1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua bài từ ấy của tố hữu (chương trình ngữ văn lớp 11)

25 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 247,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên GV là phải làm sao để cóphương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng bộ môn đồng thời phát huy đượctính năng động, sáng tạo của học sinh HS trong giờ

Trang 1

3 Đối tượng nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

1.1 Quan điểm dạy học tích hợp và những kiểu tích hợp trong dạy học

Văn

1.2 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực

2 Thực trạng dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực hiện

nay

3 Giải pháp và tổ chức thực hiện

3.1 Biện pháp định hướng rèn luyện các năng lực chung cho học sinh

trong bài thơ Từ ấy qua việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống

3.1.1 Định hướng năng lực giải quyết vấn đề

3.1.2 Định hướng năng lực sáng tạo

3.1.3 Định hướng năng lực hợp tác

3.1.4 Định hướng năng lực tự quản bản thân

3.2 Biện pháp rèn luyện các năng lực đặc trưng môn học cho học sinh

trong bài thơ Từ ấy qua việc tích hợp Văn - Tiếng Việt - Làm văn

3.2.1 Định hướng năng lực giao tiếp tiếng Việt

3.2.2 Định hướng năng lực tiếp nhận văn bản

3.2.3 Định hướng năng lực tạo lập văn bản

34

45

55556

6688918202020

A MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp đang được ngành giáo dục đặc biệtquan tâm Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên (GV) là phải làm sao để cóphương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng bộ môn đồng thời phát huy đượctính năng động, sáng tạo của học sinh (HS) trong giờ học, rèn luyện cho các emthói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức liênmôn vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn

Chương trình trung học phổ thông (THPT) môn Ngữ văn do Bộ Giáo dục

và Đào tạo (GD&ĐT) dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyêntắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựachọn các phương pháp giảng dạy” (tr 27) [1] “Nguyên tắc tích hợp phải đượcquán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quántriệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạtđộng học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tíchhợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập củaHS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” (tr 40) [1] Ngày 09/8/2016

Bộ Giáo dục ra công văn ban hành về việc chức cuộc thi Dạy học theo chủ đềtích hợp dành cho GV trung học nhằm mục đích: khuyến khích GV sáng tạo,thực hiện dạy học theo chủ đề, chủ điểm có nội dung liên quan đến nhiều mônhọc và gắn liền với thực tiễn; góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổimới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả họctập; tăng cường ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học [2]

Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực này còn gọi là dạyhọc định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ

XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướngphát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học, đảm bảo chấtlượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩmchất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huốngthực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống củacuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người họcvới tư cách chủ thể của quá trình nhận thức

Trong chương trình phổ thông, Tố Hữu là một tác gia có vị trí quan trọng

và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Ở ông hội tụ được nhiều yếu

tố, có sự giao thoa với các dòng văn học khác, đặc biệt bài thơ Từ ấy tạo nhiều

dữ kiện cho việc dạy học theo hướng tích hợp

Với những lí do trên đã thúc đẩy tôi quyết tâm nghiên cứu đề tài: Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một bài học cụ thể, một tác phẩm thơ trữ tình lớp 11, bài Từ

ấy của Tố Hữu nhằm mục đích giúp HS:

Cảm nhận được niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn của Tố Hữu trongbuổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản Hiểu được sự vận động của tứ thơ và nhữngđặc sắc trong hình ảnh ngôn ngữ, nhịp điệu của bài thơ trữ tình

Giúp các em rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu những vấn đề cótính liên môn chưa được biên soạn thành bài học trong sách giáo khoa, năng lựcthu thập thông tin liên quan đến văn bản, năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận

về nội dung và nghệ thuật của văn bản, năng lực cảm thụ thẩm mỹ; năng lựcsáng tạo tư duy

Bồi dưỡng cho HS lòng yêu nước, nhiệt huyết cách mạng và có tráchnhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời đại mới

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu là đọc – hiểu một tác phẩm thơ trữ tình hiện đại - tácphẩm Từ ấy của Tỗ Hữu

Đề tài được trực tiếp áp dụng ở các lớp 11A11, 11A5 của trường phổthông chúng tôi đang trực tiếp giảng dạy trong hai năm học 2019-2020 và 2020-2021

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp đọc tài liệu:

Là phương pháp nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến những vấn đềcần nghiên cứu, tập hợp các dữ kiện có liên quan đến đề tài này

Phương pháp quan sát:

Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu Dùngphương pháp này để quan sát HS qua tiết dạy xem thái độ học tập, ý thức họctập rèn luyện của các em

Phương pháp đối chiếu so sánh:

Qua một thời gian nghiên cứu, GV tiến hành so sánh, đối chiếu số liệu cũvới số liệu mới để thấy kết quả nghiên cứu của đề tài

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

1.1 Quan điểm dạy học tích hợp và những kiểu tích hợp trong dạy học Văn

Trang 4

Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp.

Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợpnhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhấttrên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là

một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy.[1]

Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ,

có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các mônhọc khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất,dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong cácmôn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó Trong chương trình THPT, mônNgữ Văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sựphối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, đểchúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quảtổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (tr 27)[1]

Có những kiểu tích hợp trong dạy học môn văn như:

Tích hợp theo chiều ngang: là tích hợp trong những thời điểm của bài

học, từ kiến thức bài học của phân môn này liên hệ đến các phân môn khác (Văn

với Tiếng Việt, với Làm văn hoặc ngược lại) theo nguyên tắc đồng quy.

Tích hợp theo chiều dọc: là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng

mới với những kiến thức và kĩ năng đã học ở trước đó theo nguyên tắc đồngtrục cụ thể là kiến thức và kĩ năng hình thành ở bài học, lớp học, bậc họctrước, nhưng cao hơn, sâu hơn trước

Tích hợp liên môn: Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong

bài học Ngữ văn với các kiến thức của các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học

xã hội, các ngành khoa học, nghệ thuật khác với các kiến thức đời sống mà họcsinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng Qua đó lồng ghép những nội dunggiáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáodục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật

1.2 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng 1998) có giảithích năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thựchiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khảnăng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[5]

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hànhnăm 2014 thì năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổchức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằmđáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người laođộng, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân

Trang 5

nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Định hướng chương trình giáo dụcphổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số năng lực những năng lựccốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như:[6]

– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: năng lực tự học, năng lựcgiải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lí bản thân

– Năng lực xã hội, bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác

– Năng lực công cụ, bao gồm: năng lực tính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ,năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC)

Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất

cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua họctập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống

2 Thực trạng dạy học tích hợp theo định hướng phát triển năng lực hiện nay

Về phía giáo viên: có một thực trạng thường thấy trong các nhà trường

hiện nay việc dạy học tác phẩm thơ văn còn nặng về kiến thức GV thường saysưa, tìm tòi, khám phá sự hấp dẫn về ội dung và nghệ thuật của tác phẩm màquên các nhiệm vụ khác Bên cạnh đó, vấn đề áp dụng tích hợp trong dạy họcNgữ văn đã được số ít GV tiếp cận nhưng chưa thật sự có chiều sâu Nhiều giờdạy, GV chưa chú ý đến việc vận dụng quan điểm tích hợp, dẫn đến việc khaithác bài dạy thiếu tính hệ thống, làm cho chất lượng bài dạy không đạt; nhiềugiờ dạy, GV tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến thức được tích hợpkhông có mối liên hệ gắn bó và lựa chọn đơn vị kiến thức tích hợp chưa trọngtâm, thiếu sự chuẩn bị kĩ, sử dụng tích hợp một cách tùy hứng dẫn đến hiệu quảtích hợp không cao

Về phía học sinh: Các em còn học tập một cách thụ động, chưa phát huy

tính tích cực, chủ động khi tiếp cận tác phẩm Nhiều HS thờ ơ, chán học, hamchơi chưa có lí tưởng sống đúng đắn Cũng có nhiều HS tâm lí ỷ lại, đợi GV đọc

và chép lại sau đó học thuộc lòng một cách máy móc Khả năng liên hệ giữa bàihọc và thực tế đời sống còn hạn chế

Thực tiễn đổi mới giáo dục ở nước ta trong những năm gần đây khẳngđịnh việc đổi mới phương pháp dạy - học tích hợp theo định hướng phát triểnnăng lực HS là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo conngười Chính vì vậy chúng tôi đề xuất một số phương pháp thực hiện đổi mớidạy học, kiểm tra đánh giá kết quả theo định hướng phát triển năng lực HS quamột tiết dạy cụ thể, bài thơ Từ ấy trong chương trình Ngữ văn 11

Trang 6

Đây là năng lực thể hiện khả năng của HS trong việc nhận thức, khám pháđược những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống mà không có sựđịnh hướng trước về kết quả Từ việc tìm ra các giải pháp để giải quyết vấn đềđặt ra trong tình huống sẽ thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọngiải pháp tối ưu để thực hiện.

Trước hết, HS cần nhận biết được mâu thuẫn giữa tình huống thực tế vớihiểu biết cá nhân, từ đó đặt ra vấn đề cần sự tìm tòi, khám phá Quá trình thuthập, xử lí các nguồn thông tin khác nhau, đề xuất và thực hiện phương án đãchọn, điều chỉnh, đánh giá phương án để vận dụng vào các tình huống mớitương tự Quá trình này đòi hỏi phải thực hiện bằng sự hứng thú, tìm hiểu, khámphá cái mới và tinh thần trách nhiệm của cá nhân cũng như sự phối hợp, hỗ trợtương tác giữa các cá nhân

3.1.2 Định hướng năng lực sáng tạo

Sáng tạo thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng

Từ góc nhìn, từ những cách trình bày suy nghĩ, cảm xúc khác nhau trước vẻ đẹp,giá trị của văn bản HS đồng sáng tạo với tác phẩm Qua đó các em bộc lộ đam

mê, khát khao được tìm hiểu, khám phá trước một vấn đề, nhân vật hay một chitiết, hình ảnh, ngôn từ nào đó

3.1.3 Định hướng năng lực hợp tác

Hợp tác là hình thức HS làm việc trong một nhóm nhỏ để hoàn thànhcông việc chung được giao phó Là sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân và tậpthể để giúp đỡ nhau giải quyết các vấn đề khó khăn trong học tập từ đó hìnhthành cho các em năng lực hợp tác khi cần giải quyết vấn đề trong cuộc sống.Năng lực này thướng được hình thành trong quá trình HS làm việc theo nhóm

Để thực hiện được năng lực này, GV cần định hướng cho các em xác định đượcmục đích, vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân tương ứng với công việc phảithực hiện; nhận biết được khả năng của từng thành viên trong nhóm để phâncông phù hợp; nêu cao tinh thần chủ động, gương mẫu hoàn thành công việc;qua kết quả đạt được biết đánh giá những mặt đạt được những mặt còn hạn chế,thiếu sót của cá nhân và nhóm

3.1.4 Định hướng năng lực tự quản bản thân

Là việc mỗi cá nhân học sinh tự kiểm soát được cảm xúc, hành vi của bảnthân trong các tình huống, từ đó có khả năng nhận ra và điều chỉnh hành vi của

cá nhân trong từng bối cảnh khác nhau Thông qua các bài học giúp HS biết xácđịnh kế hoạch cho các nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch đã đưa ra để đạtđược mục tiêu, nhận ra các tác động từ ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức vàrèn luyện kĩ năng để khai thác, phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế và loại bỏnhững yếu tố tiêu cực, từ đó xác định các hành vi đúng đắn, cần thiết trong họctập và cuộc sống

Trang 7

Để đạt được kết quả tốt trong bài học, HS cần phải thường xuyên tự đánhgiá và điều chỉnh được hành động của bản thân trong học tập và cuộc sống, đánhgiá được các yếu tố ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực để có sự điều chỉnh phùhợp và thích ứng với những thay đổi hay thích ứng với các tình huống mới

Ví dụ: Sau khi học xong bài Từ ấy, HS có thể liên hệ môn GDCD và tích hợp

lồng ghép KNS để trả lời câu hỏi: Từ tâm trạng người thanh niên khi giác ngộ lí

tưởng của Đảng trong bài thơ “Từ ấy” (Tố Hữu), anh/chị suy nghĩ gì về lẽ sống của tuổi trẻ ngày nay.

3.2 Biện pháp rèn luyện các năng lực đặc trưng môn học cho học sinh trong bài thơ Từ ấy qua việc tích hợp Văn - Tiếng Việt - Làm văn

3.2.1.Định hướng năng lực giao tiếp tiếng Việt

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghenhằm thực hiện một mục đích nào đó Năng lực giao tiếp là khả năng sử dụngcác quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin từ cuộc sốngnhằm thiết lập mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội Từ đó xácđịnh và hiểu được vai trò của mục đích giao tiếp; nhận biết được bối cảnh, đặcđiểm, thái độ của đối tượng, tình huống giao tiếp; biết sử dụng ngôn ngữ giaotiếp để diễn đạt được ý tưởng cần giao tiếp Trong môn Ngữ văn, năng lực giaotiếp ngôn ngữ là đặc thù bộ môn Nó là mục tiêu quan trọng và cũng là thếmạnh Vì thế trong các tình huống cụ thể HS từng bước làm chủ tiếng Việt Vớicác bài đọc hiểu là môi trường để các em giao tiếp gián tiếp với tác giả và môitrường sống xung quanh, từ đó hiểu và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữtrong các bài Tiếng Việt, các bài Làm văn Nếu người dạy biết coi trọng khảnăng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong các tình huống tiếpnhận và tạo lập văn bản, đặc biệt là trong những bối cảnh giao tiếp khác nhaucủa cuộc sống thì sẽ phát huy được năng lực giao tiếp của HS

Học sinh sẽ tiếp nhận những tri thức về ngôn ngữ trong văn bản thông quabài đọc hiểu từ đó các em vận dụng chúng trong các bài học Tiếng Việt hoặc bàiTập làm văn Năng lực giao tiếp của các em không chỉ được thể hiện rõ trongkhả năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng của bản thân bằng lời nói, lời phát biểungay trong các tiết học mà năng lực giao tiếp còn thể hiện rõ nhất ở việc các emtạo lập văn bản qua các bài viết, bài kiểm tra Đây chính là quá trình các em giaotiếp, tiếp nhận và tạo lập văn bản bằng chính năng lực ngôn ngữ mà bản thân đãtiếp thu, học tập được qua sự rèn luyện, học tập tích cực, nỗ lực của chính mình

3.2.2 Định hướng năng lực tiếp nhận văn bản

Văn học là nghệ thuật ngôn ngữ nên văn bản ngôn từ là yếu tố quan trọngnhất, là cơ sở chủ yếu để GV dựa vào phân tích tác phẩm tìm ra thông tin thẩm

mĩ ẩn chứa bên trong Nhờ đó chúng ta mới hiểu sâu, hiểu đúng, hiểu trọn vẹn

và tìm ra được các ý vị trong tác phẩm Với đối tượng là HS bậc THPT, vì thếngười dạy cần liên môn, tích hợp kết hợp định hướng năng lực tiếp nhận văn bản

Trang 8

trên các phương diện ngôn ngữ trong phần đọc hiểu là cơ sở để các em tiếp nhậntri thức đồng thời tạo tiền đề hình thành các kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ để từ

đó thúc đẩy quá trình tạo lập văn bản

Dạy bài Từ ấy, GV cần hướng dẫn HS khai thác các hình ảnh ẩn dụ có

trong bài thơ: nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim Việc làm này yêu cầu HS

vận dụng được kiến thức Tiếng Việt ở bài Ẩn dụ (lớp 7- tập 2) để phân tích, lígiải các hình ảnh ẩn dụ trên Như vậy là các em có dịp ôn lại về phép tu từ ẩn dụ, đồng thời biết vận dụng kiến thức Tiếng Việt về ẩn dụ đã học để hiểu nội dung,

ý nghĩa, mà câu thơ biểu đạt, thấy được giá trị biểu cảm mà các hình ảnh ẩn dụ

đó đem đến cho câu thơ Trong bài “Từ ấy” tác giả còn dùng những từ “ buộc,

trang trải, khối” trong các câu thơ:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Trước khi học bài thơ này, HS đã được học bài Tiếng Việt “Từ ngôn ngữ chungđến lời nói cá nhân”( Ngữ văn 11- tập 2)[4], vì vậy khi GV yêu cầu HS khai thácnhững từ trên, HS cũng có những thuận lợi hơn HS có thể vận dụng kiến thứcTiếng Việt vừa học trước đó để phân tích, đánh giá các từ nói trên Trong trườnghợp này, HS đã sử dụng tri thức của bài học Tiếng Việt để phục vụ cho việc khai

thác văn bản văn học “Buộc” vốn là một động từ chỉ hành động dùng dây để ép

chặt, giữ chắc các vật lại với nhau (như: buộc các cành cây lại với nhau, buộccủi thành từng bó,…) Trên cơ sở nghĩa chung đó, tác giả đã có sự sáng tạo làm

cho “buộc” chuyển nghĩa và dùng sang lĩnh vực con người: “buộc lòng” Đến

đây chúng ta thấy rõ ràng “buộc” không còn giữ nguyên nghĩa gốc, nghĩa vốn cónhư vừa nêu trên nữa, mà cần hiểu nó với một nghĩa mới với sự liên hệ, kết hợp

với các từ ngữ khác trong câu thơ và khổ thơ “Buộc” với cách dùng của tác giả

là nguyện gắn chặt tấm lòng, tình cảm, cuộc đời mình với anh em đồng chí, vớiquần chúng nhân dân, với giai cấp cần lao để tạo nên một sức mạnh của khốiđoàn kết vững chắc chống lại giặc ngoại xâm, chống mọi thù địch, mọi bất công

ngang trái của cuộc đời cũ Cũng như vậy, từ trang trải thường dùng trong

những trường hợp như: “lo trang trải nợ nần, trang trải vốn liếng làm ăn,…”

Nhưng “trang trải” trong khổ thơ, bài thơ đã có sự sáng tạo của cá nhân và thể

hiện sắc thái phong cách tác giả: tình trang trải với trăm nơi Tác giả đã mở rộnglòng mình, đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúnglao khổ để mà hiểu nhau, cảm thông, đồng cảm và sẻ chia với nhau những khổđau bất hạnh, những buồn vui và truyền cho nhau những niềm tin yêu trong cuộcsống Những từ ngữ vừa phân tích trên vốn là ngôn ngữ chung của xã hội nhưngxét trong bài thơ chúng đã trở thành lời nói mang đậm nét rất riêng, thể hiện rõ

sự sáng tạo cá nhân và sắc thái phong cách nhà thơ

Trang 9

Trong quá trình đọc - hiểu văn bản GV định hướng cho HS tiếp nhận vănbản từ các kiến thức mà các em đã được lĩnh hội từ cấp học dưới Khi hướngdẫn HS tìm hiểu bài thơ Từ ấy, GV có thể yêu cầu các em khai thác giá trị củacác điệp từ trong đoạn thơ sau:

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ…

Việc lặp đi lặp lại một kiểu câu, một loạt từ ngữ như vậy (là, của, vạn) đã tạo ra

một hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ Nó cho thấy đó là lời tâm niệm thiết tha, sựkhẳng định dứt khoát, là nhiệt tình hăm hở của người chiến sĩ trẻ nguyện tìm vềchỗ đứng của mình ở phía mọi người, phía trăm nơi, phía bao hồn khổ, tha thiếtđược trở thành thành viên ruột thịt của cái đại gia đình to lớn ấy

Nếu HS không tạo được tâm thế tiếp nhận ngôn ngữ, tiếp nhận văn bản thìquá trình tạo lập văn bản sẽ không đạt hiệu quả Vì vậy định hướng năng lực tiếpnhận văn bản cần song song với định hướng năng lực tạo lập văn bản

3.2.3.Định hướng năng lực tạo lập văn bản

Ở cấp THCS các em đã được học về văn nghị luận, lên cấp THPT các emtiếp tục được thực hành kiểu văn bản này Vì thế, việc học thơ Tố Hữu theohướng tích hợp là một điều kiện rất thuận lợi để HS thực hành kiểu văn bản nghịluận Sau khi học tạo lập văn bản là quá trình học sinh trình bày ngôn ngữ củabản thân bằng hình thức nói hoặc viết Quá trình này xảy ra thường xuyên, songhành với quá trình tiếp nhận văn bản Từ kĩ năng, kiến thức, thông tin tiếp nhậnđược các em sẽ hình thành kĩ năng tạo lập văn bản trên cơ sở vốn kiến thức màmình tiếp thu được từ quá trình giao tiếp

Quá trình tạo lập văn bản xảy ra thường xuyên trong tất cả các tiết họccủa môn Ngữ văn Tạo lập văn bản nói thông qua việc trả lời nhanh các câu hỏicủa GV trong tiết học, kiểm tra miệng, trong các tiết thực hành luyện nói Tạolập văn bản viết qua các bài kiểm tra thường xuyên, bài kiểm tra giữa kì, cuối kì

GV có thể đưa ra dạng bài tập sau khi HS đọc- hiểu bài thơ như sau: Phân tích

quan niệm sống đúng đắn, cao đẹp của người thanh niên cách mạng trong bài thơ Từ ấy của Tố Hữu Từ đó liên hệ với lí tưởng sống của thanh niên hiện nay.

3.2.4.Định hướng năng lực cảm thụ thẩm mĩ

Dạy học văn, GV cần định hướng theo một hệ thống giúp các em có cơ hộinắm bắt và cảm nhận một cách tổng thể GV định hướng cho các em biết tạo cảmxúc, bởi cảm xúc là sự cảm thụ của trái tim, của tấm lòng và tình cảm người học.Các em đến với giờ văn bằng trái tim, bằng tấm lòng của mình thì những cungbậc tình cảm vui, buồn, thương, hờn giận từ bài giảng của thầy cô sẽ đi vào lòngcác em Từ đó, các em sẽ biết thương cảm những số phận bất hạnh, biết căm ghét

sự bất công, cái xấu, cái ác; biết yêu thiên nhiên hoa cỏ, yêu quê hương đất nước,

Trang 10

và nhận biết được những điều nên làm, điều cần tránh trong cuộc sống… Thế giớivăn học sẽ đem lại cho ta những tình cảm, cảm xúc như vậy.

Dạy học bài thơ Từ ấy để cho HS hiểu và cảm được tấm lòng người chiến

sĩ cộng sản say mê lí tưởng, yêu nước, yêu cuộc đời Từ khổ thơ:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim

HS có thể nêu bao điều cảm nhận của cá nhân mình về mục đích, lí tưởng, về lẽsống, sự cống hiến, về trách nhiệm của người thanh niên với đất nước Bởi đoạnthơ miêu tả những xúc động mạnh mẽ trong giây phút thiêng liêng của nhà thơkhi bắt gặp lí tưởng cách mạng Mục đích của lí tưởng đó là đánh đuổi thực dân

Pháp, tiêu diệt vua quan bán nước giành độc lập tự do cho dân tộc Từ ấy trong

tôi bừng nắng hạ có lẽ là lúc nhà thơ đã chính thức đứng trong hàng ngũ của giai

cấp cần lao để đấu tranh tự giải phóng Đây cũng là thời gian khởi đầu cuộc đờilàm cách mạng của nhà thơ và là giây phút “bừng sáng” ánh nắng chói changtrong tim người thanh niên trước ngưỡng cửa cuộc đời Lí tưởng đó là mặt trờichân lí xua tan hết u ám lạnh lẽo, buồn đau trong tâm tư người mất nước Cũngnhư bao người dân Việt Nam thuở ấy, tác giả thấm thía nỗi nhục mất nước.Chính vì vậy, tâm trạng của Tố Hữu khi bắt gặp lí tưởng cũng là tâm trạngchung của phần lớn thanh niên lúc bấy giờ Từ bài thơ này mà HS có thể cùngnhau thảo luận, nêu suy nghĩ, quan niệm của bản thân về lí tưởng của thanh niêntrong hiện tại

Tương tự như vậy ở khổ cuối của bài thơ, những kiếp phôi pha, những em

nhỏ không áo cơm cù bất cù bơ mà tác giả nói tới đó là những người đau khổ,

bất hạnh, những người lao động vất vả, thường xuyên dãi dầu mưa nắng để kiếmsống; những em bé tội nghiệp không nơi nương tựa phải lang thang vất vưởng,nay đây mai đó Từ những lời thơ ấy GV định hướng cho HS thấy được lòngcăm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ Chínhnhững kiếp người phôi pha, những em nhỏ cù bất cù bơ ấy càng thôi thúc ngườichiến sĩ cộng sản trẻ hăng say hoạt động cách mạng để góp phần đem lại cuộcsống tươi sáng cho họ, và họ cũng chính là đối tượng sáng tác chủ yếu của nhàthơ Học sinh cần xác định rõ những tình cảm cảm xúc, những rung động nào làmạnh mẽ, là riêng của mình đồng thời, cần lựa chọn các từ ngữ, hình ảnh thíchhợp để diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của mình Cần chú ý rèn luyện cho tâmhồn mình trở nên chứa chan những tình cảm yêu, ghét, buồn, thương, hờn giận,nhớ nhung để làm phong phú, dạt dào những suy nghĩ đẹp đẽ, cao thượng vềtình nghĩa, công bằng, lẽ phải, cái đẹp, cái thiện, cái tốt

3.3 Giáo án minh hoạ

Tiết 89 Đọc văn: TỪ ẤY

Trang 11

2.Về kĩ năng: Đọc – hiểu một tác phẩm thơ trữ tình hiện đại.

- Giúp các em rèn thành thạo khả năng tư duy, nhận nhiệm vụ, thu thập thôngtin, phân tích kênh hình, xử lí thông tin, liên hệ thực tế

- Xử lí tình huống trong tác phẩm gắn với thực tế đời sống bản thân và địaphương Từ đó rút ra được cách xử lí tình huống theo chiều hướng tích cực nhất

3.Thái độ:

- Nhận thức vai trò của Đảng Sống có lí tưởng hoài bão phấn đấu để dạt được lí

tưởng ấy, bồi dưỡng lòng yêu nước nhiệt huyết cách mạng và có trách nhiệmtrong xây dựng đất nước

- Ý thức về trách nhiệm của công dân với cộng đồng, với sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc…

4.Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:

- HS có năng lực tự học, tự nghiên cứu những vấn đề có tính liên môn chưađược biên soạn thành bài học trong sách giáo khoa

- Có năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản

- Có năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của vănbản

- Có năng lực tìm hiểu các hình ảnh tiêu biểu, trình bày 1 phút về bài thơ

- Có năng lực ngôn ngữ; năng lực cảm thụ thẩm mỹ; năng lực sáng tạo

- Có năng lực đọc- hiểu tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại; phân tích và lýgiải những vấn đề xã hội có liên quan đến văn bản; phản hồi và đánh giá những

ý kiến khác nhau về văn bản và các văn bản có liên quan

- Có năng lực trình bày suy nghĩ cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản

- Có năng lực giải quyết vấn đề phát sinh trong học tập và thực tiễn cuộc sống

II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1.Chuẩn bị của giáo viên

- Giáo án, phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

- Đèn chiếu; đồ dùng dạy học: SGK, SGV[4], tài liệu tham khảo, sưu tầm tranh,

ảnh về tác giả, ngâm bài thơ Từ ấy…

Trang 12

- Bảng phân công nhiệm vụ cho HS hoạt động trên lớp, bảng giao nhiệm vụ họctập cho HS ở nhà.

2 Chuẩn bị của học sinh

- Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do GV giao từ tiết trước)

- Ngâm thơ (một HS có giọng ngâm tốt)

- Đồ dùng học tập

III TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

1 Ổn định tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ của lớp

2 Kiểm tra bài cũ: Nêu biểu hiện chất cổ điển và hiện đại bài thơ Chiều tối của

Hồ Chí Minh ?

3 Tổ chức dạy và học bài mới:

1 KHỞI ĐỘNG

1) Mục tiêu: tạo tâm thế hứng khởi trước khi học bài mới

(2) Phương pháp/Kĩ thuật dạy học: vấn đáp

(3) Hình thức tổ chức hoạt động: Cá nhân

(4) Phương tiện dạy học: SGK, máy chiếu

(5) Sản phẩm: HS biết được hình ảnh Tố Hữu và thơ Tố Hữu

Hoạt động của Thầy và trò

Chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt, năng lực cần phát triển

- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:

Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài:Trong văn học Việt

Nam, Tố Hữu được xem là lá cờ đ ầu của thơ ca cách

mạng Từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được

giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu trở thành một chiến sĩ cộng

sản Tập thơ “Từ ấy” là tập thơ đầu tay đánh dấu thời

điểm bừng sáng của tâm hồn và lí tưởng cách mạng.

Bài thơ “Từ ấy” có ý nghĩa như một tuyên ngôn về lẽ

sống của người chiến sĩ cách mạng và tuyên ngôn của

một nhà thơ Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu bài thơ

- Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học.

- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ.

- Có thái độ tích cực, hứng thú

2 HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

(1) Mục tiêu: HS nắm được những nét chính về tác giả- tác phẩm, hiểu được nội dung

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w