Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu khoa học của luận văn là Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ nên chúng tôi sẽ đi sâu vào khảo sát những hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LƯU VĂN DIN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ HÀN MẶC TỬ
TỪ GÓC NHÌN TÍN HIỆU THẨM MĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG THỊ NHÀN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
4 Mục tiêu nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Bố cục của luận văn 11
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 TÍN HIỆU THẨM MĨ 12
1.1.1 Khái niệm tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ 12
1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ 16
1.1.3 Ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ 22
1.2 DANH TỪ, NGỮ ĐỊNH DANH, CỤM CHỦ - VỊ, CÂU 23
1.3 VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA HÀN MẶC TỬ 24
1.3.1 Cuộc đời Hàn Mặc Tử 24
1.3.2 Sự nghiệp văn chương của Hàn Mặc Tử 26
1.4 TIỂU KẾT 27
CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 28
2.1 HỆ THỐNG DANH TỪ 28
2.2 CÁC HÌNH THỨC MIÊU TẢ 31
2.2.1 Kết cấu danh ngữ 32
2.2.2 Cụm chủ - vị và câu 36
2.3 CÁC KIỂU KẾT HỢP TÍN HIỆU - TÍN HIỆU 43
2.3.1 Kết hợp trong một kết cấu chủ - vị 43
Trang 42.3.2 Kết hợp trong một kết cấu sóng đôi 47
2.4 TIỂU KẾT 50
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ - TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 52
3.1 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CHUNG CỦA CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ - THTM TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 53
3.1.1 Các hình thức ngôn ngữ - THTM trong thơ Hàn Mặc Tử biểu đạt một cái tôi trữ tình đa diện 53
3.1.2 Các hình thức ngôn ngữ - THTM trong thơ Hàn Mặc Tử biểu đạt khả năng xóa nhòa mọi ranh giới 66
3.1.3 Các hình thức ngôn ngữ - THTM trong thơ Hàn Mặc Tử biểu đạt không - thời gian nghệ thuật độc đáo 76
3.2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC NHÓM DANH TỪ - THTM QUA NHỮNG HÌNH TƯỢNG, BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 91
3.2.1 Trăng 91
3.2.2 Gió 99
3.2.3 Xuân 101
3.2.4 Nắng 104
3.2.5 Máu 106
3.2.6 Hồn 109
3.3 TIỂU KẾT 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhóm danh từ về thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử 29 Bảng 2.2 Nhóm danh từ về con người trong thơ Hàn Mặc Tử 30 Bảng 2.3 Nhóm danh từ trong biệt ngữ Thiên Chúa giáo trong thơ
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Khởi thủy của văn chương là chữ Tình Tình là phạm trù vô hình,
phức tạp, nguyên thủy và tương lai nhất của con người Trong văn chương, cái vô hình đó được hữu hình hóa qua ngôn ngữ nghệ thuật giống như hương sắc của đất được hữu hình hóa qua hương sắc của muôn hoa trái Tác phẩm văn chương nói chung và thơ nói riêng như là một sinh thể sống Nó cũng có phần “xác” và phần “hồn” Giữa phần “xác” và phần “hồn” có những mối quan hệ linh diệu Phần “xác” mang tính vật chất mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan, được thể hiện dưới cái vỏ vật chất là ngôn ngữ nghệ thuật Phần “hồn” là cái tinh thần vi diệu ẩn chứa trong phần “xác” mà chúng ta chỉ có thể cảm được chứ không thể nhìn nhận được bằng các giác quan thông thường Chính vì, tác phẩm văn chương nói chung và thơ nói riêng như là một sinh thể sống nên nó được cảm nhận ở những góc độ, những mối quan hệ khác nhau với tính động Tiếp cận tác phẩm văn chương khác với tiếp cận toán học Nếu như khi tiếp cận toán học, chúng ta dựa vào lí tính, thì khi tiếp cận tác phẩm văn chương, chúng ta phải kết hợp cả cảm tính lẫn lí tính Nghĩa là chúng ta phải tìm cho mình “kênh” phù hợp để đi vào tác phẩm, giải mã tác phẩm Mỗi sự vật, hiện tượng đều được tạo nên từ những “vật liệu” đặc trưng Muốn đi vào “khám phá” chúng, chúng ta phải khởi đầu từ những “vật liệu” đặc trưng đó Những “vật liệu” đặc trưng đó chính là những
“dấu hiệu xanh” để mở những con đường vào khám phá các sự vật, hiện tượng Khi nói đến tác phẩm văn chương nói chung và thơ nói riêng, cái mà chúng ta không thể không nói tới đó là ngôn ngữ nghệ thuật Vậy cái gì là
“hạt của Chúa” để tạo nên tác phẩm văn chương nói chung và thơ nói riêng?!
Đỗ Hữu Châu chỉ ra rằng: “Cách tiếp cận văn học của ngôn ngữ học trước đây xuất phát từ quan điểm thông thường: phương tiện của văn học là ngôn ngữ,
Trang 72
cụ thể hơn là từ, câu, ngữ âm,…nghĩa là các sự kiện tự nhiên của các ngôn ngữ tự nhiên Chúng tôi cho rằng không hẳn là như vậy Phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ Nói rõ hơn, đơn vị của phương tiện của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp của cái ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ này là cú pháp – tín hiệu thẩm mĩ” [21, 779] Ở đây, chúng tôi cũng cho rằng “hạt của Chúa” để tạo nên tác phẩm văn chương nói chung và thơ nói riêng chính là tín hiệu thẩm mĩ (THTM) Hệ thống tín hiệu thẩm mĩ văn chương của một tác giả chính là cái tạo nên chỗ đứng của tác giả đó trong dòng chảy của văn chương Tác phẩm văn học là sự thống nhất giữa phần khái quát đã được mã hóa trong văn bản và phần cảm nhận, khám phá của người đọc Tiếp nhận là điều kiện chủ quan của tồn tại tác phẩm Những chủ
đề, đề tài, tư tưởng, kết cấu, phong cách,…chỉ nhờ tiếp nhận mới bộc lộ hết tiềm năng khái quát và ý nghĩa của chúng Những tác phẩm văn học tầm cỡ,
có chiều sâu luôn dành cho người đọc những điều mới mẻ để phát hiện, chiêm nghiệm, suy ngẫm Nhưng mặt khác, tác phẩm văn học vẫn mang tính xác định (văn bản, phương tiện biểu hiện, kết cấu…) không cho phép người đọc tùy tiện suy diễn chủ quan Gán ghép ý nghĩa cho nó [39, 291] Theo chúng tôi, tín hiệu thẩm mĩ là dấu hiệu nhận diện và giải mã khoa học; hữu hiệu nhất
về ngôn ngữ nghệ thuật cũng như nội dung tư tưởng trong văn học Qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong thơ văn của một tác giả, chúng ta thấy được ngôn ngữ nghệ thuật cũng như nội dung tư tưởng trong thơ văn của tác giả đó
1.2 Hàn Mặc Tử là một nốt trầm xao xuyến trong dàn đồng ca của Thơ mới Thơ ông mang thanh âm lạ với ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo mà thời gian càng lùi xa lại càng làm tim ta bâng khuâng, “mỗi lời thơ đều dính não cân ta”, khiến Chế Lan Viên – nhà thơ đầy trí tuệ, phải thốt lên “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” Từ khi Hàn Mặc Tử ra đi, hơn bảy thập kỉ đã thành dĩ vãng, đã có bao “nàng tiên” “đến khóc”; “đến hôn anh và rửa vết thương tâm” với những
Trang 83
tấm lòng hương huệ khác nhau nhưng Hàn Mặc Tử cũng như thơ ông vẫn còn
“thiếu” bao “nụ hôn” mê say, vẫn còn cái phong vị “ai biết tình ai có đậm đà?” “Các nàng tiên tri kỉ” của Hàn Mặc Tử chủ yếu đi từ đời ông đến thơ ông hoặc từ thơ ông để minh chứng cho cuộc đời của ông như một bài thơ buồn…Nghĩa là các nhà nghiên cứu hầu như chưa chú trọng đến vẻ đẹp ngôn ngữ thơ của ông dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ
1.3 Hàn Mặc Tử là một trong những tác gia nổi bật trong phong trào Thơ mới Văn chương của ông đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Vì vậy, việc tìm ra phương pháp tiếp nhận một cách tối ưu nhất tác phẩm của Hàn Mặc Tử nói riêng và của các nhà thơ, nhà văn lớn nói chung là việc làm rất cần thiết
Từ những căn cứ khoa học, thực tiễn và nghiệp vụ trên, chúng tôi đi
vào tìm hiểu đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ Đề tài này sẽ có những ý nghĩa nhất định về mặt lí thuyết lẫn
thực tiễn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khoa học của luận văn là Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ nên chúng tôi sẽ đi sâu vào khảo sát
những hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ và giá trị biểu đạt của các
hình thức ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ qua các tập thơ của Hàn Mặc Tử: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Thơ điên - Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội (Kịch thơ), Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi)
3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
3.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương
Trang 94
Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Hữu Châu là người đặt cơ sở nghiên cứu tín
hiệu thẩm mĩ trong văn chương Trong bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Cách tiếp
cận văn học của ngôn ngữ học trước đây xuất phát từ quan điểm thông thường: phương tiện của văn học là ngôn ngữ, cụ thể hơn là từ, câu, ngữ âm,…nghĩa là các sự kiện tự nhiên của các ngôn ngữ tự nhiên Chúng tôi cho rằng không hẳn là như vậy Phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ Nói rõ hơn, đơn vị của phương tiện của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp của cái ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ này là cú pháp – tín hiệu thẩm mĩ Rồi các tín hiệu thẩm mĩ đó mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường (và cú pháp thông thường)”…Cho đến nay, tín hiệu thẩm mĩ được bàn đến nhiều Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là gì, có bao nhiêu loại tín hiệu thẩm mĩ (tín hiệu đơn, tín hiệu phức), chức năng của từng loại, nguồn gốc, tính truyền thống và cách tân của tín hiệu thẩm mĩ ra sao đều là những vấn đề bỏ ngỏ [21, 779]
Theo tác giả Trương Thị Nhàn – tác giả của luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ – không gian trong ca dao thì: “Khái niệm tín
hiệu thẩm mĩ” (hay “ký hiệu thẩm mĩ”) ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỉ XX, được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70 qua các bản dịch công trình của Iu.A.Philipiep, M.B.Khrapchenjco, các công trình, bài viết của Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai… [34, 12]
Hiện nay, luận án của tác giả Trương Thị Nhàn cùng với công trình
Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại của tác giả
Bùi Trọng Ngoãn là hai công trình có đề cập về tín hiệu thẩm mĩ có giá trị nhất Tác giả Bùi Trọng Ngoãn đã chỉ ra rằng: Từ đó đến nay (từ khi bài viết
Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học của Đỗ
Trang 10thống và cách tân, 8) Tính hệ thống, 9) Tính cấp độ Trong quyển Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học, Mai Thị Kiều Phượng đã đưa ra 19 đặc
trưng của tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ Nhưng những đặc trưng đó là sự pha trộn giữa đặc trưng của ngôn ngữ, tín hiệu ngôn ngữ với đặc trưng của tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật [31, tr 16] Tác giả Bùi Trọng Ngoãn
đã trình bày các luận điểm sau về tín hiệu thẩm mĩ: Khái niệm tín hiệu thẩm
mĩ trong tác phẩm văn chương, đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương, phương tiện ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ, mối quan hệ giữa tín hiệu thẩm mĩ với hình tượng văn học, tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ, tính
có lí do; tính giải thích được của tín hiệu thẩm mĩ, tính đa trị của tín hiệu thẩm
mĩ, tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ, tính hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ
và tính cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ
Ngôn ngữ văn chương của Hoàng Kim Ngọc (Chủ biên) - Hoàng Trọng Phiến và Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán cũng đề cập đến tín
hiệu thẩm mĩ trên cơ sở kế thừa những tác giả đi trước
3.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử và vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ
Hàn Mặc Tử là một trong ba đỉnh cao của Thơ mới (cách nói của Chu Văn Sơn) Ngay sau khi Hàn Mặc Tử qua đời, Chế Lan Viên đã quả quyết
Trang 116
khẳng định: “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” Vì vậy, công trình nghiên cứu về cuộc đời cũng như thơ ca của Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, các công trình nghiên cứu thơ ca của Hàn Mặc Tử chưa chú trọng đến vấn
đề ngôn ngữ Đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ chưa có ai đề cập đến Dưới đây là những bài viết và công trình nghiên cứu có liên quan tới thơ ca của Hàn Mặc Tử mà chúng tôi tham khảo:
Trong Thi nhân Việt Nam, “đôi mắt xanh” của Hoài Thanh – Hoài Chân có những nhận xét tinh tường về thơ Hàn Mặc Tử: Gái quê: Ấy là một thứ tình quê nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khiêu gợi Thơ điên: Trong Hương thơm ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu
và cả người yêu đều như biến ra hương khói Một trời tình ái mới dựng lên
đâu đây…Trong Mật đắng lời thơ như dính máu Trong Máu cuồng và Hồn điên, ta đã hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cái thế giới mộng của
ta…Trời đất này thực riêng của Hàn Mặc Tử Ta không hiểu được và chắc
cũng không bao giờ hiểu được Thơ Điên đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán Xuân như ý: Đây là một mùa xuân trong
tưởng tượng, một mùa xuân theo ý của thi nhân, đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ…Hàn Mặc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa Có đâu những đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng
láng Xuân như ý là tập thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử
Trong bài viết Đạo và đời trong thơ Hàn Mặc Tử, Yến Lan cho rằng
“Đạo và Đời trong thơ anh vẫn là những mặt nhỏ trên một viên kim cương, mặt này ánh xanh, mặt kia ánh vàng, mặt khác lại ánh lên đỏ, tím đều làm cho viên kim cương có sức ngời chói lóng lánh”
Trang 127
Vũ Ngọc Phan trong bài viết Hàn Mặc Tử đánh giá “thơ Hàn Mặc Tử
hồi đầu là thế, mà chỉ bảy tám năm sau đã thay đổi hẳn, thay đổi cả ý lẫn lời”,
“lời thơ ông, ý thơ ông, nhiều lúc thật dị kỳ” nhưng cũng là “một người mang bệnh rất đau đớn mà có một tâm thần thư thái, bình tĩnh như thế, thật cũng lạ”, “thơ tôn giáo đã ra đời với Hàn Mặc Tử”
Ở bài viết Âm nhạc trong thơ Hàn Mặc Tử, Trần Thanh Mại đã có sự
đánh giá rất cao về thơ Hàn Mặc Tử nói chung và âm nhạc trong thơ Hàn Mặc
Tử nói riêng: “Hàn Mặc Tử là người đầu tiên trong thế kỷ XX mở một cuộc cải cách lớn cho văn chương Việt Nam và thành công một cách vinh quang rực rỡ”
Năm 1987, Chế Lan Viên đã làm tuyển tập Hàn Mặc Tử, đã viết lời giới thiệu dài tới 26 trang phân tích khá tường tận về thơ Hàn Mặc Tử cũng như vị thế Hàn Mặc Tử là một người tài năng kỳ lạ, đau thương tột cùng Nhưng Chế Lan Viên vẫn chưa đề cập đến ngôn ngữ nghệ thuật thơ Hàn Mặc
Tử
Hàn Mặc Tử, một hồn thơ dị biệt là nhận định của Ngô Văn Phú Ngô
Văn Phú đã đưa ra cách nhìn nhận về thơ Hàn Mặc Tử vừa mang tính đồng đại lại vừa mang tính lịch đại
Phạm Đán Bình với bài viết Tan loãng trong Hàn Mặc Tử mang đến
những luận điểm sau về thơ cũng như đời của Hàn Mặc Tử: thân thể rã rời; xác hồn phân tán; tình, cảnh tan vỡ; thế giới mới Bài viết của Phạm Đán Bình mới chỉ dừng lại ở góc độ nêu luận điểm, việc phân tích minh chứng chưa có
độ sâu sắc
Trong Hàn Mặc Tử, một tư duy thơ độc đáo, Đỗ Lai Thúy đã nhìn nhận
thơ ca Hàn Mặc Tử qua các chặng đường với những lời khen ngợi hết lời:
“Tập thơ Đường luật Lệ Thanh thi tập đã đạt đến trình độ mĩ học cổ điển”,
“với tập Gái quê (1936), Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm
Trang 138
châu duyên, Hàn Mặc Tử cùng với các nhà thơ khác như Thế Lữ, Xuân Diệu,
Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương…tiếp tục đưa thơ trữ tình Việt
Nam lên những đỉnh cao mới” Đỗ Lai Thúy cũng bàn tới tư duy tôn giáo
trong thơ Hàn Mặc Tử
Ở bài viết Hàn Mặc Tử: “Nước mắt giọng cười chen nhau”, Nguyễn
Đăng Điệp đã triển khai ở những luận điểm lớn sau: Sự bi thảm chạm gặp ý thức nổi loạn = ngôi sao chổi lạ kỳ; không rên xiết là thơ vô nghĩa lý; một giọng thơ đầy tha thiết, hi vọng; sự hòa trộn các sắc thái giọng điệu Trong đó, Nguyễn Đăng Điệp có những nhận định đáng chú ý: “Hiếm có nhà thơ nào
mà độ lùi thời gian càng lớn người ta càng mê say và ngưỡng mộ như Hàn Mặc Tử”, “với Hàn Mặc Tử, thơ là tất cả Chất liệu thơ là máu Nhịp điệu thơ
là “quay cuồng máu vọt” Cường độ cảm xúc là “hồn trào ra đầu ngọn bút”,
“mê man chết điếng cả làn da” Đó là cường độ của sự TUNG PHÁ”, “thế giới thơ Hàn Mặc Tử là thế giới phân cực: Bên này là đau thương, bên kia là
khát vọng”, “hai yếu tố độc đáo làm nên khuôn mặt Hàn Mặc Tử: Lạ và Kỳ”,
“chính tư duy tôn giáo…khiến cho cái kỳ trong thơ ông trở thành một cái
“độc” không dễ gì có được”, “cái quy định tầm vóc của Hàn Mặc Tử nằm ở
sự PHI THƯỜNG”…
Trong Đối thoại trong đêm với Hàn Mặc Tử, Phạm Xuân Nguyên nêu
một nhận định sơ qua về đóng góp của Hàn Mặc Tử trong ngôn ngữ thơ Việt Nam: “Ở đó có phần đóng góp không nhỏ của ông đặc biệt trong phạm vi khả năng kết hợp từ Và về mặt này tôi muốn nói thêm là ngay cả trong giới hạn một từ ông cũng có thể buộc nối các bình diện khác nhau lại với nhau”
Trong Hàn Mặc Tử của tôi, Trần Hà Nam đưa ra nhận xét: “Tôi bắt đầu
hình dung ra thế giới thơ của Hàn Mặc Tử - một thế giới sáng láng thơm tho với sự hiện diện của hai nguồn sáng tinh khiết: trăng và nắng Tôi lại cảm
Trang 149
thấy nguồn sinh lực dồi dào phát tiết từ tiếng thơ Hàn luôn rạo rực cảm giác Xuân”
Với Nhớ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Viết Lãm nhận định “trong thơ Hàn
Mặc Tử, vai trò của trăng đặc biệt quan trọng”, “thơ của Hàn Mặc Tử bản
chất trong ngần như ngọc mà ta từng gặp trong Đây thôn Vĩ Dạ hoặc Mùa xuân chín, chân chất như trong Gái quê
Thanh Thảo với bài viết Ở giữa mùa trăng nêu một số nhận định đáng
chú ý về trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như: Ánh trăng ngày chào đời, tận cùng của điên và tỉnh, tận cùng của điên và siêu thực, cuộc song hành của thơ và trăng Trong bài phạm vi của một bài viết, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa
ra những nhận định với với dẫn chững còn sơ sài
Lý Toàn Thắng đã đưa lại một cách tiếp cận khá thú vị về thơ Hàn Mặc
Tử, dưới góc nhìn ngôn ngữ học qua bài viết Âm điệu trong thơ Hàn Mặc Tử
Ở bài viết này, tác giả đã tập trung so sánh, phân tích làm nổi bật về âm điệu
trong thơ Hàn Mặc Tử qua thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ với một số vần thơ của
Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu
Trong bài viết Con người trong thơ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Thị Hồng
Nam đã chỉ ra trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện: con người vũ trụ, con người phân thân, con người trong tiềm thức, con người mơ ước, con người cô đơn, đau đớn
Với bài viết Hàn Mặc Tử - chàng thi sĩ khao khát cái tột cùng, Chu
Văn Sơn đã có những luận bàn khá sâu sắc về đời cũng như thơ Hàn Mặc Tử Chu Văn Sơn đã đưa ra những luận điểm sau: Một tiếng thơ bí ẩn, một đời thơ bất hạnh, một quan niệm khác lạ, một chí hướng phi thường, một hành trình sáng tạo vừa tiếp nối vừa đan xen, nhà thơ tôn giáo hay tôn giáo của nhà thơ, linh hồn thanh khiết hay vẻ đẹp trinh khiết xuân tình, Thơ Điên Hàn Mặc
Tử - Thi học của cái tột cùng (Nguồn cảm xúc đặc thù của thơ Điên: Đau
Trang 1510
thương, chủ đề Thơ Điên: Cái Tôi ly – hợp bất định, kênh hình ảnh tân kỳ của Thơ Điên: những vẻ kỳ dị, mạch liên kết của Thơ Điên: Dòng tâm tư bất định, lớp ngôn từ nổi bật của Thơ Điên: Lớp từ cực tả)
Trong Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định, Nguyễn Toàn Thắng phân
tích kĩ về những vấn đề sau: Vị thế của Hàn Mặc Tử; ảnh hưởng của các trào lưu lãng mạn, tượng trưng, siêu thực đối với Hàn Mặc Tử và “Trường thơ Loạn”; chất Đạo và chất Đời trong thơ Hàn Mặc Tử và “Trường thơ Loạn”; những biểu hiện nghệ thuật của cái Tôi trữ tình trong thơ Hàn Mặc Tử; giọng điệu thơ Hàn Mặc Tử và điểm gặp gỡ với Bích Khê, Chế Lan Viên và Quỳnh Giao; không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử
Trong Dấu ấn Thiên Chúa giáo trong thơ Hàn Mặc Tử, Nguyễn Thị
Huyền đã phân tích và chứng minh thi liệu Thiên Chúa giáo xuất hiện nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử từ ngôn ngữ đến cấu tứ
Trong Hàn Mặc Tử - tác phẩm, phê bình và tưởng niệm, Phan Cự Đệ
đã trình bày một luận điểm lớn (Hàn Mặc Tử sống mãi với thời gian) và tập hợp những bài phê bình, tưởng niệm về Hàn Mặc Tử
Trong Thơ Hàn Mặc Tử - Gái quê, Đặng Tiến đã tìm được văn bản Gái quê “thất trung lâu nay” (bản sao do Trần Như Uyên và Phạm Văn Dật đánh
máy lại) và nêu ra một số bài viết về thơ và đời của Hàn Mặc Tử
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, nhìn chung, các công trình nghiên cứu
trên đều đánh giá cao về thơ Hàn Mặc Tử dưới góc độ nội dung với sự Kỳ và
Lạ, với chất Đời và Đạo đậm nét của một tài năng dị biệt mà trước đây chưa
có, sau này chắc cũng không có, đều đánh giá về sự ảnh hưởng của đời tư Hàn Mặc Tử tới thơ của ông và ngược lại…Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận, đánh giá về sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử dưới nhiều góc nhìn khác nhau ở khía cạnh nội dung, nhưng chưa chú trọng đến mặt ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ
Trang 1611
4 Mục tiêu nghiên cứu
Làm sáng tỏ những đặc điểm về ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ, giá trị biểu đạt của các hình thức ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Hàn Mặc Tử, mang đến phương pháp tiếp nhận thơ Hàn Mặc Tử nói riêng và thơ của các thi nhân nói chung dưới cái nhìn khoa học ngôn ngữ qua góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ
5 Phương pháp nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả
Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi sử dụng các thủ pháp sau: Thủ pháp xã hội học, thủ pháp trường nghĩa, thủ pháp phân tích ngôn cảnh, thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp logic học, thủ pháp thống kê toán học
- Phương pháp so sánh
Dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ, so sánh ngôn ngữ nghệ thuật trong các tập thơ để thấy được sự vận động trong ngôn ngữ nghệ thuật của Hàn Mặc
Tử
6 Bố cục của luận văn
Đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được
chúng tôi triển khai qua ba chương sau:
Trang 1712
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 TÍN HIỆU THẨM MĨ
1.1.1 Khái niệm tín hiệu và tín hiệu thẩm mĩ
a Tín hiệu (sign, signal) và tín hiệu ngôn ngữ
Theo nghĩa rộng, “một tín hiệu…là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” (P.Guiraud) Theo nghĩa hẹp, “một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế
sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp, nó được nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm (những cảm xúc, những cảm thụ nghệ thuật, một ý chí…)” (A.Schaff) Khái niệm tín hiệu là một khái niệm khoa học quen thuộc với các nhà ngôn ngữ
học Đầu thế kỉ XX, F.Saussure đưa ra khái niệm tín hiệu ngôn ngữ (linguistic
sign) Đó là một đối tượng có hai mặt hình thức và ý nghĩa Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified) Cái biểu đạt trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu đạt là khái niệm hay đối tượng được biểu thị [15, tr 413]
Trang 1813
các nhà nghiên cứu là việc thừa nhận THTM là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Đó là “những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống thẩm mỹ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta” – theo cách nói của Iu.A.Philipiep, tác giả “những tín hiệu của thông tin thẩm mỹ” /96/ Những phương tiện này được kể đến một cách cụ thể hơn trong quan niệm của M.B.Khrapchenko /54/: những nhân hóa, ẩn dụ cố định, phúng dụ, tượng trưng, những hình tượng nghệ thuật đã được “mài mòn” và
“cố định hóa” về mặt ý nghĩa mà theo tác giả “phù hợp với điều kiện hoạt động chức năng quan trọng của ký hiệu là phải có một cách hiểu thường xuyên được nhiều người biết đến” /54/ Trong phân tích của Hoàng Trinh, đó
có thể là một bức họa, một vở múa, một hình ảnh ẩn dụ, một “figure” (hình thể từ ngữ) là ẩn dụ, hoán dụ trong văn học…mang đặc tính của “biểu trưng” (symbole) với “cái biểu trưng” và “cái được biểu trưng” của nó Các nhà ngôn ngữ - phong cách học có thể giới hạn khái niệm tín hiệu thẩm mỹ hơn trong những “ tín hiệu nghệ thuật chìa khóa…có giá trị tổ chức để biểu hiện tư tưởng tình cảm của bài văn” (Đái Xuân Ninh /93/) hay những “thần cú”, những “nhãn tự”, những TH ngôn ngữ mang phẩm chất thẩm mỹ: những từ ngữ, những đối thoại có tính thẩm mỹ trong văn học v.v…Các nhà nghiên cứu
lý luận văn học nói đến THTM trong ý nghĩa của một yếu tố thuộc hệ thống
“ngôn ngữ - mã nghệ thuật” mà “hệ quy chiếu” của nó là thuộc thế giới văn bản nghệ thuật, đối lập với thế giới hiện thực Nhân vật chẳng hạn “Nhân vật cũng là ngôn ngữ Các nhân vật quan hệ được với nhau vì chúng là ngôn ngữ” (Trần Đình Sử /109/) Sự khác nhau dẫn đến chỗ chưa có cơ sở để có một định nghĩa hoàn chỉnh về THTM giữa các tác giả nằm ở sự phân định cụ thể đối với hệ thống “phương tiện nghệ thuật” [34, tr 14]
Trang 19mỹ
Có thể hình dung THTM trong một cơ cấu hai mặt như sau:
CBH: Chất liệu nghệ thuật THTM = -
CĐBH: Ý nghĩa thẩm mỹ Xét về mặt nguồn gốc, THTM là TH nhân tạo, trong đó ý nghĩa “nhân tạo” nằm ở vai trò xây dựng và sáng tạo của người nghệ sĩ, ở mối quan hệ thẩm mỹ tất yếu giữa chủ thể sáng tạo và những đối tượng thuộc thế giới hiện thực trong sự tạo thành THTM
Xét về mặt thể chất, THTM có thể là TH thính giác, TH thị giác v.v…, tuỳ thuộc vào đặc tính thể chất của mỗi loại hình nghệ thuật
Xét về đặc tính mối quan hệ giữa hai mặt CBH và CĐBH, THTM là các TH – biểu trưng mà lý do biểu trưng nằm ở mối liên hệ giữa nội dung thẩm mỹ với những nội dung của hiện thực được đưa vào TH qua con đường chuyển tải của chất liệu nghệ thuật Có thể gọi THTM là những TH – biểu trưng nghệ thuật
Xét trong mối tương quan với hệ thống các phương tiện vật chất (chất liệu) của nghệ thuật, THTM là TH sơ cấp (nguyên cấp) - TH chưa chuyển mã
Xét về mặt chức năng, THTM là TH giao tiếp, và là giao tiếp của nghệ thuật, cũng là TH có chức năng biểu hiện (tái hiện hiện thực), chức năng biểu
Trang 2015
cảm (bộc lộ cảm xúc), chức năng tác động (về thẩm mỹ), chức năng hệ thống v.v…
Trong Ngôn ngữ với văn chương, tác giả Bùi Minh Toán chỉ ra rằng:
Tín hiệu thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt và bồi dưỡng cảm xúc về cái đẹp Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ [49, tr 139]
Từ những quan niệm trên về THTM, theo chúng tôi, trong văn chương, THTM là tín hiệu bậc hai Trong đó, cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu ngôn ngữ Cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ Từ cơ chế đó, chúng tôi nhận thấy cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ không thuần vật chất Vì tín hiệu ngôn ngữ gồm hai mặt ngữ âm và ý nghĩa
Trang 2116
1.1.2 Đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ
Trong bài viết, Một số vấn đề về phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mỹ [36], tác giả Trương Thị Nhàn cho rằng THTM
có những đặc điểm sau:
1 Tính đẳng cấu của THTM
Đẳng cấu nói chung là sự giống nhau về quan hệ, về nội dung nhưng khác nhau về hình thức biểu hiện Dựa trên nguyên lý: “xung động TH hoạt động không phải bằng trạng thái vật chất năng lượng, mỗi lần lại được xác định của mình… mà bằng ý nghĩa của nó”, Iu A Philipiep lưu ý về sự đẳng cấu thông tin của THTM: “Những biểu hiện vật chất của TH có thể khác nhau nhưng ý nghĩa của TH cũng chỉ là một” Đặc tính này được Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh khi đề cập đến tính thống nhất của ngôn ngữ - THTM trong các ngành nghệ thuật: “Rất nhiều THTM được sử dụng trong văn học, trong hội hoạ, trong điện ảnh, trong âm nhạc … như những TH đồng nghĩa (có thể là đồng cảm xúc) Chỉ khác nhau ở sự thể hiện bằng các chất liệu riêng của từng ngành”
Tính đẳng cấu của THTM không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau mà còn qua từng hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của TH trong hệ thống
Trang 2217
những yếu tố kích thích của sự điều chỉnh sống động những tâm trạng xã hội khác nhau”
3 Tính biểu hiện (tái hiện) của THTM
THTM phải mang những nội dung hiện thực, gắn với hiện thực M B Khrápchenkô cho rằng: THTM phải có chức năng thay thế (thay thế những sự vật hiện tượng trong hiện thực), còn theo Đỗ Hữu Châu, THTM phải ứng với một sự vật hiện tượng nào đó trong thế giới hiện thực, phải có “vật quy chiếu” trong thế giới hiện thực… Sự biểu hiện (hay tái hiện) hiện thực của THTM trong các ngành nghệ thuật khác nhau nói chung đều dựa trên năng lực miêu
tả, thay thế, tái hiện, “dẫn” các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào trong tác phẩm - của những phương tiện vật chất được sử dụng Trong văn học, đó là những từ ngữ, những kết cấu mang những nội dung biểu vật, biểu niệm, biểu hiện sự tình nhất định, gắn với hiện thực v.v… Mặt khác,
sự biểu hiện của THTM còn liên quan đến quá trình liên tưởng trong chủ thể tiếp nhận
4 Tính biểu cảm (bộc lộ) của THTM
Ngoài những thông tin miêu tả (nội dung tái hiện hiện thực), THTM phải bao hàm những thông tin về cảm xúc, về thái độ, về sự đánh giá, về tư tưởng thẩm mỹ của người nghệ sĩ M B Khrápchenkô xác định, có một “hệ
số cảm xúc” nhất định, một “cơ cấu cảm xúc” thuộc cấu trúc THTM Theo tác giả, cảm xúc vừa là cái để truyền đạt trong THTM, vừa là cái “xác định gián tiếp các đối tượng và hiện thực”, làm cơ sở cho việc hiểu một THTM… Trong THTM, cảm xúc – vốn là cái chủ quan của chủ thể sáng tạo, đã được “khách quan hoá” thành một thành phần quan trọng trong cơ cấu nghĩa của THTM Nói đến cảm xúc, cũng chính là nói đến những đặc điểm lịch sử, xã hội, văn hoá, tâm lý, cá nhân… chi phối cảm xúc cũng như sự nhận thức – tiếp nhận cảm xúc từ hai phía chủ thể sáng tạo (người nghệ sỹ) và chủ thể tiếp nhận
Trang 2318
Cùng một nội dung sự vật nhưng ý nghĩa biểu cảm khác nhau cũng tạo nên cái mới, cái sinh động, cụ thể và riêng biệt cho THTM trong mỗi lần xuất hiện
5 Tính biểu trưng của THTM
Biểu trưng là đặc tính của THTM xét trong mối quan hệ hai mặt CBH
và CĐBH Đó là mối quan hệ “có lý do”, liên quan đến năng lực biểu trưng hoá của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm Cũng như “không phải ngẫu nhiên mà người ta chọn cái cân để biểu trưng cho công lý” (Ferdinand de Saussure), các yếu tố hiện thực phải mang trong nó những “phẩm chất” nhất định làm tiền đề cho sự so sánh, liên tưởng, khái quát hoá, trừu tượng hoá… trong tư duy nghệ thuật
6 Tính truyền thống và cách tân (hay vấn đề “cái mới”) của THTM
“Truyền thống và cách tân là hai phương diện biện chứng của THTM” Nói đến tính truyền thống là nói đến tính cố định, tính lặp lại, tính kế thừa, đến sự “có sẵn” của THTM trong kho tàng nghệ thuật của một dân tộc Còn nói đến cách tân là nói đến sự đổi mới, sự sáng tạo trong việc sử dụng THTM của mỗi tác giả, mỗi tác phẩm… Không có cách tân, THTM trở nên bị mài mòn, mất giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc Nhưng không có truyền thống, THTM mất đi những điều kiện về mặt liên tưởng giúp cho việc lĩnh hội THTM trong tác phẩm Cái mới trong sử dụng THTM của các tác giả có thể ở việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân các THTM, ở việc đổi mới các THTM sẵn có trong truyền thống, đem lại cho chúng những ý nghĩa mới – những ý nghĩa chỉ có được thông qua sự sáng tạo của tác giả trong chính hệ thống riêng mà THTM đó tham gia
7 Tính trừu tượng và cụ thể (hay vấn đề hằng thể và biến thể) của THTM
Trang 2419
Trong TH học có sự phân biệt điển dạng (type) và hiện dạng (token) của TH Điển dạng là TH trong tính trừu tượng, bất biến của nó, còn gọi là hằng thể của TH Hiện dạng là TH trong tính cụ thể, khả biến của nó, gọi là biến thể của TH Trong thực tế, chỉ có thể bắt gặp các hiện dạng (biến thể) của TH, với những biểu hiện không hoàn toàn giống nhau trong các lần xuất hiện Đối với THTM cũng vậy Nghiên cứu THTM như vậy trên thực tế cũng
là nghiên cứu các biến thể của nó Có thể quan niệm biến thể của THTM là THTM trong các “lần xuất hiện” của nó Ở mỗi lần xuất hiện, THTM được diễn đạt bởi một hình thức - cái biểu hiện (CBH) biến thể, mang một nội dung – cái được biểu hiện (CĐBH) biến thể, đồng thời được đặt trong một tương quan mới, với những mối quan hệ mới với hệ thống, với các yếu tố cùng xuất hiện trong hệ thống mà nó tham gia, và được cảm nhận trong một “vầng cảm xúc” mới, một hệ thống cảm xúc mới v.v… Quan hệ hằng thể - biến thể giữa THTM với mỗi lần xuất hiện của nó như vậy bao hàm cả quan hệ giữa CBH hằng thể với CBH biến thể, giữa CĐBH hằng thể với CĐBH biến thể, giữa THTM với những biến thể do quan hệ, do cảm xúc v.v…
Ngoài ra, có thể xác định mối quan hệ hằng thể - biến thể giữa các THTM - sự vật hiện tượng mang tính khái quát, chung, với các THTM – sự vật hiện tượng mang tính cụ thể, riêng so với chúng
Trang 25Cấp độ cơ sở: THTM ứng với một yếu tố, một chi tiết, một sự vật hiện tượng
thuộc thế giới khách quan: một con đò, một dòng sông, một nỗi buồn , đó là những TH đơn (hay TH cơ sở) có chức năng tham gia cấu tạo nên THTM ở
bậc cao hơn trong tác phẩm; b) Cấp độ xây dựng: THTM ứng với nhiều sự
vật, hiện tượng, được xây dựng từ những TH đơn, nhưng ý nghĩa không phải phép cộng đơn giản các TH đơn, thí dụ: trong ca dao, “thuyền” có ý nghĩa chỉ người đi, “bến” chỉ kẻ ở, nhưng sự kết hợp sóng đôi “thuyền – bến” lại có ý nghĩa là biểu tượng của tình yêu chung thuỷ Đó là những TH phức (TH xây dựng)
Chúng tôi đặc biệt cho rằng, tính trừu tượng và cụ thể là biểu hiện tập trung nhất của những đặc trưng của THTM, thể hiện các mối quan hệ giữa hằng thể và biến thể, giữa cái chung với cái riêng, cái bất biến và cái khả biến, cái truyền thống và cái cách tân, cái vô hình và cái biểu kiến… của mỗi một THTM trong các lần xuất hiện khác nhau - ở mỗi loại hình nghệ thuật, mỗi quan hệ tác động, mỗi mục đích biểu hiện, biểu cảm, mỗi hệ thống, mỗi cấp
độ khác nhau Đó cũng là cơ sở cho việc lựa chọn quan điểm hằng thể - biến thể trong nghiên cứu THTM
Trang 2621
Trong Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại
[31], tác giả Bùi Trọng Ngoãn đã chỉ ra tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ thơ
có những đặc điểm sau:
1 Tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ cũng được cấu tạo như một tín hiệu ngôn ngữ là có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là một phức thể có cấu tạo kép
2 Tính có lí do, tính giải thích được của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ là sự tổ chức lại của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên thành một hệ thống biểu đạt mới do đó mối quan hệ hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong tín hiệu thẩm mĩ mang tính có lí do
3 Tính đa trị của tín hiệu thẩm mĩ
Một cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ có thể ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau…Trái lại, cũng có những trường hợp nhiều cái biểu đạt ứng với một cái được biểu đạt
4 Tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ
Do tính hình tuyến mà trước một hiện thực có các sự kiện diễn ra đồng thời, phương tiện ngôn ngữ phải diễn tả theo thứ tự trước sau Các nhà văn phải khắc phục hạn chế này bằng nhiều cách như nghệ thuật đồng hiện, tái hiện, xóa nhòa mọi khoảng cách thời gian Mặt khác, tín hiệu âm thanh cũng không phải là cái có hình khối nên tín hiệu nghệ thuật cũng không thể tồn tại theo dạng không gian ba chiều của hiện thực đời sống
5 Tính hệ thống của tín hiệu thẩm mĩ
Tác phẩm văn chương là một thể thống nhất được cấu tạo từ nhiều hệ thống Ở phạm vi bao quát nhất là hai hệ thống hình thức và nội dung Ở phạm vi nhỏ hơn là các hệ thống: ngôn ngữ, bố cục, kết cấu, bút pháp, tư
Trang 276 Tính cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ cũng có cơ chế cấu tạo như tín hiệu ngôn ngữ, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nghĩa là tín hiệu thẩm mĩ cũng có khả năng mang tính cấp độ như tín hiệu ngôn ngữ
Về đặc điểm của THTM, chúng tôi theo quan điểm của tác giả Trương Thị Nhàn và Bùi Trọng Ngoãn
1.1.3 Ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ
Ngôn ngữ văn chương là ngôn ngữ được nhà văn, nhà thơ tiếp biến từ ngôn ngữ tự nhiên Nghiên cứu ngôn ngữ văn chương chính là việc “giải mã”
tác phẩm văn học, là quá trình ngược so với nhà văn, nhà thơ Trong Ngôn ngữ văn chương, Hoàng Kim Ngọc – Hoàng Trọng Phiến chỉ ra rằng: Ngôn
ngữ văn chương là thứ ngôn ngữ đặc thù được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên, cũng tức là trên cơ sở của ngôn ngữ tự nhiên [40, tr 57] Nghiên cứu tính thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương thực chất là giải mã tác phẩm văn học xuất phát từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật để tìm hiểu các tầng nghĩa của tác phẩm: nghĩa mĩ học, triết học, đạo lí nhân sinh, văn hóa – xã hội…Tính thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương phải được nghiên cứu theo cách nhìn của tín hiệu thẩm mĩ [40, tr 56] Giá trị nghệ thuật của THTM trong ngôn ngữ văn chương phải được khảo sát từ các bình diện của ngôn ngữ học, gắn với phân tích thi pháp học [40, tr 63]
Trang 2823
Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu bậc hai có chức năng biểu trưng Ngôn ngữ văn chương cũng là ngôn ngữ bậc hai cũng có chức năng biểu trưng Vì vậy, ngôn ngữ văn chương và tín hiệu thẩm mĩ có mối quan hệ mật thiết
Từ tình cảm, tư tưởng, tài năng của nhà văn, thà thơ đến tác phẩm của
họ là cả một khoảng cách Tác phẩm văn học có nhiều khoảng nằm ngoài ý thức, tầm kiểm soát của họ Từ tác phẩm đến độc giả, khoảng cách đó lại càng
xa hơn Một tác phẩm văn chương có giá trị là một tác phẩm có nhiều
“khoảng trống” Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những phương pháp để tiếp cận, giải mã, lấp đầy những khoảng trống trong tác phẩm văn chương Tiếp cận ngôn ngữ văn chương dưới góc nhìn tín hiệu thẩm mĩ là một cách tiếp cận rất khoa học
1.2 DANH TỪ, NGỮ ĐỊNH DANH, CỤM CHỦ - VỊ, CÂU
Danh từ là một từ loại quan trọng trong bất cứ ngôn ngữ nào Danh từ
là từ loại có ảnh hưởng không nhỏ đến các từ loại khác, là cái trục mà các từ loại khác xoay quanh để cấu tạo nên những đơn vị lớn hơn Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về danh từ Theo Nguyễn Thiện Giáp: Danh từ là những
từ biểu thị sự vật, hiện tượng và khái niệm [15, tr 165] Theo Nguyễn Như Ý: Danh từ là một loại thực từ biểu thị sự vật tính (sinh vật) vật thể, hiện tượng,
sự việc trong đời sống thực tại và tư duy [55, tr 67] Theo Hoàng Phê: Danh
từ là từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật, đối tượng, từ hoặc tổ hợp từ chuyên dùng để gọi tên sự vật hoặc biểu đạt khái niệm trong các lĩnh vực chuyên môn [38, tr 325] Theo Lê Biên: Danh từ bao gồm những từ chỉ sự vật và những thực thể có sự vật tính [3, tr 25]
Ngữ định danh là ngữ có danh từ làm thành tố trung tâm đứng ở đầu ngữ, thành phần đứng ở sau danh từ là định ngữ cho danh từ
Cụm từ chủ - vị là cụm từ có hai thành tố chính là chủ ngữ và vị ngữ Thông thường, chủ ngữ đứng trước vị ngữ
Trang 2924
Câu là đơn vị ngữ pháp dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ và thông báo nhằm diễn đạt một ý tương đối trọng vẹn, có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc [10, tr 101]
Xét về phương tiện ngôn ngữ, THTM có thể được xây dựng từ các yếu
tố ngữ âm, từ vựng, cú pháp, văn bản Ở phạm vi đề tài, chúng tôi khảo sát các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Hàn Mặc Tử ở những khía cạnh sau: Hệ thống danh từ, kết cấu danh ngữ, cụm chủ - vị, câu
và các kiểu kết hợp tín hiệu - tín hiệu Việc chỉ khảo sát hệ thống danh từ thuộc từ loại trong thơ Hàn Mặc Tử là có dụng ý của chúng tôi Theo chúng tôi, danh từ là từ loại quan trong nhất trong bất cứ tác phẩm văn học nào Vì, tác phẩm văn học là sự phản ánh hiện thực Mà phản ánh hiện thực thì phải có đối tượng phản ánh Danh từ mang ý nghĩa về đối tượng Từ việc xác định các
hệ thống danh từ trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi khảo sát các đơn vị khác theo cơ chế lan tỏa Danh từ là tín hiệu tâm để lan tỏa, tạo thành các đơn vị lớn hơn (chúng tôi quan niệm cụm từ là đơn vị tương đương với từ nhưng vẫn
có điểm khác nhau Đó là cụm từ được tạo thành từ hai từ trở lên) Theo chúng tôi, các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ trên là cơ bản nhất trong việc tiếp nhận một tác phẩm văn học
1.3 VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA HÀN MẶC TỬ
Trang 3025
chàng trai Nguyễn Trọng Trí đổi bút hiệu là Phong Trần và đã rất nổi tiếng vì được cụ Phan Bôi Châu họa thơ và đề cao Sau khi bị xóa tên trong danh sách những người đi Pháp học vì thăm cụ Phan Bội Châu, Hàn Mặc Tử làm việc tại sở đạc điền Quy Nhơn Năm 1934 – 1935, Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo, đổi tên là Lệ Thanh rồi Hàn Mạc Tử, Hàn Mặc Tử Cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử có những dấu hiệu của bệnh phong nhưng chưa biết Cũng thời gian này, Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm chia tay nhau Năm 1937, Hàn Mặc Tử xác định mình bị bệnh phong nên cắt đứt thư từ với bạn bè Ngày 20/9/1940, Hàn Mặc Tử vào điều trị tại nhà thương Quy Hòa Ngày 11/11/1940 Hàn Mặc Tử mất và được an táng ở Đèo Son
Thơ, tình, bệnh tật và Chúa là bốn phạm trù nổi bật trong cuộc đời Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử mắc trọng bệnh khi đang ở giữa tuổi xuân son Nỗi đau bệnh tật với nỗi đau tinh thần òa vào bủa vây Hàn Mặc Tử (Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh đã lìa xa chàng) Chàng phải sống cách li với mọi người, kể cả người thân Quách Tấn viết: Từ ngày mắc chứng bệnh nan y, thiên tài của Tử bộc phát, thơ Tử mở ra một chân trời mới hẳn…Nguồn cảm hứng của Tử đã phát xuất tận trong đáy hồn đau khổ vô biên, và tuôn ra - như lời Tử nói - khi máu cuồng rền vang dưới ngọn bút Nó gây cho chúng ta một cảm giác lạ lùng và rờn rợn Nó đưa chúng ta vào một “vườn thơ rộng rinh, không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh” [32, tr 175] Hàn Mặc Tử là người bất hạnh trong tình yêu: mối tình đầu của Hàn Mặc Tử là mối tình đơn phương với Hoàng Cúc Sau đó, Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm đã nặng lời thề thốt
“trăm năm cùng già” Nhưng khi Tử mắc bệnh hiểm nghèo, Mộng Cầm đã rẽ bước sang ngang Rồi, Mai Đình yêu Hàn Mặc Tử tha thiết nhưng Hàn Mặc
Tử lại không rung động Mối tình của Hàn Mặc Tử với Ngọc Sương cũng là một hơi gió nhẹ thoảng mau Mối tình với Thương Thương chỉ là một mối tình ảo Tình và bệnh là chất xúc tác để Hàn Mặc Tử viết ra những dòng thơ
Trang 3126
ứa lệ và máu, những vần thơ mang thi pháp của “cái tột cùng” Khi rơi vào tuyệt vọng, Hàn Mặc Tử đã tìm về với Chúa và Đức Mẹ nhân lành Lúc này, Hàn Mặc Tử mang dáng dấp của hai con người (nhà thơ và con chiên) đã viết những vần thơ thanh sạch, sáng láng mang bóng dáng của Thiên Chúa giáo
Sinh tử là một quy luật của vạn vật Với con người, sống và tồn tại là hai chuyện khác nhau Có những người hưởng thọ hơn 100 tuổi nhưng đó chỉ
là sự tồn tại Có những người chỉ dừng chân rong chơi ở cuộc đời này khi chỉ đôi mươi năm nhưng thật sự là sống, là bất tử Hàn Mặc Tử là một người như vậy Hàn Mặc Tử chưa bước tới cái tuổi “tam thập nhi lập” nhưng đã lập được
“thương hiệu” của mình trong dòng chảy của thời gian Hàn Mặc Tử quả thật
là một minh chứng cho điều Nguyễn Du đã từng nói trong: Trăm năm trong cõi người ta - Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (Truyện Kiều)
1.3.2 Sự nghiệp văn chương của Hàn Mặc Tử
Thơ mới là một dấu son chói lọi trong lịch sử văn học nước nhà, góp một phần rất lớn trong việc đưa nền văn học Việt Nam hội nhập với nền văn học thế giới Nhà phê bình Chu Văn Sơn đã suy tôn Hàn Mặc Tử là một trong
ba đỉnh cao của Thơ mới Chu Văn Sơn viết: Trong các nhà Thơ mới, Xuân Diệu thì “mới nhất”, còn Nguyễn Bính “quen nhất”, trong khi Hàn Mặc Tử lại
“lạ nhất” [43, tr 3]…Nếu vắng họ thì Thơ mới sẽ ra sao nhỉ? Thật không thể hình dung điều đó Có thể coi đó là ba cái chân kiềng của Thơ mới, nhưng tôi thích hình dung họ là đỉnh “Tam Đảo”, “Ba Vì” của Thơ mới hơn [43, tr 4]…Nhận xét về thơ Hàn Mặc Tử, Trọng Miên viết: Hàn Mặc Tử! Một nguồn thơ tân kỳ [12, tr 357]
Với Lệ Thanh thi tập, Gái Quê, Đau thương – Thơ điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội, Chơi giữa mùa trăng, Hàn Mặc Tử thật là một trong ba đỉnh cao của Thơ mới Từ địa
hạt thơ Đường bước sang lãnh địa thơ lãng mạn rồi thơ tượng trưng, Hàn Mặc
Trang 3227
Tử đã có đóng góp không nhỏ cho công cuộc cách tân thi ca Việt Nam Thơ Hàn Mặc Tử không chỉ mới ở thi tứ và ngôn từ, mà còn mới trong cách giải phóng yếu tố cá nhân trong những giấc mơ vô thức, ở sự thể hiện “vũ trụ tinh thần” bí ẩn hoàn toàn siêu nghiệm, siêu linh [45, tr 151] Có người nói rằng Hàn Mặc Tử là một “thi sĩ không có đến hai lần trong rừng thơ Việt Nam, trong rừng thơ quốc tế” [12, tr 69]
1.4 TIỂU KẾT
Trong văn học, tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu bậc hai, là đơn vị thứ cấp
Tín hiệu thẩm mĩ trong văn học có những đặc điểm sau: tính đẳng cấu, tính tác động, tính biểu hiện (tái hiện), tính biểu cảm (bộc lộ), tính biểu trưng, tính truyền thống và cách tân (hay vấn đề “cái mới”), tính trừu tượng và cụ thể (hay vấn đề hằng thể và biến thể), tính hệ thống, tính cấp độ, tính hai mặt, tính có lí do, tính giải thích được, tính đa trị, tính hình tuyến Nghiên cứu tác
phẩm văn học đứng trên phương diện tín hiệu thẩm mĩ là một phương pháp
ưu việt và khoa học nhất Khi đó, chúng ta sẽ đi vào bóc tách từng lớp ngôn ngữ của tác phẩm, có cái nhìn tổng quan về tác phẩm và lí giải trên cơ sở khoa học từ hình thức đến nội dung và ngược lại Hàn Mặc Tử là một gam màu khác lạ trong phông nền lịch sử văn học Việt Nam Từ lâu, các nhà nghiên cứu đều thừa nhận nghiên cứu về văn chương của Hàn Mặc Tử thật không dễ Vì văn chương của Hàn Mặc Tử rất bí hiểm ở cả nội dung lẫn hình thức Theo chúng tôi, việc áp dụng tín hiệu thẩm mĩ vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ văn chương Hàn Mặc Tử là một con đường ngắn nhất trong tiếp cận văn chương của Hàn Mặc Tử
Trang 332.1 HỆ THỐNG DANH TỪ
Xét về phương tiện ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ có thể được xây dựng
từ các yếu tố ngữ âm, từ vựng, cú pháp, văn bản [31, tr 18] Danh từ là một yếu tố giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các tín hiệu thẩm mĩ Bởi, tác phẩm văn học bao giờ cũng phải xây dựng nên các hình tượng, biểu tượng nghệ thuật Các hình tượng và biểu tượng nghệ thuật bao giờ cũng được xây dựng nên từ các sự vật, hiện tượng Các sự vật hiện tượng thuộc phạm trù từ loại danh từ Hệ thống danh từ trong thi phẩm của một nhà thơ là một trong những “kênh” quan trọng để chúng ta đi vào khám phá nội dung tư tưởng, nghệ thuật của nhà thơ đó Một nhà thơ tài năng là một nhà thơ hình thành cho mình một hệ thống danh từ riêng Từ hệ thống danh từ trong thi phẩm của một nhà thơ, chúng ta sẽ rút ra những “mã” ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ của nhà thơ đó ở cấp độ từ loại Ở phạm vi luận văn, chúng tôi khảo sát hệ thống danh từ trong thơ Hàn Mặc Tử ở 4 nhóm:
Nhóm danh từ về thiên nhiên là những danh từ nói về những thực thể tồn tại xung quanh con người mà không phải do con người tạo ra Trong thơ Hàn Mặc Tử, những danh từ về thiên nhiên là 123 danh từ; xuất hiện 1016
lần Trong đó, những danh từ sau xuất hiện với tần số cao: Trăng (228 lần),
Trang 3429
gió (82 lần), xuân (73 lần), trời (66 lần), mây (46 lần), nước (44 lần), nắng (41 lần), sao (26 lần), sương (21 lần), hoa (41 lần), chim (21 lần)
Trong phạm vi của luận văn, nhóm danh từ về con người là những danh
từ nói về những bộ phận cơ thể và tâm tư, tình cảm của con người Những danh từ về con người là 79 danh từ; xuất hiện 391 lần Trong đó, những danh
từ sau xuất hiện với tần số cao: Lòng (75 lần), máu (21 lần), môi (20 lần), tay (19 lần), mắt (14 lần), lệ (12 lần), miệng (12 lần), má (11 lần), tình (56 lần)
Nhóm danh từ trong biệt ngữ Thiên Chúa giáo là 36 danh từ; xuất hiện
115 lần Trong đó, những danh từ sau xuất hiện với tần số cao: hồn (54 lần), linh hồn (7 lần), kinh (6 lần), Bà (5 lần)
Nhóm danh từ về địa danh và tên riêng là 81 danh từ; xuất hiện 116 lần
Trong đó, những danh từ sau xuất hiện với tần số cao: Hàn Giang (6 lần), Phan Thiết (6 lần), Phượng Trì (6 lần)
Trong thơ Hàn Mặc Tử, hệ thống danh từ ở 4 nhóm trên là 319 danh từ,
với 1638 lần xuất hiện Ở phần Phụ lục, chúng tôi đã trình bày cụ thể về số lần xuất hiện của mỗi danh từ Dưới đây là bảng đối sánh tỉ lệ số lần xuất
hiện của các danh từ trong từng nhóm giữa các tập thơ:
Bảng 2.1: Nhóm danh từ về thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 3530
Bảng 2.2: Nhóm danh từ về con người trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 3631
Số lần xuất hiện của các danh từ trong mỗi nhóm của từng tập thơ chênh lệch nhau, cụ thể:
Bảng 2.5: Tỉ lệ số lần xuất hiện các danh từ của các nhóm
trong nội bộ từng tập thơ của Hàn Mặc Tử
Danh từ về thiên nhiên
Danh từ
về con người
Danh từ trong biệt ngữ Thiên Chúa giáo
Những địa danh và tên riêng
Cộng
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ
%
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ
%
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ
%
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ
%
Số lần xuất hiện
9 Chơi giữa mùa trăng 70 52.6 44 33.1 6 4.5 13 9.8 133 100
Từ những kết quả thống kê trên, chúng tôi nhận thấy số lượng và số lần xuất hiện các danh từ ở các nhóm và trong nội bộ từng nhóm là không đồng đều nhau Các kết quả thống kê trên là những con số biết nói Chúng tôi sẽ trả lời tiếng nói của các con số thống kê trên ở chương 3 của luận văn
Trang 3732
tác giả Trương Thị Nhàn Các tín hiệu nằm trong mục 2.1 muốn trở thành tín hiệu thẩm mĩ chúng phải nằm trong một hệ thống, phải nằm trong một cấu trúc miêu tả và nằm trong mối quan hệ với các tín hiệu khác Các yếu tố miêu
tả - cụ thể hóa được thống kê trong đề tài là các yếu tố ngôn ngữ phụ thuộc đóng vai trò làm định ngữ trong kết cấu danh ngữ [34, tr 52] với các danh từ
thuộc mục 2.1 hoặc các yếu tố vị ngữ trong các cụm chủ - vị và câu với các
danh từ thuộc mục 2.1 làm chủ ngữ Những hình thức đó xuất hiện 602 lần
2.2.1 Kết cấu danh ngữ
Trong thơ Hàn Mặc Tử, kết cấu danh ngữ với danh từ trung tâm thuộc
hệ thống danh từ ở mục 2.1 đứng ở đầu kết cấu danh ngữ xuất hiện 272 lần
(45.2 % trong các hình thức miêu tả)
a Danh từ về thiên nhiên
Kết cấu danh ngữ có danh từ trung tâm nói về thiên nhiên xuất hiện 105 lần (38.6 % trong hệ thống kết cấu danh ngữ), cụ thể:
Tập thơ Lệ Thanh thi tập
1 gió (1 lần) - thu: 1 // 2 yến (1 lần) - ngàn: 1
Tập thơ Gái quê
1 trăng (3 lần) - lưỡi liềm: 1, thề: 1, thu: 1 // 2 gió (5 lần) - chiều: 2, xuân: 1, hạ: 1, ngàn: 1 // 3 đồi (3 lần) - cao: 1, quê: 1, thông: 1 // 4 trời (2 lần) - xuân: 1, thu: 1 // 5 nắng (3 lần) - tươi: 3 // 6 mây (1 lần) - chiều: 1 // 7 sương (1 lần) - lam: 1 // 8 nước (1 lần) - khe: 1 // 9 xuân (3 lần) - em: 3 // 10 hoa (1 lần) - mộng: 1 // 11 vầng trăng (1 lần) - thiếu: 1
Tập thơ Đau thương – Thơ điên
1 nước (1 lần) - hồ: 1 // 2 trời (3 lần) - khuya: 1, sâu: 1, thơ: 1 // 3 sương (4 lần) - đêm: 1, lam: 1, khuya: 1, ở cung thiềm: 1 // 4 nắng (4 lần) - mới lên: 1, hàng cau: 1, hường: 1, hồng đào: 1 // 5 trăng (8 lần) - cổ độ: 1, tôi: 1, mới: 1, của rạng ngời: 1, ngàn: 1, xuân: 1, đầu hạ: 1, đêm: 1 // 6 sông
Trang 3833
(1 lần) - trăng: 1 // 7 vì sao (1 lần): - lạ: 1 // 8 sóng (2 lần): - triều: 1, buồn: 1 // 9 gió (2 lần) - nào: 1, vàng: 1 // 10 suối (2 lần) - trăng: 1, gì: 1 // 11 thu (2 lần) - vàng: 1, héo: 1 // 12 hoa (1 lần) - đền ngự: 1 // 13 cây (1 lần) - gì: 1
Tập thơ Xuân như ý
1 nước (1 lần) - cả: 1 // 2 mặt trời (1 lần) - kia: 1 // 3 trời (2 lần) - Hàn Giang: 1, hôm nay: 1 // 4 trăng (5 lần) - cổ độ: 1, rằm: 1, thế kỷ: 1, vàng ngọc: 1, ân tình: 1 // 5 nguyệt (1 lần) - bạch: 1 // 6 sông (1 lần) - Hằng: 1 // 7 xuân (5 lần) - gấm: 1, đầu tiên: 1, trong: 1, riêng: 1, thiên hạ: 1 // 8 hoa (3
lần) - cung cấm: 1, vàng: 1, phẩm tiết: 1
Tập thơ Thượng thanh khí
1 gió (2 lần) - mát: 1, nguyện cầu: 1 // 2 trời (2 lần) - sao: 1, nhật nguyệt: 1 // 3 nắng (2 lần) - đời xưa: 2 // 4 mây (1 lần) - kinh: 1 // 5 sao (1 lần) - trời: 1 // 6 bướm (1 lần) - vườn hạnh: 1
Tập thơ Cẩm châu duyên:
1 cây (2 lần) - ngàn: 1, phối hợp: 1 // 2 hoa (1 lần) - mười phương: 1 Tập thơ Duyên kỳ ngộ
1 non (1 lần) - tiên: 1 // 2 nước (3 lần) - trường sinh: 1, ngọc: 1, ta: 1 //
3 nắng (1 lần) - mai: 1 // 4 suối (1 lần) - đoàn viên: 1 // 5 mây (1 lần) - tứ
xứ: 1
Tập thơ Chơi giữa mùa trăng
1 trăng (3 lần) - thu: 1, giữa mùa thu: 1, rằm trung thu: 1 // 2 gió (1 lần) - thu: 1 // 3 nước (1 lần) - suối: 1 // 4 trời (2 lần) - thu: 1, tương tư: 1 //
5 nắng (1 lần) - mai: 1 // 6 chim (1 lần) - non: 1
b Danh từ về con người
Ở phạm vi luận văn, chúng tôi khảo sát những kết cấu danh ngữ với danh từ trung tâm đứng đầu kết cấu danh ngữ là những danh từ chỉ về bộ phận
cơ thể của con người và những danh từ liên quan tới tâm tư, tình cảm của con
Trang 3934
người Theo khảo sát của chúng tôi, những kết cấu danh ngữ loại đó xuất hiện
123 lần (45.2 % trong hệ thống các kết cấu danh ngữ), cụ thể:
Tập thơ Lệ Thanh thi tập
1 lòng dạ (1 lần) - thiễm: 1 // 2 miệng (1 lần) - ta: 1 // 3 tình (1 lần) -
thu: 1
Tập thơ Gái quê
1 môi (6 lần) - tôi: 1, em: 1, tươi: 4 // 2 má (2 lần) - hồng đào: 1, em: 1 // 3 lòng (10 lần) - ta: 2, em: 5, anh: 2, xuân: 1 // 4 tóc (1 lần) - em: 1 // 5 tình (5 lần) - yêu thương: 1, quê: 1, phu thê: 1, thu: 1, thanh cao: 1 // 6 duyên
(3 lần) - muộn: 1, em: 1, tơ: 1
Tập thơ Đau thương – Thơ điên
1 lòng (23 lần) - tôi: 6 , ni cô: 1, ta: 7, em: 2, viễn khách: 1, thiếu nữ: 1, anh: 1, ma quỷ: 1, người thương: 1, bí mật: 1, thi sĩ: 1 // 2 máu (5 lần) - đào:
2, tim anh: 1, tim ta: 1, sông ta: 1 // 3 tim (3 lần) - anh: 1, ta: 1, ấy: 1 // 4 miệng (3 lần) - em: 1, trăng: 1, ta: 1 // 5 mắt (1 lần) - ngọc: 1 // 6 tình ái (2 lần) - của ni cô: 1, đôi ta: 1 // 7 tình (10 lần) - mới: 1, ai: 1, tôi: 2, ta: 3, mới cắn: 1, anh: 1, em: 1 // 8 tâm sự (1 lần) - của đôi ta: 1 // 9 nỗi lòng (1 lần) - ta: 1 // 10 tình ý (1 lần) - lạ: 1
Tập thơ Xuân như ý
1 lòng (5 lần) - tôi: 1, thiếp: 1, vua chúa: 1, lê thứ: 1, cô liêu: 1 // 2 má (1 lần) - đào: 1 // 3 hàm răng (2 lần) - ngọc ngà: 1, đa tình: 1 // 4 bàn tay (1 lần) - thi sĩ: 1 // 5 tình (1 lần) - tôi: 1
Tập thơ Thượng thanh khí
1 lòng (1 lần) - anh: 1 // 2 máu (2 lần) - trời: 1, trên môi: 1 // 3 ý nguyện (1 lần) - giữa đêm nay: 1 // 4 tình (2 lần) - hoa: 1, trừu mến: 1 // 5 duyên (2 lần) - ngầm ở Quý Phi: 1, mời mọc: 1
Trang 4035
Tập thơ Cẩm châu duyên
1 lụy (1 lần) - ngọc: 1 // 2 vai (1 lần) - nường: 1 // 3 lòng (1 lần) - tôi:1 // 4 má (1 lần) - núng đồng tiền: 1
Tập thơ Duyên kỳ ngộ
1 lòng (5 lần) - ta: 3, anh: 2 // 2 tay (1 lần) - chàng: 1 // 3 da thịt (1 lần) - nàng dâu: 1 // 4 má (1 lần) - núng đồng tiền: 1 // 5 duyên (1 lần) - ngọc vàng: 1 // 6 tình (2 lần) - anh: 1, thơ: 1
Tập thơ Quần tiên hội
1 lòng (3 lần) - ngọc: 1, ai: 1, cô gái ở Bồng Lai: 1 // 2 tình (2 lần) -
gái: 2
Tập thơ Chơi giữa mùa trăng
1 da thịt (1 lần) - của người tiên: 1 // 2 môi (1 lần) - thiếu nữ: 1 // 3 hạnh phúc (1 lần) - của người: 1 // 4 tình (2 lần) - tôi: 2
c Danh từ trong biệt ngữ Thiên Chúa giáo
Kết cấu danh ngữ có danh từ trung tâm nằm trong biệt ngữ Thiên Chúa giáo xuất hiện 43 lần (15.8 % trong hệ thống kết cấu danh ngữ), cụ thể:
Tập thơ Lệ Thanh thi tập
1 hồn (4 lần) - cúc: 2, cúc ở trong sương: 1, chữ: 1
Tập thơ Gái quê
1 hồn (1 lần) - thi sĩ: 1
Tập thơ Đau thương – Thơ điên
1 hồn (21 lần) - hoa: 2, cúc: 1, anh: 4, em: 3, tôi: 5, ta: 5, ai: 1 // 2 xác (2 lần) - trăng: 1, cô: 1 // 3 hồn phách (1 lần) - tôi: 1
Tập thơ Xuân như ý
1 kinh (1 lần) - nguyện cầu: 1 // 2 đức tin (1 lần) - kiều diễm: 1 // 3 linh hồn (1 lần) - tôi: 1 // 4 Thánh thể (1 lần) - kết tinh: 1 // 5 sứ thần (1 lần)