1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết đoàn minh phượng

119 40 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và trật tự niên biểu của các blốc sự kiện trong Mưa ở kiếp sau 93 P.1 Thống kê tấn bi kịch của các nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ YẾN MINH

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT

ĐOÀN MINH PHƯỢNG

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60.22.34

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ MINH HIỀN

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

TRẦN THỊ YẾN MINH

Trang 3

MU ̣C LỤC

Trang

TRANG PHU ̣ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MU ̣C LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Bố cục đề tài 10

CHƯƠNG 1: CẢM THỨC VỀ CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG 11

1.1 Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng trong dòng chảy văn học Việt Nam 11

1.1.1 Trong dòng chảy của văn học trong nước những năm đầu thế kỉ XXI 11

1.1.2 Trong dòng chảy của văn học xa xứ 16

1.2 Con người với nỗi cô đơn cội nguồn 20

1.2.1 Cội nguồn số phận 21

1.2.2 Cội nguồn bản thể 27

1.3 Con người với bi kịch kiếp người 34

1.3.1 Bi kịch tha hương 35

Trang 4

1.3.2 Bi kịch cam chịu 39

1.3.3 Bi kịch đánh mất cuộc đời mình 43

CHƯƠNG 2: SẮC THÁI TRIẾT LÝ TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG 47

2.1 Hệ thống biểu tượng mang đậm tính triết lý 47

2.1.1 Lớp biểu tượng về sự sống – cái chết 48

2.1.2 Lớp biểu tượng về sự gột rửa, thanh tẩy 57

2.2 Hệ thống chân lý mang tính phủ định 65

2.3 Những tri nhận về lẽ sống - chết 70

2.3.1 Sống như một hành trình 70

2.3.2 Chết như một sự thức nhận 79

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG 85

3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 85

3.1.1 Nghệ thuật lồng ghép cốt truyện 85

3.1.2 Nghệ thuật sử dụng “thành phần xen” 94

3.1.3 Nghệ thuật xây dựng kết thúc mở 97

3.2 Nghệ thuật xây dựng điểm nhìn trần thuật 100

3.2.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất với điểm nhìn trần thuật bên trong 103

3.2.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba với điểm nhìn trần thuật bên ngoài 110

3.2.3 Sự luân phiên điểm nhìn trần thuật và đa dang hóa ngôi kể 112

3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 117

3.3.1 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm giàu chất thơ 117

3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại đa thanh 121

3.4 Giọng điệu 125

Trang 5

3.4.1 Giọng điệu trữ tình - suy tư 126

3.3.2 Giọng điệu tự vấn - hoài nghi 129

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

3.1 Mô hình mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và trật tự

niên biểu của các blốc sự kiện trong Và khi tro bụi

90

3.2 Mô hình mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và trật tự

niên biểu của các blốc sự kiện trong Mưa ở kiếp sau

93

P.1 Thống kê tấn bi kịch của các nhân vật trong tiểu thuyết

Đoàn Minh Phượng

i

P.2 Thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật trong

tiểu thuyết Và khi tro bụi

ii

P.3 Thống kê các sự kiện chính theo thời gian văn bản và

thời gian sự kiện trong Và khi tro bụi

iii

P.4 Thống kê các sự kiện chính theo thời gian văn bản và

thời gian sự kiện trong Mưa ở kiếp sau

v

P.5 Thống kê thời gian phiếm chỉ – không gian vô định

tương ứng với sự kiện cụ thể trong Và khi tro bụi

vii

P.6 Thống kê thời gian phiếm chỉ – không gian vô định

tương ứng với sự kiện cụ thể trong Mưa ở kiếp sau

x

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn xuôi Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI đã chứng kiến nhiều nỗ lực cách tân đáng ghi nhận Cùng với những đổi mới nghệ thuật trong sáng tác của thế hệ nhà văn đầu tiên như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo… những cây bút ở giai đoạn sau như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bình Phương, Thuận… cũng không ngừng làm mới văn chương của mình bằng những quan niệm nghệ thuật độc đáo và kĩ thuật viết dần tiệm cận quỹ đạo sáng tạo của văn học đương đại thế giới Trong thế hệ nhà văn này, Đoàn Minh Phượng nổi lên như một gương mặt lạ, một tiểu thuyết gia với kĩ thuật văn chương “sắc” nhưng không “xảo”, một giọng văn “mới mẻ” nhưng không “xa lạ”

Hơn mười năm tính từ ngày trở về quê mẹ, một truyện ngắn ít nhiều gây chú ý với độc giả

trong nước, một kịch bản và đồng đạo diễn cho một bộ phim tạo ra nhiều tiếng vang Hạt mưa rơi bao lâu, xuất bản hai tiểu thuyết Và khi tro bụi (2006, Giải thưởng Hội nhà văn 2007) và Mưa ở kiếp sau (2007), gia tài nghệ thuật của Đoàn Minh Phượng chưa phải là nhiều Tuy nhiên, đối lập

với những con số ít ỏi đó là “những trang viết luôn để lại một nỗi xót xa ngân dài trong lòng người đọc” [53] Hai tác phẩm được viết bằng một thứ tiếng Việt tinh khôi và thuần chất của chị đều đã tìm được tiếng nói đồng cảm nơi độc giả yêu văn chương Có lẽ hiếm có nhà văn nào, chỉ đăng đàn với hai tiểu thuyết mà có thể xác lập chỗ đứng trong lòng độc giả (lẫn giới phê bình chuyên môn) như thế Đoàn Minh Phượng, vì vậy, cũng có thể được xem là một “hiện tượng” của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI

Cùng với Thuận, Đoàn Minh Phượng là một trong hai tác giả nữ có số phận văn học khá giống nhau Cả hai cùng là những “cánh chim thiên di”, sống phần lớn cuộc đời nơi đất khách, tìm

về cội nguồn bằng những trang văn và tạo được dấu ấn riêng trên văn đàn với những tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Tuy nhiên, nếu Thuận là hiện thân của một kiểu văn chương đại chúng hậu hiện đại, tràn ngập kí hiệu và vụn vỡ những thân phận, kiếp người thì Đoàn Minh Phượng lại là hóa thân của một thế giới “tro bụi” huyễn hoặc, “kiếp sau” ma mị, một thế giới hiện đại đa chiều được soi chiếu bằng tâm thức xưa cũ, nơi con người đánh mất cội nguồn và hoang mang trong nỗi cô đơn kiếm tìm bản thể

Thực hiện đề tài Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng chúng tôi hy vọng lẩy

ra những nét độc đáo trong nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, khám phá chân giá trị nghệ thuật ẩn sau dáng vẻ những câu chuyện trinh thám ma mị và cuốn hút, lý giải được nguyên nhân

làm nên sức hút của hiện tượng Đoàn Minh Phượng trong lòng công chúng yêu văn học Đồng thời,

Trang 8

chọn nghiên cứu Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, người viết mong muốn góp

phần tìm hiểu những khuynh hướng tiểu thuyết mới, những kĩ thuật văn xuôi đương đại và những thể nghiệm góp phần làm nên đặc sắc cho tiểu thuyết Việt Nam Từ đó, có thể định vị diện mạo của văn chương Đoàn Minh Phượng nói riêng và dòng văn học xa xứ nói chung, cũng như đánh giá năng lực sáng tạo và đóng góp nghệ thuật của các cây bút hải ngoại đối với văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những đánh giá chung về tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Đoàn Minh Phượng sớm được định danh với giải thưởng Hội nhà văn năm 2007 cho tiểu

thuyết đầu tay Và khi tro bụi (Nxb Trẻ, 2006) Đồng thời nhà văn cũng tìm được sự đồng cảm với độc giả qua tiểu thuyết thứ hai Mưa ở kiếp sau (Nxb Hội nhà văn, 2007) Tuy nhiên, Đoàn Minh

Phượng chưa phải là một tác giả nhận được nhiều sự quan tâm của giới phê bình học thuật Viết về

Đoàn Minh Phượng, các nhà phê bình chủ yếu giới thiệu tác phẩm Và khi tro bụi kết hợp phỏng vấn tác giả Tiêu biểu có thể kể đến Trần Nhã Thụy với Và khi tro bụi [63], Dương Bình Nguyên với bài giới thiệu và cảm nhận về Đoàn Minh Phượng Và khi tro bụi bay về… [43], Tiểu Quyên soi chiếu Đoàn Minh Phượng trong Dòng chảy trầm của văn học xa xứ [53], Lưu Hà với bài phỏng vấn Đoàn Minh Phượng – Tôi viết khá lạnh [22], Ngô Đồng với Đoàn Minh Phượng và Và khi tro bụi [18], Cát Khuê với Khiêm nhường ở lại [31], Kim Ửng với Đoàn Minh Phượng: Cách kể chuyện của tôi rất…xưa [66], v v

Nhìn chung, những bài báo, bài phỏng vấn trên đều ưu ái dành cho Đoàn Minh Phượng những tình cảm trân trọng và đánh giá cao sự già dặn, chỉn chu của nhà văn trong nghệ thuật tiểu thuyết Các tác giả cũng có cùng quan điểm rằng chủ đề xuyên suốt trong tác phẩm Đoàn Minh Phượng là nỗi ám ảnh “tôi là ai”, là nỗi cô đơn của con người trong cuộc chơi trốn tìm với chính bản thân mình Các tác giả cũng chỉ ra văn Đoàn Minh Phượng giản dị mà tinh tế Chị kể câu chuyện bằng một thứ tiếng Việt đẹp dịu dàng và thuần thục Và vì thế, văn chị được ví như một thứ trà ngon, đọng lại trong mỗi người đọc nhiều dư vị sau mỗi lần chạm ngõ

Trong một bài phỏng vấn gần đây Văn học Việt Nam đang phải trả giá, nhà phê bình văn

học Nguyễn Thanh Sơn cho rằng Đoàn Minh Phượng giữ được cho ngòi bút của mình một tâm thế

an nhiên và niềm tin vào những điều tốt đẹp “Chị ấy viết ít, cũng không phải xuất sắc nhưng giữ cho mình được sự chân thành và trong trẻo” [56] Điều ấy rất cần cho một người cầm bút, Nguyễn Thanh Sơn nhận định

Trái ngược với những đánh giá tích cực về bút lực tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng là một

số hoài nghi về khả năng chinh phục độc giả và sức lan tỏa của tiểu thuyết Và khi tro bụi sau khi

Trang 9

tác phẩm này được trao giải thưởng Hội Nhà văn năm 2007 Nguyễn Văn Quý trong bài nghiên cứu

– trao đổi Văn học Việt Nam 2007 – Một năm phẳng lặng đặt câu hỏi “Sức lan tỏa và lay động của hai tác phẩm này (Và khi tro bụi và Khúc hát trái tim – Người viết) đối với bạn đọc Việt Nam ra

sao, hình như người ta vẫn đang tiếp tục chờ đợi” [51]

Một số nhà phê bình và bạn đọc lại cho rằng Và khi tro bụi hỏng về kết

cấu ngôn ngữ, khó đọc và khó hiểu “Kể cả Đoàn Minh Phượng, khi được giải của Hội Nhà văn Việt Nam, nhiều người cũng không công nhận, cho rằng viết kiểu gì đọc chả hiểu gì cả” [35]

Có khen, có chê, có hoài nghi và có chờ đợi, nhưng tựu trung lại, những nhận xét, đánh giá ban đầu về tài năng của nhà văn này, còn thiên về cảm tính mà chưa đi sâu khảo sát thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng để có được cái nhìn chân xác và khoa học hơn về vị trí và diện mạo của nhà văn trong bức chân dung văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI

2.2 Những đánh giá về kĩ thuật tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng

Bên cạnh những bài phê bình nặng tính cảm nhận, tác phẩm của Đoàn Minh Phượng cũng

đã bước đầu nhận được quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học ở phương diện kĩ thuật

tiểu thuyết Nguyễn Thanh Tú trong bài viết Bi kịch hóa trần thuật – Một phương thức tự sự đã sử dụng tiểu thuyết Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng (cùng với Cánh đồng bất tận của Nguyễn

Ngọc Tư) như nguồn cứ liệu để khám phá một kiểu kể chuyện sáng tạo, góp phần tạo nên sức hấp dẫn của những “tác phẩm mới” [65] Trong bài viết này, Nguyễn Thanh Tú cho rằng Đoàn Minh Phượng đã xây dựng nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất với những bi kịch khách quan và chủ quan nhằm tạo nên một cách kể chuyện mang đậm dấu ấn của tôi – nhân vật người kể chuyện đồng thời là nhân vật của câu chuyện Tôi không còn là người kể thuần túy đứng ngoài câu chuyện

mà tham gia vào diễn biến câu chuyện, lôi cuốn, dẫn dụ người đọc vào thế giới được trần thuật (thế giới sự kiện) lẫn kĩ thuật trần thuật (lời kể, cách kể)

Cùng chung hướng nghiên cứu với Nguyễn Thanh Tú là bài viết Những cái tôi kể chuyện trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng của Thái Phan Vàng Anh [6] Thái Phan Vàng Anh, một lần

nữa, khẳng định tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng được trần thuật từ ngôi thứ nhất với người trần thuật xưng “tôi” Và vì vậy, theo tác giả, tác phẩm của Đoàn Minh Phượng thường đậm tính tự thuật Trong bài viết này, tác giả cũng dành một phần nhỏ đề cập đến màu sắc triết lý trong tác phẩm Đoàn Minh Phượng Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ rõ mối quan hệ giữa yếu tố triết lý và nghệ thuật trần thuật từ ngôi thứ nhất được sử dụng trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Trang 10

Có thể nói, Thái Phan Vàng Anh là một trong số ít những tác giả dành nhiều quan tâm đến tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Tác giả đã dùng tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng làm luận cứ cho

các bài nghiên cứu về Người kể chuyện với điểm nhìn bên trong [2], Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại [3], Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại [4]…

Nhìn chung, những bài viết của Thái Phan Vàng Anh đều tập trung khai thác khía cạnh kĩ thuật viết tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Cùng xuất phát từ điểm nhìn kĩ thuật văn chương, Đỗ Minh Phúc, trong tiểu luận Thi pháp tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 của Thuận và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng dưới góc nhìn so sánh [48] lại mở cánh cửa Và khi tro bụi bằng chiếc chìa khóa của thi pháp học và văn học so sánh

Tác giả đã chỉ ra những cách tân thi pháp của nhà văn trong dòng chảy văn chương hiện đại và hậu hiện đại Đặc biệt, tác giả đã đặt hai trường hợp Thuận và Đoàn Minh Phượng trong sự vận động

đổi mới của tiểu thuyết của các nhà văn nữ nhằm chỉ ra rằng thiên tính nữ là một yếu tố quan trọng

có ảnh hưởng đến năng lực thẩm mỹ cũng như cách thức tiếp cận sự vật, hiện tượng của các cây bút nữ Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, tác giả chưa lý giải được một cách rõ ràng và sâu sắc tính nữ là một yếu tố nội tại có năng lực chi phối thi pháp tiểu thuyết hai nhà văn Thuận và Đoàn Minh Phượng

Giá trị tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng cũng được khẳng định qua việc tác phẩm của nhà văn đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu khoa học hoặc luận văn cao học Tác giả Lê Tuấn Anh đã chọn tiếp cận tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng dưới góc nhìn tự sự học

với đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng [1] Trong công trình này, dưới

ánh sáng tự sự học, tác giả đã phân tích đặc điểm không – thời gian nghệ thuật, người kể chuyện và điểm nhìn, giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Đây có thể xem là một công trình khá chỉnh chu, cung cấp cho người đọc một cái nhìn tương đối toàn cảnh về kĩ thuật trần thuật của Đoàn Minh Phượng Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu của tác giả thiên về phương diện trần

thuật học nên giá trị tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng chỉ mới được bóc tách ở bề mặt cấu trúc chứ chưa được khai vỡ đến tận cùng những giá trị nhân sinh tiềm tàng trong tác phẩm Gần hướng

nghiên cứu với tác giả Lê Tuấn Anh, Lê Thị Hoàng Oanh cũng chọn tiểu thuyết Đoàn Minh

Phượng làm một trong những nguồn cứ liệu phục vụ cho việc khảo sát Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại từ góc nhìn thể loại [46] Xuất phát từ phương diện thể loại, tác giả đã

khảo sát hệ thống nhân vật, không – thời gian, nghệ thuật kể chuyện và kết cấu tiểu thuyết của các nhà văn nữ đương đại như Thuận, Lê Ngọc Mai, Đoàn Minh Phượng Tác gỉả khẳng định rằng so với các nhà văn trong nước thì các cây bút hải ngoại, trong đó có Đoàn Minh Phượng đã có những bước đi mạnh dạn hơn trong việc đổi mới thi pháp thể loại và đã tiệm cận đến sự thành công về mặt sáng tạo Công trình này bước đầu đưa ra cái nhìn toàn cảnh về tiểu thuyết nữ hải ngoại đương đại,

Trang 11

tuy nhiên, mục đích nghiên cứu của công trình không nhằm tập trung phân tích tiểu thuyết của một tác giả cụ thể nào Vì vậy, thế giới nghệ thuật Đoàn Minh Phượng vẫn còn là một vấn đề còn mở ngỏ

2.3 Tựu trung lại, những nghiên cứu về Đoàn Minh Phượng và tiểu thuyết của tác giả này hiện vẫn còn khá khiêm tốn Đa phần các bài viết mang tính chất điểm sách, giới thiệu về nhà văn và

đưa ra những nhận định khái lược về tác phẩm Và khi tro bụi hoặc nhân việc phân tích một khía

cạnh nào đó của văn xuôi đương đại Việt Nam và có nhắc đến tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Một

số bài viết dùng tác phẩm Và khi tro bụi làm cứ liệu để so sánh với tác phẩm của một số nhà văn khác Mưa ở kiếp sau, đến nay vẫn nằm trong vùng mờ của những nghiên cứu chuyên sâu

Mặc dù không thể phủ nhận những thành công bước đầu của những bài viết mang tính lý thuyết phân tích về tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, nhưng cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng những bài viết trên cũng chưa đi đến tận cùng “bụi tro” để khám phá ra “giọt mưa rơi bao lâu”, để kiếm tìm những “kiếp trước – kiếp này – kiếp sau” của thân phận người trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Những công trình nghiên cứu quy mô và khoa học nhất về thế giới nghệ thuật Đoàn Minh Phượng, có lẽ phải kể đến một số bài viết của Thái Phan Vàng Anh và luận văn thạc sĩ của học viên chuyên ngành Văn học Việt Nam Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu

- phê bình đó chỉ mới tập trung khai thác đặc sắc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng ở phương diện thi pháp hoặc kĩ thuật tự sự - trần thuật mà chưa khai vỡ hết giá trị triết lý, ý nghĩa nhân sinh - là những yếu tố làm nên bản sấc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Đó chính là cơ sở để chúng tôi chọn

nghiên cứu đề tài Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Thông qua những ý kiến gợi

mở của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát để chỉ ra những đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, ở cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật, những đặc điểm

làm nên sức quyến rũ khó cưỡng của hai tác phẩm Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hai tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng: Và khi tro bụi (Nxb Trẻ, 2006) và Mưa ở kiếp sau (Nxb Hội nhà văn, 2007)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài là những nét riêng độc đáo của nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn

Minh Phượng được thể hiện trong hai tác phẩm Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau Ở đây, nghệ

thuật tiểu thuyết được hiểu ở bình diện rộng của ngữ nghĩa, bao gồm nội dung lẫn hình thức biểu hiện

Trang 12

Ngoài ra, để làm cơ sở cho những đối chiếu nhằm khẳng định đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, chúng tôi có khảo sát thêm một số tác phẩm của Thuận, Haruki Murakami, Sơn Táp, là những tác giả chúng tôi cho rằng có sự tương đồng về nền tảng xã hội, cơ

sở thẩm mĩ cũng như nghệ thuật tiểu thuyết với trường hợp Đoàn Minh Phượng

4 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra những đặc sắc nghệ thuật góp phần làm nên giá trị của tiểu thuyết Đoàn Minh

Phượng, cụ thể là hai tác phẩm Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau Thông qua việc lý giải cội nguồn

của những đặc sắc nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, chỉ ra những nét riêng độc đáo của nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn này so với các cây bút cùng thời

Từ điểm nhìn so sánh nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng với nghệ thuật tiểu thuyết các nhà văn cùng thời đại, bước đầu khái quát những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc:

Tiến hành khảo sát toàn bô ̣ tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng trong tính hệ thống nhằm chỉ ra những yếu tố mang tính ổn định, bền vững, góp phần làm nên phong cách và đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

5.2 Phương pháp phân tích – mô tả:

Luận văn sử du ̣ng phương pháp này để phân tích văn bản một cách chi tiết nhằm khái quát

hóa thành những kết luâ ̣n đáng tin câ ̣y hoặc minh ho ̣a cho các luâ ̣n điểm

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu:

Phương pháp này giúp người viết tìm ra nét tương đồng, di ̣ biê ̣t trong quan niệm nghệ thuật

về con người, cách thức xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật của Đoàn Minh Phượng so với các tác giả khác để chỉ ra nét đặc sắc của nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác Các phương pháp này được sử dụng trong mối quan hệ tương hỗ, bổ sung cho nhau, góp phần làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu của đề tài

6 Bố cục đề tài

Trang 13

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm ba

chương:

Chương 1: Cảm thức về con người cô đơn trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Chương 2: Sắc thái triết lý trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Chương 1 CẢM THỨC VỀ CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG

Trang 14

1.1 Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng trong dòng chảy văn chương Việt Nam

1.1.1 Trong dòng chảy của văn học trong nước những năm đầu thế kỉ XXI

Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, văn học Việt Nam những ăm đầu thế kỉ XXI đang có sự chuyển mình tích cực Tuy chưa có những thành tựu lớn như ở thế kỷ XX nhưng văn

xuôi Việt Nam những năm 2000 đã bắt đầu xuất hiện những tín hiệu đáng mừng với cuộc đổi máu

âm thầm và sự lên tiếng của những cây bút trẻ và mới Kế thừa lớp nhà văn giàu kinh nghiệm như

Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái…

Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè, Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận, Thuận với Paris 11 tháng

8, Nguyễn Đình Tú với Nháp, Vũ Đình Giang với Song song, Đoàn Minh Phượng với Và khi tro bụi v v đã bước đầu tạo nên những cơn dư chấn không nhỏ trong lòng công chúng và thu hút

nhiều ý kiến tranh luận của các nhà nghiên cứu phê bình Sáng tác của các tác giả giai đoạn này không những lật vỡ con người ở hai cực đối lập tốt/xấu, thiện/ác, cao cả/thấp hèn, rồng phượng/rắn rết, phân tích tâm trạng vừa chối bỏ, vừa phải chấp nhận của những cái tôi lưỡng phân mà còn khám phá những cá thể người vụn vỡ, rã rời, cô độc và bất tín ở những bình diện vô thức và trạng huống phi lý Cái nhìn hiện thực được mở rộng, nhãn quan trần thuật trong tiểu thuyết đầu thế kỉ cũng đa diện và khách quan hơn Dẫu chưa đạt đến độ chín mùi toàn diện nhưng sáng tác của những cây bút trẻ đã bước đầu mang lại một diện mạo tươi trẻ và tạo nên bầu không khí sôi động cho nền văn xuôi Việt Nam thập niên đầu tiên của thiên niên kỉ mới

Để thích ứng với hiện thực đa chiều, phức tạp và không ngừng vận động của thời hiện đại,

văn xuôi những năm đầu thế kỉ XXI đã có sự nới rộng về đề tài và dung nạp nhiều luồng tư tưởng mới mẻ Trên cơ sở kế thừa nguyên tắc truyền thống của những thập kỷ truớc, các nhà văn trong

giai đoạn này không ngừng tìm tòi để mở ra những hướng đi khác trước nhằm biểu hiện cuộc sống,

lý giải con người của xã hội hôm nay Nếu văn học hậu đổi mới chứng kiến những nỗ lực vượt qua những lối mòn tư duy nghệ thuật và cách viết cũ thì văn học những năm đầu thiên niên kỉ là cuộc lột xác thực sự của một hệ thống thẩm mĩ đa dạng và tư tưởng nghệ thuật mới mẻ Không tuyên ngôn nào được xác lập, không chủ soái nào lên ngôi, văn xuôi thế kỉ XXI là sự bùng nổ của chủ nghĩa đa trị và sự bất tín vào những giá trị đã tồn tại hàng thế kỉ Sáng tác của các nhà văn giai đoạn này có sự dung hợp giữa các yếu tố của chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa hậu hiện đại Hệ thống đề tài cũng được nới rộng đường biên với sự khám phá con người với những ám ảnh dục vọng, tha hóa giới tính, nỗi cô đơn phi lý và bi kịch của thân phận tha hương Hiện thực đa chiều, tư tưởng đa trị đã tạo cho các nhà văn một môi trường tự do tư duy và sáng tác, mở ra một giai đoạn phong phú đề tài và hệ tư tưởng của văn xuôi Việt Nam

Trang 15

Những thay đổi của hiện thực đời sống, hiện thực tâm hồn con người và thị hiếu văn

chương tất yếu dẫn đến một cuộc thay máu trong văn học Văn xuôi Việt Nam những năm đầu thế

kỉ XXI chứng kiến nhiều nỗ lực cách tân trong việc “kể lại nội dung” (chữ của Hoàng Ngọc Hiến)

và làm mới tiểu thuyết Một trong những khuynh hướng sáng tác mang tính thể nghiệm nhưng đã

đạt được không ít thành tựu là tiểu thuyết ngắn Mở màn là Phạm Thị Hoài với Thiên sứ dài chưa đến 80 trang, trong đó có nhiều trang được bỏ trống; sau đó, Tạ Duy Anh tiếp nối với Thiên thần sám hối dài 120 trang; Mạc Can trình làng Tấm ván phòng dao dày 230 trang; Thuận gây sửng sốt với một loạt Paris 11 tháng 8 dài 287 trang, Phố Tàu dài 227 trang, Vân Vy dài 262 trang và nhiều

trang tiểu thuyết ngắn của tác giả trẻ như Nguyễn Bình Phương, Đoàn Minh Phượng cũng gây xôn xao dư luận bất chấp sự giới hạn của dung lượng tiểu thuyết Mỗi tiểu thuyết có độ dài văn bản trên dưới 200 trang, với cái nhìn nhìn phi đại tự sự và cách viết phi trung tâm, phi cấu trúc, cốt truyện đứt gãy và phân mảnh, giọng văn giàu tính triết lý và thấm đẫm chất thơ có thể xem một sự phản kháng của thể loại trước cách hiểu truyền thống về “máy cái” tiểu thuyết: tiểu thuyết phải là một cuốn biên niên kí của cuộc đời Đồng thời, thông qua hình thức tiểu thuyết ngắn, các nhà tiên phong còn bộc lộ một tư duy nghệ thuật mới trong cảm nghiệm và chuyển tải hiện thực Bằng chính trang viết của mình, họ chứng minh được rằng tham vọng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt được [21] Viết ngắn không phải là non yếu, viết ngắn là một thách thức trong việc biểu hiện tính toàn thể của thế giới trong từng phân mảnh của thực tại [19] Hơn thế nữa, xét ở góc độ người tiếp nhận, sự ra đời của tiểu thuyết ngắn là một yêu cầu mang tính tất yếu của thời đại bởi cuộc sống chuyển dịch không ngừng của thời kĩ nghệ và hậu kĩ nghệ không cho phép độc giả tìm đến văn chương trong trạng thái tĩnh tâm hoàn hảo của sự tiếp nhận Bạn đọc ngày nay có thể đọc sách trên chuyến xe, trong tàu điện ngầm, chen giữa những giờ nghỉ, những khoảng trống, sau những đổ vỡ của cuộc sống di cư Một cuốn tiểu thuyết ngắn (xét và về dung lượng lẫn đặc trưng thi pháp) có thể đáp ứng tối đa nhu cầu thưởng thức và phù hợp với chuẩn mực thẩm mĩ của công chúng hiện đại Dung lượng ngắn và tốc độ xử lý tình tiết nhanh là một trong những thế mạnh giúp tiểu thuyết ngắn bắt kịp sự thay đổi mau lẹ trong đời sống tinh thần, vật chất của nhân loại, chinh phục độc giả và trở thành một thể loại ngày càng phổ biến trong thời đại văn chương thời bùng nổ thông tin

Mặc dù cách viết “lạ hóa” mang tính thể nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI chưa hẳn đã tạo được sự đón nhận hoàn toàn thuận chiều trong lòng người đọc; nhưng, những nỗ lực làm mới tiểu thuyết của các nhà văn, đặc biệt là những cây bút văn xuôi trẻ đã mang lại một luồng sinh khí mới cho đời sống văn chương Việt Và điều này phản ánh đúng một thực tế đáng mừng nhưng cũng cần được lưu ý của văn xuôi Việt Nam mười năm đầu thiên niên kỉ mới: đa phần những đổi mới, cách tân trong giai đoạn này thiên về sáng tạo hình thức, đổi mới thủ pháp,

Trang 16

đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình: “Có thể thấy tư tưởng sáng tạo nghệ thuật trước hết là sáng tạo hình thức hiện đang được coi trọng hơn trước nhiều” [12] Nỗ lực “lạ hóa” đã biến tiểu thuyết thế kỉ XXI trở thành “lãnh địa của trò chơi và những giả thuyết” (M Kundera) [32] Tuy nhiên, chính lối viết thiên về kĩ thuật cũng cảnh báo nguy cơ về một nền văn xuôi chỉ thấy hình thức mà không thấy nội dung, một nền tiểu thuyết thiên về “chủ nghĩa kỉ trị” mà thiếu đi những giá trị nhân sinh ẩn sau bề mặt câu chữ

Trong dòng vận động của văn xuôi đương đại Việt Nam, Đoàn Minh Phượng là một nhà văn không còn trẻ về tuổi đời nhưng khá trẻ về tuổi nghề Mặc dù chỉ mới giới thiệu đến công

chúng hai tác phẩm là Và khi tro bụi (2006) và Mưa ở kiếp sau (2007) nhưng nhà văn trẻ Đoàn

Minh Phượng cũng đã bước đầu xác lập được chỗ đứng riêng trong đời sống văn học nước nhà Sáng tác của Đoàn Minh Phượng chủ yếu tập trung phản ánh thân phận cô đơn, lạc loài của những con người đánh mất cội nguồn và bản thể Đồng thời, thông qua hiện thực đa chiều và số phận của những nhân vật đa nhân cách được mô tả trong tác phẩm của mình, nhà văn cũng đã xới lên những vấn đề cấp bách của con người trong đời sống hiện đại như thái độ vô cảm, bi kịch cam chịu và nỗi hãi sợ khi không thể nhận ra mình Cùng với Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phượng, Thuận… Đoàn Minh Phượng là một trong những cây bút tiểu thuyết ngắn góp phần tạo nên “cuộc cách mạng thể loại” trong văn xuôi Việt Nam Cả hai tiểu thuyết của chị đều ngắn

Và khi tro bụi dài 179 trang, Mưa ở kiếp sau dài hơi hơn với dung lượng 265 trang nhưng cũng

không được xem là dài Mặc dù nhà văn không tự định danh thể loại cho tác phẩm của mình nhưng

về mặt thi pháp thể loại, hai tác phẩm của Đoàn Minh Phượng chứa đựng đầy đủ những đặc điểm của hình thức tiểu thuyết ngắn được Gunners đề xuất như: độ căng và phân mảnh của kết cấu, chất thơ, huyền thoại và màu sắc triết lý

Hình thức ngắn, nhưng cả hai tiểu thuyết đều kể về những câu chuyện dài, những câu chuyện trải từ đời người này sang đời người khác, từ đất nước này sang đất nước khác, hỗn độn nhiều mảnh hiện thực với những màu sắc vừa xung đột vừa hòa dịu trong nhau Để khắc phục sự hạn ngôn của trang viết, Đoàn Minh Phượng đã nới rộng ranh giới của thể loại bằng cách gia tăng thời gian và không gian trần thuật bằng thủ pháp hồi cố, kĩ thuật truyện lồng truyện, đồng hiện của giấc mơ hoặc hình thức tự sự của những lá thư, trang nhật kí Đây là những biểu hiện của thủ pháp cắt dán mang tính liên văn bản trong văn xuôi hậu hiện đại Đặc biệt, với cảm quan nhạy cảm và đôi mắt “có nghề” của một người làm điện ảnh, Đoàn Minh Phượng đã chưng cất những mảng màu hiện thực đắt giá nhất, khéo léo lồng ghép trong những điểm nhìn đa dạng với tiêu cự không ngừng thay đổi để tạo nên những “phân cảnh” lúc dồn nén, khi lan tỏa, lúc căng dồn, khi tràn ngập chất thơ Đồng thời, nhà văn thường đặt mình vào vị trí nhân vật để kể chuyện đời, chuyện người và chuyện mình nên sự xô lệch cấu trúc theo dòng độc thoại nội tâm không gây cho người đọc sự bỡ

Trang 17

ngỡ, hẫng hụt mà ngược lại có khả năng dẫn dụ người đọc bước vào thế giới hoang hoải, cô đơn của một tâm hồn tha hương và xa lạ

Những sáng tạo Đoàn Minh Phượng mang đến cho văn chương Việt Nam đầu thế kỉ XXI chưa hẳn là độc sáng, tuy nhiên, nỗ lực “trở về” của nhà văn xa xứ này đáng được tôn trọng và ghi nhận Bởi trên những trang viết ngắn, nhà văn đã nói được rất nhiều, rất dài và rất sâu những vấn đề nhân sinh như sự phi lý, sự xa lạ, ám ảnh nguồn cội, mặc cảm bản thể… là những vấn đề mà nhân loại vẫn đang hằng ngày không ngừng nỗ lực để tạo nên sự thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

1.1.2 Trong “dòng chảy trầm của văn học xa xứ”

Bất chấp những khoảng cách về mặt địa lý, những khác biệt về quan điểm chính trị hay

một vài rào cản tất yếu, nhất định về văn hóa – ngôn ngữ, văn học hải ngoại, còn gọi là văn học Việt Nam ở nước ngoài hay văn học di dân là một bộ phận không thể tách rời của văn học Việt Nam Bỏ qua cách định danh, chúng ta có thể tạm gói khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại trong

cách hiểu về sáng tác của những nhà văn Việt Nam hiện đang sinh sống (định cư hoặc tạm trú) tại nước ngoài, được viết bằng tiếng Việt hoặc chính thứ quốc ngữ nơi nhà văn đó sinh sống, đề cập đến những vấn đề liên quan đến đất và người Việt Nam hoặc những vấn đề thuộc về con người trong một kỉ nguyên đang “phẳng” ra từng ngày

Văn học của các nhà văn Việt Nam xa xứ, cũng như văn học di dân của các dân tộc khác, theo TS Trần Lê Hoa Tranh, có thể phân thành hai dòng: dòng chính (Mainstream Literature) bao gồm sáng tác của các nhà văn gốc Việt được viết bằng tiếng sở tại và dòng thiểu số (Ethic Literature) bao gồm sáng tác được các tác giả viết bằng tiếng mẹ đẻ [64] Hai “dòng” văn học này chảy song song, độc lập với đối tượng độc giả riêng nhưng tựu trung lại đều tập trung miêu tả hoặc phảng phất đề cập đến những vấn đề về cội nguồn, bản thể (identiy), về quê hương, về sự va đập văn hóa dân tộc mà họ và tâm hồn

họ chính là những tấm gương soi chiếu Những nhà văn thuộc dòng chính bước đầu tạo dựng được chỗ đứng trong nền văn học bản xứ có thể kể đến Monique Truong, Dương Văn Mai Elliot, Lê Thị Diễm Thúy… ở Hoa Kỳ, Linda Lê ở Pháp và Nam Le ở Úc Những tác giả thuộc thế hệ một rưỡi hay thế hệ thứ hai này ít bị mặc cảm quá khứ chi phối nên tư duy của họ thường

Trang 18

mới mẻ, văn chương của họ thường trẻ trung và vì vậy sáng tác của họ cũng

dễ hòa nhập vào dòng chảy văn chương đương đại của mảnh đất đang dung dưỡng họ Tuy nhiên, tác phẩm của họ hầu như là “người lạ” với bạn đọc tiếng Việt Ngoài ra, khi quay về với văn hóa cội nguồn, họ vừa là “người quen”, đồng thời cũng là “người ngoài” Điều này vừa là lợi thế, cũng là thách thức thú vị đối với những nhà văn lưỡng dung hai nền văn hóa này Đối với những tác giả thuộc “dòng thiểu số” như Võ Phiến, Mai Thảo, Thế Uyên, Nguyễn Mộng Giác, Đỗ Kh, viết văn bằng tiếng mẹ đẻ, thành công của họ chủ yếu được công nhận trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại Đối với 80 triệu độc giả trong nước, việc tiếp cận và bình giá tác phẩm của các tác giả này có phần hạn chế và dè dặt nếu không muốn nói là còn quá xa lạ Thảng hoặc, độc giả yêu văn chương và quan tâm đến tình hình văn học nước nhà mới được đón nhận một vài cuốn tiểu thuyết của các nhà văn hải ngoại đáng đọc và “thoát ra được cái không khí, mặt bằng chung của văn học trong nước, thoát ra khỏi giọng điệu quá khích của những hội nhóm ồn ào bên ngoài” [44] Tuy nhiên, cũng cần đánh giá một cách khách quan rằng dẫu số lượng chưa nhiều nhưng khoảng hơn năm năm trở lại đây, sáng tác của các nhà văn Việt Nam xa xứ được in tại quê nhà đã làm xao động không khí có phần trầm lắng của văn học Việt Nam sau những đợt sóng mang tên Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư Với tư cách

“một người trong cuộc”, nhà văn Đỗ Quyên, hiện đang sống và sáng tác tại Canada, nhận định rằng “văn học Việt Nam ở nước ngoài hiện nay cũng không đến nỗi nào, đâu có tẻ nhạt như nhiều người trong cuộc và ngoài cuộc từng bình giá” [52]

Cái tên đầu tiên được độc giả trong nước chú ý là Phạm Hải Anh với tập truyện ngắn Đi hết đường mưa (Nxb Hội Nhà văn) xuất bản năm 2000 và được tặng thưởng giải thưởng của Hội

Nhà văn Việt Nam Phạm Hải Anh sống ở Hà Lan nhưng những trang văn của chị gần gũi và thân

Trang 19

thương với hình ảnh của một Hà Nội, một Việt Nam đậm đặc mùi ký ức Lê Minh Hà trong Những giọt trầm (Nxb Hội Nhà văn), Mai Ninh trong Ảo đăng, Cá Voi trầm sát (Nxb Trẻ) cũng gây xúc

động cho người đọc trong nước khi lột tả được thân phận người Việt trong sự xung khắc, va đập

giữa hai nền văn hóa họ “sinh ra” và “thuộc về” Truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ, Kí sự đi Tây của Đỗ Kh., Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác có một độ lùi nhất định trong việc nhìn nhận hiện thực và đánh giá lịch sử Đặc biệt, sự xuất hiện của Thuận với một loạt tác phẩm như Phố Tàu, Paris 11 tháng 8, T mất tích, Made in Viet Nam, Vân Vy đã tạo nên một cơn dư chấn không nhỏ

trong cộng đồng văn Việt Những giải thưởng của Hội Nhà văn dành cho sáng tác của các nhà văn

xa xứ các năm 2000, 2005, 2007 chính là sự ghi nhận cho những đóng góp của các tác giả đối với

văn học trong nước, đặc biệt về phương diện đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Với Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau, Đoàn Minh Phượng cũng đã mang đến một luồng gió mới cho văn chương nước

nhà Nhà văn thầm thì tự thuật về thân phận lạc loài của những đứa con bị tước bỏ cội nguồn Đoàn Minh Phượng viết về những thân phận bị đánh cắp, bị bỏ quên bằng những câu văn tiếng Việt đẹp mênh mang và buồn hoang hoải Chính lối viết giàu chất thơ, mang đậm hồn cốt phương Đông ấy

đã khiến tác phẩm của chị có một sức hút riêng giữa những ngập ngụa mảnh vỡ, xáo xào vết cắt và rối tung kí hiệu của văn chương thời hậu kĩ nghệ Có thể nói, tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng không gây ấn tượng mạnh cho giới văn chương học thuật bởi những cách tân kĩ thuật táo bạo mà khuấy động tâm can độc giả bởi việc phơi bày tâm trạng bơ vơ gốc cội và nỗi sợ hãi vô danh của con người trong xã hội hiện đại Cùng với những nhà văn cùng thời, Đoàn Minh Phượng đã góp phần làm sôi động dòng trầm văn học Việt xa xứ

Đặc điểm chung dễ nhận thấy ở những sáng tác của những nhà văn xa xứ là sự đồng cảm

về nỗi cô đơn của con người xa xứ, xa xứ cả về mặt không gian lẫn xa xứ về mặt tâm thức, và tâm trạng hoang mang, đổ vỡ khi bị kẹt giữa những va chạm, xung đột về văn hóa Thực ra, cái cô đơn luôn chiếm giữ vị trí trọng yếu trong sáng tạo nghệ thuật Đặc biệt, sau nhiều thập kỉ hòa nhập cái

“riêng tôi” vào dòng “chung ta” của lịch sử dân tộc, các nhà văn Việt Nam dường như chân thành hơn và tha thiết hơn khi quay lại và nhìn sâu vào những vấn đề thuộc về bản thể Những đổ vỡ thời hậu chiến cộng với những “cú sốc” của thời hiện đại đã khiến con người trở thành những cá thể phi liên kết với cộng đồng và cô độc trong tâm hồn mình Có thể nói, tiểu thuyết Việt Nam đương đại

hướng toàn bộ sự quan tâm đến những nhân vật tồn tại như những thực thể dị biệt, trước những áp lực của gia đình và đời sống Cảm thức cô đơn trở thành cảm thức chủ đạo trong sáng tác của các nhà văn đương đại Như một mặc cảm, họ thức nhận về nỗi cô đơn như một phạm trù triết học thuộc về bản thể mà con người không thể chối từ Đặc biệt, cảm thức về con người cô đơn láy lại nhiều lần trong sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại “Phái yếu” là những người chịu nhiều chấn động nhất và với tâm lý dễ cảm biến, họ nhận thức sâu sắc về sự lạc

Trang 20

lõng của thân phận lưu vong và cũng nhạy cảm hơn trước những va đập về văn hóa Phải chăng vì

sự mẫn cảm cố hữu ấy mà các nhà văn nữ cũng là người dễ tìm được ngôn ngữ sẻ chia, giải bày hơn trên những trang văn giàu tình yêu với tiếng mẹ đẻ, mà Đoàn Minh Phượng là một minh chứng tiêu biểu?

1.2 Con người với nỗi cô đơn cội nguồn

Như một định mệnh truyền kiếp, nỗi cô đơn luôn gắn với kiếp phận con người từ khi loài vượn người có ý thức về sự tồn tại Việc con người nguyên thủy tập hợp thành bầy đàn, ngoài ý nghĩa thiêng liêng là duy trì nòi giống thì về bản chất sâu xa là để chống lại nỗi cô đơn Như vậy, xét về căn nguyên, cô đơn không phải đến từ những áp lực xã hội bên ngoài mà đến từ bên trong nguồn sống cơ bản nhất của sự sống con người Cái cô đơn luôn chiếm vị trí trọng yếu trong các sáng tác nghệ thuật, bất kì thuộc giai đoạn hay trường phái nghệ thuật nào Thân phận bé bỏng, nỗi trơ trọi của kiếp người luôn là mối bận tâm của triết học, tôn giáo cũng như văn chương từ mấy ngàn năm qua, từ khi Trần Tử Ngang ngẫm giữa đất trời: “Ai người trước đã qua; Ai người sau

chưa tới; Nghĩ trời đất vô cùng; Một mình một giọt lệ” đến lúc các thi sĩ 1930 – 1945 than khóc

“Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta? Ý của ai trào lên trong đáy óc” (Chế Lan Viên) Bước sang thời đại hậu kĩ nghệ, tâm trạng cô đơn không còn là sự tự vấn của riêng các triết gia hay thi nhân mà đã trở thành một trạng thái tâm lý phổ biến của con người hiện đại Khi mọi nhu cầu thiết yếu đã được xã hội vật chất lấp đầy, con người cảm thấy cô đơn, bấp bênh, không một sự vững định cả về vị trí lẫn tâm hồn Họ “cô đơn trên mạng”, cô đơn trong gia đình, lạc loài giữa đám đông bầy đàn, lạc lối giữa cuộc đời mình Những nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng cũng không thoát khỏi cơn đại dịch mang tên niềm cô độc hiện đại – hậu hiện đại đó Tuy nhiên, nỗi cô đơn của An Mi,

của Micheal, của Marcus (Và khi tro bụi), của mẹ Liên, của Mai, của Chi (Mưa ở kiếp sau) và của

chính Đoàn Minh Phượng không đơn thuần chỉ là sản phẩm khách quan của thời đại mà nó bắt nguồn từ cội rễ sâu thẳm bên trong: họ mang những nỗi mặc cảm bỏ quên gốc rễ và đánh mất cội nguồn

1.2.1 Cội nguồn số phận

Cội nguồn là phần nằm bên ngoài nhưng cũng nằm bên trong mỗi con người bởi không ai

có quyền định đoạt nơi chính mình sẽ được sinh ra, chốn mình thuộc về Cội nguồn không tồn tại hiện hữu nhưng cội nguồn là thứ huyết mạch vô hình chi phối nhân dạng, góp phần định hình nhân tính, xác lập bản sắc nền của mỗi cá nhân và khu biệt “phông” văn hóa gốc của một dân tộc Đó cũng là sợi dây vô cơ gắn kết con người với những cá thể chung quanh, với cộng đồng gia tộc, với không gian văn hóa và không gian sinh tồn Thế nhưng, nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng lại hoàn toàn đánh mất sợi dây gắn kết thiết thân ấy Họ không chỉ là là những tha nhân bị

Trang 21

tách bỏ khỏi quê hương, lưu lạc nơi xứ người mà còn là những số phận đánh mất hoặc bị tước bỏ cội nguồn ngay khi đang sống trên quê hương xứ sở Họ mang tâm trạng cô đơn tuyệt đối của những cái tôi không biết “tôi”, không hiểu “mình”, những cái tôi bị tổn thương bởi xung đột tình thân và kẹt giữa những va đập, tranh chấp văn hóa giữa nơi họ sinh ra/thuộc về và không gian văn hóa của sự hiện tồn Họ vừa sợ hãi, mặc cảm và chối bỏ cội nguồn vừa luôn nhung nhớ và khát

khao tìm lại không gian – thời gian “đã mất” Nỗi cô đơn cội nguồn trở thành một ám ảnh, chi phối

nhận thức, thái độ và hành vi, ứng xử của nhân vật với thế giới chung quanh và tồn tại của chính mình

Nhân vật An Mi trong Và khi tro bụi sống hơn hai mươi năm trong sự tự - lãng quên kí ức

nguồn gốc nhưng đến khi người chồng – sợi dây duy nhất nối kết cô với cuộc sống thực tại – đột ngột qua đời, An Mi bị buộc phải đối mặt với phần ẩn ức bỏ quên ấy An Mi “tưởng” rằng cô đã quên, “nghĩ” rằng cô đã không còn nhớ nhưng sự thật, kí ức cội nguồn vẫn hằn in trên cuộc đời cô, khiến người đàn bà góa bụa ấy một lần nữa phải trốn chạy kí ức của chính mình

An Mi bắt đầu cuộc trốn chạy bằng việc gói ghém kí ức về người chồng đã mất trong những chiếc rương, tách bỏ mọi sự gắn kết thực tại bằng việc bước lên chuyến tàu vô hướng Thế nhưng, ngay từ lúc bắt đầu, cuộc trốn chạy ấy đã chớm màu sắc bất thành, bởi sau hơn hai mươi năm của lần trốn chạy đầu tiên, An Mi vẫn không thể quên được “Ở nơi tôi sinh ra, mầu trắng là mầu tang chứ không phải đen Tôi tưởng đã quên điều này, vậy mà tôi lại nhớ…” [49, tr.8], bởi ba tháng sau cái chết của chồng, “tôi nghĩ tôi không còn nhớ anh”, vậy mà, thảng hoặc An Mi vẫn chạm tay vào nỗi nhớ ấy

An Mi điển hình cho mẫu người sợ hãi và chối bỏ cội nguồn nhưng lại cô độc trong niềm mặc cảm không có nguồn gốc An Mi lơ lửng trong trạng thái không biết mình thuộc về đâu, quê hương mình là chốn nào An Mi bước lên chuyến tàu vô định với mong cầu xóa bỏ mọi mối gắn kết với thực tại Cô từ chối mọi thói quen, từ chối một nơi chốn thuộc về mình bởi cô tin “quê hương là

gì nếu không phải là sự lập lại” [49, tr.12] Cô chọn (hay bị chọn) cho mình một tâm thế sống phủ

định không A cũng không B, không thuộc về nơi này nhưng cũng không biết mình thuộc về nơi nào

khác An Mi đi học thiền ở Ấn Độ, một buổi sáng, tỉnh dậy trong căn phòng trọ xa lạ, cô nhớ lại cô

là khách lạ ở đây Vội vã đáp máy bay về Đức, cô bàng hoàng nhận ra nước Đức cũng không phải

là nhà An Mi không có nơi nào để đi, nơi nào để về, không có một số điện thoại để báo tin Những biến cố xảy ra trong đời như nhắc nhớ An Mi rằng cô không có quê hương, cô là khách lạ ở bất cứ nơi đâu “Con người không có quê hương giống như một hạt cỏ gió đưa đến bám rễ trên vách đá, tôi biết thân phận của mình rất dễ vỡ” [49, tr.118] Thậm chí, câu chuyện An Mi kể cho độc giả trong cuốn tiểu thuyết này cũng không phải là câu chuyện của cô, mà chính cô cũng không thể chắc chắn câu chuyện ấy thuộc về một cá nhân cụ thể, có thực nào!

Trang 22

Đoàn Minh Phượng để cho nhân vật nghĩ nhiều hơn là cảm Chính vì lẽ đó mà nhà văn không miêu tả chi tiết nỗi cô đơn của An Mi, không phân tích tâm lý buồn đau của nhân vật mà để mặc cho tình huống và chi tiết dẫn dắt người đọc lạc vào thế giới cô độc, không người thân, không chốn đến, không nơi về của An Mi Nỗi cô đơn của An Mi không có lời, cũng không có đường nét

mà được viền bằng nỗi cô đơn của những người tồn tại chung quanh cô Nỗi cô đơn đó hiện hữu qua đôi mắt yêu thương và sự tuyệt vọng đến mức phải tự sát của người cha nuôi, được viết thành dòng trong cuốn sổ của Michael (trước khi An Mi định viết câu chuyện của mình), được kể trong dòng nhật kí đứt đoạn và giấc mơ chập chờn về Anita Không trực tiếp miêu tả tâm trạng nhân vật, cũng không để nhân vật tự lên tiếng khóc thương thân phận mình, Đoàn Minh Phượng buộc An Mi phải bóc tách từng lớp tâm hồn mình trong cuộc kiếm tìm từng tầng sự thật của câu chuyện người khác Hay nói cách khác, hành trình An Mi đi tìm bí ẩn về cuộc đời người khác cũng chính là hành trình cô tái hiện từng mảnh vỡ cuộc đời mình, hành trình tìm kiếm sự thật mà bấy lâu nay cô đã xóa nhòa, chôn chặt

Cũng như An Mi, Mai trong Mưa ở kiếp sau không có cội nguồn nhưng nếu An Mi chạy

trốn cội nguồn thì Mai lại khao khát được một lần chạm tay vào vùng kí ức thiêng liêng bị bưng kín

ấy Mai có mẹ nhưng không có cha Mai có tên nhưng không xác định được họ Mai có họ hàng nhưng không có gia tộc Mai có nhà nhưng không có quê hương Mai sinh ra ở Hà Nội nhưng không phải là người Hà Nội Mai có gốc gác Huế nhưng không phải người Huế Mai tìm kiếm tình máu mủ ở Sài Gòn nhưng không thể trở thành đứa con của Sài Gòn Thậm chí Mai là Mai nhưng cũng không phải là Mai Mai không có thứ căn cước gì để cuộc đời nhận diện mình Mai càng tìm kiếm thì dường như gốc rễ càng chối bỏ Mai Bà ngoại mất, Mai lén viết một lá thư cho ông ngoại Mai trông chờ sự hồi âm của ông không bởi mong cầu ông xót thương một chút tình máu mủ mà ấp

ủ một hy vọng bắt được sợi dây cội nguồn mong manh Ông không đáp từ, chiếc nôi cội nguồn bị

thả trôi sông Đối với Mai “Quê hương là một thứ gì rất lạ lùng” [50, tr.24] bởi, sự thật khốc liệt đã

làm cạn kiệt thứ tình yêu mong manh “Đêm đêm tôi sẽ nằm trên con thuyền nhỏ của riêng mình, sẽ

xé nhỏ tình yêu quê hương dòng họ, rồi vứt đi từng mảnh xuống nước và nhìn chúng chìm nhanh trong một dòng mênh mông thăm thẳm” [50, tr.40], bởi Mai “không có cội nguồn nào để quay về, không có chân lý nào để tìm kiếm” [50, tr.147]

Nếu Mai bị bứng khỏi cội nguồn từ khi còn trong trứng nước thì mẹ của Mai, người đàn bà

đã đào mồ chôn cuộc đời mình từ năm hai mươi hai tuổi, có phần đồng cảm với An Mi trong cuộc trốn chạy kí ức Liên chôn chặt kỉ niệm trong niềm im lặng nhưng vẫn mồn một nhớ về nguồn cội với “căn nhà cổ có mười tám cột gỗ lim, mái lợp ngói âm dương”, trước sân có “ một cái bể cạn hình chữ nhật dài hai mươi hai mét để trồng sen” [50, tr.8] Tự tước bỏ kí ức nhưng không thể quên từng chi tiết thuộc về phần đời linh thiêng đó, Liên cũng như An Mi, suốt cuộc đời luôn bị ám ảnh

Trang 23

bởi một quá khứ tưởng chừng như đã “chìm sâu tận đáy” của nỗi buồn nhưng lại luôn hiện hữu một cách rõ ràng và sắc nét

Nỗi cô đơn cội nguồn không những tồn tại như một ám ảnh, chi phối toàn bộ nhận thức,

thái độ và hành vi, ứng xử của nhân vật với thế giới chung quanh và tồn tại của chính mình mà nỗi

cô đơn ấy còn chi phối cách nhà văn xây dựng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Nói cách khác, nỗi cô đơn trở thành một phạm trù trung tâm, vừa quy định ứng xử hành vi của nhân vật, vừa tác động đến ứng xử nghệ thuật của tác giả Đoàn Minh Phượng tuyệt đối hóa hóa tâm trạng cô đơn và mặc cảm thiếu quê hương, phi nguồn gốc của nhân vật, tách rời nhân vật khỏi những khái niệm không gian cụ thể, những mốc thời gian có thật Không gian vô định, thời gian phiếm chỉ được nhà văn sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nhằm gia tăng sự cô đơn và vô hướng của con người khi tách rời khỏi môi trường cội nguồn và môi trường văn hóa

Mưa ở kiếp sau bàng bạc những không gian mang tính kí hiệu hoặc biểu tượng Mai sinh

ra ở Hà Nội nhưng thiếu một địa chỉ ra đời, Mai sống cùng mẹ trong một căn hộ một gian nhưng không rõ ở đâu, Mai trở về Huế nhưng không gắn với một miền quê cụ thể, Mai đến Muôn Hoa nhưng Muôn Hoa là muôn nơi Những không gian gắn liền với Mai đều mang tính phiếm chỉ hoặc được kí hiệu hóa thành: số 17 đường PTK, bệnh viện BM, đường NNK, NHC, Mai sống trong những phòng trọ không tên, những ngôi nhà không thấy số Tác giả đã cố tình xóa đi những dấu vết

để Mai có thể thuộc về Thiếu không gian, Mai không thể xác định được cho mình một quê hương vật chất có thể nhìn, nghe và cảm nhận được Cũng như Mai, không gian từng chứa đựng An Mi trong “Và khi tro bụi” cũng được tác giả ghi nhận một cách hết sức phiếm chỉ “tôi đến từ một đất nước có chiến tranh” [49, tr.37] và “tôi hát trong dàn đồng ca nhà thờ Tôi không nhớ gì về ngôi nhà thờ ấy, ngoại trừ đá và hơi lạnh từ đá” [49, tr.38] Cùng với bút pháp xóa nhòa không gian bằng những kí hiệu, Đoàn Minh Phượng còn vô định hóa không gian tồn tại của nhân vật nhằm khắc họa tâm lý bơ vơ của những đứa con lạc mất cội rễ Chuyến tàu của An Mi tiêu biểu cho kiểu không gian vô định, có cũng là không đó Không gian chuyến tàu không thể cố kết An Mi với bất

kì một địa danh có thực nào Nó nhắc nhớ An Mi rằng quê hương của cô là những trại trẻ mồ côi, rằng cô không có một ngôi nhà để đến hay một quê nhà để trở về Nó khẳng định một sự thật rằng cuộc đời An Mi không có nơi bắt đầu và cô hoàn toàn cô độc giữa cuộc đời này

Không gian và thời gian nghệ thuật là hai phạm trù nghệ thuật có mối quan hệ khăng khít góp phần giúp nhà văn xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Nếu không gian là chiều hiện thực hóa của thời gian thì thời gian chính là thước đo của sự dịch chuyển không gian Trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, tương thích với không gian phi thực (phiếm chỉ, kí hiệu, vô định)

là kiểu thời gian đậm tính phiếm chỉ, bao gồm cả thời gian của truyện (thời gian sự kiện, thời gian nhân vật, thời gian được trần thuật) lẫn thời gian kể truyện (thời gian trần thuật) Tạm bỏ qua việc

Trang 24

phân tích các cấp độ thời gian nghệ thuật, chúng tôi tiến hành khảo sát từng chương của các tác phẩm và nhận thấy rằng những biến cố xảy ra trong đời An Mi, trong đời Mai hoặc những thời điểm kể chuyện đều được lược bỏ những mốc thời gian cụ thể và thay bằng những khoảng thời gian đậm tính phiếm chỉ, ví dụ như: “năm giờ chiều một buổi sáng tháng mười một”, “một chiều thu trời tối sớm và ẩm ướt”, “một năm xưa”, “một buổi chiều gần tối”… Một điểm đáng chú ý nữa

là trong ba chiều thời gian đời người, gần như trong thế giới của nhân vật Đoàn Minh Phượng hoàn toàn mất hút chiều thời gian tương lai Tương lai của An Mi, của ông Kempf dự báo là những cái chết, tương lai của Mai, của Ngọc Lan, của Chi, của Marcus là những khoảng trống mù mịt chờ đợi được lấp đầy bằng nỗi cô đơn, sự bội phản và dối trá

Có thể nói, nỗi cô đơn cội nguồn không những đã xóa bỏ không gian chứa đựng nhân vật

mà mặc cảm ấy còn làm nhòe mờ thời gian nhân vật thuộc về An Mi, Michael, hay Liên “đã sống

ở bên ngoài cuộc đời, vừa sống vừa xóa đi ngày tháng, kí ức… bập bềnh trong không khí, lo sợ sức hút của trái đất làm cho… đau đớn” [49, tr.25] Đánh mất không gian, đánh mất thời gian, chạy trốn quá khứ, nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng dường như vô phương trong việc xác định một cội rễ, vô hướng trong việc xác lập một quê hương, nơi “tro bụi” có thể tìm lại một “kiếp sau” sau bao trầm luân của cuộc đời và số phận

Đoàn Minh Phượng từng băn khoăn “người ta khi bỏ đi cái rễ của mình thì cũng không thật

sự bám rễ ở đâu được”, bởi “mỗi con người có một lịch sử cuộc đời riêng Lịch sử đó tạo nên kỉ niệm, kinh nghiệm và quan niệm cá nhân của họ Theo tôi, nhà văn luôn phải đối diện với quá khứ,

để hiểu nó, để biết mình là ai” [41] Phải chăng vì thế mà những nhân vật của chị cũng luôn luôn tự vấn về cội nguồn thân phận? Cũng như Đoàn Minh Phượng, những thân phận tha hương ấy luôn sợ mình đi lạc, họ sợ mình không có câu chuyện nào để kể, mảnh đất nào để quay về Có lẽ vì ít có nỗi

cô đơn nào lớn hơn nỗi cô đơn khi con người ta tự cắt rời mình khỏi những năm tháng đầu tiên làm người của mình, cắt rời mình khỏi sợi dây nhau nối kết với nguồn cội

1.2.2 Cội nguồn bản thể

Con người là một thực thể phức tạp và đầy bí ẩn Từ Aristote đến các triết gia hiện sinh và hậu hiện đại, từ các thi nhân trung đại đến các nhà thơ mới và hậu đổi mới, từ khi Trang Tử tỉnh giấc mộng điệp và bâng khuâng không rõ ta là bướm hay bướm kia là ta đến lúc Murakami hốt hoảng “Hình ảnh trong tấm gương không phải là tôi Không, ngoại hình thì không khác gì tôi thật… Thế nhưng, chắc chắn không phải là tôi… Mà không, không phải thế, nói cho chính xác thì tất nhiên là tôi rồi Thế nhưng đấy là thứ không phải là tôi” [38], vấn đề bản thể luận, con người và bản chất của tồn tại luôn là mối bận tâm lớn của nhân loại Con người luôn khao khát vượt qua được những giới hạn của ý thức và vô thức để hiểu biết và nhận thức bản thể nhưng thế kỉ XXI đã

chứng minh rằng khát vọng đó là bất khả Nỗi cô đơn khi không thể nắm bắt tôi là tôi hay là cái

Trang 25

bóng của cái bóng tôi đã trở thành sản phẩm đặc trưng cho tâm trạng lạc loài của con người hậu

hiện đại Đoàn Minh Phượng, tất nhiên ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi tâm thế thời đại, nhưng nỗi cô đơn của nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn nữ xa xứ này không chỉ bắt nguồn từ tâm lý khủng hoảng của những công dân toàn cầu thời đại thế giới phẳng mà còn là sản phẩm của sự xung đột văn hóa và những bi kịch về tình yêu, hôn nhân, trách nhiệm, lễ giáo và thân phận người đàn bà Nỗi cô đơn của họ không chỉ do áp lực cuộc sống bên ngoài mang lại mà bản chất là từ cái nguồn sống bên trong Đó là nỗi cô đơn nội tại xuất phát từ khát vọng được thấu hiểu cội nguồn và giá trị,

ý nghĩa của sự tồn tại Nói cách khác, nhà văn không chỉ nhận thức bi kịch cô đơn như một hiện tượng xã hội, một sản phẩm mang tính lịch sử - văn hóa mà nhà văn còn nhìn nhận nỗi cô đơn của con người như một phạm trù triết học, một vấn đề thuộc về bản thể cần được khai vỡ Vì vậy, hành

trình tôi tìm tôi trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng không phải là cuộc hành trình ra đi tìm kiếm

mà là cuộc hành hương trở về tìm lại Đặc điểm này làm nên sự khác biệt của con người cô đơn

trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng so với tiểu thuyết của Thuận hay truyện ngắn của Haruki Murakami

Khám phá nỗi cô đơn của con người ở góc độ bản thể, cả hai tiểu thuyết Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau chủ yếu xoay quanh câu hỏi tôi là ai, tồn tại của tôi khởi nguyên như thế nào? Hai mươi hai năm “mẹ cho mang nặng kiếp người”, Mai trong Mưa ở kiếp sau chông chênh với một

nửa sự thật: có mẹ nhưng không có cha Thiếu đi một nửa sự thật, Mai không biết sự thật mình là

ai Mai mong muốn đi tìm “một sự thật nào đó chưa có lời đang ở trong tôi” [50, tr.28] Nhưng chính Mai, sau bao đớn đau của cuộc hành xác tìm mình, đã bàng hoàng nhận ra rằng Mai không phải là Mai, Mai chưa hề sống cuộc đời của Mai hay nói cách khác, Mai không có một cuộc đời để sống Mai không có cha và Mai cũng không phải là con gái của mẹ Mai là ai? Tiết lộ của dì Lan ở cuối trang sách liệu có phải là sự thật? Dù là Mai tội nghiệp hay Chi đáng thương thì họ cũng không có quê hương Tôi lưu lạc từ ngày mới sinh, lưu lạc với chính mẹ mình, với chính đời mình” [50, tr.202] Phải chăng ý thức lạc loài từ thuở hoài thai ấy đã lưu giữ trong tiềm thức Mai, khiến cô sớm nhận ra rằng có một người khác đang sống trong đời cô hay cô đang sống trong đời một người

khác? “Rồi một hôm tôi có kinh Lần đầu tiên nhìn vệt máu loang xuống đùi, tôi quyết định không

nói điều đó cho ai và trong cùng khoảnh khắc đó, tôi biết có một bên ngoài và một bên trong Bên ngoài là gian phòng, là đám cỏ, là tất cả loài người, là những câu chuyện, những cơn sốt Bên trong chỉ có một mình tôi Nỗi cô đơn làm cho tôi nhận ra mình rõ hơn Nhưng loáng thoáng đâu đó trong mộng mị và trong ý thức, tôi cũng đã nhìn thấy bóng dáng, và hơi hám, của một đứa con gái

khác sống cùng tôi Nó khác tôi” [50, tr.76]

Bên trong Mai có một Mai khác nhưng đó không phải là Mai Đứa con gái ấy là Chi nhưng Chi không có thực “Em chỉ mượn gương mặt, thân người của Mai” [50, tr.152] Hay đứa

Trang 26

con gái đó là Chi và Mai mới chính là điều không thực? Đoàn Minh Phượng dẫn dụ người đọc bước vào mê cung đông đặc nỗi cô đơn cội nguồn của Mai rồi khiến độc giả lạc lối trong mê cung rối rắm ấy bởi nỗi cô đơn kia không hẳn là của Mai và Mai cũng không thực là Mai Nếu nỗi cô đơn cội nguồn còn cho Mai một thân thể để kiếm tìm, một tâm hồn để hờn trách thì nỗi cô đơn bản thể cướp Mai khỏi cuộc đời này Mai chỉ còn là hư vô, Mai không có tro xương, Mai không có nấm

mồ Mai sống cuộc đời của ai? Mai chết cuộc đời của ai? Không còn thấy nước mắt, cũng không còn thấy nỗi đau, tận cùng của nỗi cô đơn và nỗi tuyệt vọng là sự trống rỗng không lời Phủ dầy tác phẩm bằng sự li kì của nhịp truyện trinh thám xen lẫn kiểu truyện tâm lý nhưng đến đỉnh điểm của

sự gây cấn, tác giả lại khiến độc giả hẫng hụt bởi sự thật vô ngôn ấy Chỉ có bảy dòng sự thật trả lời cho một sự dối trá hai mươi hai năm Nhưng sự thật đó có phải là sự thật không, Đoàn Minh Phượng không trả lời Mai cũng không còn đủ sức để đi tìm câu trả lời Và có lẽ cũng không ai đủ quyền năng để cho Mai một câu trả lời Mai là ai? Chi là ai? Phải chăng từ lúc hoài sinh, nỗi cô đơn bản thể đã vận vào những thân phận bé bỏng lạc loài ấy, để đến tận cùng, con người cũng không thể biết sự thật mình là ai giữa mênh mông tro bụi cõi người ta?

Không chỉ nhân vật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng bị câu hỏi bản thể bủa vây

mà cả sự vật có thật lẫn những ý niệm trừu tượng cũng không tìm được cho mình căn nguyên, nguồn gốc của sự tồn tại Cha bỏ Mai, bỏ Chi vì lý do gì, đến khi câu chuyện khép lại, câu trả lời vẫn chỉ là sự im lặng của mẹ và cha, là kí ức không hoàn chỉnh của dì Lan và những giả định đầy huyễn hoặc của Mai Chưa có một sự lý giải cạn cùng cho sự chối bỏ ấy Chồng An Mi mất vì xe rơi xuống núi nhưng “anh ấy đi đâu qua đoạn đường ấy vào ngày ấy, giờ ấy, không một ai biết

Anh không có công việc gì cần làm hoặc người quen ở vùng con đường ấy dẫn tới” [49, tr.7] Cái

chết của chồng An Mi hoàn toàn không thể cắt nghĩa Tương tự, cha nuôi của An Mi tự tử bằng súng lục vào năm cô 13 tuổi vì một căn nguyên hết sức mơ hồ “vào năm đó, nỗi buồn đến Ông không hiểu nó và không biết chứa nó ở đâu” [49, tr.100] Những câu chuyện, những cái chết trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng xảy đến một cách phi lý, và nỗi buồn trong những tác phẩm của nhà văn cũng không tìm được căn cước An Mi nhiều lần thấy lòng buồn nhưng không thể kiểm soát được nỗi buồn “Tôi thấy buồn Cảm xúc này là của tôi đây sao?” [49, tr.63] Phải chăng bởi chủ thể chứa đựng những sự vật và ý niệm ấy bơ vơ cội nguồn nên sự sống, tình yêu, nỗi buồn và cái chết của họ cũng không có một nguyên do xác tín và cụ thể? Đúng như E Mounier từng nhận định

“Con người chỉ là nạn nhân của một cuộc vong thân nhất thời Cuộc vong thân nhất thời đó làm cho con người vì tội lỗi mà lìa xa cuộc sống sáng tạo toàn bị và lìa xa chính bản thể của mình” [36]

Không chỉ băn khoăn về nguồn cội của sự tồn tại, nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng còn hoài nghi về ý nghĩa và giá trị của sự tồn tại An Mi trong Và khi tro bụi không có một

Trang 27

lý do cho sự tồn tại của mình Cô xa lạ với tình yêu, xa lạ với thế giới con người, cô không tìm đâu được lực hút trái đất cho riêng mình cũng không có một lực hút để níu giữ bên mình tình thương và

sự gắn kết gia đình An Mi lưu lạc ở một đất nước xa lạ, trong những gia đình không thân quen, cô sống ở những trại trẻ mồ côi, những trại thiếu niên không nhà, sống cuộc đời không có tên, một cuộc đời không muốn ai lưu nhớ Cô tiết chế nỗi buồn, dè sẻn tình yêu tự dành cho mình, khổ hạnh xóa đi từng ngày kí ức Sống ở nước Đức hai mươi năm nhưng An Mi không phải người Đức, cũng không biết quê hương mình ở đâu Hai năm đi tìm kiếm một câu chuyện, sáu lần An Mi bị truy vấn

“cô là ai” cũng là sáu lần An Mi không có gì ngoài sự im lặng để đáp từ Bởi chính An Mi cũng chơ vơ không định nghĩa được cô là ai, cô đến từ đâu, cô sống vì mục đích gì Thậm chí, sau khi chồng chết, cô dành ba tháng để xóa bỏ kí ức trước khi kết thúc đời mình nhưng cho dù chỉ là ba tháng thì cô cũng không thể định nghĩa được phần đời ít ỏi ấy “Tôi hiểu rằng người ta chết được yên lành vì đã sống xong phần đời dành cho mình, chứ không vì chết rồi mà linh hồn tiếp tục sống Nhưng cái phần đời của tôi, làm sao tôi hiểu nó là gì để có thể sống cho hết kiếp, trong ba tháng” [49, tr.17] Cô sống đến năm 13 tuổi nhờ vào tình yêu của người cha nuôi; tồn tại đến lúc chồng qua đời nhờ tình yêu của chồng; sau khi chồng chết, cô (bị) sống nhờ vào câu chuyện của người khác, cô gỡ nút thắt đời mình bằng bi kịch cuộc đời người khác, mượn tâm hồn người khác để nhìn nhận cuộc đời chính mình

Chìm đắm trong nỗi cô đơn bản thể, con người trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng luôn khao khát được vượt qua ranh giới của sự vô minh, khát khao được thức nhận, được khẳng định bản thể, thậm chí bằng cách tìm đến cái chết như một hành vi định nghĩa bản thân Trên 185 trang

truyện được trần thuật từ góc nhìn của An Mi, tuyệt nhiên độc giả không tìm thấy một dòng miêu tả nào về đời sống và chân lý sống của An Mi mà chỉ thấy bàng bạc nỗi cô đơn của một người không

có quá khứ, không có hiện tại và cũng không có tương lai An Mi quyết định chọn cái chết như một hành vi để định nghĩa mình Trong một cuộc đời đầy rẫy những điều không thể lý giải thì cái chết cũng chỉ được hiểu như một biến cố cần phải có để nhắc nhớ con người ta về việc mình đã từng tồn tại “Cái chết là một dấu chấm hết Dấu chấm hết nào cũng muốn mang ý nghĩa của cái câu đi trước

đó Tôi muốn biết mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng ai đã chết” [49, tr.12] Tuy nhiên, cái chết trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng không hẳn là một trạng huống hiện sinh bình đẳng với

ăn, uống, “buồn nôn” (Sartre) hay “buồn ngủ” (Murakami) mà là một biến cố tất yếu xảy đến khi con người đánh mất hoàn toàn ý nghĩa của sự tồn tại Và một khi tồn tại là phi lý thì cái chết trở thành một hành vi có lý để con người khẳng định bản lai diện mục của mình trước khi trở về cùng

tro bụi Vì lẽ đó mà An Mi ra đi, hay nói chính xác hơn là trở về để một lần có thật trước khi đặt

dấu chấm hết cho số phận mình: “Tôi phải đi tìm tôi, ghi chép mình ra trên giấy Tôi phải nhìn thấy mình, đọc được mình Tôi phải có thật để cái chết của tôi có thật” [49, tr.25] Nỗi cô đơn của nhân

Trang 28

vật An Mi được tác giả để cho chính nhân vật tự luận với một giọng điệu khách quan và đậm chất triết lý, khiến nỗi cô đơn ấy không còn là của riêng An Mi mà trở thành nỗi cô đơn phổ quát cho những thân phận không gia đình, thiếu quê hương và đánh mất/ chối bỏ bản thể Đó cũng chính là tâm trạng của Anita – một phân thân của An Mi, của Marcus – một bản sao của An Mi và của Michael – một biến thể của An Mi Anita không phải là người Đức, quê hương cô ở Nga, máu chảy trong người cô là dòng máu Do Thái Cô có chồng, có con nhưng cô không là vợ, là mẹ Cô có một gia đình nhưng cô không biết làm ấm nó Anita chỉ cảm nhận đầy đủ về mình khi đầu ngón tay chạm vào sợi dây đàn, cô chỉ sống với cảm xúc của những nốt nhạc Cô và chồng sống cùng nhà nhưng sống ở hai nơi khác nhau Họ tồn tại ở hai thế giới không đồng chất Anita không thuộc về thế giới này, cô cô đơn trong nỗi khát khao được sống đúng với bản ngã, cô cô đơn trên những phím đàn, tuyệt vọng trong nỗ lực cảm nhận thân thể, ý niệm và cảm xúc có thực của mình Nỗi cô đơn của Anita không có lời nhưng sức tàn phá đủ mạnh để Anita phải lựa chọn sự ra đi để tìm lại mình Anita, dường như là nhân vật duy nhất trong câu chuyện buồn thảm có ý thức phá bỏ không gian tù túng vây hãm mình Nhưng sự ra đi của cô bất thành Cũng như cha nuôi của An Mi, cái chết trở thành lựa chọn duy nhất để đổi chuộc lấy sự lạc loài

Dường như, càng nỗ lực để định nghĩa bản thể, nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng càng chìm sâu vào trạng thái cô đơn - bi kịch và nỗi đau tinh thần lớn nhất của con người

Họ không thể định nghĩa được bản thân, leo lắt tồn tại như những cá thể vụn vỡ và phi liên kết Họ bất lực trong khát khao định giá bản thân và khẳng định giá trị bản thể “Mỗi người có một câu

chuyện chết không nói được” [50, tr.205] Mỗi cá nhân đắm chìm trong những lòng sông buồn lặng của riêng mình Mai, Liên, Lan đều hóa thạch những mảnh sự thật cho riêng mình Dẫu khát cầu phần sự thật còn bỏ ngỏ nhưng họ không đủ dũng khí vượt qua sự ngăn cách để thực sự tìm thấy nhau Họ bất lực trong việc kết nối bản thân với cuộc đời Nỗi cô đơn khi hằng ngày vẫn nhìn thấy nhau nhưng không thể chạm vào nhau là kiểu tâm lý phổ quát của con người hiện đại Sống trong một thế giới phẳng, thu hẹp ranh giới không gian, xóa nhòa khoảng cách thời gian nhưng con người hiện đại cô đơn trong gia đình mình, cô đơn trong dòng giống mình và cô đơn trong chính tâm hồn mình Có một lần trên chuyến tàu bất định, An Mi ngỡ rằng mình “chạm” được vào một người đàn ông xa lạ mang cái bóng của chồng Nhưng dẫu cô đang chìm trong trạng thái gần như vô thức, hành động ấy cũng bất thành Tình huống truyện mang hơi hướm phi lý ấy gợi nhớ đến những

trạng huống tình dục giữa Wanatebe với Naoko, với Midori và Keiro trong Rừng Nauy của Haruki

Murakami, một thứ tình dục có thực nhưng đồng thời cũng mang tính biểu tượng Sex là nỗ lực

tuyệt vọng với mong muốn xóa bỏ sự cô đơn bởi nhiều lúc con người “thèm mùi người ấm áp” [37,

tr.40] Sex là hành vi mang ý nghĩa giao tiếp hơn là ý nghĩa tính giao Sex cho phép con người ta cảm giác được sống, cảm giác còn được níu giữ, còn được sẻ chia bởi ít nhất một tâm hồn Thế

Trang 29

nhưng, sự chung đụng về mặt thể xác không thể cứu vãn nổi những tâm hồn mang nợ “trăm năm cô

đơn” Đến tận cùng, dẫu là một một “công cụ” giao tiếp tối cao thì với con người hiện đại, sex vẫn

là một nỗ lực giao tiếp bất thành Con người không tìm được tiếng nói chung kể cả khi hai bản thể

đã hòa làm một Những cuộc tình chóng vánh của Nagasawa, của Wanatabe không thể kết nối họ với thế giới Tình dục cũng không thể cứu giữ được tâm hồn cô độc của Naoko Sự bế tắc đã khiến

nỗ lực được trở lại cõi người trở nên bất thành và tuyệt vọng Đó cũng chính là tâm trạng của An

Mi trong tình huống sex bất thành Thông qua sự bất lực tình dục của nhân vật, nhà văn đã khắc họa được tâm trạng lạc loài và chạm đến cái giếng sâu cô đơn tận cùng của con người

1.3 Con người với bi kịch “kiếp người”

Đạo Phật sử dụng hai khái niệm thời gian là kiếp (kalpa) để chỉ đơn vị tính thời gian cực đại và satna để chỉ đơn vị tính thời gian cực tiểu Nếu khái niệm satna thường được chỉ sự biến đổi mau lẹ, vô thường của sự vật, hiện tượng trong thế giới thì kiếp lại được chia thành tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp với khoảng thời gian dài hàng tỉ năm Phải chăng xuất phát từ ý nghĩa kiếp là thời gian dài và gồm nhiều giai đoạn đó mà người Việt cũng quan niệm kiếp là khoảng thời gian đời người, đồng thời cũng chỉ “thân phận của con người, coi như một sự định mệnh, một sự đày ải” [47, tr.506]? Kiếp người phải trải qua sinh – lão – bệnh – tử, trải qua đủ hỉ - nộ - ái - ố, thất tình lục dục, chịu đủ mọi nạn khổ để mong cầu một sự giải thoát ở một kiếp khác Dường như đã mang phận người, con người phải chấp nhận kiếp nợ mà định mệnh đã dành cho họ

Khảo sát hệ thống các nhân vật trong hai tiểu thuyết Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau,

chúng tôi nhận thấy hầu hết (gần như tuyệt đối) các nhân vật, kể cả tuyến nhân vật chính lẫn tuyến nhân vật phụ, đều khổ nhọc gánh trên lưng những cây thập tự có đánh dấu bi kịch Nhân vật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, dù có dấn thân hay có cuộc sống yên ổn, dù chịu sự chi phối của tác nhân đời sống hay được cuộc đời chiều chuộng cũng đều rơi vào bi kịch Họ vừa là nạn nhân của bi kịch tha hương vừa là tác nhân tạo nên những nỗi cam chịu, bi kịch đánh mất mình Có thể nói, thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng được xây dựng dựa trên tấn bi kịch của kiếp người

và cuộc hành trình đi tìm sự giải thoát cho những thân phận và tâm hồn mong manh ấy

1.3.1 Bi kịch tha hương

Dù ý thức hay vô thức, tâm trạng tha hương vẫn ít nhiều chi phối sáng tác của các nhà văn

xa xứ Đoàn Minh Phượng từng tâm sự rằng “Ám ảnh về cội nguồn là nỗi ám ảnh chung của người

Việt xa xứ” [41] Nhà văn cũng khẳng định “Tôi bắt đầu từ sự trở về” [41] Tuy nhiên, khác với

sáng tác của một số nhà văn cùng dòng như Thuận, Lê Ngọc Mai hay Phạm Hải Anh, tác phẩm của chị không nhắc đến tên một vùng đất, hạn chế đề cập đến hai chữ quê hương, thế nhưng, bàng bạc

trong Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau là nỗi bi thương của những tâm hồn lạc loài vì quê hương từ

Trang 30

li, cội nguồn phân cách Bi kịch tha hương – vong thân trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng câm lặng nhưng dữ dội, chi phối toàn bộ cuộc đời của từng nhân vật trong tác phẩm của nhà văn

Bi kịch tha hương, trước hết, là bi kịch của những cá thể sống cách biệt với quê hương xứ

sở Họ bị tổn thương bởi một quá khứ mất mát và đau đáu về một quê hương có thật đã từng tồn tại

trong tâm hồn Họ tồn tại trong không gian – thời gian hiện tại nhưng vẫn luôn ám ảnh về một

không gian – thời gian đã mất Và khi tro bụi là câu chuyện của một phụ nữ bị tách bỏ khỏi cội

nguồn xứ sở Chính xác hơn, đó là câu chuyện của một bé gái đến từ một đất nước có chiến tranh Sau một trận bom, đứa bé được đưa đến nước Đức Kể từ đây, em không có nhà, em không còn quê hương, em không còn kí ức, em sống trong những trại trẻ mồ côi, sống trong các gia đình cha mẹ tạm, sống không tình yêu, không niềm tin An Mi sống một cuộc đời gần như vô tính bởi thân phận lạc loài không cho An Mi một nhân thân, khiến cô không thể hiểu tường tận mình là ai, mình đến

từ đâu Cội nguồn của An Mi chỉ vỏn vẹn trong hai câu “Tôi là một đứa trẻ mồ côi…tôi đến từ một

đất nước có chiến tranh” [49, tr.37] An Mi không thuộc về mảnh đất này, cũng không biết mình

thuộc về nơi nào khác An Mi không có tình yêu với nơi mình được nuôi lớn An Mi thậm chí không có cả nỗi nhớ, không có cả khát khao trở về nơi mình được sinh ra Nếu có tình yêu, có nỗi nhớ về một vùng đất, có lẽ An Mi đã có một chốn để linh hồn có chỗ nương náu sau những biến cố,

va chạm trong đời Toàn bộ tác phẩm là chuỗi bi kịch của An Mi: một thân phận tha hương phải chịu đựng những xung đột về cội nguồn, văn hóa, phân vân giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, sống dựa vào cuộc đời người khác, lấy kí ức của người khác để chiêm nghiệm cuộc đời mình Trong chuỗi bi kịch đó, bi kịch chi phối mọi bi kịch khác chính là bi kịch đánh mất cội rễ Cắt bỏ cội rễ thì An Mi không bám rễ vào đâu được Cô sống một cuộc đời cam chịu, vô nghĩa, chỉ chờ cái chết để hiểu được mình từng sống cuộc đời của ai

Tha hương trở thành một ẩn ức, dẫu An Mi cố gắng để quên, vẫn trở thành nỗi mặc cảm đeo đuổi và chi phối cuộc đời cô Cũng như định mệnh đã sắp đặt, Ơ-đip có chạy trốn cũng không thoát khỏi bi kịch, An Mi có chạy trốn, đến tận cùng cũng không thể xóa bỏ phần ẩn ức tha hương, xóa bỏ tiếng gọi của đứa em gái bị bỏ rơi trong bom đạn chiến tranh đã hóa thạch thành tiềm thức Đoàn Minh Phượng kết thúc chuỗi bi kịch của An Mi bằng một bi kịch khác: bi kịch khi An Mi thức nhận được bi kịch của đời mình Chất chồng bi kịch bằng bi kịch hay cũng chính là cách nhà văn sử dụng bi kịch để hóa giải bi kịch? Bởi chỉ khi nhận thức trọn vẹn về một tội lỗi, một nỗi đau

có thực thì An Mi mới có cơ hội được sống như một con người bình thường với đầy đủ những giác quan và cảm nhận về cuộc đời “Tôi có nỗi buồn nhưng không có sự sống, trong khi người ta phải

sống đã rồi mới có buồn vui” [49, tr.22]

Và khi tro bụi được kết cấu theo kiểu vòng tròn nhằm khắc sâu bi kịch tha hương của kiếp

người Bắt đầu bằng bi kịch thì chỉ có thể kết thúc bằng bi kịch Kiểu kết cấu này được nhà văn

Trang 31

triển khai song song trên cả hai tầng truyện (theo Bảng 1.1), tạo nên một chuỗi bi kịch nối kết bi kịch trong cuộc đời nhân vật An Mi Theo Nguyễn Thanh Tú, bi kịch hóa trần thuật được nhà văn

sử dụng như một phương thức tự sự góp phần nhấn mạnh chủ đề về thân phận tha hương, bi kịch vong thân của người tứ cố vô thân nơi đất khách và “quê hương cứu vớt con người” cũng như góp phần làm tăng hiệu quả trần thuật của tác phẩm [49, tr.476]

Bảng 1.1: Sơ đồ tuyến truyện trong Và khi tro bụi

Và khi tro bụi không chỉ là tấn bi kịch tha hương của cá nhân An Mi mà dường như đó là

bi kịch phổ quát cho mọi kiếp người bơ vơ nguồn cội Anita, Marcus và Michael đều là những hiện thân của kiếp người tha hương – vong thân Bi kịch tha hương – vong thân khiến Anita không đủ năng lượng sưởi ấm gia đình, Michael phân vân trốn chạy quá khứ và không có “tuổi thơ nào cho Marcus” Bi kịch tha hương cũng chính là tác nhân gây nên nỗi cô đơn cội nguồn và mặc cảm đánh mất bản thể của các nhân vật trong tác phẩm

Nếu Và khi tro bụi là tấn bi kịch của những tha nhân bị tách khỏi cội nguồn, xứ sở thì nhân vật trong Mưa ở kiếp sau thấm thía tấn bi kịch tha hương ngay trên quê hương của mình, trong gia tộc và gia đình mình, tha hương trong kiếp sống của mình Con người không tìm được sự đồng cảm

từ những con người gợi nhớ xứ sở và dòng họ, không tìm được sự sẻ chia từ những số phận đồng dạng chung quanh Mai là đứa con chửa hoang, là lỗi lầm của đời mẹ, là nỗi nhục của dòng họ, vì vậy, lẽ tất yếu, Mai bị quê hương chối bỏ, dòng tộc rẻ khinh Mai từng viết thư cho ông ngoại để mong cầu chút tình cội nguồn nhưng không nhận được sự hồi âm Mai tìm đến cha với hy vọng mong manh về một tình thương và mái ấm nhưng nhận lại sự ghẻ lạnh và vô tâm tàn bạo Mai về với mẹ nhưng mẹ bỏ Mai ra đi Mai trốn vào lòng mình nhưng lòng Mai nào phải là Mai Cuộc đời của Mai sinh ra đã là mở đầu cho chuỗi bi kịch tha hương, kiếp sống của Mai cũng là vay mượn

Trang 32

Mai tha hương ngay trên chính ngôi nhà, trong gia đình, tha hương trên mảnh đất sinh ra mình và tha hương ngay trong chính cuộc đời ngỡ như là của mình Quê hương với Mai là điều gì đấy rất xa

lạ và khó hiểu “Họ (mẹ và dì Lan – người viết) đang lang thang qua những nơi chốn tôi không

biết… Mẹ tôi bỏ quê nhà đã lâu Đi mãi, đi mãi không bao giờ quay đầu lại Mẹ đi hai mươi năm tưởng đã ngút xa, ai ngờ chớp mắt một cái mẹ đã về chỗ cũ” [50, tr.24] Cái “chỗ cũ” ấy Mai không thuộc về Ngay cả lúc tâm hồn cùng cực, Mai về với Huế, nhưng Huế của Mai không có “ngôi nhà

gỗ mười tám cột gỗ lim”, “mái lợp ngói âm dương”, không có chiếc “bể cạn trồng sen”, không có

“hàng sầu đâu dọc con đường ra bến đò”, không có “tà áo dài trắng đi qua cầu”… như mẹ của Mai, như dì của Mai đã từng có Quê hương với Mai là điều gì muôn trùng, xa ngái và không thực Mẹ của Mai xa quê nhưng vẫn còn quê, mẹ của Mai bị gia đình chối bỏ nhưng vẫn còn vành khăn tang cho bà ngoại, còn Mai thì không có quê để làm một người tha hương đúng nghĩa, không có cha để một ngày có thể đội vành khăn tang Bi kịch không có quê hương, không có nguồn gốc khiến Mai lạc loài trong chính cuộc đời mình, lạc loài trong kiếp sống vay mượn của mình

1.3.2 Bi kịch cam chịu

Càng khát khao được thức nhận và khám phá bản thân, dường như con người trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng càng bất lực trong việc định nghĩa mình Họ buộc phải chọn lựa hoặc từ

bỏ hoặc cam chịu Số đông nhân vật chấp nhận tồn tại theo thói quen, hành xử theo quán tính và

cảm xúc theo một vài quy chuẩn Bi kịch cam chịu trở thành một hành vi ứng xử phổ quát trong xã hội hiện đại Tuy nhiên, như một sự đồng điệu vô thức, nhà văn cảm nhận bi kịch cam chịu thường

hằn in trên thân phận người phụ nữ Bức chân dung cam chịu ấy hiện hình ở một An Mi dè sẻn tình yêu, tằn tiện năng lượng và bất cần sự sống, ở một Liên âm thầm như “là một chiếc bóng… Mẹ

không dám có thực trong cuộc đời mẹ” [50, tr.209], ở một Ngọc Lan héo hon trong vòng vây bổn

phận và cuộc hôn nhân chênh lệch Họ không dám một lần quyết liệt cho sự sống, họ không dám yêu, không dám hạnh phúc An Mi tránh ngủ đêm ở các khách sạn, không bao giờ uống hết một li rượu ngon; Liên chưa bao giờ dám có một giấc ngủ sâu, dám để tóc rơi xuống vai, giấu đi vẻ yêu kiều, đẹp đẽ của một thời thiếu nữ, Ngọc Lan không dám đi quá buổi chiều, không dám thừa nhận rằng mình từng lầm lạc… Đoàn Minh Phượng không đi sâu miêu tả chân dung hay khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật, đặc biệt là tuyến nhân vật phụ, nhưng thông qua những nét chấm phá giàu sức gợi, những quan sát chọn lọc và đậm chất điện ảnh, nhà văn đã khắc họa được bi kịch cam chịu của từng phận người Họ sống những cuộc đời khác nhau, trải nghiệm những số phận khác nhau nhưng cùng mang một bi kịch giống nhau: tấn bi bịch cam chịu, khốc liệt nhưng không lời! Thực ra, kể từ

truyện ngắn Tội lỗi hồn nhiên đề cập đến số phận người phụ nữ trong xã hội hậu hiện đại, tác phẩm điện ảnh Hạt mưa rơi bao lâu kể về thân phận câm lặng của người phụ nữ An Nam không chân dung cách đây hai thiên niên kỉ đến Và khi tro bụi thấm thía bi kịch tha hương của một phụ nữ và

Trang 33

gần nhất là Mưa ở kiếp sau mong manh phận người, Đoàn Minh Phượng dường như đã có một mối

dây đồng cảm và một sự ưu ái đặc biệt khi dành nhiều bút lực cho thân phận người đàn bà xứ Việt Những tên sách, tên phim thật lạ, cứ gờn gợn buồn rầu, chất chứa những dựa cảm bất an và đích thực rất đàn bà Phải chăng thiên tính nữ và những trải nghiệm của một cuộc đời tha hương đã khiến Đoàn Minh Phượng nhạy cảm và thấu hiểu hơn những “phận đàn bà” mà Nguyễn Du đã từng đúc kết rằng “lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”?

Bi kịch cam chịu không những ám ảnh thân phận người phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ

An Nam, mà trong xã hội hiện đại, khi con người ngỡ đã trở thành chúa tể với đầy đủ quyền năng chi phối cuộc sống, tấn bi kịch ấy càng trở thành mối đe dọa khốc liệt hơn bao giờ hết Từ ngôi cao sáng tạo, con người bị đẩy xuống vị trí nô lệ của chính guồng quay cuộc sống kĩ nghệ hiện đại, nô

lệ của những sản phẩm công nghiệp, những dây chuyền máy móc do chính mình tạo ra Họ bị buộc phải lựa chọn một cuộc sống an toàn phụ thuộc, một cuộc sống thanh bình chán ngắt giả tạo hoặc, rơi vào trạng thái trầm cảm, tồn tại một cách phi lý, bất tín vào những giá trị họ từng tôn sùng Đó

là đặc trưng của kiểu bi kịch hậu hiện đại mà nạn nhân của nó là những con người sau thế chiến, trong đó, gia đình ông Kempf, cha nuôi của An Mi, mẹ nuôi của An Mi, cô Sophie, gia đình hàng xóm ông Kempf đều là hiện thân của một nước Đức rã rời với niềm tin và những giá trị đã sụp đổ Văn minh của họ dựng trên lòng yêu sự thật và trọng công bằng Chiến tranh đã đem lại những đổ

vỡ quá sâu cho những giá trị đó Sau chiến tranh họ chỉ muốn quên và có một cuộc sống được bảo đảm về vật chất lẫn tình cảm Họ chấp nhận một cuộc sống cân bằng không có trọng lực của đúng

và sai, hạnh phúc và đau khổ Cha nuôi của An Mi chịu đựng để tồn tại, an phận để bình yên Ông chọn một cuộc sống ổn định nhưng đơn điệu và nhàm chán Ông yêu Bach và Bethoven nhưng không đủ dũng khí để sống chết cùng tình yêu âm nhạc trong sáng và thuần túy Ông bán thứ âm nhạc ê a cho nhà thờ để kiếm cơm, đóng khung tình yêu với những nốt nhạc trong những buổi chiều chủ nhật vô cảm Ông chọn một người vợ đảm đang, chung thủy nhưng không biết buồn và không hiểu tình yêu “Ông là thứ âm nhạc không có âm thanh” [50, tr.96] Thế nhưng trái tim không đủ sức chịu đựng, một ngày kia ông tự tử Cái chết là nỗ lực cuối cùng để ông kết thúc tấn bi kịch cam chịu của đời mình, kết thúc chuỗi ngày cô đơn cùng một tình yêu giả mạo với thiên Chúa, một sự thuần phục giả tạo với tình yêu gia đình

Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ dũng khí như cha nuôi của An Mi, dám chọn cái chết

để phân định ranh giới giữa tồn tại và sống Người đàn ông đi toa hạng nhất cùng An Mi muốn chết nhưng không biết sau cái chết là khổ đau hay hạnh phúc nên vẫn tiếp tục sống Ông không đủ can đảm để chấm dứt cuộc sống đủ đầy nhưng cô đơn, giàu có nhưng bất hạnh “Ông không có đủ thông tin về nơi đến, nên không bắt đầu chuyến đi Dù chán đời, ông ta đâu bao giờ muốn chết, ông chỉ nghĩ tới một chọn lựa nữa thêm vào những chọn lựa ông có trên đời” [49, tr.20] Sự an toàn và

Trang 34

lòng can đảm là hai thứ khó đi cùng với nhau Tình yêu cần lòng can đảm Sau quá nhiều đổ vỡ, con người hiện đại đánh đổi tình yêu lấy sự an toàn Họ chấp nhận bi kịch cam chịu để sống một cuộc đời bình yên Họ chấp nhận lằn ranh “giữa lưng chừng bổn phận và sự lệ thuộc có một sự thuần phục dịu dàng rất giống như tình yêu” [49, tr.100] để tồn tại Họ chấp nhận những thứ giống

sự thật thay cho sự thật, những điều giống hạnh phúc thay cho hạnh phúc Đó là cuộc đời của mẹ nuôi An Mi, cuộc đời của Sophie, của những người hàng xóm ông Kempf Họ nương nhờ cuộc sống vào những nề nếp êm dịu và buồn tẻ, đánh lừa giác quan bằng thứ hương thơm dịu nhẹ của sự bao dung giả tạo, tráo đổi sự thật bằng triết lý diệt khổ mơ hồ Họ tự bao bọc mình trong một thế giới không có tình yêu, không có khổ đau và sự thù hận Đó cũng là tấn bi bịch mà cha của Mai và

vợ của ông đã chủ động chọn cho mình để trốn tránh mọi đổ vỡ, để ngụy tạo nên một cuộc sống đủ đầy, tròn trịa Tuy nhiên, sống trong lớp vỏ nhung êm ái quá lâu, dường như con người đã quen đồng nhất bản thân với sự cam chịu ngọt ngào Con người trở thành những rô-bốt hưởng thụ theo một thói quen, hạnh phúc theo một kiểu lập trình và cảm xúc cũng theo một kiểu quân bình nguyên tắc “Cha là người yêu nguyên tắc, yêu trật tự, và rất biết chọn trật tự nào có lợi cho ông để ông yêu Trong thứ trật tự đó, phần bánh của ông và những người như ông trong xã hội quá lớn: quyền lực, nhà cửa, tài sản… cho nên sự hưởng thụ của ông cũng phải lớn, chứ đó không phải là đam mê Ông uống rượu chứ không nghiện, chơi gái chứ không yêu Nếu có đam mê, có thể ông sẽ vô độ hơn, nhưng dễ tha thứ hơn Nhưng ở đây chỉ có sự tính toán chặt chẽ, để đảm bảo được cả hai phần: phần bánh của một người thành công mẫu mực và phần bánh của con thú bên trong con người đó”

[49, tr.176-177]

Thái độ vô cảm và lối sống lợi ích, thiếu nhiệt tình, phi nhân tính của cha Mai là kiểu sống phổ biến trong xã hội hưởng thụ, nơi con người cam chịu mọi nguyên tắc, chấp hành mọi chuẩn mực để sống một đời sống no ấm vừa đủ, an toàn vừa đủ An phận không đồng hành cùng tình yêu

An phận và cam chịu chỉ là sự mở đầu cho tấn bi kịch đánh mất bản thể và bản án chung thân trong nỗi cô đơn giữa chính cuộc đời mình

1.3.3 Bi kịch đánh mất cuộc đời mình

Sống trong cái bóng của cuộc đời mình quá lâu, con người trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng dường như đã quen với việc mang mặt nạ Họ hủy đi cái ngã, đảm nhận an toàn những vai trò mà họ chọn hoặc cuộc đời cấp cho họ Họ chấp nhận đánh đổi hoặc vô thức đánh mất cuộc đời mình Bi kịch ấy gây nên những hệ lụy âm thầm nhưng khủng khiếp

Bi kịch đánh mất cuộc đời mình hiện hình trước hết ở những con người chủ động chối bỏ cuộc đời thật để đổi lấy cuộc sống an toàn giả tạo Tuy nhiên, sự an toàn đó cũng chứa đựng những mầm mống bi kịch Đó là cái chết của cha nuôi An Mi, cái chết vì “ông đã sống quá lâu cuộc

Trang 35

đời của một người khác, không phải của mình” [49, tr.100] Đó là An Mi không có hay không dám

sống một cuộc đời thực Cô bám víu vào chồng, bám víu vào ánh mắt của người cha nuôi, nương nhờ câu chuyện của Michael, câu chuyện của Anita, chiếc đàn hồ cầm để mưu cầu một sự tồn tại có thật cho cuộc đời mình Thậm chí, có lúc, An Mi chấp nhận đánh đổi thân phận để làm cô gái bé nhỏ Anna Michaela Wienandski, hay làm Anita, làm người thân của Marcus, chấp nhận lơ lửng giữa sự thật để tồn tại Cô đi lạc vào cuộc đời của những người khác, thở bằng nhịp đập trái tim người khác, nuôi thân thể mình bằng kí ức của người khác An Mi như cái cây sống bám, đánh mất những ràng buộc mơ hồ ấy, cô không còn sức lực để tồn tại “Tôi không còn cuốn sổ của Michael, không còn lời thú tội của ông Kempf, tôi chỉ còn lại sự thật của riêng tôi, tôi biết rằng nó đúng,

nhưng nó mong manh, họ chạm vào, nó sẽ vỡ” [49, tr.151] Michael cũng là một biến thể khác của

An Mi Michael chối bỏ mình là một phần của sự thật để sống một cuộc đời giả yên bình Michael chạy trốn một phần bản thể trong mình để thoát khỏi nỗi cô đơn tiền kiếp Tồn tại của Michael, suy cho cùng chỉ là một vùng kí ức ngụy tạo Chối bỏ bi kịch bản thân từng thuộc về, Michael đánh đổi bản nguyên để tìm kiếm một chỗ trú ẩn an toàn cho tâm hồn bất toàn và đổ vỡ của mình

Xuyên suốt những sáng tác Đoàn Minh Phượng là nỗi cô đơn và sự cam chịu của những số

phận đánh mất mình Mưa ở kiếp sau là thế giới của những cuộc đời bị vay mượn hoặc đánh cắp

Dòng tộc bên ngoại Mai sống quá lâu trong ánh hào quang xế chiều của một vương triều đã sụp đổ

Họ sống cho niềm tin, cho gia giáo, lễ tục hơn là cuộc đời của những đứa con, đứa cháu Họ là hiện thân của danh giá, của đạo đức hơn là những cuộc đời có thực Nỗi buồn tiền kiếp, sự câm lặng đáng nguyền rủa của những người đàn bà trong dòng giống ấy, phải chăng cũng xuất phát từ chính

bi kịch họ không được phép, không muốn sống đúng, sống thực với cuộc đời mình?

Trong số những cuộc đời bị số phận tước đoạt, bi kịch của người phụ nữ bao giờ cũng thấm thía và cay đắng nhất Nhân vật nữ trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng dường như sinh ra để gánh lấy bi bịch mà số phận dành cho mình Họ hy sinh cuộc đời vì dòng tộc, chôn chặt tuổi xuân vì gia đình và con cái Hy sinh là đức tính cao cả của người phụ nữ Việt Nam, thế nhưng, để đổi lấy sự vinh danh đó, những người phụ nữ Việt đã lầm lũi trả giá bằng chính cuộc đời họ Mẹ của Mai chỉ

là một trong số những số phận không chân dung, những cuộc đời không tiếng nói: “Mẹ hy sinh hết cho tôi, và sự hy sinh đó, sự chờ đợi đó làm cho tôi oằn xuống gãy đôi Nó xảy ra rồi mẹ vẫn không biết tôi đã gãy đôi Mẹ vẫn không hiểu cuộc đời như mẹ chưa từng hiểu nó một lần nào” [50, tr.209]

Bên cạnh những kiếp người chủ động chấp nhận sự đánh đổi, còn có những cuộc đời bị đánh tráo, sống nhờ, sống mượn Những đứa con gái ở Muôn Hoa, là Anh Đào, là Kiều Lan, là Trà

My không được sống cuộc đời mình Chúng mang những cái tên giả, chúng hóa thành tượng, hóa

Trang 36

thành cái Đẹp, thành trò tiêu khiển… nhưng tuyệt nhiên không có trong cuộc đời thực “Chúng mồ côi vì chúng ra khỏi nhà và quên mất nhà mình ở đâu, chứ không phải vì chúng không có mẹ… Chúng cũng không thể yêu cha mẹ anh chị, vì tự cho mình là những đứa mồ côi, đường về nhà nằm

mờ mịt trong kí ức về một kiếp trước” [50, tr.419-420] Sử dụng phép ẩn dụ và biểu tượng, phải chăng nhà văn muốn ngụ ý rằng Muôn Hoa cũng chính là Muôn Nơi? Một khi cuộc đời còn tồn tại

sự dối trá và lối hưởng thụ phi nhân thì lúc đó còn những kiếp người bị đánh tráo, những thân phận

bị xô dạt không thể sống cuộc đời của chính mình

Trong số những cuộc đời bị tráo đổi, bi kịch của Mai trong “Mưa ở kiếp sau” có lẽ là bi

kịch thảm khốc nhất bởi Mai không đánh mất mà bị cướp mất cuộc đời Mai sinh ra đã là hiện thân

của bi kịch Mai có mẹ mà không cha, có tên mà không họ, có quê mà không được phép về Mai phải sống cho sai lầm của mẹ và tội lỗi của cha Mai sống cho sự cứu rỗi linh hồn mẹ và nỗi hoài nghi của chính mình Với bi kịch thứ nhất này, dẫu không trọn vẹn, Mai vẫn còn Mai, vẫn còn một nửa sự thật, một nửa cuộc đời Bi kịch bên trong của Mai mới thực sự cướp Mai khỏi cuộc đời ngỡ

là của mình Mai là đứa trẻ năm xưa được dì Lan ẵm đến cho cha và đã bị bóp chết Sự thực Mai không phải là con gái mẹ Liên Sự thực Mai là Chi Sự thực Mai con gái của dì Lan Mai chưa hề

và không hề có thực trong cuộc đời Mai Những khổ đau và ước vọng đày đọa thể xác cũng không phải là của Mai Mai sống nhờ trong đời một kẻ khác, hai mươi hai năm tồn tại của Mai hóa ra chỉ

là một ý niệm, một sự tráo đổi oan nghiệt của số phận Mai chỉ có tên còn thể xác và cuộc đời là của người khác Mai hoàn toàn bị số phận cướp đi cuộc đời cô đã từng đau đớn thuộc về

Một đặc điểm cần chú ý là bi kịch không chỉ được nhà văn miêu tả như một nhân tố thuộc

về nội dung của tác phẩm mà bi kịch hóa số phận nhân vật cũng là một phương thức trần thuật, giúp nhà văn có điều kiện lật vỡ tâm hồn con người, khám phá nỗi cô đơn của kiếp người ở những trạng thái sâu kín và cùng kiệt nhất Đoàn Minh Phượng đã phác họa được những bi kịch của con người thành những hình hài cụ thể và trên hành trình tìm kiếm bản thể con người, nhà văn đã xác định được rằng cô đơn và bi kịch là hai mặt sự tồn tại, chi phối vận mệnh, đời sống và sự tồn vong của con người

Trang 37

Chương 2 SẮC THÁI TRIẾT LÝ TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG

2.1 Hệ thống biểu tượng mang đậm tính triết lý

Biểu tượng là cái đại diện cho một ý tưởng, thực thể vật chất hoặc một quá trình Mục đích của một biểu tượng là để truyền thông điệp ý nghĩa Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt (để tạo nên thông điệp) không tùy tiện hay xa lạ mà có sự đồng chất “Biểu tượng… rộng hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tính tự sinh… Biểu tượng thực sự có tính cách tân Nó không dừng lại ở chỗ tạo nên những cộng hưởng, nó giục gọi một sự biến đổi trong chiều sâu…” [13, tr.XIX] Cách hiểu trên về biểu tượng tương đối đồng nhất với quan niệm của Jung về mẫu gốc “một khả năng hình thức tái tạo lại được những ý tưởng giống nhau hoặc ít ra tương tự nhau” [13, tr.XXI] Như vậy, cũng như mẫu gốc, biểu tượng cũng có khả năng tái sinh và thừa kế Từ ý nghĩa nguyên thủy ban đầu, biểu tượng có thể sinh tạo nhiều ý nghĩa phái sinh khác nhau, tùy thuộc vào sự biến đổi về văn hóa, tôn giáo, lịch

sử và nhận thức cộng đồng Đặc biệt, khi đi vào văn học, căn cứ vào văn cảnh, ngữ cảnh và dụng ý nghệ thuật của nhà văn, biểu tượng được “cấp” cho những đời sống mới với những ý nghĩa khác nhau Những lớp nghĩa phái sinh đó tạo ra một hệ thống biểu tượng mang thông điệp khác biệt nhưng đồng chất về ý nghĩa, góp phần phản ánh tư tưởng nghệ thuật và phong cách tác giả Đồng thời, sự hiện diện với tần số cao của những lớp biểu tượng đồng chất cũng tạo ra những ám ảnh triền miên, những suy tư không dứt và âm hưởng triết lý đậm chất trữ tình cho các tác phẩm văn học

Trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, người đọc thường bắt gặp những biểu tượng như nước, mưa, dòng sông, tro bụi… Những biểu tượng này tượng trưng cho những sắc thái triết lý, những cung bậc suy tư của nhà văn về con người, về sự sống, sự hủy diệt và khát vọng thanh tẩy, gột rửa

2.1.1 Lớp biểu tượng về sự sống – cái chết

Sự sống là ưu tư ngàn đời của con người, là trăn trở muôn thuở của các nhà văn Trong tiểu

thuyết Đoàn Minh Phượng, âm vọng triết lý về sự sống được gửi gắm qua biểu tượng nước

Trang 38

Nước là một trong những biểu tượng mang tính mẫu gốc của nhân loại Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới khẳng định “Những ý nghĩa tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề chiếm

ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh…” [13, tr.709], trong đó, nguồn sống mang tính chất nghĩa gốc Ý nghĩa nước chính là nguồn sống được khẳng định trong tôn giáo, văn hóa cũng như cách ứng xử của con người với nguồn nước “Trong kinh Vệ-đà, dòng nước mang lại

sự sống, sức mạnh và sự thanh khiết về mặt tinh thần cũng như về mặt thể xác… Tại châu Á, nước

là dạng thức của thực thể của thế giới, là nguồn gốc sự sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng sinh sôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh” [13, tr.710] Trong tâm thức người Việt – cư dân của nền nông nghiệp lúa nước,

nước hay đi kèm đất, tạo nên cặp phạm trù âm-dương, mẹ-cha Trong thần thoại sử thi Đẻ đất đẻ nước, nước được xem là sự khởi đầu, là nguồn sống của vũ trụ nhưng cũng là sự tàn phá bạo liệt có khả năng xóa sạch mọi tồn tại trên mặt đất Cơn đại hồng thủy trong huyền thoại Quả bầu mẹ và sự giận giữ của nước trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh là minh chứng cho sức mạnh hủy diệt

cũng như năng lực tái sinh của nước Người dân miền núi Việt Nam xem nước là nước của trời làm

là thóc lúa và họ rất coi trọng chức năng tạo nguồn sống, ban tái sinh của nước, xem nước là vị thuốc và là đồ uống trường sinh bất tử [13, tr.710] Như vậy, trong văn hóa người Việt, nước được xem là nguồn gốc của vạn vật, nước có khả năng tái sinh nhưng nước cũng có chức năng hủy diệt Theo chúng tôi, xét về bản chất, hủy diệt cũng chính là tái tạo và đó cũng là một hình thức di biến của sự gột rửa và thanh tẩy – một ý nghĩa phái sinh từ nghĩa nguyên bản nước như là biểu tượng của nguồn sống

Với nét nghĩa nguyên thủy, biểu tượng nước trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng âm vọng quan niệm triết lý của nhà văn về sự sống Biểu tượng nước thường xuất hiện trong những tình huống chênh vênh, trong những giờ khắc nhân vật đối mặt với sự lựa chọn và bừng ngộ chân lý Trên lằn ranh mong manh ấy, trong sự đấu tranh giữa sống và chết, nhân vật thường tìm đến nước Phải chăng hành động tìm đến nước chính là biểu hiện của khát vọng tìm lại sự sống? Sự sống quý giá nhưng chỉ khi đặt mình trên ranh giới cái chết, chân lý ấy mới được xác nhận Và để xác nhận

chân lý, con người phải trả giá bằng hành trình thức nhận và đặt cược bằng cái chết Trong Và khi tro bụi, nếu hầu như đa phần hình ảnh nước xuất hiện như một nhân tố bên ngoài nhân vật thì đặc

biệt, có hai lần nhà văn để nhân vật chủ động tìm đến nước: “Tôi khát nước” [49, tr.23] và tôi cần nước “Tôi dốc hết 20 viên thuốc vào lòng bàn tay Nước trong cái chai cuối cùng rót ra chỉ còn được nửa ly Tôi chia những viên thuốc uống ra, uống với ba ngụm nước Trong lúc đang trôi trong cả một dòng nước, lạ lùng thay, tôi thấy miệng tôi khô đắng và tôi cần một ly nước” [49, tr.179-185] Lần thứ nhất là khi nhân vật được đặt trong tình huống ái ân bất thành với người đàn ông mang bóng dáng của chồng mình Ngay trước khoảnh khắc nhân vật ngỡ đã quên lãng tình

Trang 39

yêu, quên lãng nỗi đau thì cô nghĩ tới chồng và không thể chìm vào cuộc ái ân với người lạ Ngay sau tình huống đó, cô thấy cổ họng rát khô và cần nước Lần thứ hai, khi nhân vật quyết định chấm dứt cuộc đời không hơi thở của mình và đã một nửa chìm vào cõi chết thì kí ức cô chợt sống lại hình ảnh đứa em gái, bừng sáng trong trí nhớ bội phản phần sự thật mà cô đã chôn chặt như một ẩn

ức tội lỗi Trên ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, kí ức và hiện tại ấy, một lần nữa cô cần nước: “Nếu uống được một ly nước trong lúc này, tôi sẽ sống” [49, tr.185] Trong cả hai tình huống, nhà văn đều đặt nhân vật trên lằn ranh của sự hủy diệt và tái sinh, để cho nhân vật chạm ngõ quá khứ, cảm nhận rõ ràng nỗi đau và lỗi lầm mình mắc phạm và tìm đến nước như kẻ bộ hành trên

sa mạc tìm đến ốc đảo mong cầu nguồn sống và sự tái sinh Nước xuất hiện như một nhân tố mang chức năng gột bỏ nghiệp chướng, thực nghiệm vai trò cung cấp nguồn sống và tái sinh con người từ trong cõi tối tăm của tâm hồn Đề cao giá trị của sự sống, ý nghĩa triết lý thoát thai từ nét nghĩa nguyên sinh của biểu tượng nước là sự kết tinh của tinh thần nhân đạo và yêu thương con người

Hình ảnh nước với ý nghĩa biểu tượng cho sự sống còn hàm chứa triết lý về tình thương và

sự chở che Trong giấc mơ của An Mi, Anita hiện hình với vai trò MẸ thiêng liêng xóa bỏ kí ức đau buồn cho Marcus “Tôi cố nhớ lại giấc ngủ mới qua, cố nhớ lại những giấc mơ trong đó Anita không về Hình như trong một giấc mơ rất ngắn, tôi thấy chị rửa mặt cho Marcus, chị vuốt mặt em

bằng một bàn tay đầy nước” [49, tr.161] hoặc khi An Mi đã đến bên bờ vực của cái chết và thấy lòng êm đềm như dòng nước “Tôi đang trôi gần đến cái chết, đang lênh đênh trên dòng nước chảy xuống triền núi Một chút nữa, nơi mặt đất dừng lại, dòng nước sẽ rơi xuống vực và bên dưới là

thung lũng nằm trong bóng tối mênh mang” [49, tr.184]

Triết lý nước là nguồn sống, nước mang tính mẫu, hàm chứa sự che chở, tình thương và sự

bao dung không chỉ thấm đẫm trong Và khi tro bụi mà còn thao thiết thành dòng trong Mưa ở kiếp sau với kí ức chòng chành của Mai về một tuổi thơ thiếu vắng tình yêu của cha và trống vắng tình

thương của cội nguồn: “Tôi nằm trên giường, tưởng tượng mình nằm trên ván một con thuyền nhỏ,

chung quanh tôi là nước, chung quanh tôi vắng lặng, tôi có cả một dòng sông cho riêng mình Trên

mảnh thuyền ấy tôi nằm ngủ… Trên mảnh truyền ấy tôi nằm thức…” [50, tr.6] Mai lớn lên trên dòng sông tưởng tượng, nương mình trong tình yêu tưởng tượng, bao bọc mình bằng sự bình an tưởng tượng Dòng sông là một biến thể của nước, một trong những mẫu gốc của văn hóa nhân loại, biểu trưng cho tính nữ, tính mẹ, biểu tượng nước khơi dậy những mơ mộng vĩnh cửu về sự che chở, ấm áp và thuần khiết [68] Nhà văn xây dựng thế giới nhân vật giữa bốn bề nước, mênh mông sông, phải chăng nhằm bày tỏ khát vọng của nhân vật về tình thương và sự che chở? Con người là những sinh linh nhỏ bé cần được định nghĩa bằng cội nguồn, gia đình và cộng đồng; vì vậy, khát vọng yêu thương và được yêu thương, gắn kết và được gắn kết là một khát vọng chân thành và

Trang 40

chính đáng Tuy nhiên, khát vọng của Mai được xây đắp trên những điều không thực Tình yêu thương giả tạo thì không mang lại hạnh phúc vững bền Mai chỉ có một “mảnh thuyền” “chông chênh” Tình yêu thương là điều Mai tự huyễn để duy trì sự tồn tại của mình, vì vậy, khi tình yêu thương bị chối bỏ, nước không còn mang chức năng nguồn sống yêu thương mà trở thành sự hủy diệt, tàn phá: “Đêm đêm tôi sẽ lặng lẽ đem thả trôi sông từng mảnh tình yêu dành cho Huế (…) xé

nhỏ tình yêu quê hương dòng họ, rồi vứt đi từng mảnh xuống nước và nhìn chúng chìm nhanh trong một dòng mênh mông thăm thẳm” [50, tr.13] Đoàn Minh Phượng mượn biểu tượng nước

như một ẩn ý nghệ thuật để bày tỏ suy tư của mình về nguồn sống Với chị, nguồn cội và yêu thương là căn nguyên của nguồn sống và ngược lại, đánh mất nguồn cội, xóa bỏ yêu thương đồng nghĩa với việc con người tự hủy đi sự sống, sự bình an trong tâm hồn Đồng thời, hành động giả mạo nguồn cội, giả mạo yêu thương cũng ẩn chứa mầm mống của sự hủy diệt Chỉ có nguồn cội khôi nguyên và yêu thương thuần khiết mới đủ khả năng mang lại sự sống và thực hiện chức năng che chở con người khỏi cái ác và tai ương

Sự sống không tồn tại độc lập mà luôn song hành cùng một nửa bí mật của nó là cái chết Trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, triết lý về cái chết và sự hủy diệt được nhà văn tượng trưng hóa trong biểu tượng về tro bụi “Tro về bản chất là vết tích còn lại sau khi ngọn lửa thiêu đốt đã tắt Nếu xét từ quan điểm lấy con người làm trung tâm thì đó là cái chết, cái di hài còn lại sau khi lửa sống đã tắt trong cơ thể” [13, tr.948] Về phương diện tinh thần, giá trị còn lại ấy bằng không

và như thế tro tượng trưng cho tính vô giá trị, gắn liền với cuộc sống con người do tính mỏng manh phù du của nó “Bụi là biểu tượng của sức mạnh sáng thế được ví như hạt giống, như phấn hoa nhưng cát bụi cũng là dấu hiệu của sự chết, của sự khóc thương” [13, tr.110] Người Do Thái cổ rắc bụi lên đầu tỏ dấu hiệu để tang Thiên chúa giáo và Phật giáo đều quan niệm con người sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về cát bụi Như vậy, tro bụi tượng trưng cho thân phận mong manh của con người, cho cái chết, sự hủy diệt, sự quay về và cũng là sự sám hối

Hình ảnh tro bụi được lặp lại mười lần trong Và khi tro bụi gợi liên tưởng đến triết lý: cái

chết chính là mặt còn lại của sự sống Cái chết là một sự tồn tại phi lý nhưng mang tính tất yếu Chồng An Mi mất trong một đám sương, cái còn lại của một cuộc đời từng sống là mớ tro mà An

Mi không biết “bao nhiêu năm là thời gian cần thiết để lưu giữ tên họ của một người, để nói rằng người đó đã có một thời có mặt trên mặt đất, dưới bầu trời này” [49, tr.8] Sau cái chết thực thể của chồng là cái chết lâm sàng của An Mi “Tôi không còn gì, hồn tôi chỉ là một đám tro” [49, tr.11] Có

thể nói, Và khi tro bụi được cấu trúc bằng hệ thống những cái chết: chồng An Mi chết trong một

đám sương mù vào một chiều đông mờ ảo, cha nuôi An Mi chết khi nỗi buồn vượt quá sự chịu đựng của chức phận, Anita chết vì không thể nhốt mình trong sự tù hãm của nỗi cô đơn Đó còn là

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w