1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng sử dụng bài giảng bài tập theo hướng phân hóa – nêu vấn đề nhằm tạo hứng thú và niềm tin học tập nâng cao chất lượng cho học sinh phần ancol

28 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 66,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáodục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất vànăng lực của học sinh; tạo môi trường họ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ LỢI

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG - SỬ DỤNG BÀI GIẢNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÂN HÓA - NÊU VẤN ĐỀ NHẰM TẠO HỨNG THÚ NIỀM TIN HỌC TẬP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO HỌC SINH

PHẦN ANCOL

Người thực hiện: Cao Văn Hòa Chức vụ : Giáo viên

SKKN thuộc môn Hóa Học

THANH HÓA, NĂM 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ LỢI

- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG - SỬ DỤNG BÀI GIẢNG BÀI TẬP THEO HƯỚNG PHÂN HÓA - NÊU VẤN ĐỀ NHẰM TẠO HỨNG THÚ NIỀM TIN HỌC TẬP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO HỌC SINH PHẦN

ANCOL

Người thực hiện: Cao Văn Hòa Chức vụ : Giáo viên

SKKN thuộc môn Hóa Học

THANH HÓA, NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1.Mở đầu 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

1.3.Đối tượng nghiên cứuvà phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5.Những điểm mới của đề tài 5

2 Nội dung 5

2.1 cơ sở lí luận về dạy học phân hóa - nêu vấn đề 5

2.1.1 Dạy học phân hóa 5

2.1.2 Dạy học nêu vấn đề 8

2.2.Thực trạng việc sử dụng bài giảng bài tập hóa học ở trường phổ thông 9

2.3 Xây dựng - sử dụng bài giảng bài tập theo hướng phân hóa - nêu vấn đề nhằm tạo hứng thú niềm tin học tập nâng cao chất lượng cho học sinh phần ancol 9

2.3.1 Nguyên tắc xây dựng 10

2.3.2.Các mức phân hóa 10

2.3.3 Các dạng phân hóa cụ thể đối với bài giảng và bài tập phân hóa 12

2.3.4.Xây dựng các bài tập 14

2.3.5.Một số bài tập phần ancol được xây dựng theo hướng phân hóa nêu vấn đề (phần phụ lục)……… 18

2.4 Chất lượng của các lớp thực nghiệm 18

3 Kết luận và kiến nghị 18

3.1 Kết luận………… 18

3.2 Một số ý kiến đề xuất…… 19

Tài liệu tham khảo………… ……….……… ………

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Nước ta đang trên con đường đổi mới toàn diện, đất nước ta đã vượt quanhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đangphát triển có thu nhập trung bình Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế củanước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nềnkinh tế chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội đủ cácnhân tố để phát triển nhanh và bền vững Cũng trong khoảng thời gian trước vàsau khi nước ta tiến hành đổi mới, thế giới chứng kiến những biến đổi sâu sắc vềmọi mặt Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư nối tiếp nhau

ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồngthời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là cácquốc gia đang phát triển và chậm phát triển Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ

8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông quaNghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014

về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mớicăn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mớichương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Mục tiêu đổi mới được Nghịquyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáokhoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng

và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghềnghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nềngiáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể,

mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” Thực hiện các Nghị quyết

Trang 4

của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáodục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất vànăng lực của học sinh; tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh pháttriển hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, biếtvận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh các tri thức và kĩ năngnền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩmchất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm,người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cánhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầuhoá và cách mạng công nghiệp mới [1].

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó thì việc đổi mới nội dung và phươngpháp giảng dạy cũng như phương pháp đánh giá là một việc làm mang tính cấpthiết, để đạt được hai mục tiêu cơ bản:

- Một là phải phát huy được tính tích cực trong học tập, hình thành, phát triểnnăng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong đời sốngcủa học sinh

- Hai là xuất phát từ những đổi mới trong việc đánh giá chất lượng và thi cửcủa Bộ GDĐT thì phải thực hiện tốt các mục đích dạy học đối với tất cả họcsinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa năng lực, phát huy tốt sở trường,

sở thích của mỗi cá nhân học sinh để các em hướng tới con đường lập thân lậpnghiệp tuỳ thuộc vào khả năng, lực học của mình để lựa chọn nguyện vọngtrong kỳ thi THPTQG [1]

Muốn đạt được các mục tiêu đó, trong quá trình dạy học phải lựa chọn phươngpháp phù hợp với nội dung dạy học cho từng đối tượng học sinh vùng, miền vàđối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu kém nhằm tích cực hoá nhận thức hình thành năng lực giải quyết vấn đề và năng lực hoạt động sáng tạo cho mỗi đối tượng học sinh Các mục đích đó sẽ đạt được nếu áp dụng một cách chính xác khoa học phương pháp dạy học phân hoá nêu vấn đề Đây là một hìnhthức dạy học kết hợp hai phương pháp dạy học là dạy học phân hoá và dạy học

Trang 5

nêu vấn đề Trong đó, dạy học nêu vấn đề đáp ứng được mục tiêu thứ nhất, còndạy học phân hoá nhằm đáp ứng được mục tiêu thứ hai Trong cùng một lớp họckhả năng nhận thức của từng học sinh là khác nhau.Vì vậy việc truyền thụ kiếnthức ở các mức độ cho từng đối tượng cho học sinh của giáo viên là vấn đề rất

quan trọng Đây là lí do mà tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng - sử dụng bài giảng

bài tập theo hướng phân hóa – nêu vấn đề nhằm tạo hứng thú và niềm tin học tập nâng cao chất lượng cho học sinh phần ancol”[3],[4],[10].

1.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu [3],[11],[13].

1.2.1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu “ xây dựng bài tập theo hướng phân

hoá – nêu vấn bài ancol chương trình hoá học 11” Qua đó làm tăng sự hướng

thú tự tin và nâng cao chất lượng dạy và học hoá học ở trường THPT

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và quy trình giảng dạy phân hoá nêu vấn đề trongdạy học ở trường THPT

- Nghiên cứu nội dung cấu trúc chương trình hoá học 11 và hóa học THPT

- Xây dựng hệ thống bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đề phần Hoá họchữu cơ lớp 11 THPT nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy và học

- Thực nhiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đềtài

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu [2],[4],[8],[9].

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu quá trình dạy học hoá học ở trường THPT và sử dụng phươngpháp phân hoá nêu vấn đề trong giảng dạy và học tập phần ancol Hoá học lớp 11THPT

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng

phân hoá nêu vấn đề phần hoá học hữu cơ Hoá học lớp 11 THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu [11]:

- Nghiên cứu lí luận về nhận thức và tính tích cực nhận thức

Trang 6

- Nghiên cứu nội dung các chương hoá học hữu cơ lớp 11 ban cơ bản

- Điều tra thực tiễn: điều tra cơ bản về năng lực tư duy và nguyện vọng củahọc sinh

- Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên hoá học trong và ngoài trường

- Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng phân hoá nêu vấn đềphần hoá học hữu lớp 11 THPT cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy

- Thực nghiệm sư phạm và xử lí kết quả

1.5 Những điểm mới của đề tài

Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng được hệ thống bài tập phân hoá nêu vấn

đề đảm bảo tính khoa học, lôgic về nội dung và cấu trúc, phù hợp với từng đốitượng học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc dạy và học Hoá họcnói chung, phần hoá học hữu cơ lớp 11 THPT nói riêng.Đối với nội dung củamỗi bài tập chúng ta thiết kế thành 3 vấn đề th eo ba mức độ với mục đíchhướng đến việc phát triển khả năng tìm tòi tự học và cụ thể hoá mức độ kiếnthức của học sinh

* Vấn đề thứ nhất: (mức độ 1) cần hướng học sinh nêu ra đựơc các tính chất riêng biệt của các tính chất ,các hiện tượng, cách lý giải những nguyên nhân đơngiản nhất, trình bày lại những kiến thức cơ bản dựa vào trí nhớ

* Vấn đề thứ hai: (mức độ 2) học sinh biết vận dụng kiến thức vào điều kiệnmới, sử dụng kiến thức vào điều kiện thức tế Để hoàn thành vấn đề này cần có

sự phân tích so sánh để nêu ra được các điều kiện cơ bản đối với một số lớn cácchất, các hiện tượng

* Vấn đề thứ ba: (mức độ 3) là mức độ cao nhất trong ba mức độ, mức độ nàyyêu cầu không chỉ phân tích, so sánh mà còn khái quát hoá các số liệu thu được

sử dụng chúng trong điều kiện mới phức tạp hơn

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lí luận về dạy học phân hóa – nêu vấn đề [3],[13],[14].

2.1.1 Dạy học phân hoá

Trang 7

2.1.1.1 Khái niệm:

Dạy học phân hoá xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa sự thống nhất và

sự phân hoá, tức là thể hiện sự kết hợp giữa hoạt động “đại trà” với giáo dục

“mũi nhọn” giữa “phổ cập” với “nâng cao” trong dạy học ở trường phổ thông

và nó được tiến hành theo tư tưởng chủ đạo sau:

- Lấy trình độ phát triển chung của học sinh làm nền tảng Nội dung và phươngpháp trước hết phải phù hợp với trình độ nhận thức và điều kiện chung của từngđối tượng học sinh

- Sử dụng những biện pháp phân hoá giúp học sinh yếu kém vươn lên trình độ trung bình, tránh được sự mặc cảm tự ti, chán nản của các em, đồng thời khích lệđược các học sinh khá giỏi có khả năng tìm tòi phát hiện một số vấn đề cụ thể

Các cách dạy học này dựa vào “vùng phát triển gần nhất” của học sinh tức là

chỉ cần gợi ý nhỏ là học sinh có thể giải được bài toán tương đối khó khăn hơn

so với sức của học sinh

- Đưa ra nội dung bổ sung và biện pháp phân hoá nhằm giúp học sinh khá giỏiđạt đựợc những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bảnđặt ra từ mục tiêu của bài học

Như vậy, dạy học phân hoá vừa đảm bảo tính vừa sức và khuyến khích họcsinh phát huy tối đa trí lực vốn có của mỗi cá nhân khi vượt qua chướng ngạinhận thức Nếu vấn đề đưa ra quá khó thì học sinh sẽ thấy không hứng thú thiếu

tự tin về môn học lúc bấy giờ, học sinh hoang mang không dám theo ban khoahọc tự nhiên nữa, xem học ban khoa học tự nhiên, như là một chướng ngại khókhắc phục, học sinh sẽ không được đặt vào tình huống có vấn đề nên không thấy

sự hấp dẫn lôi cuốn khi tìm kiếm, phát hiện nhanh kiến thức Ngược lại vấn đềđưa ra quá dễ sẽ gây cho học sinh sự nhàm chán, không kích thích tư duy tíchcực của học sinh Đây là một nguyên tắc quan trọng mà giáo viên cần phải hết sứclưu ý trong quá trình dạy học theo xu hướng đổi mới nhằm khơi gợi, kích thích,đòi hỏi học sinhi nghiên cứu suy nghĩ, tìm tòi và phát huy đến mức cao nhất 2.1.1.2 Các phương pháp phân hoá

Trang 8

a Quan điểm xuất phát:

Trong một lớp học, một khối học cũng vậy có nhiều học sinh với những đặc điểm giống nhau ví dụ: như lứa tuổi, trình độ phát triển tâm sinh lý tương đốiđồng đều… sự thống nhất này là cơ bản, nhờ đó ta mới có thể dạy học cùng mộtchương trình Tuy nhiên vẫn có nhiều em trình độ nhận thức cao hơn nhiều sovới các bạn cùng lứa do đó việc áp dụng phương pháp dạy học phân hoá có tácdụng rất lớn Trong thực tiễn có thể có hai phương pháp phân hoá chính ápdụng cho việc giảng dạy ở trường phổ thông là:

- Phân hoá trong cùng một lớp học

- Phân hoá trong cùng một khối học (lớp chọn) hoặc theo trường (trường

điểm, trường chuyên)

b Phân hoá trong cùng một lớp:

Trong một lớp gồm nhiều cá thể khác nhau, khác nhau về trình độ nhận thức, khác nhau về đặc điểm tâm sinh lý, mỗi học sinh là một chủ thể nhận thức khi cócùng tác động sư phạm vào các học sinh khác nhau sẽ có các phản ứng khácnhau Sự phản ứng khác nhau đó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực ảnhhưởng đến quá trình dạy học Do đó người giáo viên cần có sự “phân biệt hoá,

cá thể hoá” làm trong quá trình dạy học phát huy được tính tích cực, hạn chế tối

đa mặt tiêu cực của sự khác nhau đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh pháthuy ở mức độ cao nhất Muốn vậy người giáo viên cần nắm mục tiêu, hiểu tâm

lý của mỗi học sinh, của từng lứa tuổi học sinh và xác định tương lai công việclập nghiệp của học sinh

Tóm lại từ yêu cầu xã hội đối với người lao động là giống hoặc khác nhau,

từ sự giống và khác nhau về trình độ và việc phát triển nhân cách từng học sinhđòi hỏi quá trình dạy học thống nhất cùng với những biện pháp phân hoá nội tại.dạy học phân hoá cần phải xây dựng kế hoạch lâu dài, cụ thể

c Phân hoá bài nội dung bài giảng và phân hoá bài tập về nhà :

* Phân hoá bài nội dung bài giảng

+ Khi phân hóa các bài giảng trên lớp cần lưu ý một số đặc điểm sau:

Trang 9

+ Phân hoá nội dung, phương pháp phù hợp với trình độ của mỗi đối tượng học sinh.+ Phân hoá yêu cầu về khả năng tư duy độc lập, bài giảng dành cho đối tượnghọc sinh yếu kém chứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh dễ tiếp nhận kiến thức

* Phân hoá bài tập về nhà: Khi phân hoá bài tập về nhà cần lưu ý :

+ Phân hoá số lượng bài tập cùng loại phù hợp với đối tượng để đạt cùng mộtyêu cầu

+ Phân hoá nội dung phù hợp với trình độ của mỗi học sinh

+ Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập, bài tập cho đối tượng học sinh yếu kémchứa nhiều yếu tố dẫn dắt để học sinh suy nghĩ làm bài tập ở mức cao hơn.+ Ra riêng bài tập tạo tiền đề xuất phát cho học sinh yếu kém để chuẩn bị những bài sau và ra riêng bài tập nâng cao cho học sinh khá giỏi

2.1.2 Dạy học nêu vấn đề

2.1.2.1 Khái niệm:

- Dạy học nêu vấn đề là kiểu dạy học mà thầy tạo ra những tình huống có vấn

đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, để hoạt động tự giác và tích cực và đểgiải quyết vấn đề mà thông qua giải quyết những vấn đề đó học sinh có khả nănglĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được những mục đích học tập khác

- Dạy học nêu vấn đề là một hệ phương pháp dạy học phức tạp, đa năng tức là

nó có thể được áp dụng vào nhiều phương pháp dạy học khác nhau, trong đóphương pháp xây dựng bài toán ơrixtic (tình huống có vấn đề) giữ vai trò chủđạo, gắn bó phương pháp khác tập hợp thành một hệ thống toàn vẹn

2.1.2.2 Mối quan hệ giữa dạy học nêu vấn đề và dạy học phân hoá

a Sự phân hoá trong dạy học nêu vấn đề.

Nói chung tính phân hoá nên có cho mọi hình thức dạy hoc Vì trong mỗi lớphọc, ngoài những đặc điểm chúng ta mỗi cá thể học sinh là một đối tượng riêngbiệt với mức độ tư duy khác nhau, với sự định hướng khác nhau Cho nên xuhướng dạy học mới phải khêu gợi, kích thích, đòi hỏi con người suy nghĩ, tìm tòi

và phát huy đến mức cao nhất Đối với dạy học nêu vấn đề, tính phân hoá của

nó lại càng cần thiết để phát huy ưu thế của nó Vì nếu vấn đề đưa ra không vừa

Trang 10

sức hoặc khó khăn thì học sinh sẽ không được đặt vào tình huống có vấn đề đểlôi cuốn họ và việc tìm kiếm, phát hiện kiến thức nhanh Từ đó, học sinh sẽ thấyhọc tập như là một hướng ngại khó khắc phục Ngược lại vấn đề đưa ra quá dễ

sẽ gây cho học sinh nhàm chán, không kích thích tư duy tích cực của học sinh

Sự phân hoá trong dạy học nêu vấn đề được thể hiện ở hai hình thức:

- Phân hóa về mặt tổ chức của dạy học nêu vấn đề, đó là các mức độ của dạyhọc nêu vấn đề gồm: Thuyết trình nêu vấn đề, Đàm thoại nêu vấn đề, Nghiên cứu nêu vấn đề

- Phân hoá về nội dung và mức độ phức tạp của vấn đề nghiên cứu Mỗi vấn đề nghiên cứu có thể được phân hoá thành các câu hỏi và bài tập có mức độ khó tăng dần để phù hợp với từng đối tượng và cá thể học sinh, đó là các mức độ:+ Tái hiện kiến thức

+ Phân tích - so sánh

+ Vận dụng sáng tạo kiến thức trong tình huống mới

b.Yếu tố nêu vấn đề trong dạy học phân hoá

Ưu điểm chính của dạy học nêu vấn đề là phát huy tính tích cực, tự lực tìmkiếm tri thức của học sinh thông qua quá trình hình thành kỹ năng phát hiện vàgiải quyết vấn đề học tập Còn ưu điểm của dạy học phân hoá là vừa sức và sátđối tượng trong giáo dục Vai trò của dạy phân hoá và việc sử dụng các bài tậpphân hoá sẽ được phát huy tính tích cực hơn nhiều nếu biết áp dụng các yếu tốcủa dạy học nên vấn đề Bởi vì, nếu như đặc tính nêu vấn đề của dạy học thúcđẩy hoạt động hoá tư duy của học sinh thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạođiều kiện thuận lợi để áp dụng dạy học nêu vấn đề vào việc nghiên cứu tài liệu

và cả những bài ôn tập tổng kết “nếu như tính vấn đề của việc dạy học làm hoạt động hoá nhận thức của học sinh, kích thích các trạng thái tâm lý như ham muốn hiểu biết và ham học hỏi thì việc phân hoá trong dạy học sẽ tạo điều kiện

để sử dụng các cảm xúc tích cực này vào thực tiễn của quá trình dạy học” Và

nếu như trong dạy học truyền thống việc tổ chức giờ học chỉ giúp học sinh táihiện kiến thức, học thuộc nội dung chương trình SGK hoặc rèn luyện kỹ năng

Trang 11

giải bài tập theo các mẫu bài quen thì việc tổ chức dạy học nêu vấn đề có sửdụng các bài tập phân hoá trong giờ học sẽ dẫn học sinh vào tình huống mà họccần khái quát hoá kiến thức ở mức độ mới Kết luận mang tính suy luận trongphạm vi toàn bộ chương trình và ở những bài mang tính chất nghiên cứu.

2.2.Thực trạng việc sửa dụng bài giảng và bài tập hóa học ở trường THPT

[5],[11]

Phần lớn giáo viên chỉ xây dựng và thiết kế bài giảng một cách chung chungcho mức học sinh trung bình chứ chưa thực sự xây dựng và sử dụng một cáchphân loại bài giảng bài tập cho nhiều đối tượng học sinh, dẫn đến còn nhiều sựbất cập trong quá trình nhận thức của học sinh dẫn đến tình trạng học sinh có lựchọc yếu thiếu tự tin, dần xa rời với môn hóa hoc và chuyển khối học, khối thi.Học sinh khá, giỏi thì nhàm chán hời hợt Để giải quyết vấn đề trên tôi thấy

rằng việc“Xây dựng - sử dụng bài giảng bài tập theo hướng phân hóa – nêu

vấn đề nhằm tạo hứng thú và niềm tin học tập nâng cao chất lượng cho học sinh phần ancol” là rất cần thiết

2.3 Xây dựng - sử dụng bài giảng bài tập theo hướng phân hóa – nêu vấn

đề nhằm tạo hứng thú và niềm tin học tập nâng cao chất lượng cho học sinh phần ancol.

2.3.1.Nguyên tắc xây dựng [8],[9],[4],[13]:

Nguyên tắc xây dựng: Trên cơ sở thực hiện việc phân hoá khả năng nhận

thức và tư duy của học sinh chúng ta có thể chuẩn bị hệ thống các bài giảng vàbài tập với mức độ khác nhau Đối với một bài giảng, tùy vào đối tượng dạy họcchúng ta có thể thiết kế thành các mức độ khác nhau phù hợp với khả năng tưduy nhận thức của từng đối tượng học sinh

Trang 12

- Khi dạy các tiết luyện tập thì giáo viên nên đưa ra các bài tập cơ bản tương đối dễ và hướng dẫn học sinh một cách cụ thể.

- Sử dụng phương pháp trực quan (dùng thí nghiệm đơn giản dễ nhận thấynhư chứng minh các tính chất vật lý của các chất )

b Mức độ trung bình: Tức là năng lực nhận thức và khả năng tự lập trung bình.Đối với đối tượng học sinh này thì giáo viên có thể sử dụng các phương pháp sau:

- Sử dụng các phương pháp thuyết trình tái hiện - thông báo và thuyết trìnhgiải thích để dạy các nội dung khó và phức tạp

- Sử dụng phương pháp trực quan (thí nghiệm ở mức độ đơn giản) với hìnhthức minh hoạ hoặc diễn dịch chỉ đòi hỏi trò hoạt động nhận thức thụ động, lờinói của thầy là nguồn thông tin chủ yếu

- Sử dụng phương pháp đàm thoại tái hiện vì phương pháp này chỉ đòi hỏi trò

nhớ lại và trả lời các câu hỏi do thầy đặt ra

- Sử dụng phương pháp đàm thoại giải thích - minh họa có kèm theo thí

nghiệm Nội dung giải thích sẽ cấu tạo thành hệ thống câu hỏi - lời giải đáp Như vậy sẽ giúp người học dễ nhớ hay rất phù hợp với đối tượng dạy học này Tóm lại với 2 đối tượng dạy trên thì vấn đề cơ bản là giáo viên phải tìm rađúng nguyên nhân học kém để có biện pháp xử lý thích hợp nhất, luôn khuyếnkhích, động viên, kiên trì giúp đỡ, đặc biệt là phải chú ý bồi dưỡng phương pháphọc tập, phương pháp tư duy, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của họcsinh chứ không làm thay

c Mức độ học sinh có mức nhận thức khá - giỏi: Tức là năng lực nhận thức vàkhả năng tự lập cao Do đặc điểm về trình độ nhận thức khá cao nên đối với đốitượng dạy học này giáo viên nên sử dụng các phương pháp sao cho có thể pháthuy được tính tích cực nhận thức của học sinh tức là phải hướng học sinh tíchcực tự lực giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và giành sáng tạo

Cụ thể, giáo viên nên sử dụng các phương pháp sau:

- Rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự lực làm việc độc lập với sách

Trang 13

giáo khoa, tự giác giải các bài tập trong đề cương mà giáo viên đưa ra cả bài tập

tự luận và bài tập trắc nghiệm

- Đàm thoại nêu vấn đề, đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề và hướngdẫn họ cách tự lực tìm ra phương hướng giải quyết

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu để giúp học sinh phát hiện một tính chấtmới, một khái niệm mới hoặc nghiên cứu một nội dung hay một vấn đề dướidạng bài tập nghiên cứu Muốn vậy giáo viên cần phải gây được động cơ hứngthú học tập của học sinh cũng như nhu cầu nhận thức của họ

- Bên cạnh đó có thể sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề

Như vậy khi dụng các phương pháp trên áp dụng cho học sinh khá - giỏi thìkiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn vớinhau Các vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra mội cáchđột ngột, bất ngờ

2.3.3.Các dạng phân hóa cụ thể đối với bài giảng và bài tập phân hoá

2.3.3.1 Đối với các bài giảng: trên cơ sở mối quan hệ giữa mục đích - nội dungphương pháp dạy học và các yếu tố chi phối phương pháp dạy học để thực hiệnphân hóa trong bài giảng hóa học phù hợp với đối tượng học sinh theo quy trìnhsau:

- Nghiên cứu nội dung tài liệu sách giáo khoa: Trong suốt quá trình giảng dạycủa một người giáo viên, để có được một bài dạy hay, lôi cuốn học sinh thìngười giáo viên cần phải có một sự chuẩn bị chu đáo từ nhiều phía, trước tiêncần phải nắm rõ được mục tiêu và nội dung của bài dạy Muốn vậy người giáoviên không chỉ nghiên cứu kỹ nội dung tài liệu sách giáo khoa mà còn phải tìmhiểu và nghiên cứu qua các tài liệu tham khảo khác có liên quan đến bài học đó.Trên cơ sở đó giáo viên sẽ xác định được mục đích cần dạy, cũng như nội dungcốt lõi, nền tảng bài đó là gì., từ đó lựa chọn phương pháp dạy học thích hợpnhất Quan trọng nhất đối với sự thành công của một bài lên lớp là sự kết hợpcác phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh

-Xác định chính xác những mục đích của bài học: Tìm hiểu những yêu cầu của

Trang 14

chương trình: Những tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung bài học Đánhgiá kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập cũng như trình độ năng lực nhận thức củatừng đối tượng HS Từ đó xác định hệ thống những mục đích của bài.

+ Yêu cầu về nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần có

+ Yêu cầu về giáo dục tình cảm, thái độ, cách nhìn nhận đánh giá sự vật

+ Yêu cầu phát triển năng lực nhận thức như so sánh khái quát cũng như cáckhả năng sáng tạo, đổi mới

- Xây dựng nội dung bài học: Từ mục đích giảng dạy giáo viên sẽ xây dựng nộidung bài học cụ thể:

+ Xác định mục đích tư tưởng chính của bài

- Xây dựng mô hình cấu trúc nội dung bằng một sơ đồ Grap và xác định rõthời gian hợp lý tương ứng với nội dung, phân hoá nội dung dạy học sao chophù hợp với các đối tượng học sinh

2.3.3.2 Xác định và phân loại đối tượng dạy học:

- Phân hóa sự nhận thức của học sinh giữa các lớp trong cùng một trường

- Phân hóa sự nhận thức của học sinh trong cùng một lớp

2.3.3.3 Quy trình phân hóa: Quy trình trên được cụ thể hoá qua bảng sau:

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w