các cảm xúc [12]

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước

Việc tiếp nhận xúc với thể loại âm nhạc tinh hoa của nhân loại mặc dù có chậm hơn các nước phát triển ở phương tây Nhưng Việt Nam vẫn đang trên

đà tìm hiểu, ứng dụng những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới

về lợi ích của nhạc cổ điển điển không lời

Tiêu biểu đó là việc ứng dụng nhạc cổ điển không lời vào chữa bệnh Tạp chí Âm Nhạc Việt Nam đã trao đổi quanh các vấn đề trên với PGS.TS Nguyễn Văn Thọ, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tâm thần TW 2 Là bác sĩ chuyên khoa 2 Thần kinh – Tâm thần, PGS.TS Nguyễn Văn Thọ còn là hội viên “Hội nhạc sĩ Việt Nam” TS Nguyễn Văn Thọ còn là người trực tiếp tìm hiểu phương pháp của Helen Bonny: Hình tượng hướng dẫn và âm nhạc (Guided Image and Music – GIM) GIM là sự tiếp cận sâu sắc tới liệu pháp tâm lý âm nhạc trong đó âm nhạc cổ điển được chương trình hoá một cách chuyên biệt, sử dụng để tạo ra sự bộc lộ động lực những trải nghiệm bên trong, cho phép hiện ra tất cả các khía cạnh trải nghiệm của con người: Về tâm lý học, cảm xúc, cơ thể, xã hội, tinh thần và tập hợp vô thức

BS Thọ nhìn nhận đây là liệu pháp đặc biệt kết hợp sử dụng âm nhạc để mang lại sự cân bằng và giúp con người vượt qua những bất ổn về tinh thần, thể chất, xã hội và nhận thức Đầu tiên, nhà liệu pháp sẽ lập ra một bảng theo dõi tổng thể về tình trạng tâm lý và thể chất của người bệnh để tìm hiểu rõ

Trang 17

những hoạt động của bệnh nhân trong xã hội; các kỹ năng nhận thức và khả năng giao tiếp của bệnh nhân với cộng đồng… Sau đó, nhà liệu pháp sẽ quyết định chọn loại nhạc lý nào cũng như thời gian điều trị cho từng bệnh nhân

BS Thọ còn cho biết hiện có khoảng 30 chương trình âm nhạc cổ điển được tuyển chọn (hầu hết của các tác giả Beethoven và Brahms) để tiếp cận với tâm

lý bệnh nhân Mỗi chương trình dài khoảng 40 phút gồm ba phần: đoạn nhạc

mở đầu dùng để kích thích hình tượng, đoạn nhạc ở giữa làm sâu hơn trải nghiệm cảm xúc và những bản nhạc ở phần kết nhằm đưa bệnh nhân trở về trạng thái thức tỉnh bình thường Và hiện nay BS Thọ đang liên kết cùng với Nhạc trưởng Nguyễn Bách trong tuyển chọn các bản nhạc cổ điển thích hợp,

để có thể thực hiện việc tham vấn không chỉ với bệnh nhân tâm thần, mà mở rộng ra với cộng đồng, với những ai muốn giải tỏa stress bằng liệu pháp âm nhạc

Mới đây nhất trường ĐH Văn Hiến vừa hợp tác với Viện sức khỏe xã hội

(của Trường ĐH Worcester ở Anh) tổ chức hội thảo khoa học “Tham vấn và

trị liệu tâm lý” Các nhà nghiên cứu tâm lý có tiếng trên thế giới và ở Việt

Nam, như GS Joanna E Smith, PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ, TS tâm lý Phạm Toàn… đã chia sẻ kiến thức cho gần 300 khách mời đến từ các bệnh viện, trường đại học, trường PTTH, chuyên viên tâm lý Tại đây, phương pháp điều trị bệnh nhân tâm thần ở Việt Nam bằng âm nhạc đã được tổng kết với kết quả khả quan cao, thành công hơn 50% Trong cuộc hội thảo PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ - trưởng khoa khoa học xã hội và nhân văn của Trường ĐH Văn Hiến, đã có bài tham luận về tình hình ngành trị liệu tâm lý ở Việt Nam và liệu pháp Âm nhạc, qua chủ đề “Ứng dụng kỹ thuật hình tượng

âm nhạc có hướng dẫn trong điều trị bệnh nhân tâm thần” (Guided Imagery and Music - GIM) Nghiên cứu của ông Thọ chỉ ra rằng, việc cho bệnh nhân nghe âm nhạc cổ điển sẽ giúp họ hồi phục về thế giới tiềm thức; âm nhạc là cầu nối tuyệt vời để đi vào thế giới tiềm thức của bệnh nhân [9]

Trang 18

Hiện nay các nhà tư vấn và các nhà nghiên cứu ở việt nam đã bắt đầu tư vấn cho các bà bầu và trẻ nhỏ tiếp xúc với nhạc cổ điển không lời vì lợi ích của nó mang lại cho Mẹ và Bé không ít Không những vậy việc nhận thức về tầm quan trọng của nhạc cổ điển không lời đối với trẻ mầm non ngày càng được thể hiện rõ rệt hơn: Vụ giáo dục mầm non đã biên soạn 4 bộ đĩa CD nhạc cổ điển không lời dành cho các lứa tuổi, một số trường mầm non ở Hà Nội cũng đã tiến hành hoạt động cảm thụ thể loại âm nhạc này

1.2 Khái quát về nhạc cổ điển không lời

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Nhạc cổ điển

Nhạc cổ điển là dòng nhạc nghệ thuật được sản xuất, hoặc được bắt nguồn từ truyền thống tế lễ ở phương tây và nhạc thế tục, bao gồm một khoảng thời gian rộng lớn từ khoảng thế kỷ thứ XI đến thời điểm hiện tại

Nhạc cổ điển ( Classic music) là thuật ngữ dùng để phân biệt với các thể

loại khác như pop, rock, jack…

Chữ cổ điển ( Classic) thường được dùng với hai nghĩa: cổ xưa và đỉnh cao Thuật ngữ này thường hay nhầm lẫn vì nhạc cổ điển ( Clasic music) cùng đồng thời là một thời kì trong nền “ Âm nhạc nghệ thuật phương tây” ( Western art music), thời kì cổ điển 1750 – 1820 [8,1]

Như vậy, khi nhắc đến nhạc cổ điển thông thường , người ta muốn nói đến nền âm nhạc nghệ thuật phương tây ( Wertern art music – giai đoạn 1750 – 1820)

Còn hiểu theo nghĩa âm nhạc nghệ thuật đỉnh cao thì “ Classic” chính là

“Kinh điển”, nghĩa là nói đến tất cả những gì được coi là thành tựu kinh điển của âm nhạc, trong đó gồm nhiều thời kì, nhiều phong cách: Phục hưng, Baroc, Cổ điển, Lãng mạn, Ấn tượng, Biểu hiện, Đương đại( về thời gian) và các nền âm nhạc ngoài phương tây như: Trung quốc, Nhật, Ấn độ, Việt nam….( về không gian) Và nhạc cổ điển hiểu theo nghĩa rộng là như thế

Trang 19

Nói tóm lại Âm nhạc cổ điển là thuật ngữ mang một nghĩa rộng để chỉ

thể loại âm nhạc “bác học” được sáng tác và bắt nguồn từ truyền thống âm

nhạc nghệ thuật Châu âu, đặc biệt là giai đoạn từ 1000 – 1900 [8,1]

1.2.1.2 Nhạc cổ điển không lời

Nhạc cổ điển không lời là những tác phẩm âm nhạc được sáng tác cho các nhạc cụ biểu diễn [8,4]

1.2.2 Các giai đoạn chính của nhạc cổ điển

Âm nhạc có từ rất lâu, nó được hình thành và phát triển qua các giai đoạn:

1.2.2.1 Thời kì trung cổ ( trước 1450) – Thời kì Hy Lạp – La Mã:

* Âm nhạc đầu thời kì Trung cổ

Ở thời Trung cổ, hầu hết các nhạc sĩ chuyên nghiệp đều được nhà thờ

Cơ đốc giáo tuyển dụng Vì nhà thờ đối lập với ngoại giáo liên quan đến Hi Lạp và La Mã cổ đại nên nó không khuyến khích việc biểu diễn âm nhạc Hi Lạp và La Mã Hậu quả là loại âm nhạc này bị tàn lụi

Người ta biết rất ít về thể loại thánh ca không nhạc đệm được sử dụng trong những nghi lễ nhà thờ thời kỳ đầu Tuy nhiên thể loại thánh ca Cơ đốc giáo xuất hiện được bắt nguồn từ âm nhạc lễ nghi của đạo Do Thái và những giai điệu thế tục thời đó Những giai điệu thánh ca phát triển ở Roma được sáng tác và ấn định cho những trình tự cụ thể trong những nghi lễ nhà thờ trong thời kỳ từ thế kỷ thứ V đến thứ VII

Ít nhất cũng phải đến thế kỉ thứ IX nhiều nhạc sĩ mới cảm thấy sự cần thiết phải có một thứ âm nhạc phức tạp hơn kiểu giai điệu không nhạc đệm

Họ bắt đầu thêm vào bè giọng hát được hát đồng thời với những đoạn của thánh ca Kết quả là sự ra đời của phong cách âm nhạc gọi là Organium Trong phong cách organium thời kỳ đầu, bè giọng hát được thêm vào chạy song song một cách đơn giản với giai điệu thánh ca nhưng được hát trên đó một quãng tư hay quãng năm Về sau bè thêm vào trở thành một giai điệu đối

Trang 20

âm độc lập Organium có vị trí quan trọng trong lịch sử âm nhạc vì đó là bước đầu tiên hướng tới sự phát triển của kết cấu âm nhạc được biết đến là phức điệu (polyphony), việc sử dụng nó ở phạm vi rộng là đặc trưng nổi bật nhất của âm nhạc phương tây

Để các nhạc sĩ có thể đọc và biểu diễn một số bè giọng hát khác nhau một cách đồng đều, một hệ thống ký hiệu âm nhạc tỉ mỉ đã được phát triển

Ký hiệu cao độ được giải quyết bằng việc sử dụng một khuông nhạc gồm 4, 5 dòng kẻ hoặc hơn thế, với mỗi dòng hay khoảng trống giữa chúng đại diện cho một cao độ cụ thể, như là ký hiệu âm nhạc ngày nay Sự hoàn hảo của hệ thống này là nhờ ở tu sĩ Ý dòng Benedictine Guido d’Arezzo thế kỉ XI Ký hiệu về nhịp thời gian tỏ ra khó hơn

*Âm nhạc cuối thời kì Trung cổ:

Một sự thay đổi lớn về phong cách xảy ra trong âm nhạc suốt đầu thế kỉ

XIV Phong cách mới được giáo sĩ cấp cao người Pháp Philippe de Vitry, một trong những nhà soạn nhạc hàng đầu của thời kỳ này, gọi là ars nova (tiếng Latin nghĩa là “nghệ thuật mới”) Kết quả là âm nhạc thời kỳ này phức tạp hơn mọi tác phẩm được viết trước đó, phản ánh một tinh thần mới ở châu Âu làm nổi bật sự tài tình và khéo léo của con người De Vitry cũng tìm ra một hệ thống gồm cả những kí hiệu về thời gian Điều này cho phép các nhạc sĩ thế

kỉ XIV đạt được một sự tự do về nhịp điệu mới trong sáng tác của họ

Nới rộng nguyên tắc của những thể thức nhịp ngắn, các nhà soạn nhạc ars nova đã sử dụng những mẫu hình nhịp gồm 12 nốt hoặc nhiều hơn mà chúng lặp đi lặp lại trong một hoặc nhiều bè giọng của tác phẩm

Điều phức tạp thứ hai của ars nova liên quan đến cấu trúc tổng thể của

âm nhạc được viết cho thể loại mass (thánh ca)

Một đặc trưng nổi bật của ars nova là sự quan tâm hơn đến âm nhạc thế tục Lần đầu tiên những nhà soạn nhạc lớn đã viết cả nhạc thế tục và nhạc tôn giáo

Trang 21

1.2.2.2 Thời kì phục hưng ( Thế kỉ XIV – XIV)

Chống lại những phức tạp của ars nova, hầu hết các nhà soạn nhạc đầu thế kỉ XV ưa thích phong cách âm nhạc đơn giản hơn với những giai điệu chảy trôi êm ả, những hòa âm nghe êm tai hơn và ít nhấn mạnh vào đối âm hơn Nhà soạn nhạc Anh John Dunstable là người đầu tiên đẩy mạnh việc hướng tới một phong cách đơn giản hơn Những nét thanh nhã trong phong cách của ông sớm được các nhà soạn nhạc khác ở lục địa Châu âu tiếp thu, đặc biệt là những người phục vụ các công tước Bourgogne miền bắc nước Pháp Những nhà soạn nhạc Bourgogne này nổi tiếng bởi những chanson trong đó một bè giọng thể hiện giai điệu chính và một hoặc hai bè khác đảm nhiệm vai trò phần đệm Những người Bourgogne, đầu tiên là Machaut, cũng phát triển thông lệ sáng tác mass với các phần như một tổng thể hòa nhập Kết quả là mass trở thành một thể loại bất hủ, về tầm vóc có thể sánh với các giao hưởng thế kỉ XIX [13]

Trong viết nhạc đối âm, những nhà soạn nhạc thời Phục hưng dựa nhiều vào việc mô phỏng, sự trình bày liên tiếp, gần gụi về khoảng cách trong một hay nhiều bè giọng có cùng ý đồ giai điệu Kỹ thuật mô phỏng đã được sử dụng từ cuối thế kỉ XIX nhưng trong thời Phục hưng nó đã trở thành một yếu

tố cấu trúc chính trong âm nhạc Nếu một bè giọng bắt chước một bè giọng khác một cách nhất quán trong một khoảng cách thời gian dài vừa phải, hai bè giọng sẽ hình thành nên một canon (tạm dịch là “luân khúc”)

Ảnh hưởng của những nhà soạn nhạc Bourgogne đến giữa thế kỉ XV đã suy giảm Từ khoảng năm 1450 đến khoảng 1550 hầu hết các chức vụ về âm nhạc quan trọng ở châu Âu do những nhà soạn nhạc sinh vào thời đó ở Hà Lan, Bỉ và những vùng của nước Pháp kề cận đó nắm giữ Những nhà soạn nhạc này thường được gọi là Người Hà Lan theo tên vùng đất quê hương họ Những Người Hà Lan hàng đầu là Johannes Okeghem, Jacob Obrecht, Josquin Desprez và Orlando di Lasso Trong số những nhạc sĩ Ý nổi bật nhất

Trang 22

cuối thời Phục hưng có Giovanni da Palestrina Âm nhạc của ông điển hình cho dòng phức điệu hợp xướng ngang bằng, điều là tiêu chuẩn chính của phong cách âm nhạc Phục hưng

1.2.2.3 Thời kì Baroc ( 1600 – 1700)

Vào cuối thế kỷ XVI, khi tính phức điệu thời Phục hưng vẫn còn đang thịnh hành, những tiến triển mới ở Ý đã bắt đầu làm thay đổi âm giọng và cấu trúc của âm nhạc Rất nhiều nhạc sĩ Ý không thích phong cách đối âm của những Người Hà Lan Mong ước được tranh đua với nền âm nhạc cổ điển điển hình của người Hy Lạp, họ thích những cấu trúc ít phức tạp hơn, được biểu lộ bằng những sự tương phản thường gây xúc động, chủ đề dễ hiểu và sự tác động lẫn nhau của các giọng hát và nhạc cụ Những yếu tố như thế trở nên đặc biệt nổi bật trong thể loại opera, một thể loại lần đầu tiên được trình diễn

ở Florence vào cuối thế kỷ XVI và phát triển rực rỡ vào thế kỷ XVII bởi nhà soạn nhạc người Ý Claudio Monteverdi Những thể loại mới khác của thanh

nhạc gồm có cantata và oratorio [13]

Khí nhạc cũng ngày càng trở nên nổi bật trong suốt thế kỷ 17 này, thường ở hình thức một tác phẩm đối âm liên tục với sự phân chia không rõ ràng giữa các đoạn hoặc các chương, nó đã sinh ra những cái tên như ricercare, fantasia và fancy Một phong cách sáng tác thứ hai được tạo bởi những bộ phận tương phản, thường ở những kết cấu cũng một chủ điệu và đối

âm, hình thức này được biết đến là canzona hoặc sonata Rất nhiều bản khí nhạc được dựa trên những giai điệu hoặc bè trầm đã có sẵn; chúng gồm có chủ đề và các biến tấu, passacaglia, chaconne và chorale prelude Các tác phẩm theo nhịp vũ khúc thường được gộp chung thành các suite (tổ khúc) Cuối cùng các nhà soạn nhạc đã phát triển các bản nhạc theo các phong cách ứng tác (ngẫu hứng) cho các nhạc cụ đàn phím, những bản nhạc loại này được gọi là prelude, toccata và fantasia

Trang 23

Một sự cách tân quan trọng khác của thế kỷ XVII đã biến phong cách hay thay đổi của âm nhạc gần cuối thời phục hưng sang một phong cách đặc trưng bởi các yếu tố nhiều tương phản, người ta biết đến nhiều cái tên khác nhau như concertato, concertate và concerto, từ concertare (tiếng Latin nghĩa

là “sát cánh chiến đấu”)

1.2.2.4 Thời kì cổ điển ( 1730 – 1820)

* Thời kì Tiền cổ điển và Cổ điển

Từ khoảng năm 1720 những tiến triển mới một lần nữa lại bắt đầu làm suy yếu phong cách âm nhạc đang thịnh hành Các nhạc sĩ trẻ thấy rằng sự đối

âm thời kỳ Baroque quá cứng nhắc và lí trí, họ ưa thích một sự biểu lộ âm nhạc tự nhiên, ít gò bó hơn Thêm vào đó, tư tưởng cuối thời Baroque về việc hình thành một đặc tính cảm xúc độc đáo và duy trì nó trong suốt một tác phẩm dường như đang thui chột đi đối với các nhạc sĩ trẻ này

Sự phản ứng lại phong cách Baroque này có những hình thức khác nhau

ở Pháp, Đức và Ý Ở Pháp một trào lưu mới thường được gọi là rococo hay style galant (tiếng Pháp có nghĩa là "phong cách nhã nhặn"), có đại diện là nhà soạn nhạc người Pháp François Couperin Phong cách này nhấn mạnh kết cấu cùng một chủ điệu, nghĩa là giai điệu cùng với phần đệm có sự hài hoà

âm thanh Giai điệu được điểm tô bằng những nét hoa mĩ chẳng hạn như những tiếng rung (trill) ngắn Thay cho một dòng nhạc không đứt quãng như

ở thể loại Fugue thời Baroque, những nhà soạn nhạc người Pháp đã viết ra những bản nhạc kết hợp những đoản khúc riêng biệt, giống như trong nhạc khiêu vũ Sáng tác đặc trưng ở đây ngắn và mang tính chương trình, có nghĩa

là nó miêu tả sinh động những hình ảnh phi tính nhạc chẳng hạn như những con chim hay những chiếc cối xay gió

Ở Italy, phong cách tiền cổ điển không có một cái tên dành riêng cho

nó, có lẽ bởi vì nó không cắt đứt một cách đột ngột với âm nhạc thời ngay trước đó Tuy nhiên các nhà soạn nhạc Italy cũng đã góp phần rất lớn cho sự

Trang 24

phát triển của các thể loại mới, đặc biệt là symphony Opera overture của người Ý thường được gọi là sinfonia, thường không có sự kết nối về âm nhạc hay tính kịch với chính vở opera mà nó giới thiệu

Giai đoạn phát triển đỉnh điểm của âm nhạc thế kỷ XVIII là vào cuối thế

kỷ này khi một nhóm các nhà soạn nhạc được biết đến như “Trường phái cổ điển Vienna”, mà nổi bật nhất có Joseph Haydn, Wolfgang Amadues Mozart, Ludwig van Beethoven

Opera thế kỷ XVIII cũng đã trải qua rất nhiều thay đổi Ngay tại quê hương của opera là Italy, nó cũng đã mất đi rất nhiều đặc tính nguyên thuỷ như là một vở kịch với âm nhạc Thay vào đó nó đã trở thành một loạt các aria được viết cho các giọng ca tài năng thể hiện Cải cách quan trọng nhất là nhà soạn nhạc sinh ra ở Bavarian, Christoph Willibald Gluck, người mà các opera có ảnh hưởng nhất được viết ở Vienna và Paris từ năm 1764 đến 1779 Opera thời kì Cổ điển đạt tới đỉnh cao nhất trong các tác phẩm sân khấu của Mozart, trong đó đó mọi khía cạnh của thanh nhạc lẫn khí nhạc đều góp phần vào sự phát triển của cốt truyện và sự mô tả tính cách nhân vật

Về cuối thế kỷ XVII, một hệ thống những mối liên hệ hoà âm gọi là

“khoá nhạc” bắt đầu thống trị âm nhạc Sự phát triển này tạo cho nền âm nhạc một trào lưu ngầm những mối liên hệ hệ tầm xa giúp gọt giũa đi một vài chỗ còn thô của những đối âm trong phong cách thời đầu Baroque Đến đầu thế kỷ XVIII các nhạc sĩ đã đạt tới một sự kiểm soát chắn chắn đối với những bắt buộc phức tạp của khóa nhạc Cũng đến thời kỳ này, họ đã từ bỏ trên quy mô lớn quan niệm về sự thay đổi thường xuyên trong “Điệu” (mood) và đã bắt đầu ưa thích một phương pháp có mức độ hơn và đồng nhất hơn

Trang 25

một phong cách có thể mang lại nhiều ấn tượng Phong cách này có khuynh hướng trở thành công thức ở trong bàn tay của những nhà soạn nhạc kém tài năng Một phần vì lí do này mà các cuộc thí nghiệm của những nhà soạn nhạc

thời kì 1810 - 1820 dần dần bắt đầu tìm đến những phong cách mới

Những nhà soạn nhạc thời kì Lãng mạn thường lấy cảm hứng từ văn học, hội họa hay từ những nguồn không âm nhạc khác Vì vậy, âm nhạc chương trình được phát triển rất mạnh mẽ và dẫn đến sự ra đời của thể loại

thơ giao hưởng

Một trong những thể loại lí tưởng của thế kỉ XIX là opera Tại đây, tất

cả những loại hình nghệ thuật hòa cùng nhau mở ra những quang cảnh hùng

vĩ, những cao trào của xúc cảm và là cơ hội tốt cho những giọng ca tuyệt vời

khoe giọng

Âm nhạc xuyên suốt thế kỉ XIX vẫn mang truyền thống trừu tượng, âm nhạc tuyệt đối vẫn được duy trì thông qua các bản giao hưởng và âm nhạc thính phòng Schubert, Schumann, Brahms, nhạc sĩ người Đức Felix Mendelssohn, nhạc sĩ người Áo Anton Bruckner để lại những dấu ấn đặc biệt quan trọng Nhạc sĩ người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky sáng tác giao hưởng

và các tác phẩm thính phòng cũng tuyệt vời như các vở opera hay âm nhạc có tiêu đề Nhạc sĩ Ba Lan Frederic Chopin thì sáng tác ra những thể loại âm

nhạc không tiêu đề, mang phong cách rất tự do, phóng khoáng

1.2.2.6 Thời kì hiện đại

* Thế kỉ XX

Nhiều người tưởng nhầm rằng nhạc Classic là loại nhạc của quá khứ, nhưng thực tế nó đã , đang và sẽ vẫn tiếp tục phát triển ngày càng mạnh Người ta vẫn sáng tác rất nhiều, không ngừng, vẫn biểu diễn, vẫn có rất nhiều khán giả, và đặc biệt nhất là luôn luôn có hệ thống lí luận phương pháp rất

chặt chẽ và khoa học

Trang 26

Từ năm 1900 và trong suốt thế kỉ XX cuộc sống của con người có rất nhiều bước ngoặt, hai đại chiến thế giới, cách mạng khao học kĩ thuật …Thế

kỉ XX là một thế kỉ có tốc độ phát triển vũ bão, thế nên nghệ thuật cũng có những thay đổi nhanh chóng Bên hội họa thì nào là trìu tượng, siêu thực, lập thể… nhiều khi khiến cho người ta rất khó hiểu Bên âm nhạc cũng tương tự,

có các thể loại khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn, hiện đại và hậu hiện

đại Âm nhạc Classic của thế kỉ này vẫn phát triển và vô cùng thú vị

*Thế kỉ XXI

Ở thế kỉ này đặc trưng với âm nhạc Đương đại Bên cạnh đó nhạc cổ điển vẫn không ngừng sáng tác

1.2.3 Các trường phái của nhạc cổ điển

1.2.3.1 Trường phái cổ điển:

Trường phái cổ điển được định nghĩa trong từ điển là trình độ cao nhất

về Văn Chương và Nghệ Thuật, đặc biệt là phụ thuộc vào nền Văn Hóa Cổ

Hy Lạp và Cổ La Mã [9]

Các nghệ sĩ cổ điển trong thế kỷ XVIII tại châu Âu đã không quan tâm tới cá tính hay các kinh nghiệm cá nhân như là sơ liệu nghệ thuật của họ Một công trình nghệ thuật tự bản thân nó đã có sẵn vẻ đẹp, điều hay mà không cần tới sự diễn tả của bản ngã người nghệ sĩ trong khi các nghệ sĩ thuộc trường phái lãng mạn (romantic) lại coi nghệ thuật là một phương tiện để tự thể hiện

và nét chính của nghệ thuật lãng mạn là sự nhấn mạnh vào cách biểu lộ cảm xúc Trường phái cổ điển hướng về sự trong sáng của tư tưởng và vẻ đẹp của hình thể, coi trọng sự kiểm soát và kỷ luật nơi nghệ thuật, quan tâm tới tiềm năng trong cách diễn tả thuần lý, trong công phu gọt dũa tỉ mỉ và tầm nhận thức về vẻ đẹp lý tưởng Tất cả căn bản của phong cách cổ điển đã khuyến khích người nghệ sĩ chú tâm vào các phẩm chất của trật tự, của sự thăng bằng

và sự hòa hợp

Trang 27

Các nhạc sĩ nam nữ thời đó sống nhờ vào các cung đình, họ là ca sĩ, nhạc công và giáo sư âm nhạc cho các gia đình quý tộc giàu có Họ viết nhạc để phục vụ tôn giáo, hoặc soạn ra các bài thực tập âm nhạc dành cho nhạc sinh, hoặc sáng tác ra các bản nhạc để hát, để đàn trong các buổi giao tế xã hội của giới quyền quý

1.2.3.2 Trường phái lãng mạn

Trong thời kỳ Phục Hưng, các nghệ sĩ cổ điển tin tưởng rằng các nhân tài

Hy Lạp và La Mã đã khám phá ra các định luật thẩm mỹ có giá trị vĩnh viễn nhờ đó các họa sĩ, nhà viết kịch, nhà văn, nhà thơ chỉ việc tuân theo, và các văn nghệ sĩ cổ điển đã áp đặt các quy luật này trong thế kỷ XVIII nhờ họ làm việc trong các triều đình và các hàn lâm viện

Từ năm 1750 trở về sau, những người đầu tiên của phong trào Lãng Mạn bắt đầu xuất hiện và nhân vật gây được nhiều ảnh hưởng nhất là Jean Jacques Rousseau do các lời biện hộ cho các đặc tính tự do, cảm xúc và bản chất tốt đẹp của thiên nhiên J J Rousseau còn đề cao tinh thần cá nhân chủ nghĩa (indivialism) coi cá nhân tách biệt khỏi các người khác Nhà tư tưởng người Pháp này đã từng nói: "Tôi thì khác với mọi người, nếu tôi không tốt hơn thì

ít nhất cũng khác biệt" Trong khi xã hội phương tây thay đổi về các quan niệm chính trị và xã hội thì văn chương và các bộ môn nghệ thuật khác như hội họa, âm nhạc, kiến trúc, phê bình cũng tiến hóa theo Phong trào Lãng Mạn từ từ phát triển, đã ảnh hưởng và làm giàu rất nhiều cho nền văn hóa tại châu Âu

Trường phái lãng mạn của thế kỷ XIX còn có một nét đặc thù, đó là sự khác biệt giữa các nhạc sĩ chuyên nghiệp và các nhạc sĩ tài tử Các nhạc sĩ độc tấu với tài nghệ xuất sắc đã xuất hiện như Paganini về vĩ cầm và Liszt về dương cầm Đã tăng thêm các tiêu chuẩn chuyên nghiệp khiến cho sang thế

kỷ XX, vai trò của nhạc trưởng trở nên rất quan trọng và nhạc trưởng đôi khi còn được gọi là "nhà độc tài của dàn nhạc"

Trang 28

1.2.4 Một số thể loại nhạc cổ điển không lời

1.2.4.1 Symphony

Symphony có nghĩa là “ Âm thanh cùng với nhau”

Như vậy, Symphony ( nhạc giao hưởng) là thể loại nhạc viết cho “ Đại dàn nhạc” ( vài chục đến vài trăm người), nhằm khai thác sự phong phú về âm sắc và cường độ âm thanh của dàn nhạc cổ điển, thường dài khoảng 20 – 45 phút, chia làm 4 chương Về sau, symphony được dùng cho mọi tác phẩm soạn cho dàn nhạc lớn với cấu trúc tự do hơn, không nhất thiết phải 4 chương [8,4]

Các chương được viết theo nhiều cấu trúc khác nhau ( tùy theo tác giả), nhưng có một số qui tắc nhất định:

+ Phần mở đầu: ( có thể có hoặc không)

Giữa phần mở đầu và chương 1 là cả một sự tương phản về điệu thức và tiết tấu ( thường mở đầu rất chậm)

+ Chương 1: Allegro Có tốc độ nhanh ( Allegro)

Tư tưởng của tác phẩm luôn được thể hiện trong chương này Đặc điểm của nó là tạo sự xung đột , căng thẳng giữa những ý nhạc tương phản của hai chủ đề ( chính và phụ) và nhiều hành động kịch tính phát triển mạnh mẽ, nhằm thể hiện một nội dung đấu tranh quyết liệt của tác phẩm

+ Chương 2: Chương này thường có tốc độ chậm: Andante ( khoan thai)

hoặc Adaigio ( rất chậm ) với tính chất trữ tình ( lyric) hoặc bi thương ( pathétique), tiêu biểu cho hình tượng tương phản với những tình cảm suy nghĩ liên quan đến thế giới nội tâm của con người, cũng có liên quan đến thiên nhiên

+ Chương 3: Tốc độ nhanh Có trường hợp chương 3 là một điệu Valse

hay được xây dựng trên một tiết tấu mạnh mẽ của nhịp hành khúc Chương này tạo sự tương phản về thể loại, gây yếu tố mới cho toàn bộ sự phát triển của tác phẩm Nó vừa tạo tính tương phản với chương 2 vừa chuẩn bị cho

Trang 29

chương kết ( chương 4) Chương này thường được viết ở hình thức 3 đoạn phức tạp: A B A Hoặc sau đoạn A, có thể thêm phần Coda để có hình thức :

A B A Coda

+ Chương 4: chương kết: Nhịp độ rất nhanh ( Molto Allegro hay Presto) Nhiệm vụ của nó là tổng kết toàn bộ tác phẩm Đặc biệt đối với giao hưởng cổ điển, chương này có chức năng đa dạng, phức tạp, thường thể hiện một thế giới quan trong sáng, yêu đời Có khi chương kết này mô tả những cảnh sinh hoạt vui tươi của quần chúng hay lễ hội tưng bừng Chương 4 thường có quan hệ trực tiếp, gần gũi với chương 1, góp phần tạo nên tính thống nhất cho toàn bộ tác phẩm Trong các giao hưởng cổ điển, đặc biệt các nhà soạn nhạc Haydn, Mozart, Beethoven, chương kết này thường ở hình thức Sonate Allegro Ngoài ra các tác giả còn dùng hình thức Rondo Sonate với cấu trúc AB – AC – Coda hay dùng thủ pháp phát triển theo kiểu biến tấu ( Variasion) hoặc đa âm ( Polyphony)

Beethoven là người đã có những cách tân quan trọng đối với thể loại giao hưởng, đưa nó lên đỉnh cao nghệ thuật âm nhạc của nhân loại Ở chương

2 của các giao hưởng, ông còn dùng hình thức hành khúc tang lễ , thậm chí cả Scherzo (thay vì ở chương 3) Ông đưa hợp xướng vào chương kết của symphony No 9 tạo thành dấu ấn không phai mờ trong lịch sử âm nhạc thế giới Ngoài ra ông còn sáng tạo giao hưởng 5 chương có tiêu đề cho từng chương và đặc biệt là các chương được trình bày liên tục, không có sự ngừng nghỉ Với các bản giao hưởng của mình, Beethoven đã xác lập một thể loại nghệ thuật kịch giao hưởng

Tác dụng nghệ thuật của âm nhạc giao hưởng rất lớn, nó có khả năng diễn đạt nhiều vấn đề của cuộc sống, con người, xã hội Nội dung nghệ thuật của giao hưởng đa dạng, phức tạp Giao hưởng là một đỉnh cao của nghệ thuật

âm nhạc Qua từng thời kì lịch sử âm nhạc, các nhà soạn nhạc lớn đều chú ý đặc biệt đến thể loại này trong gia tài sáng tác của họ

Trang 30

1.2.4.2 Concerto

Concerto là tác phẩm viết cho một nhóm hoặc một nhóm nhạc diễn tấu với dàn nhạc, kết hợp nghệ thuật biểu cảm và trình độ kĩ thuật điêu luyện của nghệ sĩ solo với sự phong phú về âm sắc và cường độ âm thanh của dàn nhạc Giống như symphony, bản concerto dài khoảng 20 – 45 phút, có từ 1 – 5 chương, nhưng phổ biến nhất là có 3 chương: chương đầu thường là dài nhất

và kịch tính nhất, chương giữa chậm nhất và tình cảm nhất, chương cuối ngắn nhất và vui tươi nhất Concerto grosso: hình thức concerto thời kì Baroque, trong đó thành phần solo gồm một nhóm nhạc cụ hợp tấu chứ không phải một người Solo concerto: chỉ có một nhạc khí giữ vai trò độc tấu ( solo), được ghi

rõ trong tên tác phẩm Ví dụ: Piano concerto, Concerto for Violin… [8,6] Double concerto: có 2 nhạc khí thay phiên nhau độc tấu hoặc cùng song tấu đối đáp với dàn nhạc Ví dụ: Double concerto của Brahms cho violin và cello Triple concerto: cũng như double concerto nhưng có 3 nhạc khí cùng chia sẻ vị trí solo Ví dụ: Triple concerto của Beethoven viết cho violin, cello

và piano

1.2.4.3 Sonata

Thuật ngữ Sonata xuất hiện vào cuối thế kỷ XVI để chỉ các tác phẩm khí nhạc, nhằm phân biệt với thanh nhạc: nếu một bản nhạc được trình diện bằng nhạc cụ, nó là sonata; nếu nó được hát lên, nó là cantata Tuy nhiên khi dàn nhạc ngày càng lớn hơn và các thể loại âm nhạc ngày càng nhiều hơn thì cách phân biệt đơn giản trên không còn thích hợp nữa

Theo các nhà nghiên cứu, lí luận âm nhạc, sonata “ vừa là một hình thức

âm nhạc ( musica form), vừa là một thể loại ( style)” Một tác phẩm âm nhạc

có thể mang cấu trúc của sonata, khi đó người ta gọi tác phẩm đó mang “ hình thức sonata” Bên cạnh đó sonata còn là một loại tác phẩm âm nhạc, tương tự như oratorio, opera, concerto… Khi đó người ta có “ thể loại sonata” hay “

liên khúc sonata” [8,7]

Trang 31

*Bố cục của hình thức sonate:

Hình thức sonate cổ điển gồm 3 phần chính: trình bày ( exposition), phát

triển ( development) và tái hiện ( recapitulation) Ngoài ra còn có phần mở đầu (introduction) trong một số sáng tác của Mozart, Haydn, Beethoven… Đến Beethoven, hình thức sonate có thêm phần coda ( ví dụ : chương 1, bản

sonate số 23 cho piano, giao hưởng số 3, giao hưởng số 5…)

* Sơ đồ tổng quát của hình thức sonate cổ điển:

+ Coda ( có thể có hoặc không)

Liên khúc sonate cổ điển là một tác phẩm gồm nhiều chương liên kết lại với nhau, trong đó mỗi chương mang tính độc lập tương đối Ngoài ra yếu tố cần thiết và quan trọng của thể loại liên khúc sonate cô điển là: trong số các chương trong tác phẩm nhất thiết phải có một chương (thường là chương 1) được viết dưới hình thức sonate Về bố cục, thể loại liên khúc sonate cổ điển thường gồm ba hoặc bốn chương với tốc độ khác nhau:

Trang 32

+ Chương 1: Thường được viết với nhịp độ nhanh, sôi nổi ( nên thường được gọi là Allegro) Do biểu tượng và ý đồ nghệ thuật nên chương một nhằm giới thiệu tập trung nội dung của tác phẩm Hai chủ đề phản ảnh các mặt tương phản của cuộc songs, tư tưởng và tâm hồn con người Do đó, có thể nói chương một đã thể hiện phần nào quan điểm và tư tưởng của tác giả

+ Chương 2: Thường được viết ở nhịp độ chậm như: Andante, Adagio, Largo Chương hai thường có giai điệu trữ tình như một ca khúc Đôi khi, nó cũng mang tính chất suy tư hoặc bi thương

+ Chương 3: Các nhà soạn nhạc ở thể kỉ XVIII ( như Haydn, Mozart) thường chỉ viết sonate ba chương, riêng Beethoven đã sáng tạo ra sonate bốn chương Trong thể loại sonate bốn chương này, Beethoven đã đặt giữa chương hai và chương cuối một chương có nhịp điệu Scherzo Tính chất nhạc

ở đây khi thì vui nhộn, khi thì hóm hỉnh, châm biếm, nó khác điệu Menuet ở chỗ không bị gò bó và tiết tấu vũ khúc, mà có phong cách tự do và giàu sức diễn tả hơn

+ Chương kết: Thường có nhịp độ rất nhanh ( vivace, presto) Nó có nhiệm vụ tổng kết các chương trên và nêu ra kết luận chung cho toàn bộ tác phẩm Chương kết có thể xây dựng trên cơ sở một điệu múa dân gian, khúc biến tấu ( variation) của một chủ đề mang tính ca khúc, hoặc được viết theo hình thức Rondo Từ thể kỉ XVIII trở đi, do nhu cầu diễn đạt nội dung ngày càng sâu sắc và phong phú, nên chương kết cũng có thể viết dưới hình thức sonate Trong trường hợp này chương kết có vị trí quan trọng trong việc tổng kết các vấn đề đã nêu ra trong tác phẩm, khẳng định một kết luận bằng những hình tượng âm nhạc tràn đầy kịch tính và sức diễn tả ( ví dụ: chương kết trong bản sonate “ Ánh trăng” của Beethoven)

Ngày nay, sonata có nghĩa là một tác phẩm khí nhạc – có thể có một hoặc nhiều chương, viết cho một hay hai, đôi khi ba nhạc khí

Trang 33

1.2.4.4 Serenade

Serennade có nguồn gốc từ tiếng Italia “Sera” ( buổi tối) và “Serenade” (

dạ khúc) Ban đầu dùng để chỉ những bản tình ca mà các chàng trai trẻ thường đứng hát lúc chiều tà dưới cửa số nhà cô gái mà mình theo đuổi Về sau thuật ngữ này được dùng với ý nghĩa phổ biến nhất của nó là một tác phẩm âm nhạc hoặc là một buổi biểu diễn âm nhạc để thể hiện sự kính trọng, tôn vinh ai đó

Có ba serenade trong lịch sử âm nhạc:

+ Trong cách dùng cổ nhất, tồn tại ở hình thức không chính thức, một serenade là một tác phẩm được biểu diễn cho một người được yêu chuộng, người bạn hay một người nào đấy được tôn vinh, với thời gian đặc trưng là vào chiều tối và thường ở dưới cửa số nhà người đó Phong tục chơi serenade theo kiểu này bắt đầu từ thời Phục hưng và từ “Serenade” với cách dùng thông thường nhất trong ngôn ngữ hiện hành liên quan đến phong tục này

Âm nhạc được biểu diễn không theo một hình thức đặc biệt nào, ngoại trừ nó được một người hát tự đệm đàn bằng nhạc cụ có thể mang theo được, chẳng hạn như flute hoặc guitar Những tác phẩm thuộc dạng này cũng được xuất hiện ở những thời đại về sau, nhưng thường là trong tình huống có liên quan đặc biệt đến thời trước, chẳng hạn như một aria trong một vở opera ( một ví

dụ nổi tiếng là trong opera Don Giovanni của Mozart)

+ Trong thời kì Baroque, một serenade là một loại cantata được biểu diễn ngoài trời vào chiều tối với một nhóm nhạc khí và giọng hát Một vài nhà soạn nhạc của loại serenade này là: Alessandro Stradella, Alessandro Scarlatti, Johann Joseph Fux, Johann Mattheson và Antonio Caldara Thường thì có những tác phẩm quy mô lớn được biểu diễn với sự dàn dựng tối thiếu, chen giữa một cantata và một vở opera Theo một số nhà chú giải, sự khác nhau chủ yếu giữa một cantata và một serenata, vào khoảng năm 1700, là serenata được biểu diễn ở ngoài trời và vì vậy có thể sử dụng những nhạc cụ tạo âm thanh quá to như: trumpet, horn và trống

Trang 34

+ Loại serenade quan trọng nhất va thịnh hành nhất trong lịch sử âm nhạc là một tác phẩm viết cho hòa tấu khí nhạc quy mô lớn ở nhiều chương, chủ yếu được soạn ở những kì Cổ điển và Lãng mạn, mặc dù một ít hình mẫu tồn tại từ thể kỉ XX Thông thường thì tính chất của tác phẩm nhẹ nhàng thanh thoát hơn các tác phẩm nhiều chương khác viết cho hòa tấu lớn ( ví dụ như giao hưởng), với tính chất du dương quan trọng hơn việc phát triển chủ

đề hay sức mạnh kịch tính Phần lớn các tác phẩm này xuất xứ từ Ý, Đức, Áo, Bohemia Những ví dụ nổi tiếng nhất của thể loại serenade từ thể kỉ XVII chắc chắn là những serenade của Mozart, là những tác phẩm có hơn bốn chương nhạc và đôi khi lên đến mười chương Hòa tấu điển hình nhất cho một serenade là một hòa tấu nhạc cụ hơi cùng với bass và viola: các nhạc công có thể đứng, bởi vì tác phẩm thường được biểu diễn ngoài trời Những serenade thường băt đầu và kết thúc bằng những chương nhạc mang tính chất hành khúc, vì các nhạc công thường phải diễu hành đến và rời khỏi nơi biểu diễn

Những serenade nổi tiếng của Mozart bao gồm Haffner Serenade ( mà về sau ông soạn lại thành Haffner Symphony No 35) và một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Eine Kleine Nachtmusik, mà chỉ viết cho những nhạc

cụ dây một cách không theo thông lệ

Đến thế kỉ XIX, serenade đã chuyển thành tác phẩm hòa nhạc, ít liên quan đến việc biểu diễn ngoài trời trong những dịp lễ lạt tôn vinh, và các nhà soạn nhạc bắt đầu viết những serenade cho hòa tấu khác Hai serenade của Barhms khá giống những bản giao hưởng nhỏ, trừ việc chúng sử dụng một dạng hòa tấu của Mozart đã thừa nhận: một dàn nhạc nhỏ không có violin Dvorak, Tchaikovsky, Josef Suk và những nhà soạn nhạc khác đã viết serenade chỉ cho đàn dây, Hugo Wolf cũng vậy, ông đã viết một tứ tấu đàn dây ( Italian Serenade) Một số ví dụ về serenade thể kỉ XX bao gồm:

Serenade cho Tenor, Horn và đàn dây của Benjamin Britten, serenade cho

Trang 35

piano của Stravinsky, serenade cho baritone và bẩy nhạc cụ Op.24 của

Arnold Schoenberg… [8, 9-10]

1.2.4.5 Nocturne

Nocturne lần đầu xuất hiện vào thể kỉ XVIII để chỉ một tác phẩm viết cho dàn nhạc thính phong gồm nhiều chương, thường xuyên được biểu diễn trong các buổi tiệc về đêm, và chủ yếu lấy cảm hứng từ đêm hoặc gợi lên không khí của đêm Tác phẩm nổi tiếng nhất của Notturno cho đàn dây và kèn horn giọng rê trưởng là K.286 và Serenata Notturna, K.239 của Wolfgang Amadeus Mozart [8,12]

Tuy nhiên Nocturne được dùng với ý nghĩa phổ thông hơn là để chỉ tác phẩm có một chương duy nhất, chủ yếu dành cho đàn piano độc tấu vào đầu thế kỉ XIX Người sáng tác nên những bản nocturne đầu tiên theo khái niệm này là nhạc sĩ người Ireland John Field – ông được coi là cha đẻ của nocturne lãng mạn Đặc điểm riêng biệt của những bản nocturne của Field là giai điệu

có thể hát lên được (cantabile) và sử dụng nhiều hợp âm rải Tuy nhiên nhân vật tiêu biểu cho thẻ loại này là nhà soạn nhạc vĩ đại người Ba lan Frederic Chopin Ông đã viết tất cả 21 nocturne và hầu hết đều là những bản nhạc tuyệt vời Những nhạc sĩ sau này cũng viết nocturne có thể kể đến là Gabriel Faure, Alexander Scriabin và Erik Satie

Ta còn bắt gặp nocturne như là một chương ở trong những tác phẩm lớn dành cho dàn nhạc Ví dụ như nocturne trích trong “Giấc mông đêm hè” của Felix Mendelssohn hay chương một trong violin Concerto số 1 của Dmitri Shostakovich cũng có tên là nocturne Nhạc sĩ Claude Debussy cũng có một

tác phẩm tên là Nocturne gồm ba chương viết cho dàn nhạc và hợp xướng nữ

1.2.5 Dàn nhạc giao hưởng

Dàn nhạc là một nhóm các nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ tập hợp lại với nhau Dàn nhạc càng đông, càng nhiều loại nhạc cụ khác nhau thì sẽ mang lại cho người nghe âm thanh càng đầy đặn và phong phú [8,12]

Trang 36

Dàn nhạc giao hưởng là một tổng thể về biên chế các nhạc cụ được sử dụng theo những nguyên tắc nhất định nhằm phục vụ cho việc diễn tấu một tác phẩm giao hưởng Hình thành từ thể kỉ XVII, dàn nhạc giao hưởng trưởng thành cùng với âm nhạc giao hưởng [11]

Qua các tác phẩm của Haydn, Mozart, Beethoven,Richard Wagner, Johannes Brahms, Tchaikovsky dàn nhạc giao hưởng dần phát triển và được Maurice Ravel, Claude Debussy hoàn thiện như ngày nay

Với bốn bộ nhạc khí dây, gỗ, đồng, gõ và thêm một số nhạc cụ bổ sung, dàn nhạc giao hưởng là dàn nhạc cỡ lớn, biên chế trên 50 nhạc công, đôi khi lên tới 100 nhạc công

Chính vì vậy nhạc trưởng phải là người có khả năng đọc bản tổng phổ nhanh, không phải ai cũng làm được Phải đặt tình cảm của mình vào bản nhạc Nhạc trưởng phải có đôi tai nhạy bén, phân biệt được âm thanh của các loại nhạc cụ Chỉ cần một người trong dàn nhạc lạc nhịp cũng có thể phát hiện

ra Đoạn nhạc nào thích hợp để violin solo, đoạn nào làm nổi bật cello, đều do nhạc trưởng quyết định Như một đầu bếp, dù nguyên liệu ngon mà cách chế biến dở thì cũng vứt đi Ngược lại, tay nghề giỏi thì cơm nguội cũng trở thành đặc sản Bên cạnh đó nhạc trưởng cần phải có kiến thức sâu rộng về âm nhạc,

có năng khiếu nghiên cứu và phân tích âm nhạc, năng khiếu thể hiện và biểu

Trang 37

cảm âm nhạc bằng ánh mắt, thần sắc, thôi miên và kỹ thuật truyền cảm của tay và cả cơ thể Có thể nói đây là nghề cần kiến thức tổng hợp về âm nhạc và nghệ thuật, càng biết chơi nhiều nhạc cụ và biết thanh nhạc (hát) thì càng thuận lợi cho nghề nghiệp Có thể ví người nhạc trưởng như người đạo diễn kịch, còn nhạc công của dàn nhạc là những diễn viên, chỉ có khác là khi biểu diễn thì người đạo diễn (nhạc trưởng) cùng biểu diễn với các diễn viên (nhạc công) Dàn nhạc là nhạc cụ gián tiếp của người nhạc trưởng, tất cả những sắc thái và biểu cảm của nhạc trưởng đều được truyền tải qua sự thể hiện của các nhạc công Chính vì vậy sức thuyết phục của xử lý và truyền cảm âm nhạc của người nhạc trưởng là yếu tố quyết định, đánh giá đẳng cấp của từng nhạc trưởng Điều này nói lên khối lượng công việc của người nhạc trưởng, sự nắm bắt và am hiểu thấu đáo tác phẩm âm nhạc – bản giao hưởng, vở opera (nhạc kịch), concerto am hiểu tác giả Người chỉ huy phải nhìn và nghe được, phải

có phản xạ nhanh và quyết đoán, phải hiểu biết nghệ thuật sáng tác, tính năng các nhạc cụ Ngoài ra phải có tố chất đặc biệt, truyền tải cảm xúc của mình đến các nhạc công Nếu không có khả năng này anh ta sẽ không thể điều khiển và dẫn dắt dàn nhạc, chỉ đơn thuần là người đánh nhịp thay máy”

Lúc chỉ huy, hầu hết các nhạc trưởng đều cầm một chiếc đũa chỉ huy màu trắng, nhằm giúp cho các nhạc công có thể nhìn thấy rõ những chuyển động của tay nhạc trưởng Khi bước ra sân khấu, nhạc trưởng thường bắt tay

Concertmaster ( trưởng bè violin) trước khi biểu diễn

1.2.7 Nhạc công

Nhạc công là người thực hiện, biểu diễn các bản nhạc bằng các nhạc cụ với nhiều thể loại nhạc: pop, rock, jazz, giao hưởng Mỗi nhạc công có thể chơi một hay nhiều loại nhạc cụ trong một dàn nhạc Trong âm nhạc hiện tại, chỉ cần một nhạc công và một đàn organ là có thể biểu diễn [8,13]

Trang 38

1.2.8 Nhạc cụ

Nhạc cụ là những dụng cụ chuyên dùng để khai thác những âm thanh âm nhạc và tạo tiếng động tiết tấu, được sử dụng cho việc biểu diễn âm nhạc [13] Mỗi nhạc cụ có âm sắc riêng biệt về âm vang, có cường độ âm thanh riêng và âm vực khác nhau Nhạc cụ xuất hiện gắn liền với lịch sử văn hóa và liên quan tới sự phát triển của nghệ thuật biểu diễn cũng như kỹ thuật chế tạo Qua quá trình sàng lọc của thực tiễn lịch sử diễn tấu, nhiều nhạc cụ dần mai một Mặt khác, nhiều loại dần phát triền và ngày càng được hoàn thiện

Các loại nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng được chia thành 4 nhóm chính: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ

Sự phân loại này chỉ có tính quy ước tương đối Với đàn piano ta có thể xếp nó vào bộ dây vì chính dây đàn tạo ra âm thanh, nhưng ta cũng có thể xếp

nó vào bộ gõ vì ta phải gõ vào các phím đàn, đến nay người ta vẫn còn chưa thống nhất về chuyện này và các loại nhạc cụ có bàn phím được xếp vào một nhóm riêng, nhóm keyboard

Nếu chọn tiêu chí phân chia khác, ta sẽ có các phân nhóm khác Ví dụ, ta

có thể chia các nhạc cụ thành 3 nhóm theo các thức tạo ra âm thanh: làm dao động một sợi dây ( guitar, violin), làm dao động cột khí trong một cái ống rỗng (các loại kèn, sáo), làm dao động một vật thể cứng ( đàn đá, trống)

Tuy nhiên, để đơn giản, ta sẽ sử dụng cách phân chia cổ điển quen thuộc:

bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ

1.2.8.1 Bộ dây ( Strings)Auble

Những nhạc cụ thuộc bộ đàn dây, hay còn được gọi “gia đình đàn violin” gồm có: Violin, Viola, Cello, Double – bass ( Contrabass) Đó là 4 nhạc cụ dây chủ yếu của dàn nhạc cổ điển Ngoài ra còn những nhạc cụ dây khác như: Harp, Guitar…

Bộ dây giữ vai trò quan trọng, gần như then chốt trong dàn nhạc giao hưởng, được sử dụng thường xuyên trong suốt tác phẩm Các nhạc cụ bộ dây

Trang 39

có kỹ thuật phong phú, âm sắc đồng nhất, hài hòa và có sự thống nhất chặt chẽ Âm vực rộng, ngoài phần đảm nhận giai điệu, bộ dây còn đảm nhiệm phần hòa âm Bộ dây là bộ duy nhất trong dàn nhạc có thể tự đảm nhận toàn

bộ hòa thanh mà không cần sự hỗ trợ của các bộ khác Trong tổng phổ, bộ dây đặt nằm dưới cùng, xem như làm nền cho toàn bộ dàn nhạc

Các nhạc cụ bộ dây có cấu tạo tương tự, chỉ khác nhau về kịch cỡ Âm thanh được phát bằng cách dùng vĩ (archet) tác động vào dây Riêng đàn

Harp là nhạc khí bổ sung nhưng cũng được xếp vào bộ dây [8,15]

*Violon:

Là nhạc cụ có cao độ nhất trong số những nhạc cụ

đàn dây, đàn có 4 dây G, D, A và E Dây được làm

bằng ruột động vật – ngày xưa, ngày nay dây đàn được

bọc thêm dây kim loại Cây vĩ là một thanh gỗ dài

75cm, được uốn hơi cong vào Người ta cong một bó

long đuôi ngựa lên hai đầu của dây vĩ

+ Violin I: Bè này gồm các violin chơi bè cao hơn

Viola giống Violin nhưng to hơn một

chút và chơi những nốt thấp hơn Violin

Trong dàn nhạc, thường thì người nào

không biết, không thể phân biệt được hai

đàn này, nhưng nếu chú ý nghe lắng nghe

Trang 40

thì có thể phân biệt và tách bè giữa Viola với các bè khác.

Viola có 4 dây: C, G, D, A Trong dàn nhạc, Viola có thể coi như trái tim

của bộ dây

*Cello ( Violoncello)

Cello có hình dạng giống Violin nhưng to

hơn nhiều và được đặt đứng giữa hai chân để

chơi, nó có một cái đinh dài để đỡ phía dưới

Cello trong dàn nhạc cùng với Contrabass giữ

bè bass cho tác phẩm và chơi những giai điệu

Đàn thường có 4 dây: E, A, D, G Tuy

nhiên, đôi khi người ta thêm một dây C tùy vào

yêu cầu của tác phẩm

Trong dàn nhạc giao hưởng, các nhạc cụ

dây được xếp theo bè, xếp ngồi gần nhất sân

khấu Những người càng ngồi gần nhạc trưởng

càng có vị trí quan trọng trong dàn nhạc, họ là

trưởng bè của nhóm đàn Cello, trưởng bè Viola,

trưởng bè Violon II, trưởng bè Violon I

Người có vị trí trưởng bè Violon I được gọi là Concertmaster hoặc Leader Người này cũng là trưởng bè của toàn bộ đàn dây Concertmaster sẽ làm nhiệm vụ chỉ đạo các nhạc cụ so dây cho đúng đầu mỗi buổi hòa nhạc (

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w