Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn lịch sử có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảm cho học sinh, góp phần hình thành nên những kiến thức cơ bản và
Trang 1MỤC LỤC:
MỤC LỤC
2.3.2 Xác định đúng những nội dung và phương pháp sử dụng
bảng biểu phù hợp
7
2.3.3 Khai thác bảng biểu để ôn tập, làm bài tập 13
2.3.4 Một số lưu ý khi sử dụng bảng biểu 15
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC ĐỀ TÀI SKKN
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử là một môn khoa học nghiên cứu về quy luật hoạt động, phát triển của xã hội loài người Lịch sử cung cấp cho thế hệ trẻ những hiểu biết về quá
Trang 2khứ, thông qua bài dạy lịch sử người thầy có thể giúp học sinh hiểu được sự phát triển của xã hội loài người, sự hưng thịnh, suy vong của một quốc gia cũng như những giá trị lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay lịch sử của nhân loại Trên cơ
sở đó, người thầy có thể giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương đất nước, niểm tự hào, tự tôn dân tộc, tiếp thu những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại để giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc
Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp- chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã viết: Lịch sử không chỉ trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và thế giới mà còn giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc [3] Giáo sư Nguyễn Ngọc Cơ, nguyên Phó chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói: “Có lịch sử mới có tương lai Học lịch sử để dạy các
em biết, tổ tiên ông cha ta đã lập quốc, xây dựng, bảo vệ tổ quốc như thế nào, đặc biệt là trong thời đại ngày nay Còn chúng ta, nếu không quan tâm đến lịch
sử là có tội với tổ tiên ” [3]
Vì thế, lịch sử có vai trò quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển
tư duy của con người Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn lịch
sử có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảm cho học sinh, góp phần hình thành nên những kiến thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn bị cho các em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên những bậc học cao hơn Đó cũng chính là chiếc chìa khóa
mở cửa cho tương lai
Hiện nay, chất lượng giáo dục đang là mối quan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt là những năm gần đây sau thực hiện Nghị Quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục [1] Trong đó, người học chủ động chiếm lĩnh tri thức, người dạy thiết kế và tổ chức các hoạt động để thông qua các hoạt động đó người học lĩnh hội tri thức
Dạy học Lịch sử cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó
Bộ môn Lịch sử lâu nay mặc định là “phải học thuộc” Dạy học chủ yếu theo phương pháp truyền thống Tuy nhiên, sự thật không phải như vậy Nhất là trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện hiện nay, giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử rất quan tâm và chú trọng đến chất lượng và phương pháp trong việc đổi mới dạy và học, sao cho đáp ứng được nhu cầu học, thi hiện nay, nhất là trong bối cảnh thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đang phải ứng phó với đại dịch Covid-19 thì việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học, tự ôn tập càng có vai trò quan trọng
Trong dạy học lịch sử, có rất nhiều phương pháp và cách thức giúp các
em học sinh tự ôn tập một cách hiệu quả Một trong số những phương pháp đó chính là lập bảng biểu
Xuất phát từ thực tế tình hình, cùng với kinh nghiệm giảng dạy của bản
thân trong năm học qua, tôi xin đưa ra vài kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng tự ôn tập bằng phương pháp lập bảng biểu - phần Lịch sử Việt Nam lớp 11
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 3Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng tự ôn tập kiến thức lịch sử, đặc biệt trong những năm gần đây, từ sau thực hiện Nghị Quyết 29-NQ/TW về đổi mới giáo dục, cộng với tình hình thực tế về chất lượng dạy và học của bộ môn lịch sử, nhất là trong tình hình dịch bệnh covid - 19, những phương pháp học online, hướng dẫn học sinh tự ôn tập đang trở nên quan trọng và thiết yếu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các em học sinh lớp 11C4, 11C8, trường THPT Lam Kinh Rèn luyện kĩ năng tự ôn tập phần Lịch sử Việt Nam bằng phương pháp lập bảng biểu – phần Lịch sử Việt Nam lớp 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Lập kế hoạch nghiên cứu
- Xây dựng đề cương
- Nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp quan sát
+ Xử lí và đánh giá kết quả, tính %
- Tiến hành thực nghiệm
Đề tài được tiến hành thực nghiệm tại các lớp 11C2, 11C3, 11C4, 11C8 -trường THPT Lam Kinh, được BGH nhà -trường, ban chuyên môn tổ Sử - Địa – GDCD tạo điều kiện cùng sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía các đồng nghiệp và học sinh 2 lớp 11C4, 11C8
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận:
Ôn tập là kĩ năng quan trọng trong các kĩ năng học tập Theo đó, “ôn tập
là quá trình người học khái quát, hệ thống lại những kiến thức đã lĩnh hội theo một trật tự mới để có thể ghi nhớ, nắm chắc được những kiến thức đã được truyền đạt trong quá trình dạy học Qua đó, người học được rèn luyện các kĩ năng học tập bộ môn và giáo dục tư tưởng, thái độ, tình cảm” [1]
Nhiệm vụ của bài học ôn tập là củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Qua đó, giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu sắc hơn bài học
Có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã đề cập đến vấn đề này Trong cuốn “Dạy học ngày nay” Geoff Petty [3] đã khẳng định một trong những phương pháp dạy học tích cực là dạy cho học sinh cách nhớ, qua đó rèn luyện cho học sinh các kĩ năng ôn tập Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về việc xây dựng các phương pháp dạy học hiệu quả và chiến lược học tập Một số tài liệu về lý luận dạy học đã đề cập đến quá trình ôn tập kiến thức của học sinh như “Giáo dục học” của Phạm Viết Vượng (NXB Đại học Sư phạm, 2000), “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” của Thái Duy Tuyên (NXB Giáo dục, 1999), “Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở các trường phổ thông” (NXB Đại học Sư phạm, 2005) của Nguyễn Thị Côi
Trong dạy học lịch sử, kiểu bài ôn tập thường được sử dụng khi hoàn thành việc học tập một giai đoạn, một thời kỳ, một khoá trình hay các vấn đề
Trang 4lịch sử của chương trình Tuy nhiên, có những phương pháp ôn tập không cần thực hiện ở kiểu bài ôn tập mà được lồng ghép và sử dụng trong bài học, cuối mỗi bài học
Ví dụ, ôn tập một vấn đề, một nội dung lịch sử để làm nền tảng tiếp nhận kiến thức mới ở bài sau Hoặc một nội dung, một phần kiến thức trong bài, giáo nhiên không nhất thiết phải truyền đạt trên lớp mà có thể hướng dẫn học sinh tự ôn tập ở nhà, thậm chí trong tình hình hiện nay việc làm này là rất cần thiết và học sinh cần được rèn luyện kĩ năng ôn tập này để sẵn sàng chủ động ứng phó trong mọi tình huống
Đặc biệt trong những năm gần đây, một trong những nội dung đổi mới giáo dục chính là đổi mới kiểm tra, đánh giá Các kì thi, kiểm tra đều sử dụng phương pháp, hình thức trắc nghiệm khách quan Với phương pháp này, học sinh không chỉ đơn giản là nhận biết các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn phải hiểu để vận dụng làm bài trắc nghiệm Vì vậy, việc người giáo viên truyền đạt kiến thức mới trên lớp thôi không đủ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong kiểm tra đánh giá Vậy nên việc rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự
ôn tập là rất cần thiết
2.2 Thực trạng vấn đề:
Như chúng ta đã biết, thực trạng học và thi của học sinh đối với bộ môn lịch sử trong nhiều năm qua là vấn đề được xã hội quan tâm, các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn lịch sử trăn trở, và các em học sinh thì tâm lí “ngại”, “sợ” bộ môn này Thậm chí, nhiều quan điểm, suy nghĩ đánh đồng học lịch sử chỉ cần
“thuộc” là được Học sinh nhầm lẫn về phương pháp học lịch sử kiểu này dẫn đến việc các em hoặc là xem nhẹ, hoặc là ra sức học kiểu sao cho thật thuộc lòng, nhớ sao cho nhiều sự kiện Phụ huynh, đồng nghiệp, xã hội nhầm lẫn về tầm quan trọng của bộ môn lịch sử, về phương pháp dạy và học lịch sử, dẫn đến xem nhẹ, không đầu tư, coi là môn phụ Từ những sai lầm đó dẫn đến chất lượng và hiệu quả học và thi của môn lịch sử trong nhiều năm nay chưa được nâng cao
Nguyên nhân cụ thể, theo tôi chủ yếu là:
- Do đặc trưng của bộ môn Lịch sử vừa khó học, khó nhớ do nội dung kiến thức khá nặng, lại đòi hỏi độ chính xác cao
- Do quan niệm về “bộ môn phụ” của nhiều phụ huynh, học sinh và thậm chí là nhu cầu đào tạo của các nghành nghề nên môn Lịch sử ít được coi trọng
để các em đầu tư học
- Do nhiều thầy cô còn ngại hoặc lúng túng trong việc áp dụng đổi mới phương pháp trong dạy học, đa số vẫn giữ nguyên cách dạy truyền thống: thầy đọc – trò chép Nếu có đồ dùng dạy học thì cũng chưa sử dụng hoặc khai thác hiệu quả, dẫn đến sự nhàm chán trong quá trình dạy và học Hoặc thầy cô chưa
có những phương pháp hướng dẫn học sinh học và ôn tập hiệu quả
- Học sinh còn loay hoay chưa tìm ra được phương pháp học và ôn tập hợp lí Chủ yếu vẫn là học thuộc, ghi nhớ theo kiểu học vẹt, sáo mòn dẫn đến việc học trước quên sau, hoặc áp dụng kiến thức một cách máy móc
- Tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến phức tạp, khi các em được nghỉ học ở nhà, giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh (thậm chí ngay cả giáo viên) cũng lơ là, xem nhẹ, dẫn đến việc nghỉ dịch, kiến thức hổng, học sinh quên bài
Trang 5Cụ thể như, trong phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 (từ 1858-1918), đây chính là một thời kì quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam, không chỉ bồi dưỡng, trau dồi sự hiểu biết về lịch sử dân tộc, còn hình thành tri thức, kĩ năng
để các em thi THPT Vậy nhưng đa số các em “học đâu quên đó”, thậm chí những bài đó vào giai đoạn cuối kì, cuối năm nên việc học lại càng trở nên lơ là
Có khi dịch bệnh covid, các em nghỉ học ở nhà tự ôn tập, hoặc giáo viên dạy trực tuyến cũng có phần xem nhẹ Từ đó, cả một khoảng kiến thức ở thời kì lịch
sử này bị khiếm khuyết
Để tìm hiểu kĩ thực trạng này, tôi đã làm một cuộc khảo sát nhỏ bằng phiếu thăm dò Kết quả, có 55% các em học sinh lớp 11C2, 11C3, 11C4, 11C8 trả lời rằng các em chưa biết cách học và ôn tập bộ môn Lịch sử như thế nào để
có hiệu quả Có 30% các em trả lời rằng cách học chủ yếu vẫn là “ghi nhớ” theo kiểu học thuộc lòng Có 15% em còn lại không quan tâm Cũng tại những lớp được khảo sát đó, đa số các em cho rằng nghỉ dịch ở nhà, các em cũng “nghỉ” luôn học tập và ôn tập Nếu có nhiệm vụ ôn tập thì cũng “làm cho có”
Để làm rõ hơn, tôi xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể về một phương pháp hướng dẫn học sinh tự ôn tập theo lối truyền thống, nội dung bài 23, phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất (1914): GV hướng dẫn học sinh tự ôn tập bằng cách hệ thống lại kiến thức (cách nói chung chung), học sinh ghi nhớ Với cách ôn tập này, học sinh (nếu chăm chỉ) chỉ dừng lại ở việc nhận biết về Phan Bội Châu và xu hướng cứu nước bằng phương pháp bạo động, Phan Châu Trinh với xu hướng cứu nước bằng phương pháp cải cách Ghi nhớ thời gian và những mốc hoạt động quan trọng trong quá trình hoạt động cứu nước của hai ông Nhưng nếu yêu cầu học sinh chỉ ra được những điểm giống nhau và khác nhau trong con đường cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, các em sẽ không làm được
Rõ ràng, việc hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh những kĩ năng ôn tập hiệu quả giữ vai trò quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục nói chung, môn lịch sử nói riêng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục,
kỳ vọng của xã hội, của đất nước trong bối cảnh hiện nay
2.3 Giải pháp.
Ôn tập là kĩ năng quan trọng trong các kĩ năng học tập [2] Và một trong
số những phương pháp ôn tập hiệu quả nhất được sử dụng cho các em học sinh trong quá trình ôn tập là phương pháp lập bảng biểu
Vậy, có những loại bảng biểu nào, những nội dung bài học nào có thể sử dụng bảng biểu để ôn tập, và phương pháp sử dụng bảng biểu để tự ôn tập có hiệu quả?
2.3.1 Có mấy loại bảng biểu?
Trước tiên, giáo viên cần xác định có những loại bảng biểu nào, từ đó sử
dụng mỗi loại bảng biểu sao cho thích hợp với nội dung kiến thức học sinh cần
ôn tập và vận dụng một cách hiệu quả
Thông thường, có 2 loại bảng biểu phổ biến nhất, dễ sử dụng, dễ vận dụng trong
ôn tập đó là:
Loại thứ nhất: Bảng so sánh
Trang 6Là loại bảng dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một lúc trong lịch sử, hoặc thời gian khác nhau nhưng có điểm tương đồng, khác biệt nhằm làm nổi bật bản chất, đặc trưng của các sự kiện đó; hoặc để rút ra một kết luận khái quát
Kiểu bảng so sánh này rất thích hợp trong việc ôn tập của học sinh Đặc biệt, từ bảng so sánh, học sinh khắc sâu và nhớ lâu kiến thức từ đó có thể vận dụng để làm nhiều dạng câu hỏi hoặc bài tập trắc nghiệm khác nhau
Ví dụ:
Lập bảng so sánh phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX và phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX theo bảng sau:
Nội dung
so sánh
Phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX
Phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX Bối cảnh lịch sử
Lực lượng lãnh đạo
Mục tiêu đấu tranh
Hình thức đấu tranh
Lực lượng tham gia
Kết quả, ý nghĩa
Loại thứ hai: Bảng niên biểu.
Bảng niên biểu hay còn gọi là bảng thống kê Là loại bảng dùng để liệt kê các sự kiện cơ bản sau khi học xong một giai đoạn lịch sử, hoặc một nội dung lịch sử Cấu trúc bảng niên biểu thường chia làm 2 hoặc 3 cột dọc gồm: niên đại,
sự kiện, ý nghĩa lịch sử (hoặc nhận xét) Kiểu bảng này thích hợp cho việc ôn tập và ghi nhớ kiến thức đã học theo trình tự thời gian
Có hai loại niên biểu: Niên biểu theo một nội dung lịch sử cụ thể và niên biểu tổng hợp theo giai đoạn
Ví dụ 1:
Lập niên biểu về những sự kiện chính trong quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam từ 1858-1884 theo mẫu:
TT Thời gian Sự kiện
1
2
3
Trang 7
Ví dụ 2:
Lập bảng thống kê những cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần vương 1885-1896 theo mẫu:
Bãi Sậy
Khởi nghĩa Ba Đình
Khởi nghĩa Hương Khê Thời gian
Lãnh đạo
Địa bàn
Lực lượng
tham gia
Diễn biến
chính
Kết quả
2.3.2 Xác định đúng những nội dung và phương pháp để sử dụng bảng biểu.
Để việc ôn tập bằng phương pháp lập bảng biểu có hiệu quả và phù hợp với từng kiểu bài, giáo viên cần xác định những nội dung nào thì sử dụng bảng
biểu, hoặc nếu sử dụng bảng biểu, nên sử dụng loại bảng biểu nào cho phù hợp
với kiểu bài, phù hợp với nhiệm vụ ôn tập, tránh lạm dụng hoặc sử dụng không phù hợp gây phản tác dụng
Để rèn luyện kĩ năng tự ôn tập cho học sinh, theo tôi, trong giai đoạn lịch
sử Việt Nam lớp 11 từ 1858 - 1918 có thể sử dụng những loại bảng biểu sau đây:
- Loại bảng so sánh.
+ Sử dụng sau bài học Ví dụ, bảng so sánh thái độ triều đình và nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1858-1884, sử dụng sau bài 19, 20 Bảng so sánh phong trào Cần vương và phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX thực hiện sau bài 21 và 23 Bảng so sánh hai xu hướng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thực hiện sau bài 23 v.v
+ Hình thức: giao bài tập về nhà, hoặc làm đề kiểm tra đánh giá thường xuyên đối với học sinh
+ Mục đích: Giúp học sinh ghi nhớ, thông hiểu và có thể vận dụng kiến thức để khái quát, đánh giá tổng hợp, từ đó rút ra đặc điểm, tính chất của nội dung, sự kiện lịch sử
Ví dụ, bảng so sánh thái độ triều đình và thái độ nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884), giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức sau bài học, vừa khắc sâu, ghi nhớ rằng, trong những năm Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược, trái ngược với thái độ chống Pháp của triều đình, nhân dân ta đã anh dũng kháng chiến như thế nào
+ Cách thức: giáo viên có thể thực hiện phương pháp kiểm tra đánh giá và cho điểm thường xuyên dạng bài tập này trong phần kiểm tra bài cũ, 2 học sinh lên bảng hoàn thành, một học sinh làm thái độ triều đình, một học sinh làm thái
Trang 8độ của nhân dân, sau đó cùng ghép lại hoàn chỉnh Hoặc có thể thực hiện trò chơi mảnh ghép Vì nội dung đã được học sinh chuẩn bị trước ở nhà, nên học sinh lên bảng hoàn thành nhanh chóng và dễ dành hơn
Ngoài ra, cách đơn giản nhất là học sinh làm vào vở và giáo viên kiểm tra vở bằng nhiều hình thức khác nhau (có thể kiểm tra qua kênh online)
+ Gợi ý một số kiểu bảng biểu sau đây có thể sử dụng để rèn luyện kĩ năng tự ôn tập cho học sinh trong và sau bài học:
So sánh thái độ triều đình và nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1858-1884
Chiến sự Thái độ của triều đình Thái độ của nhân dân
Đà Nẵng - Cử Nguyễn Tri Phương làm
tổng chỉ huy kháng chiến
- Lãnh đạo nhân dân kháng chiến, đẩy lùi các đợt tiến công của giặc
Nhân dân thực hiện kế sách
“vườn không nhà trống” gây cho giặc nhiều khó khăn
Gia Định và
3 tỉnh miền
Đông Nam
Kỳ
- Thiên về phòng thủ, bỏ lỡ cơ hội đẩy Pháp ra khỏi Gia Định
- Đại đồn Chí Hòa thất thủ, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam
Kỳ - Triều đình lo sợ đã kí hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862
- Các đội dân binh chiến đấu dũng cảm, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp
- Ở 3 tỉnh miền Đông, nhân dân chiến đấu quyết liệt, tiêu biểu là khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực
Ba tỉnh
miền Tây
Nam Kỳ
- Triều đình bắt nhân dân giải tán các nghĩa binh chống Pháp
- Triều đình bạc nhược để Pháp chiếm gọn 3 tỉnh miền Tây mà không tốn một viên đạn nào
Nhân dân 3 tỉnh miền Tây vẫn dũng cảm đứng lên chống Pháp mạnh mẽ, quyết liệt Tiêu biểu là khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liên, Nguyễn Trung Trực
Bắc Kì lần 1
Bắc Kì lần 2
Thuận An
So sánh phong trào Cần Vương và khởi nghĩa nông dân Yên Thế về mục đích, lực lượng, thời gian tồn tại, hình thức đấu tranh, tính chất.
Nội dung
so sánh Phong trào Cần Vương
Khởi nghĩa nông dân Yên
Thế Mục đích Hưởng ứng chiếu Cần
vương, giúp vua đánh đuổi giặc Pháp
Đánh đuổi giặc Pháp, bảo
vệ quê hương đất nước Lực lượng Văn thân sĩ phu, thổ hào Chủ yếu là nông dân
Trang 9địa phương, đông đảo nhân dân
Thời gian tồn tại 1885 – 1896 1884 – 1913
Hình thức đấu tranh Khởi nghĩa vũ trang Khởi nghĩa vũ trang
Tính chất Dân tộc (ý thức hệ phong
kiến)
Dân tộc
So sánh phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX và phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX
Nội dung Phong trào Cần Vương Phong trào yêu nước đầu thế kỷ
XX Bối cảnh lịch
sử
- Triều đình nhà Nguyễn
đã ký hai hiệp ước 1883 và 1884
-Cuộc phản công của phái chủ chiến ở Huế thất bại
Vua Hàm Nghi xuất bôn
- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của TD Pháp
- Sự hình thành các giai cấp mới, tầng lớp mới
- Những trào lưu tiến bộ thế giới tác động vào nước ta
Mục tiêu Có thể quay về chế độ
phong kiến đã lỗi thời
Hướng tới một nền cộng hòa, một nước Việt Nam độc lập
Hình thức
đấu tranh
Khởi nghĩa vũ trang Đa dạng, phong phú : phong trào
Đông Du, Đông kinh nghĩa thục Lực lượng
tham gia
Sĩ phu, nông dân Sĩ phu tiến bộ, nông dân, tầng lớp
công thương, TTS
Ý nghĩa - Nêu cao tinh thần yêu
nước, ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân ta
- Có nhiều đóng góp vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
- Mở ra một hướng mới của con đường cứu nước mới
So sánh hai xu hướng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh theo nội dung: Chủ trương, mục tiêu, biện pháp, hình thức, khuynh hướng chính trị, hạn chế.
Tiêu chí Phan Bội Châu
(Xu hướng bạo động)
Phan Châu Trinh (Xu hướng cải cách) Chủ trương Dựa vào Nhật, đánh đuổi Pháp
giành độc lập
Dựa vào Pháp đánh đổ phong kiến
Mục tiêu Đánh Pháp để giải phóng dân Đánh đổ phong kiến để canh
Trang 10tộc tân đất nước Biện pháp Bạo động vũ trang Cải cách
Hình thức Bí mật, bất hợp pháp, có tổ
chức
Công khai, hợp pháp
Khuynh
hướng
chính trị
Dân chủ tư sản Dân chủ tư sản
Hạn chế Chưa đánh giá đúng bản chất
của Đế quốc nên sai lầm khi dựa vào Nhật Bản để chống Pháp
Chưa hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc nên sai lầm khi dựa vào Pháp để lật đổ chế độ phong kiến
- Loại bảng niên biểu (bảng thống kê):
Có nhiều nội dung hoặc sự kiện lịch sử, dùng phương pháp lập bảng thống kê sẽ giảm được thời gian và tóm lược những ý chính, đồng thời giúp học sinh ghi nhớ sự kiện theo trình tự trong việc học, đặc biệt là giúp học sinh tự ôn tập một cách hiệu quả
Bảng niên biểu thường được sử dụng trong hoặc sau bài học, như hoạt động nhóm, bài tập về nhà, bài ôn tập, hướng dẫn ôn tập ở nhà
Ví dụ, thống kê các sự kiện chính trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ 1858-1884 Thống kê các hiệp ước triều đình Huế đã kí với Pháp cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1858-1884 Thống kê những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần vương v.v
+ Hình thức: Do đặc trưng của kiểu bảng biểu nên ngoài việc sử dụng để giao nhiệm vụ trong hoạt động nhóm, hoạt động ghép đôi v.v , thì giáo viên có thể dùng bảng biểu để hướng dẫn học sinh ôn tập kiến thức sau bài học, hình thức như giao bài tập về nhà, hướng dẫn học sinh thực hiện qua hình thức trực tuyến v.v
+ Mục đích: Giúp học sinh ghi nhớ, thông hiểu nội dung, sự kiện lịch sử
Ví dụ, qua bảng thống kê những hiệp ước triều đình Huế đã kí với Pháp, học sinh ghi nhớ được trong những năm từ 1858-1884, triều đình đã kí với Pháp 4 bản hiệp ước Thời gian, bối cảnh khác nhau, từ nội dung hiệp ước có thể thấy nhà Nguyễn đã từng bước đầu hàng Pháp như thế nào Hoặc bảng thống kê các cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần vương, học sinh ghi nhớ trong phong trào Cần vương có những cuộc khởi nghĩa lớn nào, lãnh đạo và địa bàn của các cuộc khởi nghĩa v.v
+ Gợi ý một số kiểu bảng biểu sau đây có thể sử dụng:
Thống kê các sự kiện chính trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ
1858-1884