1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên trường đại học đông á đà nẵng giai đoạn 2013 – 2020

144 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 853,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Nếu đánh giá được những bất cập về NVSP của đội ngũ GV và của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên và xác lập, thực hiện được các biện pháp tổ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

LÊ NGỌC VIỆT LINH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO

ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2013 - 2020

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN MINH TIẾN

Đà Nẵng - Năm 2014

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

LÊ NGỌC VIỆT LINH

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5

1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHÍNH 9

1.2.1 Quản lý và quản lý nhà trường 9

1.2.2 Nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm 16

1.3 YÊU CẦU VỀ NVSP ĐỐI VỚI ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC 20

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục đại học 20

1.3.2 Yêu cầu về NVSP đối với ĐNGV trường đại học 21

1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BDNVSP CHO ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC 21

1.4.1 Nội dung BDNVSP cho ĐNGV trường ĐH 21

1.4.2 Quản lý hoạt động BDNVSP cho ĐNGV trường ĐH 26

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác BDNVSP cho ĐNGV Trường ĐH 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Trang 4

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI

HỌC ĐÔNG Á 37

2.1.1 Lịch sử hình thành 37

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trường 37

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Trường 38

2.1.4 Về quy mô đào tạo 40

2.2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT THỰC TRẠNG 41

2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BDNVSP CỦA ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á 41

2.3.1 Tổng quan về ĐNGV trường ĐHĐA 41

2.3.2 Thực trạng nhận thức của CBQL và GV đối với công tác BDNVSP cho ĐNGV 42

2.3.3 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và GV về nội dung nghiệp vụ sư phạm 43

2.3.4 Thực trạng về NVSP của ĐNGV trường ĐHĐA 45

2.3.5 Thực trạng công tác quản lý hoạt độngBDNVSP cho ĐNGV 52

2.3.6 Thực trạng công tác QL việc kiểm tra, đánh giá kết quả của hoạt động BD 64

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG 66

2.4.1 Ưu điểm 66

2.4.2 Hạn chế 67

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á 69

Trang 5

của Trường Đại Học Đông Á 69 3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 69 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính hệ thống của các biện pháp 70 3.2 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BDNVSP CHO ĐNGV TRƯỜNG ĐHĐA 72 3.2.1 Nâng cao nhận thức của các lực lượng tham gia công tác BDNVSP cho ĐNGV của Trường ĐHĐA về sự cần thiết của công tác BDNVSP 72 3.2.2 Quản lý có hiệu quả nội dung, chương trình, kế hoạch BDNVSP cho ĐNGV của Trường Đại học Đông Á 75 3.2.3 Nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp dạy học cho GV giảng dạy tại các lớp BDNVSP cho ĐNGV Trường Đại học Đông Á 80 3.2.4 Tăng cường quản lý công tác tự BDNVSP cho ĐNGV Trường

Đại học Đông Á 83

3.2.5 Thực hiện đa dạng hóa các hình thức tổ chức BDNVSP cho

ĐNGV Trường Đại học Đông Á 87

3.2.6 Cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả BDNVSP cho

ĐNGV Trường Đại học Đông Á 91

3.2.7 Tổ chức các điều kiện hỗ trợ công tác BDVNSP cho ĐNGV 94 3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP 97 3.4 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT, TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 97

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 101 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102

Trang 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

Ký hiệu Nghĩa đầy đủ

ĐHĐA Đại học Đông Á

ĐNGV Đội ngũ giảng viên

Trang 8

56

Bảng 2.10 Đánh giá thực trạng quản lý xây dựng ND, CT

Trang 9

ĐNGV

Bảng 2.13

Đánh giá của CBQL và GV Trường về mức độ cần thiết

của những hoạt động nhằm đáp ứng công tác BDNVSP cho ĐNGV của Trường

59

Bảng 2.14 Đánh giá của GV về nhu cầu của bản thân trong hoạt

động tự BDNVSP cho ĐNGV 61

Bảng 2.15

Đánh giá của CBQL và GV về vấn đề xây dựng kế

hoạch, tổ chức thực hiện kế họach BDNVSP cho

Trang 10

Số hiệu

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về công tác cán bộ đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Mọi thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong” trích tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 1 ngày 20/1/2010 Như vậy, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội luôn luôn là yếu

tố quyết định đến mọi hoạt động xã hội

Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực trong đó có giáo dục và đào tạo Giáo dục không chỉ là sản phẩm của xã hội mà đã trở thành nhân tố tích cực, là động lực phát triển của xã hội Phát triển giáo dục là yếu tố quyết định thành công, là con

đường để đi tắt đón đầu trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là

nền tảng cho mỗi đất nước đào tạo ra nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trở thành những tài sản vô giá của dân tộc và nhân loại Mục tiêu của giáo dục hiện đại không những đào tạo những con người phát triển toàn diện, mà còn

có khả năng thích ứng với sự thay đổi như vũ bão của khoa học và công nghệ,

đủ sức cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc tế

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của WTO do đó đặt ra yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao là điều chúng ta phải chấp nhận Thách thức này đặt ra yêu cầu cao hơn cho các trường đại học, cao đẳng của chúng ta Thách thức này sẽ được xoay chuyển thành cơ hội nếu chúng ta có một quyết tâm lớn, một chiến lược phù hợp cho sự phát triển của giáo dục, sự phát triển của đội ngũ giảng viên Để đáp ứng yêu cầu đó của giáo dục, Ban Bí thư Trung Ương Đảng ban hành chỉ thị 40/CT – TƯ ngày 15/6/2004 và trong đề

án thực hiện nghị quyết số 09/2005/ QĐ – TTg ngày 11/2/2005 của Thủ

tướng chính phủ về ngành giáo dục đã xác định mục tiêu chung “Xây dựng

Trang 12

đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo chất

lượng Đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nhằm

đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” [1]

Trường Đại học Đông Á ra đời ngày 21/05/2009 theo QĐ 641/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, tính đến nay Trường mới tròn 5 năm Đó là một khoảng thời gian rất ngắn so với lịch sử phát triển một trường Đại học vì vậy ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ giảng viên của Trường đều đang nỗ lực rất nhiều vì sự tiến lên của Nhà trường

Trong chiến lược phát triển của Trường, có 3 lĩnh vực được đặc biệt quan tâm, đó là nâng cao chất lượng và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý; phát triển chất lượng và trình độ đội ngũ giảng viên; đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị Trong 3 lĩnh vực đó thì phát triển đội ngũ giảng viên là khâu then chốt nhất, quyết định đến chất lượng và thương hiệu của Nhà trường trong xã hội Những năm qua Nhà trường đã có những thành tựu trong việc phát triển đội ngũ giảng viên, tuy nhiên trình độ nghiệp vụ sư phạm của

ĐNGV và việc quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho ĐNGV Trường còn

nhiều bất cập Vì vậy tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi

dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên trường Đại học Đông Á

Đà Nẵngs giai đoạn 2013 – 2020” như góp một ý kiến để Trường Đại học

Đông Á ngày càng phát triển mạnh xứng đáng với sự tín nhiệm và lựa chọn

của người học và xã hội

2 Mục đích nghiên cứu

Xác lập các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên của Trường

Đại học Đông Á

Trang 13

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên trường đại học

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đông Á

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đánh giá được những bất cập về NVSP của đội ngũ GV và của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên và xác lập, thực hiện

được các biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

cho đội ngũ giảng viên một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm của Nhà trường thì có thể nâng cao được chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đông Á

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm cho đội ngũ giảng viên ở trường đại học

5.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng về nghiệp vụ sư

phạm cho đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Đông Á

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư

phạm cho đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Đông Á

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng những phương pháp như: phân tích, tổng hợp, khái quát,… để làm sáng tỏ lý luận của đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát;

Trang 14

- Điều tra bằng phiếu hỏi;

- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn;

- Nghiên cứu tài liệu, báo cáo;

- Phương pháp chuyên gia nhằm khảo sát thực trạng về NVSP của đội ngũ GV và quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho đội ngũ GV Trường Đại học Đông Á

6.3 Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý kết quả nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư

phạm của đội ngũ giảng viên Đại học Đông Á trong giai đoạn 2009 - 2013, đề

ra một số biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên trường Đại học Đông Á trong giai đoạn 2013 – 2020

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn

được cấu trúc thành ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho

đội ngũ giảng viên trường đại học

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đông Á

Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp

vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đông Á

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG

NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO ĐNGV

TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp GD - ĐT chính là ĐNGV Sự phát triển của GD - ĐT ngày nay đòi hỏi người GV cần có nhiều năng lực, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại Để có được ĐNGV đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD hiện nay, vấn đề đào tạo, BDGV là hết sức cần thiết và quan trọng Vấn đề này đã được các nhà khoa học GD, các nhà QLGD quan tâm nghiên cứu

Từ cuối thế kỷ XIV, Comenxki (1592-1670) đã đưa ra các nguyên tắc dạy học như trực quan, nhất quán, đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống,…Để đảm bảo những nguyên tắc đó yêu cầu GV phải có NVSP

Từ nửa thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, nhờ những định hướng của

Chủ nghĩa Mác - Lênin về các quy luật: “Sự hình thành cá nhân con người,

về tính quy định về kinh tế- xã hội đối với giáo dục…”, nhiều nhà khoa học

Liên Xô (cũ) cũng đã gián tiếp thể hiện NVSP của GV thông qua hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ về dạy học - giáo dục

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, khi mà thế giới tiếp cận với kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, vấn đề NVSP và quản lý hoạt động bồi dưỡng GV đã được các nhà khoa học bàn luận và được nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới tổ chức thực hiện

Trang 16

+ Năm 1998, trong công bố của 3UNESCO tổ chức tại Neepal về tổ chức quản lý trường đại học, người ta khẳng định bồi dưỡng cho GV là vấn

đề cơ bản trong phát triển giáo dục

+ Các trường sư phạm ở Úc, New Zealand, Canada,… thành lập các trung tâm bồi dưỡng sư phạm để tạo điều kiện thuận lợi cho GV tham gia học tập

+ Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho GV và cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theo thực

tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các phương pháp bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định

+ Tại Hàn Quốc, việc bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho

GV lý luận và phương pháp luận về giáo dục để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp học Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, GV, cán bộ thư viện, Bồi dưỡng GV thường có 2 loại: bồi dưỡng lấy chứng chỉ và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ

+ Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, tất cả ĐNGV đều phải tham gia học tập đầy đủ các chương trình bồi dưỡng về nâng cao trình độ và nghiệp

vụ chuyên môn theo quy định

+ Ở Philippin, có chương trình bồi dưỡng cho GV bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học, quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng lập

kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy,

+ Thái Lan trong chương trình bồi dưỡng tập trung đào tạo - bồi dưỡng trong nhà trường Trước đây, chương trình đào tạo để phát triển nghề nghiệp cho GV đương nhiệm thường được tổ chức tập trung ở một số thành phố Các chương trình này thường có chi phí cao, thời gian tập huấn ngắn, không được

Trang 17

đánh giá kiểm tra liên tục và GV phải nghỉ dạy để tham gia Để giải quyết

những vấn đề trên, Bộ Giáo dục Thái Lan đã đưa ra một chương trình đổi mới, có hiệu quả và thích hợp để đào tạo và bồi dưỡng GV đương nhiệm,

được tiến hành ngay các cơ sở giáo dục, gọi là đào tạo dựa vào nhà trường

Theo chương trình này, 4 dự án thí điểm đã được tiến hành, đó là: dự án

GV quốc gia, dự án GV chủ chốt, dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo dựa vào nhà trường và dự án đào tạo dựa vào nhà trường Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng mô hình đào tạo này rất có hiệu quả

đối với GV nói riêng và ngành sư phạm nói chung, nó góp phần tạo nên

những thành công trong công cuộc cải cách và học tập ở Thái Lan

+ Ở Việt Nam từ đầu những năm 1970, do nhu cầu nghiên cứu chuẩn bị cho cải cách GD nên những vấn đề về người GV và việc xây dựng ĐNGV

được coi trọng hơn Tổ chức nghiên cứu cải cách sư phạm đã được hình thành

ở Cục đào tạo và BDGV với những vấn đề như: tổng kết kinh nghiệm xây

dựng ĐNGV ở các trường tiên tiến; nghiên cứu vị trí vai trò và nhiệm vụ của người GV và của công tác đào tạo và BDGV,…Nhưng vấn đề chỉ là những bài viết, những quy định của ngành trong các nội san hoặc các quyết định về quy chế tạm thời của bộ GD

Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1987, sau khi cơ quan nghiên cứu của Bộ GD hợp nhất thành Viện Khoa học GD Việt Nam, là trung tâm nghiên cứu những vấn đề cơ bản về người GV và việc xây dựng ĐNGV, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về nghề DH, về những vấn đề như thực tập NVSP tập trung, rèn luyện NVSP thường xuyên, nhân cách người thầy giáo,

đặc điểm lao động sư phạm của người thầy giáo,…

Trải qua các giai đoạn phát triển đất nước, vấn đề BDGV được nâng lên một tầm cao mới Nghị quyết các Đại hội Đảng từ khóa IV đã tiếp thêm sức mạnh cho GD phát triển Đến năm 1998, vấn đề BDGV đã đưa thành chính

Trang 18

sách quốc gia và tiếp tục duy trì thể hiện ở Luật GD 2005: “Nhà nước có chính sách BD nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuẩn hóa nhà giáo Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, BD chuyên môn, nghiệp vụ, được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ”

(Mục 3, Điều 80) [21,tr27]

BDNVSP là một hoạt động không thể thiếu trong công tác BDGV đối với các GV đang tham gia công tác giảng dạy Các vấn đề liên quan tới đào tạo và BDNVSP cho GV đã được nhiều nhà GD, nhiều chuyên gia đề cập đến như tác giả Phạm Minh Đường, Nguyễn Hữu Dũng và Hồ Văn Liên Trong

đó, tác giả Hồ Văn Liên đã có công trình nghiên cứu: “Thực trạng và biện

pháp nâng cao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên ở các trường Đại học sư phạm miền Trung” (Đại học SP Huế -2002); để đảm bảo yêu cầu phát

triển và chuẩn hóa ĐNGN ở các cấp học, ngành nghề đào tạo, Luật GD Việt Nam 2005 quy định cụ thể trong Điều 77 về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo, về nghiệp vụ yêu cầu của tất cả các GV tối thiểu phải có chứng chỉ BDNVSP [21,tr27]

Ngoài ra, còn khá nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp; một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD cũng nghiên cứu về vấn đề này với

những cách tiếp cận khác nhau như: Nguyễn Hữu Xuân về “Biện pháp QL hoạt động BDNVSP cho ĐNGV của trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng” (Đà Nẵng – 2007); Tạ Thị Thu Hương về “Biện pháp QL hoạt động BDNVSP cho

ĐNGV trường Cao Đẳng nghề Phú Yên” (Bình Định - 2012)… Tuy vậy, các

công trình chỉ tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể ở địa bàn mình nghiên cứu

Trong bối cảnh chung của Trường Đại học Đông Á, đa số các GV, CBQL của Trường, ngoại trừ một số GV dạy các môn khoa học cơ bản, chưa qua đào tạo tại các trường SP và chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm giảng

Trang 19

dạy hệ đại học, thì việc nghiên cứu biện pháp QL công tác BDNVSP cho GV

là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng QL đội ngũ cũng như giúp

GV hoàn thiện và nâng cao kỹ năng DH và GD, đáp ứng với mục tiêu đào tạo của Nhà trường đề ra, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo và

“thương hiệu” của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHÍNH

1.2.1 Quản lý và quản lý nhà trường

a Quản lý

+ Khái niệm quản lý

Hoạt động quản lý: Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác

lao động Sự phân công, sự hợp tác lao động muốn đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh Đây chính là hoạt động để người lãnh đạo phối hợp và phát huy hết sức mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra Ngay từ thời cúa Khổng Tử, ông đã đề cao và xác định rõ vai trò của người QL, ông quan niệm rằng, người QL mà chính trực thì không tốn nhiều công sức mà vẫn khiến được người ta làm theo Các Mác cũng đã nêu lên ý tưởng của ông: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” Trong từ điển Tiếng Việt thì QL là: “Tổ chức và

điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [26]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hoạt động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể QL nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [19,tr35]

Hoạt động QL bao gồm hai quá trình luôn đan xen và hòa quyện nhau:

“Quản” là quá trình bao hàm sự coi sóc, giữ gìn nhằm duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”

Trang 20

“Lý” là quá trình bao hàm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới nhằm đưa hệ thống vào sự “phát triển”

Nếu trong hoạt động QL, nhà QL chỉ chú trọng đến “Quản” thì tổ chức

đó dễ dẫn đến trì trệ, bảo thủ Ngược lại chỉ chú trọng đến “Lý” thì tổ chức dễ

rơi vào thế mất cân bằng, bất ổn định Chính vì thế, Người QL luôn xác định

và biết điều phối tốt để sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải

có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống luôn ở vị trí cân bằng động

Như vậy: QL là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển và sự phát triển phải luôn tạo được thế ổn định của hệ thống

Những quan niệm trên về QL dù không hoàn toàn giống nhau nhưng đều thống nhất về bản chất của hoạt động QL nhằm thực hiện một cách hiệu quả mục tiêu của QL đã định

Chức năng quản lý

Hoạt động QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận

dụng các chức năng QL “Chức năng QL là hình thái biểu hiện sự tác động

có mục đích của chủ thế QL đến đối tượng QL” [10,tr79] Hiện nay có nhiều

quan điểm khác nhau về số lượng của chức năng QL, nhưng hầu hết đều đề cập đến bốn chức năng cơ bản sau:

- Chức năng kế hoạch hóa: Bao gồm xác định mục tiêu tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đó và phát triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế hoạch để gắn kết và đan xen các hoạt động:

Trang 21

- Chức năng tổ chức: Tổ chức là một quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ, sắp xếp các nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, nội dung của tổ chức bao gồm:

+ Phân tích công việc bằng nhiệm vụ

+ Lựa chọn người vào việc

+ Phân bổ người lực khác

+ Xây dựng cơ chế làm việc

- Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là quá trình tác động đến các thành viên làm cho gắn kết, nhiệt tình tự giác và nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức

đúng hướng và có hiệu quả, chức năng này có nội dung sau:

+ Xác định tiêu chí

+ Thu thập thông tin bằng phương pháp phù hợp

+ Phân tích thông tin và đánh giá

+ Sử dụng kết quả đánh giá để đạt hiệu quả tối đa

Các chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một chu trình QL Để thực hiện tốt các chức năng QL, cần có một yếu tố rất quan trọng đó là thông tin trong hoạt động QL Có thể sơ đồ hóa chu trình QL như sau:

Trang 22

Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa các chức năng quản lý

Quá trình tác động của hoạt động quản lý thể hiện qua sơ đồ 1.2

Sơ đồ 1.2 Quá trình tác động của hoạt động quản lý

b Quản lý giáo dục

“Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có GD mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc

Phương pháp quản lý

Công cụ quản lý

Chức năng quản lý

Chủ thể

quản lý

Mục tiêu quản lý

Trang 23

và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên”[27,tr9]

GD tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống Theo cách nói của C.Mác thì “dàn nhạc” GD trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có “nhạc trưởng” là QLGD Về QLGD cũng cókhá nhiều quan điểm,

được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và có nhiều định

nghĩa như sau:

Trong cuốn:“Cơ sở lý luận của khoa học QLGD”, tác giả M.I Kônđacốp

định nghĩa: “QLGD là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ, GD, kế hoạch

hóa, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong

hệ thống GD để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [12,tr33]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình

DH, GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [20,tr37]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt

động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công

tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [2,tr3]

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “QLGD là QL trường học thực hiện

đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo

đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và vời từng HS” [8,tr71]

Trang 24

UNESCO định nghĩa QLGD là cách thức điều hành hệ thống GD, nhất

là các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế… và cách thức vận hành của hệ thống GD, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống

QLGD gồm 3 lĩnh vực:

- QL chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện chính sách và phân bố nhân lực)

- QL hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật chất)

- QL sư phạm (sử dụng GV, tổ chức quá trình DH, quá trình GD, thành tích và quá trình học tập)

Ngày nay, GD không còn là một thứ phúc lợi đơn thường vì nó gắn liền

với quá trình phát triển của xã hội Việc đi học của mỗi người phải là: “học thường xuyên, học suốt đời” Do vậy GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà

còn là GD cho mọi người, cho nên QLGD cũng có thể hiểu là: sự điều hành

hệ thống GD quốc dân nhằm mục thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, BD nhân tài

Tóm lại: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách thể QL thực hiện các mục tiêu GD đề ra QLGD từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô đều hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực dành cho GD để đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất

c.Quản lý nhà trường

+ Khái niệm nhà trường

Nhà trường là một bộ phận của xã hội, là tổ chức GD cơ sở của hệ thống

GD quốc dân Nhà trường trực tiếp làm công tác GD, đào tạo NH thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và BD nhân tài cho đất nước Nhà trường nằm trong hệ thống GD quốc dân được thành lập theo quy hoạch,

Trang 25

kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp GD – ĐT và được tổ chức theo các loại hình sở hữu khác nhau như công lập, tư thục, v.v…

Theo tác giả Hoàng Minh Thao và Hà Thế Truyền: “Nhà trường là một thể chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm

xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư được huy động và sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội” [24,tr62]

+ Quản lý nhà trường

Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Quản lý nhà trường là thực hiện

đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà

trường vận hành theo nguyên lý GD, để tiến tới mục tiêu GD, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS” [8,tr34]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [9,tr27]

Như vậy, QL nhà trường là hệ thống những hoạt động có mục đích, kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho nhà trường vận hành theo

đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thể hiện tính chất nhà trường xã hội

chủ nghĩa, mà điểm hội tụ là quá trình DH, GD thế hệ trẻ

Trong QL quá trình DH – GD tại mỗi nhà trường thì việc QL lực lượng

DH - GD (trong đó chủ yếu là đội ngũ người dạy) có ý nghĩa hơn cả QL đội ngũ này bao gồm nhiều hoạt động như xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ, tuyển chọn sắp xếp, đề bạt, thuyên chuyển, thực hiện các chính sách cán bộ và

đặc biệt là công tác BD để nâng cao phẩm chất, năng lực NVSP cho đội ngũ

Trang 26

1.2.2 Nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

a Nghiệp vụ sư phạm

- Nghiệp vụ: Theo từ điển tiếng Việt, nghiệp vụ được hiểu là nghề

chuyên môn, công việc chuyên môn Khi thực thi một nhiệm vụ, một hoạt

động nào đó luôn yêu cầu con người thực hiện nó phải có một trình độ chuyên

môn nhất định Trình độ chuyên môn là khả năng hiểu biết, những kỹ năng,

kỹ xảo đối với công việc đang làm Hay nói cách khác đó là khả năng thực hiện công việc để đạt được hiệu quả trong một nghề nào đó

- Sư phạm: theo từ điển tiếng Việt, sư phạm là khuôn phép của người

DH Khuôn phép này được áp dụng cho GV, NH và nhà trường bao gồm những quy định, quy tắc, chuẩn mực về công việc giảng dạy, GD và học tập trong nhà trường Sư phạm được xem là một hoạt động đặc thù của nghề đào tạo và GD con người.[23]

Từ hai định nghĩa về “nghiệp vụ” và “sư phạm” nói trên, chúng ta có thể hiểu: NVSP là công việc chuyên môn, là trình độ thực hiện công việc của người thầy giáo trong nghề DH Nếu ở góc độ đánh giá về năng lực GV thì NVSP cũng có thể được xem là trình độ sư phạm hay tay nghề của người thầy giáo

Mục tiêu GD là nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho người học Để thực hiện được mục tiêu đó ngành GD – ĐT phải trang bị cho người học Để thực hiện được mục tiêu đó ngành GD – ĐT phải trang bị cho người học đồng đều ba phương diện, đó là trí lực – tâm lực và thể lực Vì vậy nghề DH theo nghĩa rộng bao gồm cả công việc dạy văn hóa và GD cho người học Trình độ sư phạm là tổng hợp của nhiều yếu tố thuộc về trình độ giảng dạy và GD của người GV Muốn thể hiện tốt trình độ sư phạm, người

GV phải có đầy đủ những yếu tố cơ bản như: năng lực, hiểu biết và kỹ năng,

kỹ xảo về ngành chuyên môn GD Đó là năng lực sư phạm và tri thức, kỹ

Trang 27

năng thể hiện năng lực sư phạm của người GV Như vậy, nói đến NVSP là nói đến lao động sư phạm của người thầy giáo Nó bao gồm những kiến thức,

kỹ năng và thái độ, tình cảm đối với nghề DH Nó đảm bảo cho người GV biết cách tổ chức thực hiện các quá trình giảng dạy và GD theo đúng yêu cầu, chức năng nhiệm vụ của mình

Đây chính là những thành tố được gắn với nhau tạo thành cấu trúc

NVSP Trong bất cứ nghề nghiệp nào cũng có những quy phạm hay yêu cầu của nghề đó đặt ra Yêu cầu đó bao gồm hệ thống kiến thức và năng lực nghề

đảm bảo cho con người hoạt động có hiệu quả, có năng suất cao trong lao động nghề nghiệp Thông thường người ta gọi yêu cầu ấy với cái tên dưới

dạng tổng hợp là “trình độ nghiệp vụ” Với nghề DH thì đó chính là trình độ NVSP

Một người, muốn hành nghề, trước hết phải có trình độ nghề nghiệp nhất

định và trình độ nghiệp vụ ấy trong xã hội không ngừng phát triển như ngày

nay, liên tục được cập nhật và không ngừng được hoàn thiện để nâng cao Đối với ngành GD – ĐT cũng vậy, những người trực tiếp làm công việc DH, GD

ở bất kỳ cấp học, bậc học nào đều phải đặt ra những chuản mực nhất định về

NVSP hay nói cách khác người GV phải phấn đấu để có tay nghề sư phạm vững vàng Đòi hỏi người GV phải thường xuyên BD và tự BDNVSP, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thiện nhân cách để cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”

b Bồi dưỡng

UNESCO định nghĩa: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình bồi dưỡng chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp”

Trang 28

Có nhiều ý kiến bàn luận của các nhà khoa học về thuật ngữ BD Ở đây chúng tôi xin nêu ra một số ý kiến về hoạt động BD trong lĩnh vực nghề nghiệp:

- BD thực chất là quá trình nhằm làm giàu vốn kiến thức, từ việc bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở nuôi dưỡng, giữ gìn những cái cũ còn phù hợp để mở mang một cách có hệ thống những tri thức

kỹ năng, nghiệp vụ cho người lao động; BD là quá trình tiếp nối đào tạo thêm hoặc cũng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề; giống như quá trình đào tạo, BD cũng được quy định về mục tiêu, ND, CT, PP, hình thức, phạm vi thời gian và đánh giá để chứng nhận kết quả

Tuy nhiên khác với đào tạo về đối tượng (chỉ BD những người đã qua

đào tạo, đã có quá trình hành nghề), và về mục đích, quy mô tổ chức, cấp độ

hình thức tổ chức và về chứng nhận kết quả (cấp chứng chỉ)

Như vậy có thể hiểu, BD là hoạt động mang sắc thái của quá trình DH –

GD nhằm cập nhật hoặc bổ sung kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu cho những người lao động đã qua đào tạo để họ nâng cao được chất lượng

và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp

Bồi dưỡng GV là một việc làm thường xuyên của ngành GD – ĐT để nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho các GV

đang giảng dạy trong các trường học

c Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

Sản phẩm của đào tạo sư phạm khi được đào tạo là người GV, do đó BDNVSP chính là quá trình tác động bổ sung và hoàn thiện thêm kỹ năng, tình cảm thái độ cho người GV đó, giúp học đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của GD Nếu đào tạo mà thiếu BD thì sản phẩm sẽ không đáp ứng được

sự thay đổi phát triển của xã hội và BD không trên cơ sở đào tạo thì sản phẩm

sẽ không tồn tại bền vững, sẽ tụt hậu

Trang 29

Người GV đóng vai trò của người “tổ chức hướng dẫn” và “người hỗ trợ” là “thang đỡ”, “điểm tựa” của NH trong quá trình học tập với tất cả tính

chủ động và sáng tạo của họ

Khoa học SP đã chỉ ra những yêu cầu mà một GV phải đáp ứng là:

- Phải có sự hiểu biết về ND môn học

- Phải có tri thức về sự phát triển thông qua việc hiểu biết rõ tư duy, hành

vi, hứng thú và tri thức hiện có của NH

- Phải có sự hiểu biết về sự khác biệt có thể nảy sinh từ các nhân tố văn hóa, ngôn ngữ, gia đình, cộng đồng, giới tính, quá trình học tập đã qua, hoặc các nhân tố khác đã hình thành nên kinh nghiệm của người học, ảnh hưởng thuận lợi hoặc tạo nên những khó khăn cho việc học tập

- Phải có tri thức về việc học tập để có khả năng hỗ trợ việc học tập cụ thể bằng các chiến lược DH khác nhau, sử dụng những phán đoán về những loại hình học tập nào là cần thiết trong bối cảnh khác nhau

- Phải hiểu biết về đánh giá NH, hình thành và sử dụng công cụ đánh giá mặt mạnh và mặt yếu của NH để có PP DH và GD phù hợp với từng đối tượng

- Phải hiểu biết các nguồn CT và công nghệ, giúp người học biết cách tìm ra và sử dụng một “dải” rộng các nguồn để định hình và giải quyết vấn đề chứ không để chỉ sử dụng một nguồn đơn nhất hoặc sách giáo khoa mà thôi

- Phải am hiểu và đánh giá cao sự cộng tác giữa thầy và trò, nhà trường

và gia đình để nâng cao kết quả của việc dạy và học

Để đáp ứng được các yêu cầu nói trên, người GV không thể chỉ làm việc

với vốn kiến thức đã được đào tạo của mình cùng kinh nghiệm công tác mà phải tham gia vào các hoạt động khác nhau: DH – GD – học tập và ngoài nhà trường để cập nhật và bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, BD

Trang 30

tư tưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và đặc biệt là trình

độ NVSP

BDNVSP là một hoạt động đặc thù của nghề DH, mang sắc thái của quá trình DH – GD nhằm cập nhật hoặc bổ sung kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu về NVSP cho người GV để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động GD – ĐT

1.3 YÊU CẦU VỀ NVSP ĐỐI VỚI ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục Đại học

Mục tiêu của giáo dục Đại học được quy định ở Điều 5 Luật Giáo dục

Đại học 08/2012/QH13, cụ thể như sau:

a) Đào tạo trình độ cao đẳng để NH có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo;

b) Đào tạo trình độ đại học để NH có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản,

có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo;

c) Đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền tảng,

có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt

động nghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng

lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo; d) Đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết

và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn [22, tr2] - Luật Giáo dục đại học 08/2012/QH13

Trang 31

1.3.2 Yêu cầu về NVSP đối với ĐNGV trường Đại học

GV trường đại học có tiêu chuẩn chung về phẩm chất đạo đức và quy

định về NVSP theo Điều 24 Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg của Điều lệ

trường đại học:

- Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ BDNVSP Có bằng thạc sĩ trở lên đối với GV giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sĩ đối với GV giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ;

- Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc;

- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;

- Lý lịch bản thân rõ ràng [3,tr13]

Như vậy, NVSP vừa là điều nên có vừa là điều phải có đối với ĐNGV trong các trường đại học để người GV đạt được trình độ chuẩn, đủ kiến thức khoa học để lĩnh hội và tiếp thu tri thức mới, có khả năng ứng dụng có hiệu quả vào công việc giảng dạy và học tập Mặt khác, đặc thù của mục tiêu giáo dục đại học cũng như chương trình đào tạo đặt ra mục tiêu tiên quyết cho mỗi

GV phải tự rèn luyện, bồi dưỡng, phấn đấu không ngừng, nhà trường phải có

kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, kế hoạch BD nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người GV có thể hoàn thành được vai trò, nhiệm vụ của mình

1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BDNVSP CHO ĐNGV TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.4.1 Nội dung BDNVSP cho ĐNGV trường ĐH

Nâng cao trình độ NVSP là một hình thức trực tiếp nâng cao chất lượng

đào tạo của nhà trường, thực hiện mục tiêu chuẩn đầu cũng như tạo ra những

nhân sự có trình độ, năng lực để đáp ứng nhu cầu của các DN, cơ quan, xí

Trang 32

nghiệp Vì thế cần đầu tư thiết kế, quản lý, đánh giá, cập nhật thường xuyên nội dung BDNVSP trong nhà trường, bao gồm:

a Tri thức chuyên ngành và tri thức nghiệp vụ

Tri thức của người thầy phải là những tri thức mang tính khoa học, hiện

đại, sâu rộng và toàn diện, có như vậy người thầy giáo mới có khả năng thông

qua quá trình GD để tạo ra được những sản phẩm (NH) có chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Tri thức của người thầy giáo phải bao gồm những kiến thức như: kiến thức đại cương, kiến thức chuyên ngành và kiến thức cốt lõi chuyên nghiệp (khoa học GD)

Mặt khác, xu hướng ngày nay của giáo dục đó là phương pháp giảng dạy tích cực, có sự tương tác cao giữa người học và người dạy Trong đó, người học đóng vai trò trung tâm, người dạy là người định hướng, hướng dẫn Vì vậy, việc truyền thụ tri thức ngày nay không còn mang nặng thiên hướng người dạy cung cấp toàn bộ cho người học, mà là người thấy hướng dẫn, rèn luyện cho người học khả năng tự tìm kiếm, chắt lọc, phân tích, tổng hợp tri thức qua các kênh thông tin Như vậy, ngoài GV cần tích lũy thêm kiến thức chuyên ngành, tri thức sư phạm mỗi ngày mà còn phải luôn có ý thức tự bồi dưỡng mình về ứng dụng công nghệ thông tin trong tìm kiếm, lựa chọn và xử

lý tri thức

b Kỹ năng sư phạm

Để tổ chức và thực hiện tốt việc truyền thụ kiến thức cho NH, đảm bảo

cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở NH có hệ thống và mang tính bền vững, đòi hỏi người GV phải có kỹ năng sư phạm tốt Kỹ năng sư phạm chính là sự vận dụng các tri thức (hiểu biết) và các kỹ thuật đã có vào việc giải quyết một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của hành

động sư phạm như GD, DH, lên kế hoạch giảng dạy, bài giảng, kiểm tra, đánh

giá, tổ chức các hoạt động sư phạm…; là cách lựa chọn, vận dụng tri thức vào

Trang 33

thực tiễn được tiến hành theo quy trình hợp lí với cách thức đúng đắn: là những kỹ năng trong quá trình vận dụng và phát triển đạt đến trình độ thành thục để trở thành kỹ xảo Nói một cách khái quát: “Kỹ năng sư phạm là khả năng thực hiện có hiệu quả một số thao tác phức tạp của một hành động sư phạm bằng cách chọn lọc và vận dụng những tri thức, những quy định đúng

đắn”[13,tr17] Theo các nhà nghiên cứ về khoa học GD gần đây đã đưa ra

nhận định các kỹ năng sư phạm được chia thành năm nhóm cơ bản như sau [14,tr18]

- Nhóm kỹ năng thiết kế bao gồm: hoạch định, xây dựng kế hoạch DH

và GD, xây dựng CT chi tiết và viết giáo trình môn học, soạn giáo án, tóm tắt tài liệu, xây dựng đề cương, lựa chọn các PP, phương tiện ký thuật DH và

GD

- Nhóm kỹ năng triển khai hoạt động DH và GD bao gồm: viết, vẽ, trình

ày bảng biểu, biểu đồ, tranh ảnh, diễn đạt, thể hiện giáo án, sử dụng các PP, phương tiện kỹ thuật DH và GD, kiểm tra, tổng kết, đánh giá, sử dụng các dụng cụ, học cụ và triển khai các hướng dẫn thí nghiệm, thực hành…

- Nhóm kỹ năng giao tiếp bao gồm: định hướng gaio tiếp, làm chủ trạng thái

- Nhóm năng lực tự học và nghiên cứu khoa học GD bao gồm: xác định vấn đề, mục tiêu, lựa chọn tài liệu, lập đề cương, xây dựng kế hoạch, tổ chức, vận dụng các PP, phương tiện, so sánh, bổ sung, nhận xét, đánh giá, tóm tắt, trình diễn…

- Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội bao gồm: Kỹ năng tổ chức và kỹ năng

sử dụng hệ thống PP tuyên truyền, vận dụng NH và nhân dân…

Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách tổng quát thì kỹ năng sư phạm của người GV tập trung chủ yếu ở kỹ năng thực hiện công việc giảng dạy và kỹ năng chủ nhiệm lớp (GD) Nói cách khác, để tổ chức và tiến hành công tác

Trang 34

GD được hiệu quả tốt đòi hỏi người GV phải có kiến thức chuyên môn, mở rộng tầm hiểu biết… các GV có thể thực hiện tương đối thuận lợi trong thời

đại thông tin kinh tế như hiện nay Nhưng vấn đề nghệ thuật truyền đạt thông

tin và ứng xử sư phạm thì không phải dễ dàng gì để có thể thu nhận được nếu không có sự học hỏi bền bỉ của người GV trong suốt quá trình tham gia giảng dạy của mình Kinh nghiệm thực tiễn cho chúng ta thấy rằng: trong lĩnh vực

GD do tính phức tạp và phong phú của nó nên các kỹ năng, kỹ xảo được hình thành và phát triển chậm hơn trong lĩnh vực DH

c Năng lực sư phạm

NVSP được hình thành từ hệ thống những năng lực của người GV (tri

thức và kỹ năng nghề nghiệp) Năng lực sư phạm của người GV là tổ hợp của

hệ thống kiến thức và hệ thống ký năng khá đa dạng và phức tạp, bao gồm các ND cơ bản sau:

- Phân tích chương trình DH và GD;

- Thiết kế kế hoạch giảng dạy và GD;

- Triển khai thực hiện kế hoạch giảng dạy và GD;

- Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn DH và GD (xử lý tình huống sư phạm);

- Giám sát đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của NH;

- Kết hợp với các lực lượng xã hội vào việc GD NH;

- Tự BD để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm [18,tr18]

“Năng lực sư phạm là khả năng thực hiện các hoạt động GD và DH đạt

được kết quả với chất lượng cao Là tổ hợp hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

thể hiện năng lực sư phạm, khả năng lĩnh hội và vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó trong những trường hợp cụ thể, kể cả những xu hướng nghề nghiệp sư phạm tích cực.” [14,tr14]

Trang 35

Năng lực sư phạm của người GV thể hiện ở 3 nhóm như sau(14):

- Nhóm các năng lực DH, gồm:

+ Nắm vững, lựa chọn và sắp xếp các tri thức;

+ Lựa chọn, phân loại, phối hợp các PP DH;

+ Nắm vững đối tượng giảng dạy;

+ Khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ý tưởng;

+ Linh hoạt sử dụng các phương tiện DH;

+ Tổ chức quản lý điều khiển NH trong giờ học;

+ Lôi cuốn, thuyết phục NH trong các hoạt động học tập;

+ Biết ứng xử nhanh các tình huống có vấn đề trong lớp học, trong giờ học;

- Nhóm năng lực GD gồm:

+ Xây dựng kế hoạch cho hoạt động GD;

+ Tổ chức chỉ đạo các hoạt động GD;

+ Nắm vững đối tượng GD

+ Khả năng GD đối với cá biệt;

+ Biết đánh giá các hoạt động GD và điều chỉnh kịp thời để đạt hiệu quả cao hơn, biết thuyết phục, cảm hóa NH để NH tự giác, tích cực tham gia vào các hoạt động GD Người GV phải biết BD đội ngũ tự quản để NH tự điều hành các hoạt động GD, ngoài ra người thầy còn phải biết vận động, lôi cuốn quần chúng tham gia vào hoạt động GD

-Nhóm năng lực tự hoàn thiện:

Được thể hiện qua việc tự kiểm tra, đánh giá bản thân để BD tư tưởng,

tình cảm nghề nghiệp Ngoài ra còn phải biết tự học, tự BD để bổ sung, hoàn thiện về tay nghề, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng và PP Một biểu hiện nữa của năng lực tự hoàn thiện là công tác nghiên cứu khoa và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

Trang 36

Để hoàn thiện được năng lực sư phạm, người GV không thể tách rời

hoặc quá tập trung một yếu tố nào của cấu trúc năng lực để rèn luyện mình và phải thống nhất các yếu tố thành một chỉnh thế nhất định Phải xem hệ thống các nhóm năng lực trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, luôn hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau để tạo nên năng lực sư phạm

Qua đánh giá trên, chúng tôi nhận thấy năng lực sư phạm của người GV mang tính khái quát, tổng hợp, tổng hòa các tri thức, kỹ năng và những phẩm chất tương ứng về GD Năng lực sư phạm cho phép người GV giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ của mình một cách mềm dẻo, linh hoạt Như vậy, việc BDNVSP cho GV phải hướng tới việc tiếp tục hình thành và nâng cao năng lực sư phạm cho họ

d Nhận thức SP, thái độ và tình cảm SP

Nhận thức của con người lúc nào cũng đóng vai trò tiền đề cho những hoạt động có mục đích Nếu nhận thức không đúng sẽ không tạo được động lực cho hoạt động, không hình thành được sự tự giác, điều này làm cho chất lượng, hoạt động thấp, thậm chí có những sai phạm đáng tiếc và ngược lại, nếu có nhận thức đúng sẽ góp phần mang lại hiệu quả cao trong hoạt động Vì vậy, bồi dưỡng để giúp GV có nhận thức, thái độ và tình cảm sư phạm đúng

đắn, có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác BD NVSP cho ĐNGV

1.4.2 Quản lý hoạt động BDNVSP cho ĐNGV trường ĐH

QL công tác BDNVSP cho ĐNGV trường ĐH thực chất là việc thực hiện có hiệu quả các chức năng cơ bản quá trình quản lý

Việc xây dựng kế hoạch cho mỗi một hoạt động là yếu tố đầu tiên và quyết định sự thành bại của hoạt động đó Xây dựng kế hoạch không phù hợp

sẽ làm cho việc thực hiện kế hoạch gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được và nếu thực hiện được thì kết quả đạt được sẽ không như

Trang 37

mong muốn của chủ thể xây dựng Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch cần phải đảm bảo theo một quy trình nhất định Đối với việc xây dựng kế hoạch của công tác BDNVSP cho ĐNGV bao gồm các bước sau đây:

+ Khảo sát và điều tra đúng thực trạng về trình độ NVSP của ĐNGV

đang có So sánh các yêu cầu của trình độ NVSP với yêu cầu cần đáp ứng về

nguồn nhân lực của xã hội Tìm hiểu nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến sự mất cân đối từ việc so sánh nói trên Từ đó đưa ra mục tiêu BD

cụ thể cho từng khóa, từng đợt hoặc từng hoạt động (kiến thức, kỹ năng, thái

độ) cho các nhóm đối tượng BD (GV)

+ Từ việc xác định được mục tiêu BD và đối tượng BD tiến đến việc xây dựng dự kiến CT, ND cần BD, PP, hình thức tổ chức BD, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả

+ Dự kiến về nhân lực để phục vụ cho khâu tổ chức BD (người quản lý,

bộ phận quản lý, GV, nhân viên phục vụ và tổ chức đơn vị phối hợp,…)

+ Xác định nguồn lực vật chất (CSVC, TTB kỹ thuật và nguồn tài chính…) dự kiến thời gian và dự kiến các biện pháp thực hiện Đây là một khâu rất quan trọng, đòi hỏi người xây dựng kế hoạch phải thực sự là người nắm rõ về khả năng, năng lực hiện có của đơn vị mình Mặc dù đây là khâu cuối cùng của việc xây dựng kế hoạch nhưng trên thực tế, ngay từ đầu người

QL xây dựng kế hoạch đã phải tính toán trước được khả năng, năng lực này

để dự kiến được ND, CT và hình thức tổ chức thực sự phù hợp và đảm bảo

tính khả thi của kế hoạch

b Tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng

- Tổ chức các hoạt động xây dựng CT, giáo trình và sưu tầm tài liệu BDNVSP cho ĐNGV phù hợp với ND, CT đã dự kiến

Trang 38

- Bố trí nhiệm vụ cho từng bộ phận, cá nhân có liền quan đến việc tổ chức BD Xác định chức năng nhiệm vụ và cơ chế phối hợp trong các hoạt

động của quá trình BD đối với từng bộ phận, cá nhân

- Huy động và phân bổ nguồn lực vật chất cho các bộ phận và cá nhân thực hiện kế hoạch BD

c Chỉ đạo, giám sát công tác bồi dưỡng

Trong quá trình thực hiện kế hoạch đã được xây dựng, vấn đề chỉ đạo thực hiện là vấn dề xuyên suốt quá trình, bắt đầu từ việc triển khai kế hoạch, xác định chức năng, phân công nhiệm vụ, phân bố nguồn lực, vật lực và tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động BD Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bao gồm các vấn đề sau:

- Hướng dẫn các công việc cho từng bộ phận và thông qua các bộ phận

đến với các cá nhân tham gia quản lý, giảng dạy và phục vụ

- Thực hiện phối hợp, liên kết gữa các hoạt động của từng bộ phận và của mỗi cá nhân trong việc thực hiện quá trình BD

- Đôn đốc, giám sát các hoạt động của từng bộ phận và cá nhân, đặc biệt

là việc thực hiện đúng tiến độ, ND và CT BD

- Nắm bắt thường xuyên thông tin hai chiều để có những điều chỉnh kịp thời khi phát hiện ra những mâu thuẫn, bất cập trong việc thực hiện kế hoạch

- Kịp thời uốn nắn những sai sót; động viên khuyến khích những gương tiêu biểu, tích cực nhằm nhân rộng điển hình đảm bảo thực hiện có hiệu quả chất lượng kế họach BD đã đề ra

d Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác bồi dưỡng

Thực chất đây là một hoạt động trong lĩnh vực chỉ đạo thực hiện, xảy ra thường xuyên và xuyên suốt quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch BD Vì nếu chỉ đạo mà không có kiểm tra, đánh giá đúng thực chất có hiệu quả hay không

Trang 39

hoặc hiệu quả đến mức nao Muốn kiểm tra, đánh giá đúng thực chất của các hoạt động BD phải tiến hành được các khâu sau đây:

- Tổ chức việc xây dựng chuẩn đánh giá cho từng hoạt động của các bộ phận và cá nhân theo năng lực, nhiệm vụ cụ thể;

- Tổ chức việc lựa chọn các phương thức đánh giá, tức là PP và cách thức đo đạc thành tích và so sánh với các mục tiêu QL;

- Tiến hành các hoạt động đo đạc và đánh giá để nhận biết được hoạt

động tốt (đúng theo kế hoạch), hoạt động còn lệch lạc và những sai phạm lớn;

- Đưa ra các quyết định để phát huy các hoạt động tốt, điều chỉnh các hoạt động chưa tốt và xử lý các sai phạm

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác BDNVSP cho ĐNGV Trường ĐH

a Yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan tác động đến chất lượng công tác BDNVSP cho

ĐNGV tập trung chủ yếu vào yếu tố nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực và yếu

tố môi trường GD ở trong nhà trường Hai yếu tố này sẽ là nguồn động lực giúp cho các cấp lãnh đạo nhà trường và ĐNGV thúc đẩy việc tổ chức tham gia công tác BDNVSP

Cụ thể:

+ Khi nhu cầu xã hội và nhu cầu người học đòi hỏi ở GD – ĐT những sản phẩm (NH) có đầy đủ phẩm chất, đạo đức người lao động và chất lượng tay nghề đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội thì vấn đề cạnh tranh lành mạnh cũng xuất hiện ngay trong các tổ chức GD Bên cạnh đó, chủ trương xã hội hóa GD sẽ làm cơ sở cho việc mở rộng hệ thống

GD – ĐT trong cả nước, hệ thống GD công lập cũng phải dần dần đi theo xu hướng tự chủ về mọi mặt, trong đó có tự chủ về kinh tế

Trang 40

+ Môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hệ thống GD – ĐT cũng sẽ làm cơ sở để tạo ra sự cạnh trah lành mạnh ngay trong chính ĐNGV của nhà trường Người GV phải cố gắng để thể hiện vị trí vai trò và uy tín của mình trong đội ngũ cán bộ, GV và ngay cả trước đối tượng GD (NH) Môi trường

GD trong nhà trường càng tốt thì nhu cầu nâng cao trình độ giảng dạy và GD của GV ngày càng cao

+ Nâng cao chất lượng ĐNGV, trước tiên phải nâng cao được trình độ NVSP Như vậy các yếu tố khách quan nói trên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy các nhà trường tổ chức BDNVSP cho ĐNGV, đồng thời cũng tạo

điều kiện thuận lợi về mặt động cơ cho ĐNGV tích cực và chủ động tham gia

quá trình BD

b Các yếu tố chủ quan

+ Mục tiêu bồi dưỡng

Xác định được mục tiêu BD là yếu tố đầu tiên có tác dụng định hướng cho việc lựa chọn ND, PP và hình thức phù hợp với việc tiếp tục hình thành

và phát triển trình độ NVSP của người GV và có thể điều khiển, điều chỉnh quá trình DH và GD đúng với yêu cầu đã đề ra Việc xác định đúng mục tiêu

BD cũng làm cho ĐNGV ý thức đầy đủ, chính xác nhiệm vụ, kích thích tính tích cực, tự giác tham gia hoạt động BD, đồng thời cũng làm cơ sở cho việc

định ra chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động BD, đồng thời cũng làm cơ sở

cho việc định ra chuẩn đánh giá chất lượng BD, đồng thời cũng làm cho việc

định ra chuẩn đánh giá chất lượng của hoạt động BD Mục tiêu BD được cụ

thể hóa vào mục tiêu ngành, nghề, môn học và các hoạt động GD, DH Nó

được thể hiện ở 3 mặt:

+ Kiến thức sư phạm (nhớ, khả năng tái hiện, hiểu và vận dụng…)

+ Kỹ năng, kỹ xảo sư phạm (chung cho lao động trí óc, lao động chân tay và tương ứng với kiến thức đã nêu trên…)

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm