1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào việc dạy đọc hiểu văn bản truyện an dương vương và mị châu trọng thủy

31 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Hợp Tác Vào Việc Dạy Đọc Hiểu Văn Bản Truyện An Dương Vương Và Mị Châu Trọng Thủy
Tác giả Quách Lan Anh
Trường học Trường THPT Vĩnh Lộc
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 98,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU- TRỌNG THỦY”

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU-

TRỌNG THỦY”- NGỮ VĂN 10- TẬP 1

Người thực hiện: Quách Lan Anh Chức vụ: Giáo viên Ngữ Văn

SKKN thuộc môn: Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2021

Trang 2

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 32.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 42.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng

nghiệp và nhà trường

17

Trang 4

1 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài

Sự tiến bộ và đi lên của xã hội hiện nay đòi hỏi con người phải phát triểnmột số năng lực như năng lực làm việc theo nhóm, năng lực hoạt động thựctiễn và giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra, năng lực hợp tác, năng lực thíchứng Những yêu cầu trên đặt ra cho giáo dục phải đổi mới toàn diện về mụctiêu, nội dung và cả phương pháp dạy học để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xãhội Ở nước ta, vấn đề dạy học nói chung và vấn đề dạy học văn nói riêng ngàycàng được quan tâm sâu sắc Bên cạnh những phương pháp dạy học truyềnthống, nền giáo dục nước ta cũng đã tiếp thu, thể nghiệm một số phương phápdạy học tích cực từ các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Tư tưởngchiến lược của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học là nhằm phát huy tiềmnăng sáng tạo của học sinh (HS); đặt HS ở vị trí trung tâm của giờ học; HS làchủ thể sáng tạo, chủ thể của nhận thức Đổi mới phương pháp dạy học làhướng tới hoạt động học tập chủ động, khơi dậy khả năng tìm tòi, năng lực tưduy độc lập sáng tạo, kĩ năng hợp tác và giao tiếp trong quá trình giải quyếtnhiệm vụ học tập

Dạy học văn học dân gian (VHDG) chịu sự chi phối chung của cácphương pháp dạy học văn trong bối cảnh hiện đại hóa VHDG là một trongnhững bộ phận hợp thành nền văn học Việt Nam VHDG là sản phẩm tinh thầncủa ông cha ta từ thuở sơ khai, phản ánh phong tục tập quán, thói quen, cáchcảm, nếp nghĩ và cả những tư tưởng, tình cảm Bộ phận văn học truyền miệngnày còn là nền tảng cơ bản để hình thành nền văn học Việt Nam Ở nhà trườngphổ thông, VHDG chiếm một vị trí không nhỏ trong thời lượng chương trình

Qua thực tế giảng dạy cho thấy đa số HS chưa thật sự trân trọng cái hay,

cái đẹp từ VHDG nói chung và văn bản Truyện An Dương Vương và Mị

Châu-Trọng Thủy nói riêng Có thể do các em đã quen tiếp xúc với nền văn hóa hiện

đại và đang bị cuốn hút vào cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật với sự bùng nổcủa công nghệ thông tin nên VHDG đối với các em có một khoảng cách vôcùng lớn Cũng có thể, đa phần giáo viên (GV) sử dụng phương pháp thuyếttrình và đàm thoại, thầy giảng – trò ghi, vì thế giờ học trở nên buồn tẻ, khôngkhí nặng nề căng thẳng, không gợi được ở các em niềm hứng thú Làm thế nào

để hạn chế đến mức cao nhất tình trạng này?

Thiết nghĩ GV cần phối hợp nhiều phương pháp, phương pháp dạy họctruyền thống và phương pháp hiện đại Trong đó có thể sử dụng một trongnhững phương pháp đang được nhiều nhà giáo dục quan tâm và được đánh giá

là có hiệu quả, đó là phương pháp dạy học hợp tác Phương pháp này giúpngười học tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức Với cách dạy họcnày, HS có nhiều điều kiện bộc lộ những suy nghĩ của mình, tạo không khíhọc tập sôi nổi, kích thích tất cả HS tham gia vào quá trình học tập; đồng thời

đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra: “lấy HS làm trung tâm” Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào việc dạy đọc hiểu văn bản “Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” cũng là tìm đến một phương pháp dạy học

Trang 5

mới để giờ học văn nói chung và giờ học tác phẩm VHDG nói riêng tạo đượcnhững rung động tình cảm sâu sắc, phát huy tính chủ động của HS, góp phầnnâng cao chất lượng dạy và học Đó là những lí do khiến tôi quyết định lựachọn đề tài này.

1 2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng

dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy học văn bản “Truyện An Dương

Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” nói riêng.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Việc dạy đọc hiểu văn bản “Truyện An Dương Vương và Mị

Châu-Trọng Thủy” trong chương trình Ngữ văn 10 THPT theo phương pháp dạy học

hợp tác

- Học sinh các lớp 10A2, 10A10, 10A12, 10A13 trường THPT VĩnhLộc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, điều tra, thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

1.5 Những điểm mới của SKKN

- Sáng kiến góp một phần công sức nhỏ vào quá trình đổi mới phươngpháp dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học VHDG nói riêng Qua đó, thấyđược những ưu điểm và những khó khăn khi sử dụng hình thức dạy học hợptác

- Vận dụng lý thuyết dạy học hợp tác vào việc thiết kế bài tập thảo luận

sử dụng trong giờ đọc hiểu văn bản “Truyện An Dương Vương và Mị

Châu- Trọng Thủy” nhằm giúp HS phát huy sự hứng thú, tính tích cực,

sáng tạo trong học tập Đồng thời, đề tài cũng góp phần hướng dẫn HStìm hiểu cái hay, cái đẹp của văn bản trên

2.Nội dung

2.1 Cơ sở lí luận của SKKN

2.1.1.Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết TW 4khóa VII (1-1993), Nghị quyết TW 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóatrong luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo vàĐào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999)

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”[4;tr 18].

2.1.2 Khái niệm dạy học hợp tác

Trang 6

Dạy học hợp tác là mô hình dạy học mà trong đó học sinh dưới sự hướngdẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên, các hoạt động riêng biệt của từng cánhân được liên kết với nhau trong hoạt động chung nhằm giải quyết nhiệm vụhọc tập

Theo Johnson và Holubec thì “Hợp tác là làm việc cùng nhau để hoàn

thành những mục tiêu chung Mỗi cá nhân tìm kiếm những kết quả có lợi cho bản thân và cho cả những thành viên khác của nhóm Học hợp tác là việc sử dụng hình thức dạy học những nhóm nhỏ, qua đó, HS làm việc cùng nhau để

mở rộng khả năng học tập của chính bản thân và của những người khác”[7,

tr.1]

Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho rằng: “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức

để đạt được những mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm những kết quả có ích cho họ và đồng thời cho cả các thành viên của nhóm Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác”[5, tr.2]

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nam - Trường Đại học Cần Thơ- trong

giáo trình Tổ chức thảo luận nhóm trong dạy học Ngữ văn: Dạy học hợp tác là

tổ chức các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên [6, tr.1].

Tóm lại, dù được định nghĩa bằng các từ ngữ khác nhau thì dạy học hợptác là hình thức dạy học mà trong đó GV phải thiết kế các hoạt động học có nộidung cụ thể để HS tham gia các hoạt động này đều có sự ràng buộc với nhau

2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trong những năm gần đây, theo yêu cầu đổi mới phương pháp nhằmnâng cao chất lượng, hình thức dạy học hợp tác được GV sử dụng trong nhiềugiờ dạy tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm VHDG nói riêng ở các trườngtrung học phổ thông Tuy nhiên việc vận dụng hình thức này vào dạy học văn,

đặc biệt trong dạy học VHDG và dạy đọc hiểu văn bản Truyện An Dương

Vương và Mị Châu- Trọng Thủy vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ.

* Về phía giáo viên

Đổi mới phương pháp là yêu cầu bắt buộc đối với GV song trên thực tế,nhiều nơi việc đổi mới này chỉ được nêu ra có tính chất “phong trào” Phươngpháp kiểm tra – đánh giá nhìn chung chưa được đổi mới nên GV thường chútrọng vào việc HS học thuộc kiến thức môn học Đây chính là một trong nhữngnguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng hiện nay số đông GV trong nhà trườngchọn biện pháp “an toàn nhất” là chuyển tải toàn bộ nội dung có trong sáchgiáo khoa tới HS, ít chú trọng nội dung “phải biết”, “cần biết” và “có thể biết”trong bài giảng để có thể thực hiện dạy học hợp tác hiệu quả

Ngoài ra khi vận dụng hình thức dạy học này trong nhà trường phổthông, nhiều GV gặp khó khăn vì điều kiện thực hiện chưa phù hợp như đa số

HS trong lớp đông, lớp chật, bàn ghế thường được xếp cố định theo hàng… do

đó GV thường dừng lại ở nhận thức về ý nghĩa của dạy học hợp tác và không

có điều kiện để lựa chọn phương pháp nào khác ngoài việc phát huy những mặt

Trang 7

tích cực của phương pháp thuyết trình: thời gian ngắn song lại có thể truyền tảiđược một khối lượng lớn tri thức tới một số lượng đông HS Điều đó gây lãngphí về mặt thời gian, kinh phí tổ chức lớp bồi dưỡng… đồng thời ảnh hưởng tới

sự cố gắng của những GV nhiệt tình tham gia đổi mới phương pháp

Bên cạnh đó, GV có áp dụng thì cũng chỉ mang tính “hình thức” chưađạt hiệu quả cao do GV không nắm chắc lý thuyết, do kĩ năng thực hành về dạyhọc hợp tác còn hạn chế, chưa đảm bảo tuân theo những nguyên tắc của dạyhọc hợp tác hoặc khi vận dụng còn lúng túng

Trong thời gian thảo luận, chỉ có số ít HS làm việc thật sự (nhóm trưởng

và HS khá, giỏi trong nhóm), còn lại các em thường ngồi chơi, nói chuyện, làmviệc riêng Một số HS không ý thức được sự cần thiết phải hợp tác để chiếmlĩnh tri thức nên nhiều khi các em biến hoạt động thảo luận thành cơ hội để tángẫu, lãng phí thời gian, gây ồn ào, ảnh hưởng tới lớp khác Câu trả lời của HSthường lặp lại những kiến thức trong sách giáo khoa, thiếu sức sáng tạo

Vì những hạn chế trên việc tổ chức thảo luận nhóm thường được vậndụng mang tính hình thức, đối phó, chủ yếu trong các giờ hội giảng, hầu nhưrất ít được vận dụng trong những giờ học bình thường và càng ít sự lựa chọn để

vận dụng vào dạy học tác phẩm VHDG nói chung và văn bản Truyện An

Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy nói riêng Bởi lẽ, HS hiện nay không

mặn mà lắm với bộ phận văn học này Các em học VHDG với một tinh thầnđối phó cho xong bài, hết tiết Mặt khác, tổ chức thảo luận nhóm mất nhiều thờigian mà quỹ thời gian dành giờ dạy tác phẩm văn chương nói chung, VHDGnói riêng lại hạn chế và số lượng HS trong lớp quá đông cũng là nguyên nhândẫn đến việc giáo viên ít vận dụng hình thức dạy học này

Những tồn tại, hạn chế về chương trình, SGK, SGV, sách tham khảo, đặcbiệt là phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS nêu trên khôngphải chỉ có ở môn Ngữ văn Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó đến kết quả dạy họcmôn văn trong nhà trường có thể xem là nặng nề, sâu sắc nhất bởi “Văn học lànhân học”, kết quả dạy học văn liên quan trực tiếp đến việc hình thành nhâncách con người Thực trạng dạy học văn trong nhà trường hiện nay đặt ranhững vấn đề cấp thiết mà toàn xã hội phải quan tâm

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Giáo viên cần nắm vững các nguyên tắc khi dạy học bằng phương pháp hợp tác

Dạy học hợp tác không phải là một phương pháp độc tôn Nó cũng cónhững hạn chế nhất định, nếu tổ chức không khéo dễ gây nên tình trạng kiếnthức bị gián đoạn, không hệ thống, thiếu logic, chỉnh thể tác phẩm bị phá vỡ,

Trang 8

không khí tình cảm của giờ văn dễ bị xâm phạm Nên khi vận dụng, chúng tacần đảm bảo một số nguyên tắc như sau:

2.3.1.1 Câu hỏi thảo luận phải có tính vấn đề

Giờ dạy học theo hình thức dạy học hợp tác được xem là giờ đối thoại, thảoluận, tranh luận theo mối quan hệ tương tác giữa GV và HS, giữa HS với nhau

về tác phẩm Từ đó, HS có nhu cầu khám phá các giá trị nội dung và nghệ thuậtđược thể hiện trong tác phẩm Trong dạy học hợp tác điều kiện tiên quyết là

GV phải thiết kế được các tình huống có vấn đề để HS thảo luận tìm ra câu trảlời Vì thế, câu hỏi thảo luận có tính vấn đề đóng vai trò quan trọng tạo nên sựthành công của dạy học hợp tác Bên cạnh đó, khi đặt câu hỏi nêu vấn đề GVcũng cần lưu ý đến mức độ khó của câu hỏi GV có thể tổ chức cho HS giảiquyết vấn đề bằng những câu hỏi gợi mở

Ví dụ trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, khi cho

HS tìm hiểu về nhân vật An Dương Vương, GV có thể đặt ra câu hỏi nêu vấn

đề cho HS thảo luận nhóm Câu hỏi nêu vấn đề: “ Phân tích vai trò của An

Dương Vương trong sự nghiệp dựng nước?”

Với câu hỏi nêu vấn đề như trên, GV có thể đưa ra một số câu hỏi gợi mở nhưsau:

1 Quá trình xây thành của An Dương Vương được miêu tả như thế nào?

2 Do đâu mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ?

3 Sau khi xây thành xong, nhà vua còn băn khoăn về điều gì?

4 Em có đồng tình với băn khoăn của nhà vua không? Sự băn khoăn đó

được đền đáp ra sao?

5 Khi Triệu Đà sang xâm lược, An Dương Vương chiến thắng là do những

yếu tố nào?

2.3.1.2 Thành lập nhóm học tập

Trong việc thành lập nhóm hợp tác, GV cần lưu ý đến điều kiện lớp học,

về sĩ số HS trong lớp cũng như nội dung của bài học để có cách phân chia phùhợp Cách phân chia nhóm là tiền đề quan trọng làm nên thành công cho việcthảo luận nhóm GV nên phân chia các thành viên trong mỗi nhóm gồm các HSgiỏi, khá, trung bình, yếu, có cả HS nam và nữ nhằm khắc phục tình trạng HS

tự lựa chọn những thành viên thân thiết với nhau vào cùng một nhóm, hoặcnhóm phân chia theo trình độ học tập Việc phân chia như thế đảm bảo tínhcông bằng, tăng tính đoàn kết, không phân biệt giới tính, trình độ, HS phải cótrách nhiệm hổ trợ lẫn nhau để đi đến mục tiêu chung

Chúng ta nên chia nhóm với số lượng thành viên từ 4-5 HS thời gian

thảo luận khoảng 4 - 7 phút Với thời gian và cấu trúc nhóm đó, các em sẽ chianhau đảm nhận những vấn đề khác nhau nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà giáoviên giao phó Để bảo đảm thời gian của tiết học, GV phải xác định rõ lượt thờigian cho mỗi lần thảo luận Thời gian thảo luận ngắn thì số lượng HS trong

nhóm phải ít, nội dung bài tập đơn giản Chẳng hạn đối với bài Truyện An

Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy nội dung tìm hiểu gồm hai vấn đề lớn

là: quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của vua An Dương Vương và bi

kịch dẫn đến mất nước, GV có thể cho HS tiến hành thảo luận 3 – 4 lượt với

Trang 9

thời gian dành cho mỗi lượt thảo luận từ 5 – 10 phút Giúp HS tự khám phánhững kiến thức sẽ kích thích tình thần học tập của các em hơn là GV độcgiảng và HS ghi chép.

Bên cạnh đó, việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhómcũng góp phần quan trọng tạo hiệu quả cho quá trình học hợp tác Mỗi thànhviên trong nhóm phải được phân công nhiệm vụ rõ ràng và phải cùng hợp tác

để giải quyết nhiệm vụ chung của cả nhóm Tránh tình trạng HS đùn đẩy tráchnhiệm cho nhau cũng như trong nhóm chỉ có vài thành viên làm việc còn cácthành viên khác không hợp tác hoặc làm việc riêng thì GV cần phải nêu rõtrách nhiệm của từng thành viên trong nhóm GV có thể yêu cầu HS tự bầunhóm trưởng, thư ký hoặc do GV chỉ định và sau một vài lượt thảo luận vai tròcủa các thành viên trong nhóm nên thay đổi để khắc phục tình trạng chỉ có một

HS chuyên trách nhiệm vụ này

2.3.1.3 Vai trò của giáo viên trong quá trình thảo luận nhóm

Trong khi HS thảo luận nhóm, GV di chuyển chung quanh các nhóm, imlặng quan sát các nhóm làm việc Khi HS gặp khó khăn, bế tắc, GV kịp thờican thiệp, hướng dẫn nhóm ra khỏi bế tắc bằng những câu hỏi gợi mở Vớinhững vấn đề phức tạp, để giải quyết được HS cần phải nắm vững bài học và

có cách nhìn tổng quát Ban đầu, các em sẽ gặp lúng túng, thậm chí nói lanman không vào trọng tâm Để các em giải quyết được, giáo viên cần địnhhướng gợi mở

GV dẫn dắt HS vận dụng tư duy vốn có của các em giải quyết từng vấn đề: gợilại những tri thức đã có từ trước, khơi gợi những suy nghĩ trong các em thôngqua vốn sống của các em

Khi gặp trường hợp trong nhóm có thành viên “ngôi sao” hoặc có thànhviên quá nhút nhát, GV kịp thời can thiệp hạn chế những HS nói quá nhiều,khích lệ, động viên HS nhút nhát phát biểu ý kiến bằng cách GV có thể trựctiếp hỏi HS nhút nhát rằng: “Cô nhận thấy nhóm bạn rất có tinh thần tham giathảo luận, đã đưa ra được rất nhiều ý kiến, quan điểm của các bạn như vậy còn

ý kiến của em như thế nào? Em thấy chúng ta cần bổ sung những gì cho những

ý các bạn vừa nêu?”

2.3.1.4 Trình bày và đánh giá kết quả

Đại diện các nhóm sẽ lên trình bày kết quả trước toàn lớp: trình bàymiệng hoặc trình bày miệng với báo cáo viết kèm theo Có thể kèm theo minhhọa bằng tranh ảnh hoặc biểu diễn Đại diện nhóm có thể là nhóm trưởng hoặcmột thành viên khác trong nhóm do GV chỉ định Kết quả trình bày của cácnhóm được đánh giá và rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo GVđóng vai trò trọng tài chốt lại những nội dung cơ bản, khen thưởng nhữngnhóm thảo luận tốt, động viên, khuyến khích để tạo hứng thú cho HS Hìnhthức khen thưởng có thể là biểu dương cũng có thể là cho thêm điểm thưởngvào điểm hoạt động nhóm

2.3.2 Quy trình tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy

Trang 10

Trong dạy học hợp tác hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HSbao gồm nhiều bước kế tiếp nhau Sự kết thúc của bước này sẽ là sự mở đầucủa bước tiếp theo tương ứng với tiến trình bài học Mỗi bước gồm nhiều giaiđoạn, các giai đoạn được sắp xếp theo trật tự nhất định trong một chỉnh thể sẽtạo nên cấu trúc của việc tổ chức dạy học Trong dạy học hợp tác, cấu trúc củabài học có thể được khái quát như sau:

Hợp tác với bạn trong nhóm

Hợp tác với bạn trong lớp

Tự đánh giá,

tự điều chỉnh

Trang 11

Cấu trúc của bài học gồm các giai đoạn đã được khái quát ở sơ đồ trên.Các giai đoạn này cấu thành nên quy trình tổ chức dạy học hợp tác Quy trìnhnày lại được chia thành các quy trình bộ phận sắp xếp theo trình tự: quy trìnhchuẩn bị, quy trình thực hiện, quy trình tổng kết, đánh giá.

Trong mỗi quy trình nhỏ thì hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có

sự khác biệt nhưng đều nhằm thực hiện mục đích chung là hoàn thành nhiệm vụhọc tập

2.3.2.1 Quy trình chuẩn bị

* Hoạt động của giáo viên

Vai trò của GV trong các giờ tổ chức dạy học hợp tác là: người hướngdẫn, tổ chức, quản lý hoạt động học tập của HS chứ không phải làm thay cho

HS Vì vậy, để giờ học đạt chất lượng tốt nhất thì GV cần chuẩn bị chu đáo chotừng giờ dạy của mình Hoạt động của GV trong giai đoạn này gồm các bước:

- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học

- Bước 2: Thiết kế bài tập thảo luận

- Bước 3: Lựa chọn các phương pháp, phương tiện dạy học, các phương án tổchức nhóm

* Hoạt động của học sinh

Dưới sự hướng dẫn, điều khiển của GV, HS tham gia vào quá trình chuẩn

bị bài học với tư cách là một chủ thể tích cực hoạt động của HS gồm các bướcsau:

- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học

Trên cơ sở hướng dẫn của GV, HS xác định mục tiêu của bài học Để xác địnhmục tiêu bài học HS cần: tìm hiểu mục tiêu bài học, tự xác định vị trí bài họctrong chương trình, tự xác định mức độ kiến thức, kĩ năng, thái độ của mình saukhi kết thúc bài học

- Bước 2: Nghiên cứu trước nội dung bài học

Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tiến hành nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệuhọc tập để xây dựng nội dung bài học Ở bước này học sinh thực hiện: phân tíchnội dung bài học, tự đặt ra các tình huống độc lập, tự tìm cách giải quyết tìnhhuống

- Bước 3: Tự lựa chọn phương pháp và phương tiện học tập

Kết thúc quy trình chuẩn bị GV và HS chuyển sang quy trình tiếp theo, quy trìnhthực hiện

2.3.2.2.Quy trình thực hiện

* Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của GV ở giai đoạn này trở nên quan trọng hơn GV là ngườikhởi xướng các mối quan hệ hợp tác giữa GV - nhóm - HS, hoạt động của GV sẽquyết định đến hiệu quả của dạy học hợp tác GV bằng các chiến lược tổ chứccủa mình sẽ khơi dậy được tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân HS đồng thời tạo

ra một không khí năng động, hợp tác trong lớp học Hoạt động của GV tiến hànhtheo các bước sau:

- Bước 1: Thành lập nhóm và giao nhiệm vụ học tập cho HS

- Bước 2: Hướng dẫn HS tự nghiên cứu

- Bước 3: Tổ chức thảo luận nhóm

Trang 12

- Bước 4: Tổ chức thảo luận lớp

- Bước 5: Kết luận và đánh giá

* Hoạt động của học sinh

Hoạt động của HS trong dạy học hợp tác là tự lực chiếm lĩnh tri thức bằngchính hành động của mình và bằng sự hợp tác với các bạn trong nhóm và với

GV Như vậy HS vừa là mục tiêu vừa là động lực chủ yếu của quá trình dạy học

Ở giai đoạn này HS tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: Gia nhập nhóm và tiếp cận nhiệm vụ học tập

- Bước 2: Cá nhân tự nghiên cứu

- Bước 3: Hợp tác với bạn trong nhóm

- Bước 4: Hợp tác với bạn trong lớp

- Bước 5: Hợp tác với GV tự đánh giá kết quả

2.3.2.3 Quy trình tổng kết, đánh giá

Mục đích của giai đoạn này là giúp HS hệ thống hoá tri thức kĩ năng đãhọc, vận dụng giải bài tập hoặc giải quyết tình huống

* Hoạt động của giáo viên

Việc chốt lại kiến thức và nhận xét đánh giá cuối cùng của GV trong quátrình thảo luận là rất cần thiết Khi thực hiện công việc này, GV cần khéo léorèn cho HS những kĩ năng khám phá, vận dụng tri thức Khi nhận xét đánh giá,

GV nên hướng HS rút ra những bài học có tính chất khái quát GV có thể độngviên các nhóm bằng cách cho điểm cộng (cộng 1 điểm vào điểm kiểm tramiệng hoặc kiểm tra 15 phút) đối với nhóm nào hoàn thành xuất sắc bài tập

Có thể lần này cộng điểm nhóm này, lần sau cộng điểm cho nhóm khác

- Bước 1: Hướng dẫn HS tổng kết bài học

- Bước 2: Đánh giá kết quả của HS

- Bước 3: Hướng dẫn HS chuẩn bị bài mới

* Hoạt động của học sinh

Dưới sự hướng dẫn điều khiển của GV, HS tiến hành tự tổng kết và đánh giá kếtquả học tập nghiên cứu của mình như sau:

- Bước 1: Hệ thống hoá, khái quát hoá nội dung tri thức đã học

- Bước 2: Tự đánh giá kết quả học tập

- Bước 3: Tiếp nhận nhiệm vụ mới

Trang 13

tế, trong các trường học của Việt Nam do điều kiện cơ sở vật chất cũng như sốlượng HS trong một lớp quá đông nên việc hình thành các đội, nhóm lí

tưởng (4- 6 HS / nhóm) trong thời gian dài (1 tuần, 1 tháng) là việc khó thựchiện, đòi hỏi người GV phải có nhiều kinh nghiệm và linh động trong quá trình

tổ chức giảng dạy cũng như trong việc kiểm tra đánh giá

2.3.3 Tổ chức thực nghiệm

2.3.3.1 Mục đích thực nghiệm

Thực nghiệm là quá trình vận dụng dạy học hợp tác vào thực tiễn dạy họctác phẩm VHDG ở trường THPT Qua đó kiểm nghiệm tính khả thi, đánh giátính hiệu quả và những hạn chế (nếu có) của nó nhằm rút ra định hướng tốt nhấtcho sự vận dụng của đề tài nghiên cứu trong thực tiễn dạy học tác phẩm VHDGsau này

2.3.3.2 Đối tượng thực nghiệm.

Chúng tôi chọn 2 lớp thực nghiệm gồm: 10A10, 10A13 dạy học có vậndụng dạy học hợp tác và 2 lớp đối chứng: 10A2, 10A12 dạy học không sử dụngdạy học hợp tác Kết quả giờ dạy thực nghiệm sẽ là sự kiểm chứng mức độ ứng

dụng của dạy học hợp tác trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị

a Về kiến thức: Nắm vững đặc trưng cơ bản và đặc điểm đặc sắc của truyền

thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy: những hình tượng nghệthuật, những chi tiết thần kì, cốt lõi lịch sử dân tộc, thể hiện quan điểm, tình cảm

và bài học dựng nước, giữ nước của nhân dân ta xưa

b Về kĩ năng:

- Kĩ năng đọc hiểu: Biết cách đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.

- Kĩ năng hợp tác: biết cùng hợp tác với nhau trong học tập

- Kĩ năng trình bày vấn đề: trình bày các thông tin liên quan đến văn bản.

- Kĩ năng tổng hợp vấn đề: khái quát được nội dung bài học bằng Graph hoặc

- Rút ra bài học cảnh giác, bài học về mối quan hệ riêng – chung

2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:

a Chuẩn bị của giáoviên:

- Thiết bị dạy học: SGK, SGV Ngữ văn 10 (tập 1); Tài liệu chuẩn kiến thức – kĩ

năng Ngữ văn 10; Bài soạn; Bài giảng Powerpoit, các phiếu học tập

- Tư liệu tham khảo: Văn học dân gian Việt Nam (NXB Giáo dục, năm 2000);

- Phương pháp dạy học:

Trang 14

+ GV tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp cácphương pháp đọc sáng tạo, gợi tìm, kết hợp với cáchình thức trao đổi thảo luận, trả lời câu hỏi.

+ HS suy nghĩ phát biểu ý kiến, tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổchức

- Kĩ thuật dạy học: Bản đồ tư duy, kĩ thuật Đọc hợp tác, kĩ thuật Trình bày 1 phút, kĩ thuật Phịng tranh, kĩ thuật Cơng đoạn, kĩ thuật Bản đồ tư duy.

b Chuẩn bị của học sinh:

- SGK, SBT Ngữ văn 10 (tập 1), vở ghi

- Soạn bài “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, Ngữ văn 10

(tập 1), các nhĩm thực hiện Phiếu học tập đã được giáo viên giao từ tiết họctrước

- Ghi ra các thắc mắc của bản thân (nếu cĩ)

*Thao tác 1: Kiểm tra bài cũ và sự

chuẩn bị các phương tiện học tập và

bài mới của HS

*Thao tác 2: Giới thiệu bài mới tạo

* Phương pháp/Kĩ thuật dạy học

- Mục tiêu: Nắm được khái niệm, đặc điểm, mơi trường diễn xướng của thể

loại truyền thuyết; các bản kể của truyền thuyết Truyện An Dương và Mị

Châu- Trọng Thủy.

- Phương pháp: hợp tác, nêu vấn đề

- Kĩ thuật KWL, sơ đồ tư duy

- Tích hợp kiến thức văn hĩa dân gian

* Năng lực, phẩm chất:

+ Năng lực: tự học, hợp tác giải quyết vấn đề, giao tiếp

+ Phẩm chất: Biết yêu quý, tự hào về những giá trị văn hĩa dân gian truyềnthống

Trang 15

* Hình thức tổ chức hoạt động:

+ Xuất xứ của văn bản?

Đại diện nhóm 1 trình bày HS theo

b Đặc trưng

- Yếu tố lịch sử

- Yếu tố tưởng tượng

c Môi trường sinh thành, biến đổi

và diễn xướng: Lễ hội và các di tích

* Phương pháp/Kĩ thuật dạy học

- Mục tiêu: biết cách đọc và đọc đúng văn bản, xác định được bố cục

- Phương pháp: Nêu vấn đề, kĩ thuật Đọc tích cực

* Hình thức tổ chức hoạt động:

- GV hướng dẫn, khuyến khích HS

đọc văn bản một cách sáng tạo

HS thực hiện, GV tổ chức nhận xét,

rút kinh nghiệm

- GV gợi dẫn: Truyền thuyết Truyện

An Dương Vương và Mị Châu- Trọng

Thủy có những nhân vật nào? Gồm

* Phương pháp/Kĩ thuật dạy học

- Mục tiêu: Hiểu rõ về các nhân vật tong truyền thuyết Truyện An DươngVương và Mị Châu- Trọng Thủy

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w