1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngắn thanh tịnh

88 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 792,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thơ ca đặc biệt là phong trào Thơ mới là sự phát triển cũng mạnh mẽ không kém cả về số lượng lẫn chất lượng của các thể loại văn xuôi nghệ thuật nh

Trang 1

KSOR LUL

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ NGỌC HÒA

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VĂN CHƯƠNG CỦA THANH TỊNH 9

1.1 Truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX 9

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng thể loại 11

1.1.2 Quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX 15

1.2 Thanh Tịnh và hành trình sáng tạo văn chương 19

1.2.1 Thanh Tịnh - cuộc đời và duyên nợ văn chương 19

1.2.2 Hành trình sáng tạo 21

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH - NHÌN TỪ ĐỀ TÀI VÀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 30

2.1 Đề tài 30

2.1.1 Cảnh sắc quê hương 31

2.1.2 cuộc sống người dân quê 36

2.2 Hình tượng nhân vật 38

2.2.1 Hình tượng nhân vật với khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi 39

2.2.2 Hình tượng nhân vật với cuộc sống cần cù, lam lũ 43

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 49

3.1 Kết cấu 49

3.1.1 Kết cấu tâm lý 49

3.1.2 Kết cấu truyện không có cốt truyện 55

3.2 Ngôn ngữ 58

Trang 4

3.2.3 Ngôn ngữ người kể chuyện 65

3.3 Thời gian và không gian nghệ thuật 69

3.3.1.Thời gian nghệ thuật 69

3.3.2 Không gian nghệ thuật 71

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 phát triển một cách mạnh mẽ

và đạt được những thành tựu to lớn Những thành tựu đó đã làm thay đổi hẳn diện mạo văn học của dân tộc, mang tới cho nó một bộ mặt mới của nền văn học hiện đại Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thơ ca (đặc biệt là phong trào Thơ mới) là sự phát triển cũng mạnh mẽ không kém cả về số lượng lẫn chất lượng của các thể loại văn xuôi nghệ thuật như: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, tùy bút, nghiên cứu phê bình,… Do sự phức tạp của diện mạo văn học giai đoạn này cũng như yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới, hiện đại hóa văn học, nhiều tác giả có thể sáng tác rất nhiều thể loại khác nhau, mà ở mỗi thể loại đều có những thành công nhất định Điều đó nói lên

sự phát triển mạnh của văn học giai đoạn này không chỉ về số lượng, chất lượng tác phẩm mà còn cả về số lượng và chất lượng tác giả Nhắc đến Vũ Trọng Phụng, người ta không chỉ nhắc đến tiểu thuyết mà còn là những bài

phóng sự khiến ông được mệnh danh là ông vua phóng sự đất Bắc Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới lại có những truyện ngắn trữ

tình rất hay Nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan ngoài những bài nghiên cứu, những tập bút ký, ông còn giúp công chúng Việt Nam tiếp cận với tiểu thuyết phương Tây qua bản dịch tiếng Việt của mình Nhà thơ Thế Lữ có những truyện đường rừng đầy bí hiểm, hấp dẫn,… Báo chí, nhà in, nhà xuất bản cũng góp phần làm sôi động thêm văn học giai đoạn này bằng cách đăng

Trang 6

tải hàng trăm tiểu thuyết, hàng ngàn truyện ngắn, phóng sự, tùy bút, truyện ký

đủ loại,…

2 Trong sự phát triển bùng nổ của văn học, truyện ngắn đã trưởng thành

vượt bậc và sớm trở thành một thể loại mạnh với những đại diện tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Kim Lân,… Mỗi tác giả là một quan điểm, một phong cách riêng, nhưng đều có đóng góp thành công vào thể loại này trong nền văn học chung Các tác phẩm truyện ngắn giai đoạn này đã phản ánh một cách toàn vẹn sâu sắc đời sống xã hội đương thời Bên cạnh những tác phẩm phê phán, phản ánh, tố cáo mặt trái của hiện thực xã hội, là những tác phẩm đi sâu vào khám phá thế giới tâm hồn sâu kín, phát hiện vẻ đẹp đời sống nội tâm của con người với ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm, giàu hình ảnh mà điển hình là truyện ngắn Thanh Tịnh Có thể nói cho đến nay, truyện ngắn Thanh Tịnh vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu nhiều, vẫn chưa có được những nhận xét thỏa đáng cho một con người lặng lẽ cống hiến cả cuộc đời cho nền văn học nước nhà Vì thế chúng tôi quyết định chọn đề tài luận văn “Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn phát hiện và khẳng định thêm những đóng góp của ông cho truyện ngắn Việt Nam 1930-1945

2 Lịch sử vấn đề

Dễ dàng nhận thấy, so với Thạch Lam và Hồ Dzếnh, số lượng các bài nghiên cứu về Thanh Tịnh không nhiều Chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo luận về Thanh Tịnh một cách riêng biệt, độc lập Từ trước tới nay mới chỉ có luận án Phó Tiến sỹ của Phạm Thị Thu Hương (1995) là đặt vấn đề

Trang 7

nghiên cứu những đặc trưng về phong cách truyện ngắn của ba tác giả Thạch Lam- Thanh Tịnh- Hồ Dzếnh và nghiên cứu về Thanh Tịnh nằm trong tương quan chung với hai tác giả kia Trong luận án của mình, Phạm Thị Thu Hương đã tìm ra một số nét đặc sắc trong truyện ngắn của Thanh Tịnh, đi sâu

vào phân tích không gian làng Mỹ Lý, đặt làng giữa không gian sóng đối, coi các hình tượng dòng sông, con thuyền , câu hò, nhà ga, con tàu, tiếng còi là

các biểu trưng Có thể nói đây là những phân tích sắc sảo và sâu sắc Bên cạnh đó luận án còn đề cập đến nghệ thuật truyện ngắn của Thanh Tịnh như tìm hiểu chất thơ trong văn xuôi, giọng điệu trần thuật xen trào phúng nhẹ nhàng Mặc dù vậy, do yêu cầu cũng như mục đích đặt ra của đề tài nên luận

án dừng lại ở việc tìm hiểu phong cách mà chưa đi sâu vào khai thác biện chứng của tâm hồn

Ngoài công trình của Phạm Thị Thu Hương, còn có các bài viết, bài nghiên cứu về Thanh Tịnh của Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Huy Cận, Vương Trí Nhàn, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Mạnh Trinh, Thạch Lam, Bùi Việt Thắng, Trần Hữu Tá, Lưu Khánh Thơ… Hầu hết các bài đều viết theo thể loại chân dung tác giả, trong đó có lược qua toàn bộ sự nghiệp của Thanh Tịnh bao gồm cả truyện ngắn, truyện dài, thơ, độc tấu, kịch,… Nói chung, các

ý kiến đánh giá về truyện ngắn Thanh Tịnh trước 1945 là khá thống nhất, đều cho rằng “mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh như một bài thơ vịnh gọn và có dư

vị trữ tình lắng sâu” (Trần Hữu Tá)

Có thể nói người đầu tiên nhận ra tài năng văn xuôi của Thanh Tịnh chính

là Thạch Lam khi ông viết lời tựa cho tập truyện ngắn đầu tiên Quê mẹ của

Thanh Tịnh xuất bản 1941 Thạch Lam đã dùng những câu chữ đẹp nhất để ca ngợi nó Ông đã hiểu và nhận thấy sự chi phối mạnh mẽ của con người thi sĩ ở

Trang 8

Thanh Tịnh đối với cách nhìn nhận cuộc sống: “Có lẽ linh hồn người ở đấy còn nhiều màu sắc khác nhau, trong cuộc sống còn nhiều bi kịch khác, nhưng

mà tác giả chỉ tả có cái vẻ êm ả và nên thơ Tâm hồn ưa thích cái gì vừa đẹp

đẽ, vừa nhè nhẹ, tác giả không lách đi sâu, nhưng dừng lại ở một làn gió, ở một cái thoảng hương thơm của hoa cỏ bốn mùa” Ông nhận thấy ở Thanh Tịnh một tình yêu quê hương xứ sở đằm thắm, thiết tha “Thanh Tịnh đã muốn làm người mục đồng ngồi dưới bóng tre thổi sáo để ca hát những đám mây và làn gió lướt bay trên cánh đồng ca hát những vẻ đẹp của đời thôn quê”[60, tr.350]

Trong bài viết của mình Vũ Ngọc Phan đã xếp Thanh Tịnh vào cùng dòng

“tiểu thuyết tình cảm” với Thạch Lam, ông cho rằng: “Thứ tình cảm ở tiểu thuyết Thanh Tịnh là thứ tình êm dịu, nhẹ nhàng, thứ tình của những người dân quê hồn hậu Trung kỳ, diễn ra trong những khung cảnh sông nước, đồng

ruộng… Cái tình quê trong hầu hết các truyện ở tập Quê mẹ bao giờ cũng

rung rinh, lai láng trong những đêm trăng sáng, trên những mặt sông im hay trong những buổi chiều tà, gió hiu hắt thổi Tình, trăng, nước, đó là tất cả những cái làm tài liệu cho Thanh Tịnh để xây dựng nên những truyện trong

tập Quê mẹ” [49 tr, 193]

Đi xa hơn Vũ Ngọc Phan, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã so sánh sự gần gũi về chất trữ tình, chất thơ trong sáng tác của Thanh Tịnh và một số nhà văn khác với nhà văn Nga Pauxtôpxki: “…kết hợp giữa phản ánh và bộc lộ cảm xúc cá nhân đậm chất trữ tình, chất thơ như sáng tác của Pauxtôpxki, Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, …” [16, tr.33], “Có thể nói mạch truyện Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh đã nói lên vẻ đẹp nội cảm của tâm hồn trước cuộc sống…” [16, tr.37]

Trang 9

Nhà thơ Huy Cận phát hiện ra cái “mùi vị quê rất đậm” trong truyện ngắn của Thanh Tịnh: “Tôi muốn nói thêm một điều: bao áng văn đẹp ấy gợi đậm lòng yêu quê hương đất nước, yêu những gì là văn minh, văn hóa nước nhà, lại có những tác phẩm mà “mùi vị đất quê” rất đậm (như các truyện ngắn của Thanh Tịnh) thật là đáng trân trọng…” [7, tr.1369]

Trong khi hầu hết các nhà nghiên cứu khác thường chỉ đặt Thanh Tịnh trong mạch liên tưởng tới các tác giả, tác phẩm gần gũi cùng giai đoạn thì Nguyễn Hoành Khung, trong một số bài tiểu luận của mình đã dành nhiều sự chú ý tới Thanh Tịnh: “Và cả Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, nếu như được gọi là những cây bút hiện thực - một thứ hiện thực trữ tình - thì đâu phải là không có căn cứ” [30, tr.10], “Cây bút xứ Huế ấy có một hồn thơ lai láng, ngọt ngào, man mác, trữ tình…” [30, tr.40], “Đúng như có người nhận xét, mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ Với một quê hương đằm thắm, Thanh Tịnh không những dựng nên một bức tranh thiên nhiên thi vị mà còn đi vào những cuộc đời hiền lành, lầm lụi mà đáng quý, đáng thương của người dân quê, đặc biệt là người phụ nữ…” [30, tr.40], “Mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ, mang chất thơ của cảnh vật và tâm hồn con người Việt Nam bình dị xiết bao thương mến Song ngòi bút rất thi sĩ ấy không chỉ khai thác những gì thi vị, ngọt ngào, mà còn viết nên những trang nhức nhối, đầy

ám ảnh về số phận thê thảm của con người nghèo khổ trong cuộc sống vật lộn

dữ dội với đời sống” [32, tr.14]

Tương tự như Nguyễn Hoành Khung là những nhận định thuyết phục của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn: “Chỗ khác của Thanh Tịnh so với một số tác giả thời tiền chiến, là khi diễn tả những nỗi bất hạnh của con người không làm cho nó chói lên quá đáng, nhân vật trong truyện cũng như tác giả không

Trang 10

kêu to sau các trang sách, song sự bất hạnh vì thế lại hiện ra không ai có thể cưỡng lại nổi, nó như không khí bao quanh người ta, và sống lâu với nó, ta quen đi lúc nào không biết” [53, tr.230]

Điểm qua những công trình, những bài nghiên cứu về Thanh Tịnh chúng tôi nhận thấy được: mặc dù các công trình nghiên cứu về Thanh Tịnh chưa thật nhiều như một số tác giả khác nhưng hầu hết các ý kiến đánh giá đến thừa nhận sự đóng góp của Thanh Tịnh trong nền văn học nước nhà nói chung và trong thể loại truyện ngắn nói riêng

Và tất cả những ý kiến trên đều là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện ngắn Thanh Tịnh giai đoạn

1930 – 1945

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những đặc điểm của truyện ngắn Thanh Tịnh trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu

sau:

4.1 Phương pháp lịch sử

Với những phương pháp này, chúng tôi đặt truyện ngắn Thanh Tịnh vào

Trang 11

trong quá trình phát triển của lịch sử văn học Việt nam giai đoạn 1930 -1945

để phân tích và lý giải các đặc điểm

4.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống

Sử dụng phương pháp này, chúng tôi xem truyện ngắn Thanh Tịnh là một

hệ thống bao gồm nhiều yếu tố và làm rõ mối quan hệ của các yếu tố cấu thành chỉnh thể nghệ thuật của truyện ngắn lãng mạn Việt Nam 1930-1945

4.3 Phương pháp so sánh

So sánh những đặc điểm của truyện ngắn Thanh Tịnh với truyện ngắn

khác trong cùng giai đoạn 1930 -1945

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp; lý thuyết thi pháp học, tự sự học…

5 Đóng góp của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ góp phần nhận diện những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Thanh Tịnh giai đoạn 1930 -1945 trên cả hai bình diện nội dung và hình thức

- Luận văn cũng góp phần nhận diện đặc trưng thể loại truyện ngắn từ góc nhìn phương pháp sáng tác

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và hành trình sáng tạo văn chương của Thanh Tịnh

Trang 12

Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Thanh Tịnh - Nhìn từ đề tài và hình tượng nhân vật

Chương 3: Đặc điểm của truyện ngắn Thanh Tịnh 1930 - Nhìn từ phương

thức thể hiện

Trang 13

CHƯƠNG 1 TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ HÀNH TRÌNH

SÁNG TẠO VĂN CHƯƠNG CỦA THANH TỊNH 1.1 Truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam buổi giao thời luôn có sự đụng chạm, cọ xát giữa phương Đông với phương Tây, giữa cổ truyền với hiện đại, giữa cái

cũ và cái mới, giữa cá nhân và cộng đồng, kích thích những người cầm bút tìm tòi Lý tưởng thẩm mỹ của thời đại đã thay đổi Quan niệm đề cao con người cá nhân của phương Tây như làn gió mới, thổi bùng lên khát vọng giải phóng, khát vọng tự do Sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trước hết xuất hiện ở tầng lớp trí thức Tây học, vì họ sớm có điều kiện được tiếp xúc với đời sống văn minh Đã có sự gặp gỡ giữa chất phóng túng, cao ngạo của nhân cách kẻ

sĩ “bất năng khuất” với cái tôi phá phách, nổi loạn của các trường phái triết học tư sản mới du nhập vào (chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu nhân, chủ nghĩa xê dịch, )

Trên cơ sở nền tảng của văn xuôi tự sự trung đại, sự hình thành và phát triển của văn xuôi quốc ngữ Nam bộ cuối thế kỷ XIX, truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phát triển theo những chặng đường sau:

* Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1925 Đây là bước chuẩn bị, thăm dò về khả

năng hình thành của thể loại truyện ngắn hiện đại Phần lớn truyện ngắn chú ý nhiều đến vấn đề suy thoái của đạo đức truyền thống, kết cấu chưa tách khỏi ảnh hưởng của truyện dân gian và văn xuôi trung đại Nhưng thoát ra khỏi những bước đi chập chững đầu tiên ấy, truyện ngắn Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định gắn liền với các tác giả như Nguyễn Bá Học, Phạm

Trang 14

Duy Tốn, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc với không ít tác phẩm chất lượng, góp phần quan trọng thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa nền văn học trên lĩnh vưc văn xuôi

* Từ năm 1926 đến năm 1932 Đây là chặng đường vận động đa dạng của

truyện ngắn trên con đường hình thành của thể loại Đặc điểm lớn nhất của chặng đường này là sự phân hóa dù chưa rõ ràng của truyện ngắn theo hai khuynh hướng: hiện thực và lãng mạn, ở chặng đường thứ hai này thấy nổi

bật lên vai trò của một số báo, tạp chí như Nam phong tạp chí, An Nam tạp

chí, Đông Dương tạp chí… trong việc đăng tải truyện ngắn thời bấy giờ

Cùng với truyện ngắn trên báo chí, các tập truyện ngắn của Nguyễn Tường Tam, Tam Lang, Thế Lữ… góp phần tô đậm bức tranh đầy màu sắc của văn học từ đầu thế kỷ XX đên 1932

Trong quan niệm của các cây bút đầu thế kỷ XX, các khái niệm truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết chưa tách bạch rõ ràng và cũng khó có thể tách bạch được Do vậy quá trình hình thành thể loại truyện ngắn, trước hết nằm trong quá trình hình thành thể loại tiểu thuyết Xuất phát từ quan niệm như thế, chúng tôi đề cập đến quá trình hình thành thể loại tiểu thuyết, trong đó cố gắng chú ý nhấn mạnh đến những yếu tố ít nhiều khu biệt tạo nên sự hình thành thể loại truyện ngắn

Bất cứ một thể loại văn nào hình thành, trước hết cũng xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống xã hội và trực tiếp nhất là yêu cầu của công chúng, của người đọc Sự hình thành thể loại truyện ngắn giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 cũng nằm trong quy luật chung đó Vì thế, đi tìm quá trình hình thành thể loại truyện ngắn, không thể không đề cập sơ qua bối cảnh lịch sử xã

Trang 15

hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã dẫn đến sự hình thành của một loại hình công chúng mới của văn học Sự hình thành xã hội mới theo hướng Âu hóa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX như vừa nói, đã làm thay đổi cuộc sống vật chất lẫn tinh thần, cả tâm lý và cách suy nghĩ của các giai cấp, tầng lớp mới,

dĩ nhiên chủ yếu là ở thành thị Người ta phải tự điều chỉnh để thích ứng trong điều kiện của xã hội phức tạp, sôi động và dĩ nhiên là mới lạ Và như thế, có một bộ phận công chúng mới hình thành ở thành thị

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng thể loại

Lịch sử văn học Việt Nam kể từ khi “ Vất bút lông đi, giắt bút chì” (Tú Xương), gắn liền với chữ quốc ngữ, thì văn xuôi nghệ thuật, trong đó có truyện ngắn đã bắt đầu hình thành và đóng vai trò quan trọng Để nhận biết rõ hơn, sự hình thành truyện ngắn với tư cách là một thể loại trong văn học dân tộc - và để làm tiền đề nghiên cứu truyện ngắn Thanh Tịnh ở các chương sau, chúng tôi đã tham khảo vận dụng các ý kiến, quan niệm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới

Ruby V Redinger trong Bách khoa toàn thư Mỹ (Encyclopedya American)

xác định: “Truyện ngắn là một hình thức văn học, bản chất của nó bao hàm trong những từ làm thành phần tạo nên tên gọi của nó Với tư cách là một câu chuyện, nó kể lại một chuỗi sự kiện hoặc một biến cố liên quan đến con người trong hoạt động thể chất hoặc tinh thân Vì thế, giống mọi hình thức văn xuôi

hư cấu khác, nó mô tả bằng ngôn từ; và thành công của nó phụ thuộc vào sự tiếp xúc trực tiếp đặt được giữa người đọc và đối tượng miêu tả Với tư cách

là truyện ngắn, dĩ nhiên, nó không thể thực hiện mối tiếp xúc trực tiếp này bởi các phương tiện phổ biến đối với tiểu thuyết, như là xây dựng nhân vật chậm

Trang 16

rãi, miêu tả thật chi tiết và lặp lại Đặc biệt là nó phải miêu tả với độ nhanh nhạy và trọn vẹn giống như một tấm gương” (dẫn theo Lê Huy Bắc) [5, tr.19] Tương tự những nhận định trên ở Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu lý luận phê bình như Hà Minh Đức, Lê Bá Hán, Vương Trí Nhàn, Nguyên Ngọc, Trần Đình Sử, Bùi Việt Thắng… đưa ra hàng loạt các khái niệm và đặc trưng

của truyện ngắn Hầu hết các tác giả đều thống nhất truyện ngắn là tác phẩm

tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại bao trùm hầu hết các phương diện của đời

sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo là ngắn Tất nhiên về khái niệm dung lượng ngắn của truyện ngắn đã, đang và sẽ là một vấn đề còn nhiều tranh cãi, có điều mọi người thống nhất truyện viết ra để tiếp thu liền một mạch, dọc một hơi không nghỉ Truyện ngắn hiện đại thuộc một kiểu tư duy mới mang cá tính sáng tạo, một cách nhìn cuộc đời, nắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại Một trong những đặc điểm của truyện ngắn hiện đại là gắn liền với báo chí Khuôn khổ báo chí quy định tính chất ngắn gọn của truyện ngắn Tuy nhiên những đặc trưng mang tính chuẩn mực của truyện ngắn hiện đại chỉ có thể lấy làm tiêu chí để nhận diện, phân định tác phẩm khi

nó thực sự hoàn thiện Còn trong giai đoạn hình thành vận động của thể loại,

khái niệm truyện ngắn có tính lịch sử của nó

Theo Bùi Việt Thắng “Truyện ngắn rất ngắn trước hết là một truyện ngắn theo ý nghĩa thông thường, nói chung-có nghĩa là nó không phải là một truyện dài, đương nhiên Nhưng rất ngắn đến mức độ nào kể cũng khó trói buộc nó một cách dứt khoát, tuyệt đối (độ dài của một truyện ngắn rất ngắn thường từ dăm chục chữ đến dăm trăm chữ) Nếu dùng hình ảnh thì truyện ngắn rất ngắn

là một “đặc sản” của truyện ngắn thông thường; mà đã là “đặc sản” thì thường hiếm và có khi là đắt Nhưng nó hội đủ những đặc điểm của truyện ngắn với

Trang 17

tư cách là một thể loại văn học có lịch sử lâu đời, có vị trí cũng như công năng lớn trong hệ thống các thể loại văn học nói chung, văn xuôi nói riêng” Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989) đã có một ý kiến khi định nghĩa truyện ngắn: “Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ: Chỉ liếc qua những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời của thảo mộc” Định nghĩa này có thể giúp bạn hiểu một cách giản dị rằng truyện ngắn thông thường hay truyện ngắn rất ngắn đều là những “lát cắt đời sống”, trong đó nhà văn chủ yếu tập trung miêu tả những “khoảnh khắc” đáng nhớ

Khác với nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài “Nhân đọc tiếu lâm”, nhà văn Nguyễn Tuân (1910-1987) đã đưa ra một ý kiến đáng suy nghĩ: “Tìm ở Tiếu lâm một khóe cười, một nét cười, một khía cạnh của cái cười sảng khoái

và vui sống Nhưng theo tôi nghĩ, còn tìm ở Tiếu lâm có một cái gì có tính chất kỹ thuật viết truyện ngắn thật ngắn nữa Nhiều truyện Tiếu lâm chỉ ngắn không tới mười dòng” Rõ ràng thấy, nhà văn Nguyễn Tuân đã đưa ra một thuật ngữ rất Việt Nam là truyện ngắn thật ngắn Truyện ngắn rất ngắn phù hợp với quy luật sáng tác khi lấy chất lượng làm tiêu chuẩn hàng đầu

Và theo “Từ điển thuật ngữ văn học” Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi: “…truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống của tâm hồn con người… Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trông một thời gian

và không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người… Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện

Trang 18

ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều

ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” [23, tr.371]

Từ những ý kiến, nhận định trên cho thấy truyện ngắn là một “hình thức cỡ nhỏ nhưng chứa đựng một dung lượng lớn” của đời sống Nó có thể là “đôi hài bảy dặm” đưa người đọc qua khắp cõi nhân sinh để trải nghiệm những buồn vui của đời người

Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình

Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX) nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương Trải qua hàng ngàn năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên Hiện đại, Hậu hiện đại, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết Con người

không có đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ như : Tây du kí, Tam

quốc diễn nghĩa, Thuỷ Hử, Hồng Lâu Mộng, Những người khốn khổ, Chiến tranh và hòa bình, Sông đông êm đềm…Truyện ngắn đã hàm chứa cái thú vị

của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn, xinh xinh và đầy

Trang 19

truyền cảm, truyền dẫn cực nhanh những thông tin, nhanh cũng là một thế

mạnh để truyện ngắn chinh phục độc giả đương đại

Raymond Carver – một trong những bậc thầy truyện ngắn thế giới ghi nhận: ngày nay tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn và thỏa mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn” Truyện ngắn gắn chặt với báo chí Đây là một lợi thế lớn, bởi hiện tại báo chí kể cả báo điện tử đang bùng

nổ với tốc độ chóng mặt Người đọc quen và thích đọc truyện ngắn trong vài chục phút hoặc trong một vài giờ Hơn nữa, sau nhiều năm chiếm lĩnh văn đàn, thơ, kịch, tiểu thuyết dường như vắt kiệt về khả năng hồi sinh và đổi mới thể loại Trong khi đó truyện ngắn còn là mảnh đất tương đối trống, điều này tạo điều kiện hết sức thuận lợi để các cây bút khẳng định tài năng

1.1.2 Quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX

Như chúng ta đã biết, loại hình tự sự trong văn học dân gian như truyện cổ

tích, thần thoại và truyện cười là nguồn gốc nuôi dưỡng và hổ trợ những kinh nghiệm nghệ thuật cho việc sáng tác truyện ngắn buổi ban đầu Truyện ngắn rút được những kinh nghiệm quí báu của truyện cổ tích trong sự khái quát cao, các biện pháp ước lệ tượng trưng của thần thoại và ngắn gọn bất ngờ của tiếu lâm

Văn xuôi tự sự thế kỷ XIV- XVI khẳng định thành tựu của thể loại truyện ngắn dân tộc như “Việt điện u linh” (Lý Tế Xuyên), “Thánh Tông di thảo” (Lê Thánh Tông), “Lĩnh Nam chính quái” (Vũ Quỳnh và Kiều Phú) và tiêu biểu nhất vẫn là “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ Tuy dưới hình thức là

“truyền kỳ” nhưng hầu hết các truyện đều phản ánh những vấn đề xã hội

Trang 20

đương thời “Dưới hình thức những truyện hoang đường, “Truyền kỳ mạn lục” đã phản ánh được một phần sự thật xã hội đương thời Nội dung ấy được diễn đạt bằng một lối văn giàu sức tưởng tượng, các nhà văn hiện đại của ta

có thể tìm thấy trong đó nhiều đề tài lý thú” (Bùi Kỷ)

Với quan niệm “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí” mười thế kỷ trung đại loại hình tự sự ít được nhà nước phong kiến quan tâm, phổ biến - nhưng, như quy luật vận động của đời sống, nó vẫn phát triển “tự nhiên nhi nhiên” Chính văn học dân gian và loại hình tự sự trung đại đã “âm thầm” nuôi dưỡng mầm mống truyện ngắn sau này Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chữ quốc ngữ thoát ra khỏi bốn bức tường của tu viện và hòa nhập vào đời sống Thì truyện ngắn quốc ngữ đã bắt đầu hình thành

Sau khi quen cách viết “trơn tuột như lời nói” của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, đầu thế kỷ XX, truyện ngắn Việt Nam bắt đầu phát triển, gắn liền với tên tuổi hai nhà văn “khai sơn, phá thạch” Nguyễn Bá Học (1857- 1921) và Phạm Duy Tốn (1881- 1924) Tuy số lượng tác phẩm ít ỏi nhưng truyện ngắn của hai ông là “đêm trước” của văn xuôi giai đoạn sau

“Đặt những truyện ngắn của Nguyễn Bá Học bên những truyện cổ điển, chúng ta còn nhận ra nhiều tính cách liên lạc giữa hai thể tài, chứ lấy một truyện của Phạm Duy Tốn đem đặt cạnh một truyện cổ điển, ta thấy có một

sự li dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” (Thanh Lãng)

Vào những năm hai mươi, trên văn đàn xôn xao hiện tượng Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc Những năm tháng ở trong ngục Quảng Châu (1913-1917), những năm tháng “May áo cho người ta lấy chồng” (Lời của Phan Bội

Trang 21

Châu), Phan Bội Châu đã sáng tác nhiều truyện ngắn như “Tái sinh sinh truyện” kêu gọi, cổ vũ lòng yêu nước Nhưng, chấn động dư luận hơn cả vẫn

là truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc như Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), “Con người biết mùi hun khói” (1922), Vi hành (1923), Những trò lố

hay Varen và Phan Bội Châu (1925)… Chính nhờ những truyện ngắn này mà

văn xuôi dân tộc được bổ sung thêm một yếu tố mới và vô cùng quan trọng: sức sáng tạo của chủ thể nhà văn Hiện thực - lịch sử vẫn là nền móng, nhưng không còn đóng vai trò thống lĩnh; ngược lại trí tưởng tượng, hư cấu của nhà văn trong quá trình sáng tạo được đề cao Nhà văn thôi không còn là người ghi chép lịch sử, đời sống một cách khô khan, mà đúng nghĩa là người tái tạo đời sống, “phục sinh” đời sống

Từ năm 1930-1945, truyện ngắn Việt Nam phát triển rực rỡ và liên tiếp gặt hái những vụ mùa bội thu Có thể thấy sau hai cuộc tập dượt lớn, trên “ Đông dương tạp chí” rồi “Nam phong tạp chí” và phải kể từ Tản Đà “người mở đầu của thể văn xuôi tự truyện Quốc ngữ” (Phong Lê), kế thừa kinh nghiệm, thành tựu của những người đi trước, câu văn xuôi nhanh chóng chuyển sang một chất lượng mới, qua công phu gọt rũa, trau chuốt mà vứt bỏ câu văn nôm

na Khẩu ngữ của lời nói thường để trở thành câu văn nghệ thuật Gắn liền với truyện ngắn giai đoạn này là những gương mặt “vàng”: Khái Hừng, Nhất Linh, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Kim Lân, Bùi Hiển, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Mạnh Phú Tư, Đỗ Tốn, Hoàng Đạo… Mỗi người một phong cách tạo nên sự độc đáo, mới lạ cho văn học giai đoạn này Nếu như trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh - Hoài Chân đã khẳng định các kiểu “cái tôi cá nhân” của các nhà Thơ Mới “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề

Trang 22

rộng, ta đi tìm bề sâu, nhưng càng đi tìm càng lạnh Ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…” thì ở đây, qua “kính vạn hoa” của thế giới nhà văn, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra được những phong cách độc đáo, sáng tạo của từng cá nhân riêng lẻ

Từ năm 1929-1932, trên chuyên mục “xã hội ba đào ký” của An Nam tạp chí, Nguyễn Công Hoan đã trình làng trên dưới 20 truyện ngắn, khẳng định phong cách trào phúng của mình như “Oẳn tà roằn”, “Thật là phúc”, “Răng con chó của nhà tư sản”… Với Nguyễn Công Hoan, mỗi truyện ngắn chỉ khai thác một tình huống, một mâu thuẫn Ông biết cách đẩy mâu thuẫn lên thật cao rồi kết thúc đột ngột Với Nguyễn Công Hoan, có thể nói truyện ngắn hiện đại và ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại đã hình thành

Khác với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao về chất hiện thực của đời sống, thì Nguyễn Tuân, Thạch Lam và kể cả Thanh Tịnh đã gần nhau ở cái cốt cách lãng mạn, trữ tình, nên thơ trong truyện ngắn Qua ngòi bút Nguyễn Tuân, người đọc như được trở về “mái nhà xưa” với những kỷ niệm vàng son của một thời vang bóng Trong ruyện ngắn của mình, Nguyễn Tuân dường như quên đi cái hiện thực “rất chi là ối a ba phèn” (Nguyễn Công Hoan), để

mơ về cái đẹp của ngày xưa, sống với cuộc sống của ngày xưa Truyện ngắn Nguyễn Tuân cuốn hút người đọc không phải vì cốt truyện, tình tiết, nhân vật

mà bởi các không khí truyện, cái tâm trạng con người được thể hiện bằng một thứ ngôn từ điêu luyện

Trên hành trình đi tìm cái đẹp, Gió đầu mùa, Nắng trong vườn… đã đóng

đinh cuộc đời Thạch Lam vào trong sách Nói như nhà nghiên cứu Bùi Việt

Trang 23

Thắng “Thạch Lam như một người làm vườn thầm lặng chăm chút tỉa xới, chắt chiu từng mầm xanh nụ lá Truyện của ông xinh xắn, tươi nguyên và trong trẻo Nhưng không vì thế mà yếu kém giá trị nhân văn và ý nghĩa tích cực” Thạch Lam viết nhiều về những hồi ức, kỷ niệm thời thơ ấu và thúc dậy

ở mỗi người những rung động sâu xa Bao nhiêu năm qua rồi, cuộc sống của chị em Liên, của cái Hiên, của gia đình mẹ Lê, của tất cả những con người

“đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) trong truyện ngắn của ông, vẫn khiến người đọc không tránh khỏi những khoảnh khắc xao lòng

Điểm qua một vài gương mặt “vàng” của truyện ngắn Việt Nam

1930-1945, chúng tôi nhận thấy, bằng những nổ lực của mình, bằng công việc miệt mài trên cánh đồng chữ nghĩa, đội ngũ những tên tuổi này đã đi rất xa - cái đích chung mà nhiều thế hệ người viết đến sau, trong suốt thế kỷ 20 vẫn chưa vượt được Và trong khu vườn “trăm hoa đua nở” ấy, có một nhà văn lặng lẽ,

đầy mơ mộng, bâng khuâng - cái bâng khuâng buổi đầu Tôi đi học, vẫn mang

theo suốt hành trình là dòng sông, là câu hò mái nhì, mái đẩy, là ngôi làng miền Trung xa lắc đầy những ký ức tuổi thơ, đầy những con người vừa quen vừa lạ; để rồi cần mẫn trả lại cho đời những trang văn mượt mà, sâu lắng và thấm đẫm chất nhân văn - Nhà văn Thanh Tịnh

1.2 Thanh Tịnh và hành trình sáng tạo văn chương

1.2.1 Thanh Tịnh - cuộc đời và duyên nợ văn chương

Trong cuộc đời sáng tác của mình, Thanh Tịnh luôn ao ước “Ước gì để lại mùa sau Một câu một chữ đượm màu dân gian” Phải chăng những mong muốn hòa nhập vào cuộc sống của “người trồng dâu, trồng gai” và những hoài niệm tuổi thơ ở làng Mỹ Lý xa ngái ở miền Trung, khiến văn chương

Trang 24

của Thanh Tịnh bao giờ cũng man mác, trữ tình và sâu lắng ? cái man mác, trữ tình của điệu hò mái nhì, mái đẩy văng vẵng trên sông đã theo ông suốt cả cuộc đời và khiên ông tạo nên một phong cách riêng, không thể lẫn lộn trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam 1930-1945

Thanh Tịnh tên thật là Trần Thanh Tịnh, sinh năm 1911 tại xóm Gia Lạc, Ven sông Hương, ngoại ô thành phố Huế và mất năm 1988 tại Hà Nội Lúc nhỏ Thanh Tịnh, được gia đinh cho theo học chữ Nho, đến năm 11 tuổi, ông chuyển sang học tiểu học và tiếp tục lên trung học Những năm tháng miệt mài trên ghế nhà trường Thanh Tịnh đã ham thích văn chương Những tác phẩm của hai nhà văn Pháp A Daudet và G.Maupassant luôn thu hút ông Và chính sự say mê này, đã khiến Thanh Tịnh đi theo con đường văn chương và chịu ảnh hưởng nhất định từ hai nhà văn trên Năm 1933, Thanh Tịnh đi làm

ở các sở tư, rồi sau đó làm nghề dạy học Thời gian này, ông bắt đầu viết văn làm thơ và công tác với các tờ báo nổi tiếng như Phong hóa, Ngày nay, Thanh Nghị, Tiểu thuyết thứ năm…

Thanh Tịnh không thành công trong lĩnh vực sáng tác truyện dài, nhưng được người đọc yêu mến qua thơ và truyện ngắn Tập thơ “Hậu chiến trường” (1937) mang phong cách lãng mạn đậm nét Thơ ông thường mượt

mà, tinh tế nhưng man mác buồn và bâng khuâng, thơ mộng của con người sinh bên cạnh một dòng sông “Huế ơi, quê mẹ của ta ơi” (Tố Hữu) Thành

công hơn cả là các tập truyện ngắn Quê mẹ (1941), Chị và em (1942), Ngậm

ngải tìm trầm (1943)

Sau cách mạng tháng tám, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung bộ Từ năm 1954 trở đi, ông tham gia phụ trách rồi làm chủ nhiệm tạp

Trang 25

chí Văn nghệ quân đội Ông sáng nhiều thơ trữ tình, thơ đã kích, ca dao hồi ký… đăng trên các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ, Văn nghệ

quân đội… giai đoạn này, ông sáng tác các tác phẩm sau Những giọt nước

biển (tập truyện ngắn, 1956), Đi từ giữa một mùa sen (truyện thơ, 1936),

“Thơ ca” (1980)… Tuy sáng tác nhiều và gạt hái những thành công nhất định, nhưng cái giọng điệu man mác, trữ tình ấy giờ không còn đậm nét, hay

có thể nói cách khác, trong tâm hồn người đọc, nó đã trôi về nơi xa lắm Tập

truyện ngắn Những giọt nước biển phần lớn gồm những bài ông viết trong

thời kỳ kháng chiến chống Pháp Mỗi câu chuyện “như một bài thơ nhỏ” (Trần Hữu Tá) ghi lại hình ảnh những người nông dân dẫu miền xuôi hay miền núi đều gan dạ, dũng cảm, lặng lẽ phục vụ sự nghiệp đánh giặc cứu

nước Truyện thơ Đi từ giữa một mùa sen là một câu chuyện dài Kể về thời

niên thiếu của bác Hồ từ lúc chào đời cho đến năm 15 tuổi, ấp ủ dự định “đi tìm hình ảnh của nước” (Chế Lan Viên) Truyện thơ dài gần hai nghìn câu, được chia làm tám đoạn Đây là tác phẩm được Thanh Tịnh viết và miệt mài sửa chữa trong nhiều năm Tác phẩm viết dưới hình thức kể chuyện, mang đậm phong cách dân gian và phù hợp với giọng điệu tâm tình của thơ ông Nhìn chung, tác phẩm của Thanh Tịnh đậm chất trữ tình Thông qua tâm hồn tác giả, hiện thực cuộc sống được phản ánh giản dị mà sâu sắc, không phải chỉ ở bề ngoài, mà ở các linh hồn sâu lắng bên trong Văn Thanh Tịnh luôn mượt mà, sâu lắng và gợi cảm “truyện ngắn nào hay đều có chất thơ, và bài thơ nào hay đều có cốt truyện” (Thạch Lam)

1.2.2 Hành trình sáng tạo

Thanh Tịnh là một trong số không nhiều những tác giả có tên tuổi vừa làm

Trang 26

thơ vừa viết văn xuôi giai đoạn 1932- 1945 như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh… Nhưng cũng giống như Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh nổi tiếng và để lại dấu ấn tài năng của mình trong truyện hơn là trong thơ,

mặc dù ông đã từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ do Hà Nội báo tổ chức năm

1936, đã xuất bản một tập khá hay: Hận chiến trường (1937), trước khi có được các tập truyện ngắn đặc sắc: Quê mẹ (1941), Ngậm ngải tìm trầm

(1943)…

Có lẽ, sự hòa quyện tuyệt vời giữa tư chất thi sĩ trong tâm hồn nhà văn với bút pháp trữ tình nhẹ nhàng sâu lắng đã mang lại cho truyện ngắn Thanh Tịnh một vẻ đẹp riêng, một sức sống lâu bền trong lòng người đọc, và giúp ông xây dựng nên, trong các tác phẩm của mình, một không gian nghệ thuật vừa quen vừa lạ, ngỡ như giống mà kỳ thực có rất nhiều nét khác biệt so với sáng tác

của những nhà văn cũng thời: không gian mang tính sóng đôi

Trong Quê mẹ và Ngậm ngải tìm trầm Thanh Tịnh thường trở đi trở lại với

một địa danh có sức khơi gợi đặc biệt: làng Mỹ Lý Có lẽ, đúng như Thạch Lam nhận xét, cái làng ấy không có thật trên bản đồ, nhưng tài năng của Thanh Tịnh đã khiến nó trở thành một ngôi làng của ấn tượng, ngôi làng sống thực trong tâm cảm

Mảnh làng ấy có một dòng sông cũ kỹ chảy qua những bến bờ xanh ngắt đồng lúa và lũy tre, có những con thuyền chở những cô gái làng đi lấy chồng

xa trở về quê mẹ (Con so về nhà mẹ, Quê mẹ), chở những khát vọng âm thầm

về một hạnh phúc mỏng manh (Bến nứa), hay chở những câu hò điệu hát

làm xao động cả không gian và thời gian (Bến ma, Quê bạn, Tình trong câu

hát)…

Trang 27

Dòng sông - Con thuyền - Câu hò, đó là những biểu trưng một thứ “thiết

chế” vĩnh hằng của mỗi làng Việt cổ: cây đa - bến nước - con đò, đình - chùa

- am - miếu, mục đồng, bờ tre, mái rạ… trong sự biến đổi xoay vần của trời đất, thì những biểu trưng trên ít bị đổi dời hơn cả, và qua thời gian, trở thành những giá trị tình thần gắn chặt con người với quê hương, đất nước Truyện ngắn Thanh Tịnh dày đặc những biểu trưng đó, những am Cổ Giang, chùa

Linh San (Làng), am Cổ Lại, chùa Tĩnh Thanh (Bến ma), đình làng Mỹ Lý (Ra làng, Đội bạn quê), bến đò tiếng chuông chùa Đồng Tâm (Bến nứa), đường làng miếu Thánh (Tình quê hương, Tình thư)… Cùng với những biểu trưng ấy, là một không gian đêm trăng được Thanh Tịnh sử dụng như một

không gian giao tiếp lý tưởng, để con người mở rộng tâm hồn giao hòa với con người, với thế giới xung quanh, và đến lượt mình, ánh trăng cũng làm nhạt bớt những khắc nghiệt góc cạnh của hiện thực hàng ngày, tạo nên một sự chở che tế nhị để không làm tổn thương đến lòng tự ái, niềm kiêu hãnh và những mặc cảm cố hữu của con người Dưới ánh trăng mênh mông dãi trên cánh đồng, dòng sông, sân nhà, lối ngõ, các nhân vật của Thanh Tịnh trò chuyện với nhau, nói được những điều không thể nói vào một thời điểm khác:

cô Thảo mượn cây thanh trà để nhắc và xin phép chồng về ăn giỗ bên nhà

mình (Quê mẹ); cô Hoa bàn với chồng về việc sẽ sinh con ở đâu (Con so về

nhà mẹ); chị Sương giãi bày với một cậu học trò về mối tình thầm kín giữa

mình với thầy xếp ga (Tình thư); những đôi trai gái bày tỏ tình yêu say đắm

và nỗi đau chia lìa (Bến ma, Quê bạn, Tình trong câu hát); một người chồng

đã hóa hổ cũng tìm một “đêm trăng mờ cuối thu” để trở về thăm lại vợ con

(Ngậm ngải tìm trầm)… Truyện ngắn Thanh Tịnh tràn ngập ánh trăng, và đó

là không gian riêng của làng Mỹ Lý, cũng như không gian bóng tối đối với

Trang 28

phố huyện của Thạch Lam, không gian chiều đối với nơi chốn mơ hồ của Hồ Dzếnh, không gian chạng vạng hiu hắt đối với những kiếp người vô danh vô

nghĩa của Xuân Diệu…

Phù hợp với cái không gian thôn dã cổ điển ấy, nhân vật của Thanh Tịnh là những con người gắn bó chặt chẽ cuộc đời mình vời cộng đồng làng xóm, và cũng bị chi phối chặt chẽ bởi những lề luật của cộng đồng, đó là những con người bình dị, mộc mạc nguyên sơ như đất đai, cây cỏ Họ đi lại, ăn mặc, nói năng, hành xử… vẫn y như khi thế giới của họ vẫn nguyên vẹn, và với bản tính nhẫn nại, cam phận, dù gặp phải bất hạnh cũng chỉ thở dài hoặc đổ cho duyên số Ở họ còn nguyên nỗi sợ hãi, ma quỷ, thánh thần, cùng niềm tin vào

sự linh ứng của cái thế giới kỳ bí, mông lung vừa là chỗ dựa lại vừa là nỗi khiếp đảm của họ; còn nguyên những quy tắc ứng xử kiểu “phép vua thua lệ làng”; và “tình làng nghĩa xóm”, tình cảm gia tộc, những điều nhân nghĩa cổ xưa vẫn là những giá trị đạo đức, tình cảm không hề thay đổi Nhưng bên cạnh đó, cũng đồng thời tồn tại những quan niệm cổ hủ, những tín nhiệm bền vững nhất luôn vươn cánh tay ra níu chân những kẻ dám từ bỏ, thay đổi hay

vi phạm lề luật của làng Tất cả những đặc điểm đó, một mặt sẽ giữ lại cho làng quê những nét cổ truyền riêng, mặt khác lại tạo nên sự trì trệ tất yếu một khi thời cuộc thay đổi

Tuy nhiên, trong cái không gian tưởng như khép kín và có phần tĩnh lặng

ấy, dòng sông lại là yếu tố mở và động: nó mở rộng phạm vi sống và giao lưu của cộng đồng, giúp con người vượt thoát khỏi sự tù túng Bến đò, bãi sông là

nơi có những xao xác chia ly, nơi chứng kiến bao nhiêu bi kịch lớn nhỏ của kiếp người cùng những đổi thay “thương hải tang điền” của cuộc đời Chỉ có điều, những biến đổi của cuộc đời cùng những bi kịch của con người dường

Trang 29

như đã có từ xa xưa, và người ta đã quen thấy, quen sống, quen chấp nhận nó

Do vậy, sự vận động của dòng sông, xét đến cùng, vẫn nằm trong vòng tuần hoàn đều đặn, cổ truyền của nhịp sống, nhịp thời gian, và người ta có thể hoàn toàn kiểm soát hoặc chế ngự nó bằng “lệ làng”, bằng những ràng buộc vô hình nhưng vô cùng chặt chẽ khác

Có thể nói rằng nhà văn nào cũng phải tìm cho mình một điểm nhìn, điểm tựa để khởi nguồn cảm hứng sáng tạo và để bày tỏ quan niệm của mình về thế giới Để hoài niệm, Thạch Lam đề cập đến một môi trường tỉnh lẻ, phố huyện, nơi con người có thể tự do đi theo hai hướng: thị thành hoặc thôn quê; Hồ Dzếnh chọn một quê hương đẹp đẽ nhưng không thực, Lưu Trọng Lư chọn

Chiếc cáng Xanh…, còn Thanh Tịnh giản dị hơn, ông chọn làng Qua góc

nhìn của ông, cái làng quê nông nghiệp Việt Nam vừa tiêu điều xơ xác vừa khốn khổ nhọc nhằn trong hầu hết sáng tác của các nhà văn hiện thực đã gần như không hiện diện hoặc đã hiện diện dưới một ánh sáng khác Vào thời điểm ấy, cơn bão khủng hoảng kinh tế đã ào qua và tàn phá làng Nghĩa Đô

của Tô Hoài (Quê người), đã đẩy nhiều làng quê khác vào cảnh bần cùng,

nhưng lại không hề chạm đến làng Mỹ Lý Ngược lại, cơn bão văn minh từ phương Tây thổi tới ngỡ như chỉ tràn vào các đô thị lớn lại xâm nhập mảnh đất này, phá vỡ không gian cổ truyền của làng, áp đặt sự hiện diện của nó lên một xứ sở đã bị đánh bại nhưng không chịu khuất phục, và khoảnh khắc xung đột mới - cũ, hiện đại - cổ truyền ấy đã được Thanh Tịnh kể lại bằng một giọng điệu hồn nhiên pha chút hài hước nhẹ nhàng, vừa che đi cái phần nghiệt ngã, tàn nhẫn của hiện thực lại vừa tạo nên cảm giác những xung đột ấy đến như một quy luật tất yếu

Tuy chưa bị biến thành không gian nửa phố nửa làng mà phía phố với phố

Trang 30

huyện, chợ huyện, nhà ga được nhìn trực diện phía làng, như không gian trong

truyện ngắn của Thạch Lam, hay không gian “nửa mùi thôn ổ, nửa đã thị

thành” như Nguyễn Tuân từng miêu tả (Chiếc lư đồng mắt cua), nhưng không

gian làng Mỹ Lý của Thanh Tịnh cũng không còn nguyên vẹn nửa Ở phía

bên kia làng đã xuất hiện một con đường sắt, với những con tàu kỳ lạ khi thì

“hấp tấp vội vàng như người đi trốn nợ”, làm cho “cỏ hai bên đường cúi rạp

mình như khiếp sợ trước một sức mạnh oai nghiêm” (Chiếc xe cuối năm), khi

thì “ngạo nghễ phụt vài lớp khói lên không”, “vùn vụt đi qua những cánh

đồng hoang vắng” (Bên con đường sắt), bất chấp những gì nó bỏ lại đằng sau

Bên con đường sắt đó, có một nhà ga mới dựng, nhưng đó chỉ là ga tạm - nơi những con tàu chẳng mấy khi dừng lại, chỉ có tiếng còi tàu xé không gian báo

hiệu sự xuất hiện của nó

Như vậy, bên cạnh biểu trưng I: Dòng sông - Con thuyền - Câu hò, Làng

Mỹ Lý lại còn tiếp nhận một biểu trưng thứ II: Đường sắt (nhà ga) - con tàu

- tiếng còi Dù chức năng hai bên có phần giống nhau, nhưng ý nghĩa của

chúng thật là khác biệt: một bên là đặc trưng cho nền văn minh làng xã Việt Nam, là không gian văn hóa truyền thống, còn bên kia là tiêu biểu cho nền văn minh đô thị hiện đại, là yếu tố được áp đặt từ bên ngoài chứ vốn không nằm trong cớ cấu nội tại của xã hội Việt Nam theo mô hình phong kiến

Con tàu, với những vòng quay nhanh, mạnh, gấp gáp, với tiếng còi thét lên trong đêm vắng, đã “thản nhiên và ngạo nghễ” lao thẳng vào sự yên ả của làng, vừa phá vỡ một thế giới cũ bình yên nhưng tù túng, lại vừa mở ra một thế giới khác tuy lờ mờ, bất trắc nhưng lại rất mới lạ và không phải là không hấp dẫn Nhưng “thầy xếp ga” xuất hiện ở làng với dáng dấp của những hoàng tử cải trang khiến cho bao cô gái làng bị mê hoặc; một cái ga tạm đã

Trang 31

khiến cho “bao nhiêu đường ở làng Mỹ Lý đều quay đầu về ga ấy hết” (Bên

con đường sắt); những người nông dân quê mùa chất phác bắt đầu nhận ra cái

thú được xê dịch bằng một phương tiện giao thông hiện đại, phát hiện ra cách

tính thời gian mới: “tàu hoả đã đến Thế là mười hai giờ” (chuyến xe cuối

năm); cũng như phát hiện ra cách kiếm sống nhờ vào sự vận hành của con tàu

và nhà ga (Am cu - ly xe) Không chỉ có thế, cùng với nhà ga và con tàu,

trường học được dựng lên, tre con từ bỏ chữ Hán để bắt đầu học chữ quốc ngữ, chữ Pháp, và quên dần những trò chơi tinh nghịch cũ do lối học “cử tử” đem lại, và tư duy theo kiểu “Không Tử viết” nghĩa là “xừ Khổng Tử nói

rằng” (Đôi bạn quê, chú tôi)…

Sự kiện “từ ngày nhà nước bắt con đường sắt đi qua làng” (Tình thư) trở

thành một mốc thời gian để tính đến những thay đổi lớn nhỏ trong làng, đến thân phận hay duyên phận những con người đang dần dần phụ thuộc vào nó một cách vô thức Đối với người này, đó là cơ hội để bước sang một cuộc đời khác sung sướng hơn, “năm ngoái chị Hồ chẳng lấy ông đốc trường Mỹ Lý đó

ư Còn chị Viêm con bác cả Lai thì đã có thầy dạy thằng Thuyên sắp đến hỏi”

(Tình thư); đối với kẻ khác, đó là khao khát, là hy vọng về một cơ hội tương

tự như thế:những cô gái làng coi việc lấy được một tấm chồng danh giá, làm

“thầy không thầy ký ở các tỉnh lớn” hay chỉ là “thầy xếp ga” (Bên con đường

sắt, Bến nứa, Tình thư), hoặc “lấy chồng Kẻ Chợ” để được “ăn trắng mặc

trơn” (Quê người - Tô Hoài), hay “lấy chồng giàu rồi lên buôn bán trên tỉnh” (Cô hàng xén - Thạch Lam)… là một điều may mắn khó khăn Đây không chỉ

là sự lựa chọn đơn thuần theo bản năng sống, mà còn là một nét tâm lý mới của một lớp người mới trong hoàn cảnh bấy giờ, và chứng tỏ sự thay đổi khó

Trang 32

tránh khỏi của một quan niệm sống, một phong cách sống đã có thời được coi

là chuẩn mực

Tuy nhiên, cuối cùng, qua bao nhiêu đổi dời, biến động ở làng Mỹ Lý “con

so”, “ vẫn về nhà mẹ”, “trai gái trong làng vẫn say hò như say bùa ngải” (Bến

ma), những câu hò mái nhì mái đẩy vẫn tình tứ vang lên trên các dòng sông,

mặt phá vẫn là chiếc cầu nối tâm hồn những chàng trai cô gái với nhau (Tình

trong câu hát, Quê bạn)… Trong các phiên chợ, không thấy xuất hiện những

tà áo tân thời, những sản phẩm của nền kỹ nghệ hiện đại như trong phiên chợ

của Cô hàng xén (Thạch Lam) Cái làng Mỹ Lý bị xé làm đôi ấy vẫn tiếp tục

nhịp sống đặc trưng của mình: vừa bị cuốn theo lại vừa cưỡng chống lại cái lực hút vô hình đến từ bên ngoài, vừa muốn vứt bỏ lại vừa ra sức giữ lại những giá trị cũ

Tâm trạng tưởng chừng mâu thuẫn đó không phải chỉ có ở riêng Thanh Tịnh Xưa nay cảnh “bãi bể nương dâu” vẫn thường gọi cảm hứng bi thương trong tâm hồn văn nhân, thi nhân Tuy không thuộc típ nhà văn “hay thương tiếc những cái đã qua” như Ngọc Giao, nhưng vốn là một tác giả thuộc trào lưu lãng mạn, Thanh Tịnh cũng như Thạch lam, Hồ Dzếnh, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân…, đã nhìn thấy nguy cơ “cái đẹp bị lâm nguy” ngay trong lòng bất cứ một sự phát triển vật chất nào Lưu trọng Lư thời đó đã từng nhớ tiếc con đường qua truông rú về làng ngoại ngày xưa, nay đã được san phẳng, và cái hành trình thi vị cả một đêm xuyên rừng nay chỉ dài có mười lăm phút đồng hồ, bằng ô tô; nhớ tiếc tiếng ru của một bà mẹ, tiếng lục lạc cột ở chân một đứa bé, “tiếng rung của một thời đã sụp đổ, đã đổi rồi” Và bất lực: “Tôi còn biết nói thế nào được? Vì sự nhanh chống ấy, người ta gọi là sự tiến bộ

kia mà!” (Chiếc cáng xanh) Còn Nguyễn Tuân thì ao ước được trở lại “cái

Trang 33

thời người đại lữ khách chỉ đi bằng sức vó ngựa”, chứ không muốn phụ thuộc vào vận tốc nhanh mạnh và giờ giấc nghiêm ngặt của một con tàu hỏa, vì “cái

giống máy móc nó vốn vô tình” (chiếc lư đồng mắt cua) Không phải vì thế

giới luôn thay đổi theo chiều hướng xấu, mà vì chính trong con người nhà văn bao giờ cũng diễn ra một sự “phân thân” muôn thưở giữa một bên là cái Đẹp, còn một bên là những gì được coi là “tiến bộ” (nói theo cách Lưu Trọng Lư) nhưng lại phá vỡ cái đẹp đó, mặc dù đó là sự vận động tất yếu của cuộc sống,

là cái giá phải trả cho bất kỳ một sự phát triển kinh tế, khoa học nào

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN THANH TỊNH - NHÌN TỪ

ĐỀ TÀI VÀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT

2.1 Đề tài

Đặc điểm truyện ngắn của Thanh Tịnh không chỉ ảnh hưởng đến các nhà văn hiện thực như Nguyên Hồng, Như Phong, Thạch Lam… Thạch Lam là

người viết lời tựa cho tập Quê mẹ của Thanh Tịnh Một số truyện ngắn của

Thanh Tịnh không hẳn là lãng mạn, đó là những truyện hiện thực qua cái nhìn

một nhà thơ, một hiện thực đầy chất thơ (Tình trong câu hát, Một đêm xuân,

Quê bạn…) Có thể nói Thanh Tịnh làm thơ trong văn xuôi, nhiều trang viết là

một thứ thơ văn xuôi, kiểu như Phấn thông vàng của Xuân Diệu hay Chơi

giữa mùa trăng của Hàn Mặc Tử Chất thơ thấm trong từng trang viết về thiên

nhiên ngọt ngào mùi hương: “Đêm hôm ấy trời tối đen như mực Muôn ngàn sao đang run rẩy trên tầng không Về phía xa, cánh rừng mai đã loang loáng phơi một màu trắng sữa Một mùi hương nhẹ ướp thơm cả khí trời Cơn gió lạnh thoảng trong rừng thông nghe mơ màng như bản đàn mới dạo trước mái

âm tranh cây sơn trà ngập ngừng thả rơi từng chiếc lá một” (Một đêm xuân)

Nằm trong mạch truyện ngắn trữ tình nên truyện của Thanh Tịnh cũng xoay quanh những đề tài quen thuộc của các nhà văn cùng phong cách Ông viết nhiều về đề tài sinh hoạt, phong tục chốn làng xóm, hương thôn miền Trung - nơi ông đã sinh thành - những ký ức luôn đeo đuổi ông trong suốt cuộc đời Ở đó, ông để cho ngòi bút của mình được thoải mái tung hoành kể

và tả về thiên nhiên, về tập tục, về sinh hoạt đời thường của làng và người dân

Trang 35

làng nghiên cứu cho thấy, truyện ngắn của Thanh Tịnh thường xoáy quanh các đề tài sau:

2.1.1 Cảnh sắc quê hương

Trong truyện ngắn lãng mạn, nhiều tác giả viết về cảnh sắc quê hương Họ

đã dựng lên được bức phong cảnh quê hương xứ sở với nét đẹp vừa thân quen bình dị vừa thơ mộng, hữu tình Đặc biệt, đề tài thiên nhiên chiếm một vị trí rất quan trọng trong sáng tác của các nhà văn Thiên nhiên vừa là nơi con người hòa mình gắn bó, nơi ký thác tâm tình đồng thời nó cũng trở thành đối tượng thẩm mỹ khơi nguồn cảm xúc sáng tạo cho văn nghệ sĩ: “Tình cảm thiên nhiên góp phần làm nên cảm hứng lãng mạn, sắc thái cảm xúc của câu chuyện kể, bằng những bức tranh thiên nhiên chân thực, góp phần làm nên linh hồn câu chuyện…”[33, tr.87] Đây cũng chính là vẻ đẹp đa dạng của cỏ cây, sông nước, mây trời là những nét họa đẹp tươi mà các nhà văn đã điểm to vào bức tranh cuộc sống, nó làm cho cuộc sống thêm phần đáng yêu, đáng mến

Truyện của Thanh Tịnh thường gợi lên được những bức tranh quê hương dịu dàng sắc hương và vô cùng gợi cảm Miền Trung với làng Mỹ Lý xa ngái của ông bao giờ cũng đẹp và yên bình: “Gió thổi trên đồng lúa chín, dạt dào nhẹ và khô Bên kia đồng tiếng hò đạp nước còn văng vẳng vang lên giữa bóng chiều sắp tắt Tiếng hò rời rạc và buồn buồn nghe như đàn ve xám thả

giọng ngân rền cuối hạ” (Con so về nhà me) “Đường đi khúc khuỷu chạy dọc

một mé sông An Cựu và vươn qua nhiều đám ruộng sắn xinh tươi Gió thổi

đều đều trong ngọn cây và rung nhẹ những tia nắng nhạt” (Lầm), “một buổi chiều vàng rộng mênh mông” (Tình trong câu hát),… ta có thể cảm được cái

Trang 36

thanh bình, cái yên ả cái làng quê Việt Nam với những cánh đồng lúa mênh mông, với những lũy tre xanh ken dày, với những dòng sông yên ả và tiếng hò mái nhì, mái đẩy của bạn chài ngân dài vọng về Bức tranh cảnh làng quê này càng thêm thi vị vào những đêm có trăng, khi bầu trời đêm chỉ còn trăng ngự trị, khi mà trăng rộng lượng ban phát cái ánh sáng dịu dàng, thanh thơi khiến cho cảnh vật thêm thơ mộng và tâm hồn của con người thêm nhẹ nhõm, khoáng đạt, xóa nhòa đi những ưu lo, phiền muộn, vất vả lúc ban ngày: “Trời càng khuya trăng càng tỏ Tiếng nói qua lại dịu dần cho đến lúc câu chuyện thành nhạt nhẽo vô duyên thì ai nấy đều im tiếng Cảnh vật của trời đêm lặng

lẽ bao vây giấc ngủ say sưa của mọi người” (Quê bạn),… Truyện của Thanh

Tịnh tràn ngập ánh trăng, nhưng tài tình là ở chỗ trăng đã được ông thổi hồn người nên nó không chỉ còn là ánh sáng tự nhiên của thiên nhiên nữa Nó đã

mang tâm trạng con người Trăng trong Ngậm ngải tìm trầm đã không còn vẻ

thanh bình, nó mờ ảo, ma quái bao trùm cảnh vật, nó khiến cho lòng người thêm hoang mang, lo sợ trước sự huyền bí, kỳ lạ của núi rừng thượng ngàn

mà trí tuệ con người còn chưa hiểu hết được: “giữa một đêm trăng mờ cuối thu, bác Diệm gái bỗng nghe tiếng rú xa xa, đứt quãng rồi kéo dài rất ảo não”,

“ánh trăng thu giây bụi vàng nhạt trên mớ tóc dài đen nháy của con nguời kỳ

dị lại làm bác gái giật mình”, “trong bầu ánh sáng nhạt, nhuộm sương khuya”,

“con vật quay mình lẳng lặng đi vào phía núi Truồi, rồi biến dần trong ánh trăng xanh nhạt”… và trăng của tình yêu nam nữ cũng lãng mạn, cũng bâng khuâng, hồi hộp như người trong cuộc

Thanh Tịnh đã đưa rất nhiều những câu hò, câu ca dao dân gian vào trong truyện ngắn của mình Ta có thể bắt gặp những câu ca chứa đầy nhạc điệu đó

ở đâu, ở giữa hoặc thậm chí ở cuối truyện: “Đi đâu cho thiếp đi cùng / Đói no

Trang 37

thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam” (Bến nứa); “Chiều chiều ra đứng của sau / Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” (Quê mẹ); “Tôi đứng đầu giường / Tôi

trương mắt ếch / Tôi đây sợ sệt / Tôi đây sợ sệt / Sợ họ gặt hết lúa đồng đi! / Tôi đến đây mót lượng từ bi! / Mót điều nhân nghĩa, chứ mót chi lúa ngài”

(Con so về nhà mẹ); “Thuyền ai trôi trước / Cho tôi lướt đến cùng / Chiều đã

về trời đất mung lung / Phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng tiếng sương” ,“Trời một vùng đêm dài không bạn / Mượn gió chiều hỏi bạn ngàn sông / Thân em là gái chưa chồng / Tơ duyên có chắc như dòng nước không?”,

“Tình về Đại Lược / Duyên ngược Kim Long / Đến đây là chỗ rẽ của lòng /

Gặp nhau còn biết trên sông bến nào” (Tình trong câu hát) Bản thân mỗi câu

ca đó đã là một câu thơ chứa đựng những tâm tình của lòng người muốn giãi bày, chia sẻ Ở những chỗ, thời điểm mà ngôn ngữ trực tiếp khó diễn tả được hết tâm trạng con người thì Thanh Tịnh đã dùng những câu ca để thay thế, để nói hộ

Khác với thiên nhiên trong truyện ngắn Thạch Lam, thiên nhiên trong truyện ngắn Thanh Tịnh mang một nỗi buồn man mác “Cụ Uẩn thông thả cho thuyền dời khỏi bờ rồi chèo xuôi theo dòng nước Mảnh trăng hạ tuần giây bụi vàng trên quãng đồng lúa ruộng Phuơng ẵm con ra ngồi trước mũi, gương mặt tự nhiên ửng hồng và đẹp một cách hiền hậu”, “Phương cúi đầu nhìn xuống sàn thuyền, hai má đỏ như gấc Dưới ánh trăng, gương mặt của Phương trông hồng hồng tươi xinh như bằng sáp Lòng Thảo hồi hộp như cánh bướm”, “Mặt trăng lúc ấy đã lẫn hình trong đám mây đen; màu xanh bạc của màn sương bụi tỏa hai bên bờ sông đã biến ra màu xanh lam Bầu trời có vẻ

nặng nề hơn trước.” (Bến nứa) “Đêm hôm ấy, trăng sáng vằng vặc Ngoài

đường xóm những hôm trời tối hay những đêm mưa gió và lúc tiếng mõ điểm

Trang 38

canh hai, thì không thấy một bóng người qua lại Thế nhưng, những đêm trăng sáng, người ta lại tấp nập đua nhau đi chơi và nói chuyện vang cả đường Mấy con chó trong xóm cứ đưa mõm ra đường sủa không ngớt”, “Phía trước cổng, cách hàng rào tre thưa lá là cánh đồng mông mênh chạy dài đến chân trời xa thẳm Phía ấy trăng tuông xuống thảnh thơi và tràn ngập cả con

sông đào đang uốn mình vươn qua đồng lúa ruộng” (Con so về nhà mẹ)

Thiên nhiên ở đây, tuy buồn nhưng nó mang một vẻ đẹp hữu tình, luôn gợi cho người đọc có cảm giác như mình đang lạc vào tình cảnh của nhân vật trong truyện

Đến với truyện ngắn Thanh Tịnh người đọc không chỉ thấy tình yêu làng xóm, tình yêu quê hương nồng nàn mà còn có tình yêu đôi lứa như: thầy Trưu

và cô Duyên “Qua mùa đông năm sau, giữa một đêm mưa gió dẫm dề, cô Duyên chợt tỉnh tự nhiên nghe bên ngoài có tiếng gọi Cô ta đưa hai tay dụi mắt rồi sờ soạng trong bóng tối để tìm lối đi”, “Lúc ánh sáng lu mờ đã tỏa ra khắp nhà, thầy Trưu mới đến vắt cái áo tơi trên lưng ghế, rồi đăm đăm đứng nhìn cô Duyên không chớp mắt Gương mặt cô Duyên tuy không tươi bằng trước, nhưng cái duyên xưa, cái duyên mộc mạc trên đôi môi hồng thắm, trên cặp má lúm đồng tiền vẫn còn mơn mởn như đóa hoa hồng buổi sáng Thấy

đồ đạc trong nhà ngổn ngang và đầy bụi bặm, thầy Trưu cũng đoán biết cảnh nhà cô Duyên ra thế nào rồi Biết cô Duyên ngượng vì mình đứng nhìn quá

lâu, thầy Trưu đưa tay phủi bụi mưa trên cái mũ dạ để tìm vài câu hỏi.” (Bên

con đường sắt)

Nhiều truyện ngắn của ông mang đầy phong vị Huế và tạo riêng cho ông một thi pháp văn xuôi độc đáo Là một nhà thơ lãng mạn, Thanh Tịnh đã mang vào truyện ngắn chất trữ tình sâu lắng Tập “Quê mẹ” man mác tình quê

Trang 39

hương, tình người, từng trang viết của ông thấm đượm hương vị làng quê, một làng quê miền Trung với những vẻ đẹp thanh bình, êm ả nhưng cũng không hiếm những cảnh đời khổ đau, ngang trái Những trang văn đã làm sống dậy trước mắt người đọc khung cảnh êm đềm, thơ mộng của một làng quê Làng Mỹ Lý nhỏ bé, nằm kế bên một dòng sông đã trở thành một địa chỉ quen thuộc, một biểu trưng nghệ thuật của tình yêu quê hương Cái tên Mỹ

Lý được xuất hiện nhiều lần trong các truyện ngắn khác nhau của nhà văn Thanh Tịnh Quê hương, tình yêu quê hương như là sự nối dài mà thành tình yêu đất nước

Đọc truyện ngắn của Thanh Tịnh, chúng ta cảm nhận rất rõ điều này Một làng quê nhỏ bé đã là cái nôi tâm hồn nuôi dưỡng những tác phẩm của ông Ở

đó chúng ta gặp gỡ và đồng cảm với tác giả trong mối tình quê rung rinh, lai láng trong khung cảnh sông nước ruộng đồng Dường như tâm hồn ông gần gũi và ưa thích với những vẻ đẹp nhè nhẹ, những nét buồn lặng lặng

Truyện ngắn Thanh Tịnh kể về một bến đò hiu hắt, một dòng sông với con

đò dọc ẩn hiện những lời trao duyên tình tứ, về nỗi nhớ quê mẹ của một người con gái đi lấy chồng xa, về một nhà ga nho nhỏ giữa cánh đồng với con tàu bỏ lại đằng sau nó những hoài niệm về một tình yêu không bao giờ tới, về nỗi lòng bịn rịn của một cô gái quê khi phải chia tay với người bạn trai sau mùa gặt hái

Đọc những truyện ngắn của Thanh Tịnh, người ta thường ít chú ý đến cốt truyện mà chỉ nhớ cái không khí, cái dư vị quyến luyến ngọt ngào, có pha chút ngậm ngùi buồn thương Cảm giác ấy lắng sâu trong tâm hồn người đọc

Trang 40

và cùng với cảm giác đó là một âm hưởng buồn buồn thấm thía qua những trang văn

2.1.2 cuộc sống người dân quê

Sống hòa đồng với thiên nhiên, đời sống tâm hồn của con người như cũng trở nên mộng mơ, lãng mạn, trái tim của họ cũng trở nên nhạy cảm, chan chứa

ân tình hơn trước cuộc đời Bởi vậy, trong sáng tác của mình tác giả Thanh Tịnh vừa làm người đọc rung cảm trước vẻ đẹp đáng yêu của cảnh sắc quê hương đất nước, mặt khác ông lại làm ấm áp lòng người trước những mối chân tình

Tình cảm đối với quê hương là một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất của con người Văn chương dân tộc xưa nay đã viết rất nhiều về tình yêu

ấy của người Việt Những trang văn chứa chan cảm xúc nhất của truyện ngắn Thanh Tịnh nói riêng văn lãng mạn nói chung đây cũng là những trang văn viết về tình cảm cao quý nhất giành cho cuộc sống của con người

Bằng cây bút tinh tế, điêu luyện, đằm thắm tình người, tình đời của mình Thanh Tịnh không chỉ có biệt tài miêu tả thế giới nội tâm, tả cảm xúc, cảm giác kiểu như Thạch Lam mà ông còn miêu tả những rung động nhất trong tâm hồn con người, gợi lên cái hồn quê biết bao kỷ niệm đang mang theo và chôn cất trong mình, ông đã trải qua biết bao thăng trầm trong sự nghiệp của mình nhưng vẫn không quên cái làng mà ông nơi sinh ra và trưởng thành Đó cũng có thể là làng Mỹ Lý, bên cạnh đường sắt, tuy cuộc sống ở nơi đây gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm ăn nhờ người ta dựng lên ở vùng này một cái ga tạm, khách qua lại cũng đông, buôn bán tạm đủ sống điển hình là nhân vật cô Duyên “Dân trong làng thấy ở địa phận mình có cái ga ấy thì vui thích

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2001), Thanh Tịnh, chàng thi sĩ hát rong trong Chân dung văn học, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tịnh, chàng thi sĩ hát rong" trong "Chân dung văn học
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
2. Vũ Tuấn Anh, Lê Dục (2001), Thạch Lam về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Lê Dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
4. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Năm: 1992
5. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn lý luận tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn lý luận tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
6. Vũ bằng (2000), Tuyển tập, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Vũ bằng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
7. Huy Cận (1998), Lời bạt trong Văn xuôi lãng mạn Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời bạt trong Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
8. Nguyễn Minh Châu (1994), Phỏng vấn nhà thơ Thanh Tịnh trong trang giấy trước đền, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phỏng vấn nhà thơ Thanh Tịnh" trong "trang giấy trước đền
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
9. Trương Chính (1997), Tuyển tập, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
10. Hồ Dzếnh (2001), Những trang văn xuôi chọn lọc, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trang văn xuôi chọn lọc
Tác giả: Hồ Dzếnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
11. Xuân Diệu (1987), Tuyển tập, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1987
12. Phan Cự Đệ (1999), Văn học lãng mạn Việt Nam 1930- 1945, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930- 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
13. Phan Cự Đệ (2002), Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
14. Trịnh Bá Đĩnh (2000), Nhất Linh truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhất Linh truyện ngắn
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
15. Hà Minh Đức (2001), Văn chương tài năng và phong cách, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương tài năng và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
16. Hà Minh Đức (2004), Tuyển tập (tập 3), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
17. Văn Giá (2000), Vũ Bằng bên trời thương nhớ, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Bằng bên trời thương nhớ
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
18. Nhiều tác giả (1983), Từ điển văn học, 1, NXB Khoa học xã hộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Khoa học xã hộ
Năm: 1983
19. Nhiều tác giả (2000), Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 2000
20. Nhiều tác giả (2001), Thạch Lam về tác giả tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam về tác giả tác phẩm
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w