2.3 Đánh giá về quản lý công tác nghiên cứu tiêu chí đánh giá 55 2.4 Đánh giá về quản lý công tác cung cấp và thu thập thông 2.5 Đánh giá về quản lý công tác xử lý, phân tích các thông t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN ĐỨC CHÍ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ
TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Đức Chí
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG
1.1.Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Ở nước ngoài 7
1.1.2 Ở Việt Nam … 10
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 12
1.2.1 Khái niệm về Quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 15
1.2.3 Quản lý nhà trường 17
1.2.4 Khái niệm chất lượng 18
1.2.5 Khái niệm về chất lượng giáo dục đại học 19
1.2.6 Khái niệm về kiểm định chất lượng giáo dục đại học 21
1.2.7 Khái niệm Đánh giá 21
1.2.8 Khái niệm Tự đánh giá 22
1.3 Các nội dung cơ bản của công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học 22 1.3.1 Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam 22
1.3.2 Các nội dung của hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học ……… 24
1.3.3 Khuyến nghị 30
1.4 Các nội dung quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học 31
Trang 41.4.1 Quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học 31
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học 31
1.5 Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 38 2.1 Khái quát về Trường Đại học Phạm Văn Đồng 38
2.1.1 Lịch sử hình thành 38
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của trường đại học Phạm Văn Đồng 39
2.1.3 Chiến lược phát triển của trường đại học Phạm Văn Đồng 39
2.2 Mô tả quá trình khảo sát 40
2.2.1 Mục đích khảo sát 41
2.2.2 Phương pháp và quy trình khảo sát 41
2.2.3 Nội dung khảo sát 41
2.3 Kết quả khảo sát 51
2.3.1.Thực trạng quản lý bộ máy nhân sự thực hiện hoạt động tự đánh giá 51
2.3.2.Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá đảm bảo mục tiêu kiểm định 53
2.3.3.Thực trạng quản lý công tác nghiên cứu tiêu chí đánh giá 54
2.3.4.Thực trạng quản lý công tác cung cấp và thu thập thông tin, minh chứng 56 2.3.5 Thực trạng quản lý công tác xử lý, phân tích các thông tin, minh chứng 57 2.3.6 Thực trạng quản lý công tác đánh giá kết quả đạt được trên cơ sở đối chiếu với các tiêu chí 59
2.3.7 Thực trạng quản lý công tác sử dụng kết quả tự đánh giá 60
2.4 Đánh giá chung về thực trạng hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của trường đại học Phạm Văn Đồng 61
2.5 Tiểu kết chương 2 63
Trang 5CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNGTỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI
3.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp 65
3.3.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý……… 65
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 65
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển 66
3.1.4.Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 66
3.2 Các biện pháp cụ thể 66
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ công chức về công tác kiểm định chất lượng giáo dục và tham gia hoạt động tự đánh giá 66
3.2.2 Hình thành bộ máy nhân sự thực hiện hoạt động tự đánh giá
70 3.2.3 Bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học 73
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện các qui trình tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học 76
3.2.5 Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất và khung pháp lý 79
3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp ……… 82
3.3 Kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 83
3.4 Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86 1 Kết luận ……… 86
2 Khuyến nghị ……… 88
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
INQAHE (International Network of Quality Assurance in Higher Education)
Tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế
QAA The Quality Assessment Agency for Higher Education
Trang 72.3 Đánh giá về quản lý công tác nghiên cứu tiêu chí đánh giá 55
2.4 Đánh giá về quản lý công tác cung cấp và thu thập thông
2.5 Đánh giá về quản lý công tác xử lý, phân tích các thông tin,
2.6 Đánh giá về quản lý công tác đánh giá kết quả đạt được trên
2.7 Đánh giá về quản lý công tác sử dụng kết quả tự đánh giá 60
2.8
Sơ đồ SWOT về thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của trường đại học Phạm Văn Đồng
62
3.1 Đánh giá tính cấp thiết và tính hợp lý của các biện pháp 83
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
1.3 Vị trí của hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, giáo dục đại học ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc đào tạo nhân lực có trình độ cao cho xã hội Một đất nước muốn phát triển thì không thể không có một nền giáo dục hiện đại Cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, giáo dục đại học của nước ta đã có sự phát triển vượt bậc về quy mô, đa dạng về sở hữu, phủ khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước Các trường đại học là nơi cung cấp chủ yếu nguồn nhân lực trình độ cao cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ
về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã
xác định rõ mục tiêu: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [12]
Để thực hiện thành công lộ trình đổi mới toàn diện nền giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ mới, Bộ GD&ĐT đã và đang triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo một số mô hình được nhiều nước trên thế giới sử dụng Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục được đề cập và tiến hành thực hiện từ tháng 12/2004 khi Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học được
Bộ GD&ĐT ban hành và tiếp tục được củng cố, phát triển gắn với nhiều văn bản pháp qui của Nhà nước, Chính phủ và ngành Giáo dục
Luật Giáo dục năm 2005 đã quy định: “Kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát”
Sau đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 đã bổ sung các quy định về kiểm định chất lượng giáo dục, trong đó quy định rõ hơn nội dung
Trang 10quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục, nguyên tắc kiểm định chất lượng giáo dục và các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục
Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào
tạo đối với giáo dục đại học yêu cầu: “Đẩy mạnh công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ và công khai kết quả kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục đại học,…hình thành một số tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học độc lập”.[30]
Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số: 46/2008/CT-BGDĐT về việc tăng cường công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đã yêu cầu:
“Từ năm học 2008-2009, tất cả các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp triển khai tự đánh giá hằng năm và nộp báo cáo tự đánh giá cho cơ quan quản lý trực tiếp; thực hiện cải tiến chất lượng dựa trên kết quả tự đánh giá; định kỳ đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục; phấn đấu đến năm 2010
có ít nhất 80% số trường đại học, 50% số trường cao đẳng và 30% số trường trung cấp chuyên nghiệp được kiểm định chất lượng” [6]
Tại Chỉ thị số 296/2010/CT-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ và Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Ban cán
sự Đảng Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn
2010-2012 cũng đã nêu rõ: “Đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ tự đánh giá của các trường đại học và cao đẳng, triển khai từng bước việc kiểm định các trường đại học, cao đẳng; xây dựng tiêu chuẩn và hình thành một số cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục đại học độc lập”.[1]
Kiểm định chất lượng giáo dục đại học nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo đề ra của trường trong từng giai đoạn nhất định và các văn bản của Nhà nước đã quy định các trường đại học phải chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của mình Chính vì lý do trên, mỗi trường đại học phải xác định mục tiêu đào tạo của trường trong từng giai đoạn; lập kế hoạch và áp dụng các biện pháp cần thiết để
Trang 11từng bước đạt được mục tiêu đã đề ra Bộ GD&ĐT ban hành Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học để đánh giá mức độ đạt mục tiêu đề ra của từng trường Các trường đại học đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng có nghĩa là trường đã có đủ các điều kiện để đào tạo được những sinh viên có những phẩm chất
và năng lực cần thiết, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Tự đánh giá là khâu vô cùng quan trọng trong qui trình kiểm định chất lượng giáo dục đại học Đó là quá trình đối tượng kiểm định (trường đại học) tự khảo sát, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị mình theo các tiêu chuẩn của
Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng Qua đó, phát hiện ra các mặt mạnh và mặt yếu cần phải cải thiện của trường để làm cơ sở điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu đã đề ra
Trong bối cảnh, kiểm định chất lượng trở thành một công cụ hữu hiệu để duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục đại học và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, vấn đề kiểm định chất lượng giáo dục càng có ý nghĩa hơn đối với các trường đại học mới được thành lập trực các thuộc tỉnh, gọi chung là đại học địa phương Đây là những cơ sở giáo dục có chức năng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nguồn năng lực tại chỗ có chuyên môn cao nhằm xây dựng và phát triển vấn đề kinh tế- xã hội cho các địa phương
Trường Đại học Phạm Văn Đồng là trường đại học địa phương trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ngãi, được thành lập vào năm 2007 với sứ mệnh: là cơ sở công lập, đào tạo đa ngành, đa cấp, đa phương thức; cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi và khu vực Miền Trung - Tây Nguyên Để tồn tại và phát triển, nhà trường cần phải chú trọng đến hoạt động TĐG trong KĐCLGD đại học nhằm vừa đảm bảo chất lượng dạy và học của một trường đại học, vừa đáp ứng được yêu cầu sứ mệnh của nhà trường đã đề ra Trong những năm qua, nhà trường đã có nhiều cố gắng và tổ chức nhiều biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục, nhưng thiếu tập trung, chưa
Trang 12thống nhất và đồng bộ, dẫn đến kết quả TĐG chưa cao, chưa thực sự đạt được mục tiêu kiểm định chất lượng giáo dục đại học
Vì vậy, nghiên cứu thực trạng và đề ra biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của trường đại học Phạm Văn Đồng là một việc làm cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục trong nhà trường và giúp cán bộ quản lý và giảng viên thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình góp phần thúc đẩy nhà trường hoàn thành sứ mệnh Xuất
phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề: “Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của Trường Đại học Phạm Văn Đồng trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản
lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học, tập trung vào hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động này góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm định chất lượng giáo dục của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý kiểm định chất lượng giáo dục của Trường Đại học Phạm Văn Đồng
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của Trường Đại học Phạm Văn Đồng
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động tự đánh giá trong KĐCLGD đại học của Trường Đại học Phạm Văn Đồng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đại học trong tình hình mới Nếu xác lập được các biện pháp quản lý có hệ thống, bao quát các khâu và các nội dung tự đánh giá thì sẽ đảm bảo được chất lượng hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của trường trong giai đoạn hiện nay
Trang 135 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục và tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Trường Đại học Phạm Văn Đồng
- Đề xuất các biện pháp nhằm quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Trường Đại học Phạm Văn Đồng trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn khảo sát các biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Hiệu trưởng Trường Đại học Phạm Văn Đồng trong giai đoạn 2009 - 2011
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích
và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết nhằm phân tích, tổng hợp các tài liệu, văn kiện liên quan đến kiểm định chất lượng giáo dục đại học và hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn và xây dựng các công cụ nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đề tài sử dụng các phương pháp: điều tra, phỏng vấn, quan sát khoa học, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia…nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê toán học: Tổng hợp, phân tích các số liệu thu thập
để giải quyết vấn đề
8 Cấu trúc luận văn
Mở đầu: Đề cập những vấn đề chung của đề tài: Lý do chọn đề tài, mục đích
nghiên cứu, khách thể và đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ
nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định
chất lượng giáo dục đại học
Trang 14Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất
lượng giáo dục đại học của Trường Đại học Phạm Văn Đồng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất
lượng giáo dục đại học của Trường Đại học Phạm Văn Đồng
Kết luận và Khuyến nghị
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý công tác KĐCLGD đại học
1.1.1 Ở nước ngoài
Kiểm định chất lượng giáo dục đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Hoa Kỳ
và Bắc Mỹ, nhưng trước đây ít được các nước khác biết đến Trong quá trình phi tập trung hoá và đại chúng hoá giáo dục đại học, các chuẩn mực giáo dục đại học bị thay đổi và có sự khác nhau giữa các trường đại học do chất lượng tuyển sinh đầu vào bị hạ thấp, qui mô tăng nhanh nhưng tài chính tăng chậm cùng các yếu tố tiêu cực ở bên ngoài tác động đến nhà trường Đặc biệt, giáo dục đại học của thế giới đang dần dần chuyển từ nền giáo dục đại học theo định hướng của Nhà nước hay theo định hướng học thuật của nhà trường sang nền giáo dục đại học theo định hướng của thị trường
Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng trở nên khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và thành một công cụ hữu hiệu để duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục đại học và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học Phần lớn trong số 213 nước và lãnh thổ trên thế giới tham gia Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAAHE), đều triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đại học nhằm mục đích quản lý, giám sát và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đại học của quốc gia hoặc lãnh thổ của mình
Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của các nước trên thế giới khá đa dạng về mặt sở hữu, có thể là của nhà nước, của các hiệp hội hay các tổ chức, cá nhân Về đối tượng kiểm định, có thể là trường, chương trình, tất cả các cấp học hay chỉ giáo dục đại học,…Về tính phụ thuộc, có thể độc lập hoàn toàn với nhà nước hoặc độc lập trong việc đưa ra các quyết định chuyên môn nhưng vẫn nhận kinh phí của nhà nước hay phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước Ở Hoa Kỳ, tất cả các
tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đều không thuộc nhà nước Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của các nước khác hoạt động trong
Trang 1620 năm gần đây đều do nhà nước thành lập như ở Thái Lan, Mông Cổ, Australia,
Ấn Độ, Malaysia, Indonesia và sau đó một số trở thành các tổ chức kiểm định độc lập, nhưng vẫn được nhận kinh phí hỗ trợ của nhà nước như ở Australia, Ấn Độ, Indonesia
Hoa Kỳ có 6 tổ chức kiểm định vùng, nhưng hầu như ở các nước khác nhất
là các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, có xu hướng chỉ có một tổ chức quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục như Thái Lan, Indonesia, Campuchia Một số nước khác như Nhật Bản, Philippines, Malaysia có 2 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục Nhưng gần đây, Malaysia đã sáp nhập hai tổ chức lại thành một tổ chức mới Một số nước có những tổ chức kiểm định của các hiệp hội, tổ chức chuyên môn hoạt động bên cạnh các tổ chức quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục nhưng với quy mô nhỏ như Thái Lan
Mặc dù có những sự khác biệt về hệ thống và các xu thế chung đang được hình thành, nhưng kiểm định chất lượng giáo dục thường được thể hiện ở 3 mô hình
tổ chức hệ thống quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục như sau:
Mô hình thứ nhất bao gồm một số tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục độc lập với nhau, có nhiệm vụ triển khai các hoạt động đánh giá ngoài và có thẩm quyền công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Mô hình này cần có một tổ chức mang tính hiệp hội để liên kết và để đại diện cho các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục Qua đó, tạo diễn đàn để các tổ chức này có thể trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Tuy nhiên, theo mô hình này, mối liên hệ giữa các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục khá lỏng lẻo
và nhà nước khó quản lý
Mô hình thứ hai là mô hình tập trung cho mỗi hoặc một vài cấp học như tổ chức KĐCLGD đại học, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông, và mô hình này được phần lớn các nước sử dụng Hầu hết các nước này đều có tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của Hiệp hội New England, Hoa Kỳ là một trong những minh chứng về tổ chức kiểm
Trang 17định chất lượng giáo dục chịu trách nhiệm kiểm định các trường đại học, cao đẳng, trung cấp kỹ thuật, phổ thông,…
Mô hình thứ ba là mô hình tập trung cho tất cả các cấp học như tổ chức đánh giá và kiểm định chất lượng các trường mầm non, phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học với sự hỗ trợ của hệ thống các đơn vị đánh giá ngoài
Hầu hết có tên gọi là tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục (Accreditation Agency), nhưng thực chất là một công ty và một số nơi còn gọi là trung tâm Các tổ chức KĐCLGD đều có hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục để phê duyệt các kế hoạch đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục, phê chuẩn thành phần các đoàn đánh giá ngoài, quyết định công nhận hoặc không công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục của các nước cũng khá khác nhau Một số nước chỉ kiểm định trường, một số nước khác chỉ kiểm định chương trình, nhưng cũng có những nước đồng thời sử dụng cả kiểm định trường và kiểm định chương trình Hoạt động của các tổ chức KĐCLGD cũng tương tự Đặc biệt, có tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục không trực tiếp kiểm định các cơ sở giáo dục
mà chỉ đi kiểm định các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục khác như Hội đồng kiểm định giáo dục đại học (CHEA), Hoa Kỳ và cấp phép hoạt động cho các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục khác như Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (US Department of Education)
Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục sử dụng các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục làm công cụ để kiểm định các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục bao gồm các yêu cầu và điều kiện cụ thể về các nguồn lực và quy trình thực hiện, sản phẩm đầu ra để khẳng định với xã hội về chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo của cơ sở giáo dục hoặc chương trình giáo dục Ngoại trừ các tổ chức kiểm định nghề nghiệp xây dựng các bộ tiêu chuẩn riêng để kiểm định các chương trình của mình, còn lại hầu hết các nước đều xây dựng các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục dùng chung cho các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục của từng cấp học đại học, cao đẳng và
Trang 18trung cấp chuyên nghiệp Tính chuyên môn đặc thù của cơ sở giáo dục hoặc chương trình giáo dục được thể hiện trong thành phần của các đoàn đánh giá ngoài
1.1.2 Ở Việt Nam
Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế tri thức đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước, và nhiệm vụ chính của giáo dục
và đào tạo là cung cấp nguồn nhân lực đó Để thực hiện nhiệm vụ này, ngành giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục đại học của nước ta nói riêng, không những phải
mở rộng quy mô mà còn phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Hiện nay, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phân bố rộng khắp trong cả nước,
đa dạng hoá về loại hình trường, ngành nghề, phương thức đào tạo, nguồn lực và nhiều phương diện khác theo hướng hội nhập với xu thế chung của thế giới Quy
mô đào tạo tăng nhanh, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Chất lượng đào tạo đã có những chuyển biến tốt về nhiều mặt, các hoạt động đánh giá, đảm bảo
và kiểm định chất lượng giáo dục đã bắt đầu được chú ý và triển khai
Vấn đề quản lý chất lượng giáo dục đại học đã và đang được các cấp, ngành
và xã hội quan tâm Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy: khi quy mô đào tạo tăng nhanh, nhưng sự đầu tư của nhà nước không tăng hoặc tăng chậm hơn, cần thiết phải có mô hình quản lý chất lượng thích hợp để đảm bảo rằng sản phẩm đầu ra của giáo dục và đào tạo có thể đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động Các mô hình quản lý chất lượng như: kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể đã và đang được sử dụng trong giáo dục ở nhiều nước trên thế giới, đang từng bước được triển khai áp dụng tại Việt Nam
Hiện nay, Chính phủ đang chủ trương đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2010-2020, quyết tâm xây dựng một số trường đại học đẳng cấp quốc tế, thực hiện đổi mới quản lý giáo dục, trong đó kiểm định chất lượng được sử dụng như một công cụ quan trọng để khuyến khích tất cả các cơ sở giáo dục đại học, nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc phấn đấu đạt các tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Trang 19Trong những năm qua, hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục ở nước ta đang từng bước được hình thành Đầu năm 2002, Bộ GD&ĐT đã thành lập Phòng Kiểm định chất lượng đào tạo trong Vụ Đại học Năm 2003, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục đã được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ, đã đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam Năm 2004, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng các trường đại học làm công cụ để triển khai hoạt động kiểm định chất lượng trong cả nước Năm 2005, kiểm định chất lượng giáo dục được đưa vào Luật Giáo dục; Năm 2006, kiểm định chất lượng giáo dục được đưa vào Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục Đến nay, Bộ GD&ĐT đã ban hành tương đối đầy đủ các văn bản pháp quy về KĐCLGD và đang được triển khai thực hiện
Theo thống kê, tính đến hết tháng 8 năm 2010, cả nước có 100 trường đại học đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá, trong đó có 40 trường đại học đã được đánh giá ngoài Tuy nhiên, so với yêu cầu chung thì tiến độ kiểm định chất lượng như hiện nay vẫn còn khá chậm Hoạt động tự đánh giá nói riêng và công tác kiểm định chất lượng giáo dục nói chung chưa được nhiều cơ sở giáo dục đại học tiến hành triển khai, hoặc triển khai còn chậm bởi nhiều lý do khác nhau, và một trong những
lý do đó là vấn đề triển khai hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học và việc quản lý công tác này
Gần đây có một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác quản lý hoạt động tự đánh giá trong KĐCLGD đại học Tác giả Trần Quốc Hùng đã phân tích và đề ra những biện pháp quản lý công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lượng đào tạo đại học của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng [21] Tác giả Đoàn Việt Hùng với đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong của Trường Cao đẳng Đức Trí - Đà Nẵng” đã góp phần nâng cao công tác quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của các trường cao đẳng tư thục ở khu vực miền Trung- Tây Nguyên
Trang 20trong giai đoạn hiện nay [20] Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chưa đáp ứng hoàn toàn cho tất cả các loại hình trường đại học, đặc biệt là những trường đại học công lập trực thuộc UBND tỉnh Hơn nữa, hiện nay ở Quảng Ngãi, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học
Xuất phát từ những tương quan trên, chúng tôi thấy rằng công tác quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học của những trường đại học địa phương nói chung và Trường Đại học Phạm Văn Đồng nói riêng
là vấn đề cấp thiết, cần được nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Khái niệm về Quản lý
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải
có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Chính vì thế quản lý là hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, liên quan đến mọi người và luôn có một vai trò đặc biệt trong mọi hoạt động của xã hội Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm khác nhau về QL
Nhà quản lý Mary Parker Follett định nghĩa: “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ổn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tổ chức đó”.[2]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[24]
Tóm lại, quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực,
Trang 21tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Sơ đồ 1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý có 4 chức năng chủ yếu là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
- Kế hoạch hoá là một chức năng cơ bản trong các chức năng quản lý, là bước đầu tiên của quy trình quản lý Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
- Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho
PHƯƠNG PHÁP QUẢN
LÝ
CÔNG
CỤ QUẢN
LÝ
MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
MỤC TIÊU QUẢN LÝ
Trang 22họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực
- Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức, nhân lực đã có để vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra Chủ thể quản lý hướng dẫn công việc, liên kết, liên hệ, động viên, kích thích, giám sát các bộ phận
và mọi cá nhân trong tổ chức và thúc đẩy họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định
để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó người quản lý theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Kết quả hoạt động phải phù hợp với mục tiêu và những điều kiện nhất định, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn
Trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý, thông tin là yếu tố cơ bản
và quan trọng, là huyết mạch của quản lý Thiếu thông tin dẫn đến không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm Nhờ có thông tin mà các chức năng quản lý được trao đổi qua lại với nhau, cập nhật thường xuyên và có những biện pháp xử lý kịp thời
và hiệu quả khi có vấn đề sai lệch trong quá trình quản lý
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Chỉ đạo
Trang 231.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm Quản lý giáo dục
Nội dung khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, xét trên bình diện chung, chúng ta có thể nghiên cứu một số khái niệm tiêu biểu
Tác giả Trần Kiểm quan niệm QLGD có 02 cấp:
- Cấp vĩ mô: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.[22]
- Cấp vi mô: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [22]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.[2]
Như vậy, QLGD là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động có mục đích,
có kế hoạch có ý thức và tuân thủ các quy luật của những chủ thể QLGD lên toàn
bộ các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt đến mục tiêu giáo dục Nói một cách khác, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả nhất
1.2.2.2 Đặc trưng của Quản lý giáo dục
QLGD là một quá trình hoạt động của các chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đạt mục đích quản lý bằng cách thực hiện các chức năng nhất định và vận dụng các biện pháp, nguyên tắc,
Trang 24công cụ quản lý thích hợp QLGD thuộc phạm trù quản lý xã hội và có những đặc trưng riêng sau:
- QLGD là loại quản lý nhà nước Các hành động trong quản lý giáo dục dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước mà đại diện là các cơ quan QLGD và đào tạo các cấp
và phải thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ
- QLGD là quản lý con người, có nghĩa là đào tạo con người, dạy cho họ thực hiện vai trò xã hội, chức năng, nghĩa vụ và trách nhiệm của bản thân, phát triển nghề nghiệp để họ hoàn thành trách nhiệm xã hội của mình
- QLGD có 2 thuộc tính chủ yếu: Tổ chức kỹ thuật và Kinh tế xã hội Tổ chức kỹ thuật là thuộc tính hàng đầu của quản lý Thuộc tính này thể hiện cần phải
có một tổ chức thực hiện công tác quản lý và yêu cầu thường xuyên cải tiến, đổi mới công việc nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trong một tổ chức
QL có hiệu quả sẽ mang lại lợi ích cho xã hội và đó chính là tính kinh tế xã hội của QLGD
- QLGD được xem là hệ tự quản lý vì bản thân nó chứa đựng các đặc điểm tự điều chỉnh, tự hoàn thiện nhằm đạt được mục tiêu đề ra
- QLGD vừa là khoa học vừa là nghệ thuật và đã trở thành một ngành khoa học có cơ sở lý luận riêng của nó Người cán bộ quản lý cần có trình độ khoa học về quản lý, am hiểu các khoa học về lĩnh vực tự nhiên, xã hội và phải có nghệ thuật quản lý được tích lũy từ kinh nghiệm quản lý và có những sáng tạo của chủ thể quản lý
1.2.2.3 Nội dung của quản lý giáo dục
QLGD là một quá trình gồm các thành tố: Mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương pháp đào tạo; Cơ sở vật chất; Thiết bị đào tạo; Lực lượng đào tạo (thầy); Đối tượng đào tạo (trò); Kết quả đào tạo Các thành tố của trên tạo thành một thể thống nhất, có tác động tương hỗ lẫn nhau
Nội dung của QLGD gắn liền với từng thành tố trong quá trình giáo dục Trước hết, phải xác định mục tiêu đào tạo Mục tiêu đào tạo phải gắn liền với mục
Trang 25tiêu phát triển con người và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Mục tiêu được thực hiện xuyên suốt quá trình đào tạo Trên cơ sở mục tiêu, chúng ta xây dựng nội dung và chọn lựa phương pháp và phương tiện đào tạo phù hợp Việc quản
lý nội dung, phương pháp và phương tiện phải theo hướng đổi mới, hiện đại để thích ứng các điều kiện bên ngoài như: tác động của khoa học công nghệ, yêu cầu của CNH-HĐH, yêu cầu đổi mới, tác động của môi trường phát triển kinh tế xã hội QLGD đào tạo phải gắn liền với hai thành tố chủ đạo trong quá trình đào tạo, phải phát huy vai trò chủ đạo của người dạy và tính chủ động, sáng tạo của người học Cuối cùng cần phải tổ chức đánh giá kết quả đào tạo so với mục tiêu đã đề ra
1.2.3 Quản lý nhà trường
1.2.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của nhà trường
Theo Luật Giáo dục 2005, nhà trường có các nhiệm vụ sau:
-Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên
- Tuyển sinh và quản lý người học
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo qui định của pháp luật
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức cá nhân trong hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.2.3.2 Các nội dung quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục mang tính quyền lực Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác GD-ĐT, thực hiện việc giáo dục cho thế hệ đang dần lớn lên Nó
là tế bào cơ sở, chủ chốt khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý nói trên, lại vừa
Trang 26là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó quản lý trường học vừa có tính nhà nước, vừa có tính xã hội
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 02 loại quản lý: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển; Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành các
kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [16]
Tóm lại, quản lý trường học là QLGD được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
1.2.4 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Tùy
theo đối tượng sử dụng, “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Do con người và nền
văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau
Theo Tự điển Tiếng Việt phổ thông: “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [40]
Theo Hoàng Phê: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một sự vật, sự việc” [28]
Theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary:“Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” [41]
Trang 27Mặc dù khái niệm chất lượng chỉ có thể diễn giải một cách tương đối thống nhất và còn luôn thay đổi, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO 9000:2000, đã
đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
1.2.5 Khái niệm về chất lượng giáo dục đại học
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của mọi trường đại học, và việc phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ hàng đầu của bất kỳ cơ sở đào tạo đại học nào Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia Chất lượng giáo dục có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề Thông thường, người ta sử dụng 6 quan điểm để khái niệm về chất lượng trong giáo dục đại học như sau:
*Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”
Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” [14] Quan
điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = chất lượng
Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán
bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao
* Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”
Một quan điểm khác về CLGD đại học cho rằng “đầu ra” của giáo dục đại học có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” “Đầu ra” chính là sản phẩm
của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó
Trang 28* Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”
Quan điểm về CLGD đại học cho rằng một trường đại học có tác động tích cực tới sinh viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá
nhân của sinh viên “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ
đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được: là “giá trị gia tăng” mà trường đại học
đã đem lại cho sinh viên và được đánh giá là CLGD đại học
* Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán
bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Điều này có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao
* Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được
“Văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “Văn hoá tổ chức riêng” với
nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đại học
* Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”
Quan điểm CLGD đại học được đánh giá bằng “Kiểm toán” xem trọng quá
trình bên trong trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Quan điểm này cho rằng nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác và CLGD đại học được đánh giá qua quá trình thực
hiện, còn “Đầu vào” và “Đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ
* Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế
Ngoài 6 khái niệm trên, Tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc
tế (INQAAHE) đã đưa ra 2 định nghĩa về CLGD đại học là:
- Tuân theo các chuẩn quy định
Trang 29- Đạt được các mục tiêu đề ra.[52]
* Quan niệm về chất lượng trong giáo dục đại học
Theo Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số:76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, chất lượng giáo dục đại học được giải thích:“Chất lượng giáo dục của trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước”.[4]
1.2.6 Khái niệm về kiểm định chất lượng giáo dục đại học
Theo Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số: 76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, kiểm định giáo dục đại học được giải thích: “Kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đối với trường đại học ở từng trình độ đào tạo”.[4]
1.2.7 Khái niệm Đánh giá
Theo tự điển Tiếng Việt: “Đánh giá là nhận định giá trị của một sự vật hay
sự việc”.[28]
Đối với chất lượng giáo dục đại học, đánh giá là một hình thức chẩn đoán của việc xem xét chất lượng, hiệu quả việc giảng dạy, học tập và xem xét chương trình đào tạo dựa vào việc kiểm tra chi tiết các chương trình học, cơ cấu và hiệu quả của một cơ sở đào tạo, xem xét bên trong và các cơ chế kiểm soát chất lượng của cơ
sở đó Đánh giá chất lượng được thiết kế nhằm quyết định xem một cơ sở hoặc một chương trình đào tạo có đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng đã được chấp nhận chung hay không
Trang 301.2.8 Khái niệm Tự đánh giá
Theo Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số: 76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, tự đánh giá được giải thích như sau: “Tự đánh giá là quá trình trường đại học tự xem xét, nghiên cứu trên cơ sở các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để báo cáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan khác làm cơ sở để trường tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn đã qui định”.[4]
1.3 Các nội dung cơ bản của công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học
1.3.1 Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam
Theo Quyết định số 76/2007/ QĐ-BGDĐT ngày 14 tháng 12 năm 2007 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam được thực hiện theo các bước sau:
1.3.1.1 Đăng ký kiểm định chất lượng
Nhà trường xây dựng hoặc cập nhật các công cụ kiểm định chất lượng Các công cụ kiểm định chất lượng bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, các văn bản hướng dẫn và đặc biệt là khung pháp lý cho loại công việc này Tiêu chuẩn được hiểu là mức độ yêu cầu và các đòi hỏi mà nhà trường hay các chương trình đào tạo của nhà trường phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định và các tiêu chí được hiểu là các tiêu chuẩn con dùng để kiểm định công nhận một trường hay một chương trình đào tạo của nhà trường Sau khi thực hiện bước nói trên, nhà trường đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục với Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời tiến hành tự đánh giá và gửi báo cáo tự đánh giá cho Bộ GD&ĐT
Trang 31Mục tiêu
Hành động
Tự đánh giá
Kế hoạch
1.3.1.2 Tự đánh giá của trường đại học
Nhà trường sử dụng các công cụ kiểm định chất lượng để triển khai tự đánh giá trong phạm vi nhà trường Hoạt động TĐG đòi hỏi tính khách quan, trung thực
và công khai Các giải thích, nhận định, kết luận đưa ra trong quá trình TĐG phải dựa trên các minh chứng cụ thể, rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, bao quát đầy đủ các tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục TĐG là một quá trình tự học tập, tự nghiên cứu và tự hoàn thiện theo các chuẩn mực đã ban hành để trường được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định Quá trình này thường kéo dài từ 6 tháng đến 18 tháng Đó là khoảng thời gian cần thiết để nhà trường tự nhận thấy những
khiếm khuyết của mình và phấn đấu để khắc phục những khiếm khuyết đó
Tự đánh giá là một khâu quan trọng trong việc lập kế hoạch nâng cao chất lượng giáo dục của trường TĐG giúp trường rà soát, tự xem xét thực trạng của trường, từ đó điều chỉnh mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo, lập kế hoạch và hành động theo kế hoạch Sau đó lại tiếp tục rà soát, xem xét lại thực trạng và điều chỉnh mục tiêu theo hướng cao hơn
Bộ GD&ĐT tạo chấp nhận báo cáo TĐG và đoàn chuyên gia đánh giá ngoài được
Trang 32thành lập Đoàn chuyên gia đánh giá ngoài nghiên cứu báo cáo TĐG, khảo sát, viết báo cáo đánh giá ngoài, gửi cho trường được đánh giá, cho Bộ GD&ĐT để chuẩn bị thẩm định kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục tiến hành thẩm định kết quả đánh giá chất lượng giáo dục, đề nghị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoặc không công nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
1.3.1.4 Quyết định công nhận trường đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng
Trường được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục nếu có 80% số tiêu chí đạt yêu cầu Căn cứ kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyết định công nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Kết quả công nhận trường đạt tiêu chuẩn CLGD được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
Bộ GD&ĐT cấp Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục, kèm theo văn bản xác nhận trường đạt tiêu chuẩn CLGD có giá trị tương ứng với thời hạn của chu kỳ KĐCLGD đã được quy định là 5 năm/ lần
1.3.2 Các nội dung của hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học
Hội đồng TĐG làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thảo luận để đi đến thống nhất Hội đồng TĐG có chức năng triển khai tự đánh giá và tư vấn cho
Trang 33Hiệu trưởng về các biện pháp nâng cao chất lượng các hoạt động của trường Hội đồng tự đánh giá có các nhiệm vụ sau đây:
- Phổ biến chủ trương về việc triển khai tự đánh giá, giới thiệu quy trình tự đánh giá, trao đổi kinh nghiệm tự đánh giá và yêu cầu các đơn vị, cá nhân trong trường phối hợp thực hiện
- Thu thập thông tin, minh chứng, rà soát các hoạt động và đối chiếu kết quả đạt được với mục tiêu đề ra; đánh giá mức độ đạt được, xác định các điểm mạnh và tồn tại của trường; lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch hành động nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
- Đối chiếu kết quả đạt được với các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
do Bộ GD&ĐT ban hành, viết báo cáo tự đánh giá và gửi Bộ GD&ĐT
- Công bố báo cáo tự đánh giá trong nội bộ trường
- Tổ chức, duy trì cơ sở dữ liệu về các hoạt động của trường
Các thành viên trong Hội đồng tự đánh giá có nhiệm vụ:
- Chủ tịch Hội đồng chịu trách nhiệm về các hoạt động của Hội đồng, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; triệu tập và điều hành các phiên họp của Hội đồng; phê duyệt kế hoạch tự đánh giá; chỉ đạo quá trình thu thập thông tin, minh chứng; xử lý, phân tích và viết báo cáo tự đánh giá; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai tự đánh giá
- Phó Chủ tịch Hội đồng có nhiệm vụ điều hành Hội đồng khi được Chủ tịch Hội đồng uỷ quyền và chịu trách nhiệm về công việc được phân công, uỷ quyền
- Các uỷ viên Hội đồng có nhiệm vụ thực hiện những công việc do Chủ tịch Hội đồng phân công và chịu trách nhiệm về công việc được giao
Ban Thư ký do Trưởng đơn vị chuyên trách ĐBCL làm trưởng ban và các thành viên là các cán bộ của đơn vị chuyên trách về ĐBCL và các cán bộ khác do Hội đồng tuyển chọn
Các thành viên của Ban thư ký được tổ chức thành các nhóm công tác chuyên trách Mỗi nhóm công tác có từ 4 đến 5 người, phụ trách từ 1 đến 2 tiêu chuẩn và do một thành viên của hội đồng phụ trách Để đảm bảo thực hiện công
Trang 34việc hiệu quả, mỗi thành viên của Ban thư ký không tham gia quá 02 nhóm chuyên trách
Hội đồng tự đánh giá được phép thuê chuyên gia tư vấn giúp Hội đồng triển khai hoạt động tự đánh giá Chuyên gia tư vấn phải có trình độ thạc sĩ trở lên, có hiểu biết sâu về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục, TĐG và các kỹ thuật cần thiết cho tự đánh giá [5]
- Mục đích và phạm vi của đợt tự đánh giá;
- Đảm bảo thành phần Hội đồng tự đánh giá;
- Phân công trách nhiệm cụ thể của từng thành viên trong hội đồng, xác định những công việc phải thực hiện ứng với từng tiêu chuẩn, tiêu chí, thời gian bắt đầu
và kết thúc, người chịu trách nhiệm chính, người phối hợp;
- Công cụ đánh giá (các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng);
- Xác định các thông tin và minh chứng cần thu thập;
- Dự kiến các nguồn lực và thời điểm cần huy động các nguồn lực cho các hoạt động;
- Thời gian biểu cần chỉ rõ khoảng thời gian cần thiết để triển khai tự đánh giá và lịch trình thực hiện các hoạt động cụ thể [5]
1.3.2.3 Nghiên cứu các tiêu chuẩn, tiêu chí
Bộ GD&ĐT đã ban hành Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học ở Việt Nam theo Quyết định số: 65 /2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm
2007, gồm 10 tiêu chuẩn và 61 tiêu chí
Mười tiêu chuẩn này đề cập đến các vấn đề: Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học; Tổ chức và quản lý; Chương trình giáo dục; Hoạt động đào tạo; Đội ngũ
Trang 35cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên; Người học; Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ; Hoạt động hợp tác quốc tế; Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác; Tài chính và quản lý tài chính (xem phụ lục)
Trong quá trình tiếp cận, nghiên cứu nhiều mô hình đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục khác nhau, mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam được hình thành phù hợp với mô hình đảm bảo chất lượng của nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến Những tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá được xây dựng trên cơ sở vận dụng luận cứ khoa học, cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về đánh giá và ĐBCLGD đại học của các trường đại học nổi tiếng trên thế giới,
có tính đến xu thế hội nhập chung với chất lượng giáo dục trong khu vực và trên thế giới
Khi tiến hành TĐG, trường đại học căn cứ vào tình hình cụ thể, tổ chức tiến hành nghiên cứu, nắm bắt được nội hàm của và hiểu rõ những yêu cầu của từng tiêu chuẩn, tiêu chí để lập kế hoạch thu thập thông tin và minh chứng
1.3.2.4 Thu thập thông tin và minh chứng
Thông tin là những tư liệu được sử dụng để hỗ trợ và minh hoạ cho các nhận định trong báo cáo TĐG của trường Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác
Minh chứng là những thông tin gắn với các tiêu chí để xác định tiêu chí đạt hay không đạt Các minh chứng được sử dụng làm căn cứ để đưa ra các nhận định trong báo cáo
Căn cứ vào 61 tiêu chí của 10 tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, nhà trường tiến hành thu thập thông tin và minh chứng Thông tin và minh chứng thu được không chỉ phục vụ cho mục đích đánh giá, mà còn nhằm mô tả thực trạng các hoạt động của trường để người đọc hiểu hơn, qua đó làm tăng tính thuyết phục của báo cáo tự đánh giá
Khi thu thập thông tin và minh chứng, phải kiểm tra độ tin cậy, tính chính xác, mức độ phù hợp và liên quan đến tiêu chí Trong trường hợp không thể tìm
Trang 36được thông tin, minh chứng cho một tiêu chí nào đó, Hội đồng TĐG phải hiểu và làm rõ lý do
Trong quá trình thu thập thông tin và minh chứng, phải chỉ rõ nguồn gốc của chúng; lưu trữ các thông tin, minh chứng, kể cả các tư liệu liên quan đến nguồn gốc của các thông tin và minh chứng thu được; có biện pháp bảo vệ các thông tin và minh chứng đó
1.3.2.5 Xử lý, phân tích các thông tin và minh chứng
Trong thực tế, một số thông tin phải qua xử lý mới sử dụng được Các kỹ thuật thống kê phải được sử dụng nhiều ở công đoạn này Các thông tin điều tra phải ở dạng số liệu tổng hợp, tránh sử dụng những thông tin làm ảnh hưởng đến các đơn vị hoặc cá nhân cung cấp thông tin
Thông tin, minh chứng thu được của mỗi tiêu chí được trình bày trong Phiếu đánh giá tiêu chí trong phạm vi 2 - 3 trang theo các nội dung dưới đây:
- Mô tả và phân tích các hoạt động của trường liên quan đến tiêu chí
- So sánh với mặt bằng chung, với chính nhà trường trong những năm trước hay với các quy định của Nhà nước để thấy được hiện trạng của nhà trường trong thời điểm TĐG
- Đưa ra những nhận định về điểm mạnh và những yếu tố cần phát huy, đồng thời chỉ ra những tồn tại, giải thích nguyên nhân
- Xác định những vấn đề cần cải tiến và đề ra những biện pháp để cải tiến những vấn đề đó
- Xác định tiêu chí đạt hay không đạt yêu cầu Với mỗi tiêu chí, nếu có đầy
đủ minh chứng đáp ứng các yêu cầu của tiêu chí thì xác nhận tiêu chí đó đạt yêu cầu, ngược lại thì ghi: chưa đạt yêu cầu
Với những tiêu chí không có minh chứng để chứng minh tiêu chí đó đạt yêu cầu thì ghi: Không có minh chứng
Trong quá trình xử lý, phân tích, có thể một số thông tin và minh chứng thu được không phù hợp với các kết quả nghiên cứu, đánh giá ở trong và ngoài trường
Trang 37đã được công bố trước đó Hội đồng TĐG có trách nhiệm kiểm tra lại các thông tin
và minh chứng đó, giải thích lí do không phù hợp
Phiếu đánh giá tiêu chí là tài liệu ghi nhận kết quả làm việc của mỗi nhóm công tác theo từng tiêu chí và là cơ sở để tổng hợp thành báo cáo theo từng tiêu chuẩn Vì vậy, mỗi nhóm công tác phải đảm bảo độ chính xác, trung thực và sự đồng nhất của các Phiếu đánh giá tiêu chí trong mỗi tiêu chuẩn [5]
1.3.2.6 Viết báo cáo tự đánh giá
Kết quả TĐG được trình bày dưới dạng một bản báo cáo của trường về 10 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Báo cáo TĐG là một bản ghi nhớ quan trọng nhằm cam kết thực hiện các hoạt động cải tiến chất lượng của trường
Báo cáo tự đánh giá phải mô tả một cách ngắn gọn, rõ ràng, chính xác và đầy
đủ các hoạt động của trường, trong đó phải chỉ ra những điểm mạnh, những tồn tại, khó khăn và kiến nghị các giải pháp cải tiến chất lượng, kế hoạch thực hiện, thời hạn hoàn thành, thời gian tiến hành đợt tự đánh giá tiếp theo
Kết quả TĐG được trình bày lần lượt theo 10 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Trong mỗi tiêu chuẩn, trình bày lần lượt theo từng tiêu chí Đối với mỗi tiêu chí phải viết đầy đủ 5 phần: Mô tả và phân tích các hoạt động của trường liên quan đến tiêu chí; Điểm mạnh và những yếu tố cần phát huy; Những tồn tại; Kế hoạch hành động; Tự đánh giá dựa trên kết quả đạt được của các nhóm công tác
Kết quả đánh giá từng tiêu chí được tổng hợp vào bảng Tổng hợp kết quả tự đánh giá
Tuỳ theo kế hoạch phát triển và chiến lược ưu tiên của mỗi trường mà xác định trọng tâm cải tiến chất lượng cho từng giai đoạn Về tổng thể, trường phải có
kế hoạch khắc phục tất cả những tồn tại, thiếu sót của mình
Dự thảo báo cáo TĐG cuối cùng phải được chuyển cho những người cung cấp thông tin và minh chứng để xác minh lại các thông tin, minh chứng đã được sử dụng và mức độ chính xác của các nhận định rút ra từ đó, đồng thời các nhóm công tác rà soát lại phần báo cáo có liên quan đến công việc được giao Cuối cùng, các thành viên Hội đồng TĐG ký xác nhận vào bản báo cáo tự đánh giá.[5]
Trang 381.3.2.7 Các hoạt động sau khi hoàn thành tự đánh giá
Sau khi hoàn thành tự đánh giá, Hội đồng nộp báo cáo tự đánh giá cho lãnh đạo trường để thực hiện các công việc tiếp theo:
- Công bố kết quả TĐG để các thành viên trong trường có thể đọc và đóng góp ý kiến trong vòng ít nhất 2 tuần
- Thu thập và xử lý các ý kiến thu được sau khi công bố kết quả tự đánh giá, hoàn thiện bản báo cáo
- Bản báo cáo TĐG chính thức phải được Hiệu trưởng ký tên, đóng dấu
- Gửi công văn cùng báo cáo TĐG về Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó ghi rõ trường đạt hay không đạt tiêu chuẩn chất lượng và đăng ký thời gian trường có thể đón đoàn chuyên gia đánh giá ngoài đến khảo sát
- Tổ chức lưu trữ các thông tin, minh chứng, kể cả các tư liệu liên quan đến nguồn gốc của các thông tin và minh chứng thu được, có biện pháp để bảo vệ các thông tin và minh chứng đó;
- Triển khai thực hiện các kiến nghị trong báo cáo tự đánh giá [5]
1.3.3 Khuyến nghị
Tự đánh giá là khâu quan trọng trong quy trình KĐCLGD đại học Trường cần phải báo cáo trung thực và chính xác tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất cũng như các vấn đề liên quan khác của trường, từ đó tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng TĐG không chỉ tạo cơ sở cho công tác đánh giá ngoài mà còn là cơ sở để trường cải tiến chất lượng, đồng thời thể hiện tính tự chủ và tính tự chịu trách nhiệm của trường trong toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ xã hội theo chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với sứ mạng và mục tiêu của trường
Trang 391.4 Các nội dung quản lý hoạt động tự đánh giá trong KĐCLGD đại học
1.4.1 Quản lý công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học
“Kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học là hoạt động đánh giá mức
độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào
tạo quy định đối với trường ở từng trình độ đào tạo”.[4]
Thực chất của quản lý KĐCLGD đại học là quản lý việc thực hiện quy trình kiểm định, trong đó quan trọng nhất là khâu quản lý hoạt động TĐG của trường Quản lý KĐCLGD đại học phải đảm bảo các công tác từ lập kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra qui trình kiểm định đảm bảo mục tiêu kiểm định đã đề ra Quản
lý các hoạt động của KĐCLGD để đánh giá đúng thực chất các mặt hoạt động của nhà trường và để đảm bảo với cộng đồng và các tổ chức hữu quan rằng nhà trường đại học đó đã có những mục tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp, có đủ những điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu đó và có khả năng phát triển các mục tiêu trên bền vững
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học
1.4.2.1 Quản lý bộ máy nhân sự
Bao gồm quản lý công tác lập kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ tham gia công tác kiểm định Quản lý bộ máy nhân sự bao gồm cả việc thành lập và quản lý nhân sự của Hội đồng TĐG, ban thư ký và các nhóm chuyên trách thông qua các nội dung công việc như:
- Quản lý việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Hội đồng cho phù hợp năng lực và nhiệm vụ đang công tác
- Quản lý kế hoạch thu thập thông tin và minh chứng
- Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao như: thu thập minh chứng, viết báo cáo, lưu trữ thông tin…
- Theo dõi chỉ đạo thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ về lãnh vực KĐCLGD của từng thành viên
Trang 40- Nắm được ưu điểm, khuyết điểm; phẩm chất đạo đức và tư tưởng, chính trị của từng cá nhân
- Đánh giá công việc của từng thành viên qua từng giai đoạn thực hiện kế hoạch là vấn đề quan trọng, sẽ tạo cơ sở cần thiết để đánh giá tổng thể về hiệu quả hoạt động của Hội đồng tự đánh giá
- Kiểm tra đánh giá các thành viên tham gia Hội đồng, ban thư ký, nhóm chuyên trách thông qua các đồng nghiệp và người quản lý
- Kiểm tra đánh giá tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông qua các hình thức: Kiểm tra kết quả thực hiện, viết báo cáo tiến độ…
1.4.2.2 Quản lý công tác đảm bảo thực hiện các mục tiêu và lập kế hoạch
tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học
*Quản lý công tác đảm bảo thực hiện các mục tiêu
Nhà trường phải quản lý các khâu trong kế hoạch TĐG để đảm bảo đúng mục tiêu Các hoạt động phải đánh giá được tổng thể các hoạt động của nhà trường theo yêu cầu của bộ tiêu chuẩn KĐCL Nhà trường phải quản lý công việc tổ chức nghiên cứu các tiêu chuẩn, tiêu chí và định hướng thu thập thông tin, minh chứng thể hiện được các hoạt động của nhà trường theo hướng mô tả và đưa ra những nhận định để làm rõ các thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường Công tác chỉ đạo phải cụ thể và tổ chức kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ trong quá trình tiến hành hoạt động TĐG
Mục tiêu đánh giá trong từng giai đoạn phải công khai và kế hoạch thực hiên phải được từng cán bộ, giảng viên, nhân viên trong nhà trường hiểu rõ
Cần phải đánh giá kết quả thực hiện đối chiếu với mục tiêu đề ra để kịp thời điều chỉnh, nếu không hoạt động TĐG sẽ đi lệch hướng và sẽ trở thành một báo cáo phê và tự phê hoặc một bản thống kê đơn thuần
*Quản lý công tác lập kế hoạch tự đánh giá
Quản lý công tác lập kế hoạch cho hoạt động TĐG là công việc thật sự cần thiết và quan trọng Kế hoạch tự đánh giá là văn bản pháp qui của nhà trường xác định danh mục, khối lượng nội dung của hoạt động tự đánh giá Các công việc trong