Đặc biệt qua các bài thi trắc nghiệm kháchquan, thì những khuyết điểm trong vận dụng kiến thức giải bài tập hóa học củahọc sinh càng bộc lộ rõ rệt và đa dạng hơn, chứng tỏ năng lực giải
Trang 1NỘI DUNG TRANG
II Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của đề tài 3III Phân tích và sửa chữa một số sai lầm của học sinh khi giải bài
tập Hoá học vô cơ lớp 11 trung học phổ thông 5
IV Một số biện pháp khắc phục hạn chế và sửa chữa sai lầm của
Trang 2I Lí do chọn đề tài
- Đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay là đổi mới căn bản và toàn diệngiáo dục Chỉ có đổi mới căn bản về phương pháp dạy và phương pháp học tamới có thể tạo ra được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạođược lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bốicảnh của nền kinh tế số 4.0 mà nhiều nước trên thế giới đang hướng tới
- Mục tiêu của dạy học hoá học ở nhà trường phổ thông là cung cấp kiếnthức lý thuyết bộ môn, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy và kỹ năngthực hành hoá học, để từ đó các em có khả năng vận dụng những kiến thức khoahọc vào cuộc sống và sản xuất, cũng như tiếp tục học ở các bậc học cao hơn
- Qua thực tế khảo sát dạy học hoá học ở các trường phổ thông, cũng nhưkết quả các kì thi tốt nghiệp THPT môn hóa học ở nhiều địa phương hiện naycòn chưa đồng đều về chất lượng Đặc biệt qua các bài thi trắc nghiệm kháchquan, thì những khuyết điểm trong vận dụng kiến thức giải bài tập hóa học củahọc sinh càng bộc lộ rõ rệt và đa dạng hơn, chứng tỏ năng lực giải bài tập củahọc sinh còn chua tốt do vi phạm nhiều khuyết điểm về kiến thức, phương phápthực hành hóa học
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách và thực tế nhận thức trên, tôi lựa
chọn đề tài : “Phát hiện và khắc phục một số sai lầm thường gặp của học sinh trong giải bài tập Hoá học vô cơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông”, đề tài
nhằm giúp học sinh khắc phục những khuyết điểm trong nhận thức và trong họctập, từ đó có kết quả học tập cũng như kết quả thi được tốt hơn
Thông qua điều tra, tìm hiểu, tổng hợp, phân tích các lỗi phổ biến của họcsinh THPT, từ đó tác giả nghiên cứu, thực nghiệm, đề xuất các biện pháp sửachữa và ngăn ngừa sai lầm qua việc hướng dẫn học sinh giải bài tập hóa học,nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học ở các trường THPT
II Mục đích nghiên cứu
Phát hiện và khắc phục các sai lầm thường gặp của học sinh trong quátrình giải bài tập hóa vô cơ
Vận dụng hệ thống bài tập này nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh
III Đối tượng nghiên cứu
IV Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp dạy học tích cực, các phương pháp giải bài tập và cácđịnh luật bảo toàn trong quá trình giải bài tập
Trang 4Nếu phát hiện được và khắc phục được các sai lầm thường gặp của họctrong giải bài tập nhằm đảm bảo tính khoa học của nội dung, logic về cấu trúc,phù hợp với đối tượng học sinh thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hóahọc nói chung và hóa vô cơ nói riêng theo hướng chiều rộng và chiều sâu Đồngthời gây hứng thú cho học sinh trong học tập
PHẦN 2: NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
1 Bài tập hóa học và tác dụng của bài tập trong dạy học
1.1 Khái niệm bài tập hóa học và các cách phân loại
a) Khái niệm bài tập hóa học
Bài tập hóa học là phương tiện cơ bản nhất để đưa những kiến thức
lý thuyết vào thực hành Sự vận dụng kiến thức thông qua các bài tập cónhiều hình thức rất phong phú và đa dạng Nhờ sự vận dụng mà kiến thứcđược củng cố, khắc sâu, chính xác, mở rộng và nâng cao hơn Bài tập hóahọc vì lẽ đó vừa là nội dung vừa là phương tiện để học tập tốt môn hóahọc
b) Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau trong các tài liệu giáokhoa Vì vậy, cần có cách nhìn tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắmchắc các cơ sở phân loại
- Phân loại dựa vào nội dung toán học của bài tập
- Phân loại dựa vào hoạt động của học sinh khi giải bài tập
- Phân loại dựa vào nội dung hóa học của bài tập
- Dựa vào nhiệm vụ và yêu cầu của bài tập
- Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập
1.2 Ý nghĩa và tác dụng của bài tập trong dạy học hóa học
a) Ý nghĩa của bài tập hóa học
- Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học Củng cố, đào sâu và mở rộngkiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được cáckiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâusắc
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trìnhphản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao độngsản xuất và bảo vệ môi trường
b) Tác dụng của bài tập trong dạy học hóa học
- Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bảnnhất để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống,sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được quabài giảng thành kiến thức của chính mình
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất
- Phát triển tư duy, rèn trí thông minh cho học sinh
Trang 5- Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứutài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) Khi trang bị kiến thức mới, giúphọc sinh tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững.
1.3 Xu hướng phát triển bài tập hóa học hiện nay
Trong những năm gần đây đã có những cải cách lớn trong toàn nghànhgiáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mĩ Nộidung bài tập được thay đổi một cách hợp lý vừa đảm bảo được chuẩn kiến thứcphổ thông, cơ bản, có hệ thống vừa tạo điều kiện để phát triển năng lực của mỗihọc sinh, nâng cao năng lực tư duy, kỹ năng thực hành, tăng tính thực tiễn
Do đó xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay là tăng cường khảnăng tư duy của học sinh ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng.Những câu hỏi có tính chất lí thuyết học thuộc sẽ giảm dần thay vào đó là nhữngbài tập có tính chất rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của học sinh, phát huykhả năng tìm tòi, sáng tạo, độc lập của học sinh
II Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của đề tài
1 Tìm hiểu những sai lầm và cơ chế phát sinh các sai lầm trong dạy học
1.1 Nguyên nhân phát sinh các sai lầm trong dạy học
1.1.1 Nguyên nhân từ người dạy
Là một giáo viên dạy Hóa học, hẳn ai cũng thấy được việc dạy học sinhbiết giải và giải thành thạo bài tập hóa đã khó thì việc ra đề kiểm tra, đề thi trongcác kì thi lại càng khó hơn, bởi lẽ ra đề bài tập hóa rất đa dạng, phong phúnhưng lại vô cùng phức tạp, một bài tập nếu thiếu một dữ kiện nào đó thì có thểdẫn đến giải sai, nhưng nhiều khi ra đề ta đưa ra những số liệu và những dạngtồn tại không thực tế dẫn đến một số khuyết điểm xảy ra trong quá trình dạy học
Giáo viên không tự thường xuyên rèn luyện năng lực chuyên môn củamình nên dạy học sinh khó hiểu, thậm chí giải sai các bài tập Giáo viên chưa sửdụng phương pháp dạy học thích hợp, chưa áp dụng công nghệ thông tin vàophục vụ cho việc giảng dạy
1.1.2 Nguyên nhân từ người học
- Học sinh hiểu chưa đầy đủ và chính xác các khái niệm trong hóa học,nếu học sinh hiểu không kĩ, không chính xác, không trọn vẹn thậm chí sai lệch
cả bản chất, khái niệm, từ đó dẫn đến các sai lầm khi giải bài tập sẽ xuất hiện
- Học sinh chưa nắm vững phương pháp giải của cùng một bài tập, khôngtìm ra phương pháp giải tối ưu cho một bài toán cụ thể, nếu không nắm vữngphương pháp giải thì lời giải của học sinh không có trình tự logic, thiếu chặt chẽ,suy luận nhầm lẫn thì lúc đó không biết khi nào kết thúc lời giải, dẫn đến bế tắckhông ra kết quả của bài tập Từ đó kết quả học tập của các em sẽ sút kém, chứađựng nhiều khuyết điểm trong giải bài tập
- Học sinh thiếu ý thức học tập, không có kế hoạch thường xuyên ôn tậplại các kiến thức đã học Do đó các kiến thức cơ bản dần dần mờ nhạt trong nhậnthức của học sinh, nhiều “lỗ hổng” về kiến thức xuất hiện, thậm chí ý chí học tậpcũng dần sút kém, kết quả không tốt Nhiều học sinh khi giải bài tập không cótinh thần vượt khó, không chịu tính toán cẩn thận
Trang 61.2 Điều tra các nhóm sai lầm thường gặp trong dạy học hóa học
- Tìm hiểu mức độ sai lầm, nguyên nhân sai lầm của học sinh khi giảibài tập hóa học biểu hiện qua năng lực giải bài tập hóa học mà giáo viên quansát được trong quá trình dạy học
1.2.2 Nội dung, đối tượng, địa bàn và phương pháp điều tra
a) Nội dung điều tra
- Điều tra tổng quát tình hình sử dụng phương pháp dạy học, phân tíchsai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải bài tập hóa học lớp 11, nắm ý kiếncủa giáo viên về việc phân tích và sửa chữa những sai lầm của học sinh
- Điều tra công tác giảng dạy, việc hiểu các sai lầm và biện pháp khắcphục thông qua bài tập hóa học lớp 11 của học sinh
- Điều tra kết quả thi tốt nghiệp THPT, các kì thi tuyển sinh đại học, cácbài kiểm tra trên lớp
b) Đối tượng điều tra
- Ngoài cách điều tra thường ở trường THPT Quảng Xương 4, tôi đãtiến hành điều tra sinh lớp 11 ở một số trưòng THPT trên địa bàn huyện QuảngXương
- Một số giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở một sốtrường THPT trong cả nước
c) Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ, trực tiếp trao đổi với các giáo viên Gửi và thu phiếu điều tra
- Tìm hiểu trực tiếp thông qua các bài thi, bài kiểm tra củng cố kiến thứcsau mỗi chương trong sách giáo khoa do mình trực tiếp giảng dạy
1.2.3 Kết quả điều tra
- Qua điều tra chúng tôi thấy kết quả bài làm của học sinh khi thông quacác bài kiểm tra, bài thi học kỳ, thi tốt nghiệpTHPT của các trường chưa cao tuy
là có một số trường có học sinh ưu tú khá cao, có thành tích học tập tốt nhưngcác em vẫn mắc sai lầm khá phổ biến, một số em vẫn bị nhầm lẫn khá trầmtrọng khi giải bài tập hóa học
- Qua điều tra thực tế với học sinh lớp 11, tôi nhận thấy học sinh cònphạm nhiều sai lầm khi giải bài tập hóa học
III Phân tích và sửa chữa một số sai lầm của học sinh khi giải bài tập Hoá học vô cơ lớp 11 trung học phổ thông
1 Tổng hợp một số sai lầm thường gặp trong chương “Sự điện ly”
Trang 71.1 Khuyết điểm của học sinh về cách hiểu và vận dụng lí thuyết hóa học trong giải các bài tập lý thuyết:
Việc học lý thuyết, nắm vững lý thuyết rất quan trọng, nhờ nắm vững kiếnthức lý thuyết mà HS có thể làm tốt các bài tập tính toán Kiến thức hóa học phổthông vừa phong phú, vừa đa dạng, vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm nên việcmắc sai lầm trong học tập là điều khó tránh khỏi Trong phần này, tôi xin phântích một số sai lầm cơ bản khi vận dụng kiến thức lý thuyết hóa học lớp 11 màhọc sinh thường mắc phải
Ví dụ 1: Trong các chất sau, chất nào là chất điện ly mạnh: NaCl,
HNO3, KOH, AgCl, BaCO3, CH3COOH, Mg(OH)2, KHCO3
Với bài tập trên, nhiều học sinh sẽ mắc sai lầm ở việc chọn chấtđiện ly mạnh là các axit mạnh, bazơ mạnh và các muối tan, lúc đó sự lựachọn của đa số học sinh là: NaCl, HNO3, KOH
Tuy nhiên, sự lựa chọn này là do học sinh chưa nắm rõ khái niệm
về chất điện ly mạnh, đó là những chất khi tan trong nước, toàn bộ sốphân tử hoà tan phân ly thành các ion, mặc dầu AgCl, BaCO3 là chất íttan, nhưng có phân tử nào tan được đều phân ly thành ion nên chúng làchất điện ly mạnh
Trên cơ sở đó, học sinh phải chọn đáp án là: NaCl, HNO3, KOH,AgCl, BaCO3, KHCO3
Ví dụ 2: Trong các dung dịch sau: dung dịch NaOH 0,1M, dung
dịch
H2SO4 0,1M, dung dịch CH3COOH 0,5M, dung dịch Al2(SO4)3 0,05M dungdịch nào dẫn điện tốt nhất?
Phân tích: Nếu nhìn qua, học sinh dễ nhầm lẫn là dung dịch CH3COOH
là dẫn điện tốt nhất do nó có nồng độ lớn nhất Tuy nhiên, nếu có kiến thức chắcchắn, học sinh có thể hiểu rõ dung dịch dẫn điện tốt nhất là dung dịch có tổngnồng độ các ion là lớn nhất Dung dịch CH3COOH có nồng độ lớn nhất là 0,5Mnhưng đây là chất điện li yếu nên không thể là dung dịch dẫn điện tốt nhất, đóphải là dung dịch Al2(SO4)3 0,05M có tổng nồng độ các ion là 0,25M
1.2 Sai lầm của học sinh về việc vận dụng các phương pháp giải toán trong việc giải bài tập hoá học
Trong quá trình giải các bài tập hóa học nói chung học sinh thường
bỏ qua một số kiến thức cơ bản hoặc một số dữ kiện bài toán, hoặc sailầm khi tính theo phương trình hóa học hoặc sơ đồ phản ứng mà quên cânbằng, cân bằng không đúng, hiểu sai các công thức tính toán trong hóahọc, sử dụng đơn vị tính không thống nhất, không để ý đến hiệu suất phảnứng đã cho trong bài, không xác định được chất nào hết hay dư … dẫnđến học sinh có những cách giải thiếu sót, những suy luận nhầm lẫn màhọc sinh thường mắc phải nghĩa là các em thiếu các kỹ năng cơ bản khi sửdụng các phương pháp giải bài tập Nếu không lựa chọn phương pháp giảicho phù hợp thì thường rơi vào các vướng mắc như không giải được bàitập, quá trình giải rất dài có nhiều quá trình biến đổi trong quá trình giảirất dễ nhầm lẫn
Trang 8Ví dụ 1: Cho 100ml dung dịch gồm FeCl3 1M và AlCl3 1M vàodung dịch Na2CO3 dư Tính khối lượng kết tủa thu được sau phản ứng hoáhọc xảy ra hoàn toàn?
Suy luận đúng và kết quả của bài:
Khi dd hỗn hợp gồm FeCl3 và AlCl3 phản ứng với dd Na2CO3 sẽ tạo
ra hỗn hợp muối Fe2(CO3)3 và Al2(CO3)3, hai muối này kém bền bị thuỷphân thành Fe(OH)3 và Al(OH)3
Các phương trình hoá học của phản ứng:
2FeCl3 + 3Na2CO3 → Fe2(CO3)3 + 6NaCl
2AlCl3 + 3Na2CO3 → Al2(CO3)3 +6 NaCl
Fe2(CO3)3 + 3H2O → 2Fe(OH)3 ↓ + 3CO2 ↑
Al2(CO3)3 + 3H2O → 2Al(OH)3 ↓ + 3CO2 ↑
⇒ m(kết tủa) = m Fe(OH )3 + m Al( OH )3 = 107.0,1 + 78 0,1 = 18,5 gam
Về bản chất trong tương tác của các dung dịch này là tương tác của các ion:FeCl3 → Fe3+ + 3 Cl− Fe3+ + 3H2O → Fe(OH)3 ↓ + 3H+
* HS thường cho rằng: Fe2(CO3)3 và Al2(CO3)3 là 2 muối không tan
Vì vậy, phản ứng sẽ dừng lại khi có sản phẩm Fe2(CO3)3 và Al2(CO3)3.Các phương trình hoá học của phản ứng:
2FeCl3 + 3Na2CO3 → Fe2(CO3)3 ↓ + 6NaCl 2AlCl3 + 3Na2CO3 → Al2(CO3)3 ↓ +6 NaCl
⇒ m (kết tủa) = 0,05.292 + 0,05.234 = 26,3 gam
Ví dụ 2: Sục 13,44 lít CO2 (đktc) vào 200 ml dung dịch X gồmBa(OH)2 1,5M và NaOH 1M Sau phản ứng thu được dung dịch Y Cho dungdịch Y tác dụng với 200 ml dung dịch hỗn hợp BaCl2 1,2M và KOH 1,5M thuđược m gam kết tủa Giá trị của m là
Trang 9Trong bài toán trên học sinh rất dễ mắc sai lầm:
3
HCO
Ví dụ 3: Cho 86,3 gam hỗn hợp X gồm Na, K, Ba và Al2O3 (trong đó oxichiếm 19,47% về khối lượng) tan hết vào nước, thu được dung dịch Y và13,44 lít khí H2 (đktc) Cho 3,2 lít dung dịch HCl 0,75M vào dung dịch Y.Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được m gam kết tủa Giá trị của mlà
2.1 Sai lầm khi vận dụng kiến thức lý thuyết để giải bài tập lý thuyết.
Ví dụ 1: Có bao nhiêu kết tủa sinh ra khi sục NH3 lần lượt vào các dungdịch: AlCl3, CuCl2, FeCl3, MgSO4, ZnSO4
Ví dụ 2: Xác định cộng hoá trị của nitơ trong phân tử N2O5
Phân tích: Bằng các kiến thức thông thường mà học sinh được học, học
sinh rất dễ mắc nhầm lẫn, xác định hoá trị của nitơ trong hợp chất N2O5 là 5.Tuy nhiên, như chúng ta biết, do nitơ không có phân lớp d nên cộng hoá trị tối
đa của N là 4 Trong trường hợp trên hoá trị của N được tính là 4
Ví dụ 3: Cho các muối sau: Na2HPO3, Na3PO4, CaOCl2, NH4NO3, KNO2,NaH2PO3, NH4HPO4, (NH4)3PO4 Hãy chỉ ra các muối axit, muối trung hoà?
Trang 10Phân tích: Theo quan điểm về muối axit phải là muối có gốc axit
còn có chứa nguyên tử hidro có khả năng phân li khi tan trong nước Nhưvậy, học sinh sẽ dễ có câu trả lời là:
Muối axit: Na2HPO3, NaH2PO3, NH4HPO4.
Muối trung hoà: Na3PO4, CaOCl2, NH4NO3, KNO2, (NH4)3PO4
Hoặc:
Muối axit: Na2HPO3, NaH2PO3, NH4HPO4. NH4NO3, (NH4)3PO4
Muối trung hoà: Na3PO4, CaOCl2, KNO2
Tuy nhiên, do H3PO3 là axit 2 nấc do có một nguyên tử H liên kết vớiPhotpho không có tính axit nên Na2HPO3 cũng được tính là muối trung hoà,
NH4+ là cation, không phải anion gốc axit nên sự phân loại đúng phải là:
Muối axit: NaH2PO3, NH4HPO4.
Muối trung hoà: Na3PO4, Na2HPO3, CaOCl2, NH4NO3, KNO2, (NH4)3PO4
2.2 Sai lầm khi giải bài tập tính toán
a Đối với một số bài tập nếu HS không lựa chọn được phương pháp giải cho phù hợp thì việc giải bài tập mất rất nhiều thời gian, thậm chí có những bài không làm được Ngược lại nếu HS biết phân tích đề bài, nhận biết được bản chất các quá trình hoá học, lựa chọn phương pháp giải phù hợp thì sẽ rút ngắn được thời gian làm bài, ít gây nhầm lẫn đây là điều chú ý quan trọng khi HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan định lượng trong bài thi theo hình thức trắc nghiệm.
Ví dụ: Cho hỗn hợp X gồm hai kim loại A và B đứng trước H trong dãy
hoạt động hoá học, có hoá trị không đổi trong các hợp chất Chia m thành 2 phầnbằng nhau:
Phần I: Hoà tan hoàn toàn trong dung dịch chứa axit HCl và H2SO4
Phần II: N+5 trong HNO3 là chất oxi hoá
Vì chất khử cho (e) ở 2 phần bằng nhau lượng chất oxi hoá nhận(e) ở 2
phần cũng sẽ bằng nhau => có thể sử dụng phương pháp bảo toàn e
để giải quyết bài toán
Ta có: 2 H+ + 2e H2
0,3mol 0,15 mol+ 3e
Trang 11Còn nếu HS không phát hiện ra vấn đề trên thì thường rơi vào cáccách giải rất “cồng kềnh” như sau:
- Sử dụng phương pháp trung bình
Đặt M có hoá trị n là kim loại chung cho A và B
Các phương trình hoá học của phản ứng xảy ra ở phần I:
36 , 3
n
) (a b
n
) (b d
m
Trang 12Ta có: nNO = (na + nc + mb + md) = 0,3 = 0,1 mol
VNO = 0,1 22,4 = 2,24 lít
b Khi giải bài tập hóa học lớp 11, đôi khi các em gặp một số bài toán liên quan đến hiệu suất phản ứng, có bài toán phản ứng xảy ra hoàn toàn nhưng có bài xảy ra không hoàn toàn Vì vậy mà trong quá trình giải bài tập, đa số các em bỏ qua, không chú ý đến hiệu suất phản ứng dẫn đến kết quả sai Sau đây là một số ví dụ điển hình:
Ví dụ 1: Người ta có thể điều chế khí N2 từ phản ứng nhiệt phânamoniđicromat (NH4)2Cr2O7:
x (mol) x (mol) 4x (mol)
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng: mN2 + mH2O = 32 – 20 = 12 (g)
Gọi n(NH4)2Cr2O7 = x (mol) nN2= x (mol) và nH2O = 4x (mol) 28x + 72 x = 12 x = 0,12
Ví dụ 2: Trong bình kín dung tích 112(l), trong đó chứa N2 và H2 theo tỷ
lệ 1: 4 và áp suất 200 atm với một ít chất xúc tác thích hợp Nung nóng bình mộtthời gian, sau đó đưa nhiệt độ về 0oC thấy áp suất trong bình giảm 10% so với
áp suất ban đầu Hiệu suất phản ứng tổng hợp NH3 là
A 75% B 80% C 25% D.50%
Phân tích: * Phương pháp thông thường:
VN2 = x 1 = 22,4 (l)
VH2 = x 4 = 89,6 (l)
PTPƯ: N2 + 3H2 ↔ 2NH3
Ban đầu: 22,4 (l) 89,6 (l) 0 (l) Phản ứng: x (l) 3x (l) 2x (l)Sau phản ứng: (22,4 – x) (89,6 – 3x) 2x
3
1
3 1
32
252 12
0 ,
5 112
5 112