Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chươngtrình hay không thì
Trang 1RÈN KỸ NĂNG LÀM PHẦN ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 12 THI THPT ĐẠT KẾT QUẢ CAO
I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những năm gần đây Bộ GD&ĐT ngày càng chú trọng nhiều hơn đến
việc nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học nhằm cung cấp tri thức toàn diện cho người học , đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong trường PT Trên cơ sở đó rèn luyện năng lực cảm thụ văn học, bồi dưỡng tình cảm tâm hồn nhân cách chuẩn bị cho các em hành trang tri thức vào đời Trong
xu thế đổi mới việc dạy và học Ngữ văn nói chung cụ thể là đổi mới chương trình và SGK sau một thời gian thí điểm từ năm học 2006-2007 Bộ GD&ĐT đã đưa vào sử dung bộ sách giáo khoa mới theo chương trình phân ban đại trà áp dụng cho các trường THPT toàn quốc Các bộ SGK mới ( Chuẩn – Nâng cao ) cónhiều thay đổi : bỏ đi một số tác phẩm không phù hợp, một số văn bản mới được đưa vào để phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội Việc ra đề kiểm trađánh giá cũng có nhiều đổi mới
Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã gửi Công văn số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) năm 2014, trong đó có nội dung: Đề thi môn ngữ văn có 2 phần: Đọc hiểu và Làm văn Bộ GD&ĐT đề nghị các Sở giáo dục, các trường THPT lưu ý việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT, thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp Cụ thể là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và Tự luận (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần phần Đọc hiểu là 3 điểm – phần Làm văn là 7 điểm
Đây là xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám phá văn bản.) Cũng từ năm đó dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức Có thể nói đây là
sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chươngtrình hay không thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em) Như vậy có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận thì việc ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh
Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi THPTQuốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài
Trang 2viết chuyên sâu để tham khảo Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sáchgiáo khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn Văn từ cấp THCS đến cấp THPT Chính vì thế mà không ít giáo viên ôn thi THPT Quốc gia tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh
Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPT Quốc gia Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trí rất quan trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi Nếu học sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng 6,0 điểm Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ
có nhiều cơ hội đạt điểm văn 8,0 hoặc 9,0 điểm Như vậy phần Đọc hiểu góp phần không nhỏ vào kết quả cao của bài thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xét tuyển Đại học Có thể nói ôn tập và làm tốt phần Đọc hiểu chính là giúp các em gỡ điểm cho bài thi của mình Vì vậy việc ôn tập bài bản đểcác em học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc –hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết
Đối với học sinh trường THPT Mai Anh Tuấn, nhất là lớp 12, đây là phần kiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng cố
để chuẩn bị cho kì thi THPT sắp tới
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi THPT Quốc Gia, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
RÈN KỸ NĂNG LÀM PHẦN ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 12 THI THPTĐẠT KẾT QUẢ CAO
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện kiến
thức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề Đọc hiểu, tôi muốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏi Đọc hiểu của học sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Mai Anh Tuấn nói riêng, nhất là các em học sinh lớp 12 chuẩn bị bước vào kì thi THPT Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi
đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:
- Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu
- Nhận diện, phân loại các loại câu hỏi Đọc hiểu theo phạm vi kiến thức, theo 4 mức độ : nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao
- Hiểu được phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả cao
- Luyện tập một số đề Đọc hiểu để rèn kĩ năng làm bài
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy cáctiết ôn tập, ôn thi THPT Quốc gia, ôn thi học sinh giỏi
I.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh trung học phổ thông- nhất là học sinh lớp 12 chuẩn bị làm bài thi Ngữ văn trong kì thi THPT
I.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 3Trong văn học thực tế dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, đa dạng Lýthuyết đọc – hiểu nằm ở diện rộng: rải rác từ chương trình học ngữ văn THCS (lớp 6,7,8,9) đến ngữ văn THPT (lớp 10,11,12) Ngữ liệu có thể nằm trong
chương trình sách giáo khoa và cả ngoài sách giáo khoa Song tôi đã cố gắng nghiên cứu và xếp vào các phạm vi kiến thức cụ thể để học sinh dễ nhận diện và luyện đề, nhất là những kiến thức có liên qua trực tiếp, thường hay gặp trong kì thi THPT Quốc gia
- Ôn luyện kiến thức lý thuyết Đọc hiểu: Các phong cách ngôn ngữ, thao tác lậpluận, các biện pháp tu từ, các phương thức biểu đạt, luật thơ, xác định nội dung chính, xác định thông điệp trong văn bản, viết một đoạn văn ngắn bàn về chủ đề
có liên quan đến ngữ liệu đã cho
- Rèn kĩ năng, phương pháp làm câu hỏi Đọc hiểu qua văn bản cụ thể: Văn
bản văn học, văn bản nhật dụng
I.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra
II PHẦN NỘI DUNG
II.1.CƠ SỞ LÍ LUẬN
II.1.1 Quan niệm về Đọc hiểu
Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa Khái niệm Đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp thi pháp học, tường giải học văn bản học …
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu vàchữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe.[5] Hiểu
là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và
ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào? [5]
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, Đọc hiểu là phải thấy được
+ Nội dung của văn bản
+ Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng
+ Ý đồ, mục đích
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm
+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản
+ Thể lọai của văn bản, hình tượng nghệ thuật…
Trang 4Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc hiểu văn bản Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi quan niệm
về bản chất của môn văn, cả về phương pháp dạy học văn và các hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn với Giáo
sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định : “ Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”
Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát
từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn bản ngày càng được quan tâm
II.1.2 Văn bản Đọc hiểu
Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy Đọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng Trong đó các văn bản được sắp xếp theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại Các văn bản văn học đa dạng hơn các văn bản nhật dụng Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu
để học sinh khai thác
Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú Có bao nhiêu loại văn bản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường Điều đó cũng có nghĩa là văn bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng Đề thi có thể là văn bản các
em đã được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản ngoài chương trình Từ năm 2014 Bộ GD & ĐT đưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đãđổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực Đọc hiểu của học sinh Việc làm này có tác động tích cực đến quá trình rèn khả năng tiếp nhận văn bản Đọc hiểu của các em
II.1.3 Vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THPT
Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, từ đề thi Tốt nghiệp năm 2014 Bộ GD&ĐT chính thức đưa câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi Khi có quyết định nhiều học sinh, các thầy cô tỏ ra lung túng vì cho rằng đây
là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Nhưng thực chất bản chất của vấn đề không hoàn toàn mới Vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyên trong các bài giảng văn Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cận văn bản bằng cách đọc ngữ
Trang 5liệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa là đang diễn ra hoạt động đoc hiểu Tuy nhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câu hỏi đọc hiểu có nét tương đồng và khác biệt Nét tương đồng là phương thức tiếp cận văn bản là giống nhau: bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu Còn nét khác biệt là Đọc hiểu trong dạy học văn nói chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng của người thầy, còn câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằm đánhgiá năng lực người học Hơn nữa những kiến thức trong dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các lớp dưới để trả lời câu hỏi Như vậy hoạt động đọc hiểu vẫn thường xuyên diễn ra trong môn Ngữ văn ở các nhà trường.
Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT cần quan tâm Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc hiểu đúng, đánh giá đúng văn bản, không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp thu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết
Hiện nay Đọc hiểu văn học trong nhà trường THPT thường hướng tới các vấn đề cụ thể sau:
- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản
+ Thể loại của văn bản: các phong cách ngôn ngữ (phong cách ngôn ngữ khoa học, báo chí, chính luận, nghệ thuật, hành chính, sinh hoạt)
+ Hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản
+ Hiểu các phương thức biểu đạt của văn bản (phương thức tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận )
+ Hiểu các thao tác lập luận (thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, bác bỏ )
- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản
+ Cảm nhận được những đặc sắc về nghệ thuật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,chitiết quan trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ
+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình
- Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể
+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình+ Vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn
đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội
II.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1.Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Văn THPT
Ngay từ khi Bộ GD&ĐT thông báo và hướng dẫn ngành các trường THPTthực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2013-2014 Vấn đề Đọc hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều các thầy cô
và học sinh nhất là học sinh lớp 12 Cùng với việc chuyên viên của Bộ GD & ĐTgiải đáp những thắc mắc về hướng ra đề phần Đọc hiểu (liên quan đến phần ngữ pháp, Tiếng Việt, ngữ liệu chủ yếu lấy phần đọc thêm) thì nhiều thầy cô giáo
Trang 6luyện thi có nhiều kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân của mình những bài
ôn tập Đọc hiểu Song những hướng dẫn ôn tập đó chưa chi tiết, chưa cụ thể và chưa có tính hệ thống Vấn đề ôn luyện phần Đọc hiểu vẫn là đề tài thu hút sự chú ý của các thầy cô ôn thi và các em học sinh THPT Một số cuốn sách phục
vụ cho ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đã ra mắt bạn đọc Cuốn Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn ngữ văn, tác giả Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 và cuốn Bộ đề luyện thi THPTQuốc gia môn Ngữ văn của tác giả Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016 Cuốn Ôn luyện thi THPT Quốc gia năm 2018 ( Lã NhâmThìn – Nguyễn Thị Nương ) – NXB Đại học Sư phạm có đề cập tới dạng câu hỏi Đọc hiểu Song ở trong các cuốn sách đó có đề cập đến kiến thức Đọc hiểu nhưng sách không cung cấp kiến thức lý thuyết , hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu một cách chi tiết,cụ thể, bài bản mà chỉ hướng dẫn chung chung Như vậy các bài nghiên cứu, các cuốn sách hướng dẫn ôn luyện đều đề cập tới tất cả các phần trong đề thi môn văn THPT Quốc gia Chưa có sách
nghiên cứu riêng phần Đọc hiểu một cách bài bản những kiến thức lý thuyết, bài tập thường gặp trong đề Đọc hiểu và cũng chưa phân loại quy củ, chi tiết, hệ
thống kiến thức để học sinh dễ ôn tập Chính vì thế đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Rèn kỹ năng làm phần Đọc hiểu cho học sinh lớp 12 thi THPT đạt kết quả cao vẫn là một đề tài có tính ứng dụng, cần thiết và có ý nghĩa thiết thực II.2.2 Thực trạng đề thi môn Văn có câu hỏi Đọc hiểu
Trong những năm gần đây Đề thi môn Ngữ văn bắt buộc có thêm phần Đọc hiểu Trong đề thi Tốt nghiệp THPT phần Đọc hiểu chiếm 3/10 điểm toàn bài Xét về mức độ kiến thức và tương quan thời gian trong toàn bài thi thì cấu trúc phần Đọc - hiểu như thế là hợp lí Năm 2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng thành một kì thi chung
Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn(đề thi tốt nghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), đến nay chỉ có một đề thi duy nhất vừa lấy điểm
để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xét vào Đại học, Cao đẳng Phần Đọc hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm số điểm 2/10 điểm nay được nâng lên 3/10 điểm Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ như năm 2014, đề thi năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ Từ năm 2017, phần Đọc hiểu gồm 4 câu hỏi nhỏ theo các cấp độ: Nhận biết, Thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao Như phần đặt vấn đề chúng tôi có giới thiệu, dạng câu hỏi phần Đọc hiểu đã xuất hiệnthường niên trong các kì thi Đại học, Cao đẳng, các kì thi Học sinh giỏi Trong các nhà trường phổ thông trung học dạng đề này cũng thường xuyên được các thầy cô sử dụng cho các bài kiểm tra, thường xuyên, định kì
II.2.3 ĐỀ XUẤT CÁCH HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN LUYỆN PHẦN ĐỌC HIỂU
Thực trạng đề thi có dạng câu hỏi Đọc hiểu xuất hiện phong phú như vậy nhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học phổ thông lại không có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các emhọc sinh nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất Chính
Trang 7vì vậy mà như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng, băn khoăn về các kiến thức lý thuyết , rèn luyện kĩ năng ra sao để các
em tự làm tốt được phần đọc hiểu trong bài thi Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi THPT, qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, cũng như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cách hướng dẫn học sinh thi THPT Quốc gia ôn tập dạng câu hỏi Đọc hiểu theo hướng sau:
*Bước 1: Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu: Giáo viên nghiên cứu tài liệu và hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được những dạng kiến thức lý thuyết liên quan đến câuhỏi Đọc hiểu trong đề thi Bao gồm các dạng như:- Các loại phong cách ngôn ngữ- Các phương thức biểu đạt- Các thao tác lập luận- Các biện pháp tu từ - Các phép liên kết- Phân biệt các thể thơ- Xác định nội dung, chi tiết, hình ảnh chính trong văn bản (nhan đề, chủ đề, chitiết, hình ảnh đặc sắc)- Viết một đoạn văn ngắn trình bày quan điểm của cá nhân về một vấn đề của cuộc sống có liên quan đến văn bản Hay trình bày thông điệp sâu sắc có ý nghĩa được rút ra từ văn bản đọc hiểu…
*Bước 2 Một số lưu ý về phương pháp làm Đọc hiểu Ở phần này người viết đưa ra những lưu ý về phương pháp làm bài như: cách trình bày, kĩ năng nhận diện các loại câu hỏi, cách trả lời
*Bước 3 Bài tập rèn kĩ năng Đọc hiểu :Sau khi giáo viên ôn tập, hướng dẫn học sinh nắm chắc lý thuyết, tôi cung cấp cho các em học sinh các đề Đọc hiểu thuộc văn bản nhật dụng và văn bản văn học Phần này người viết đưa 4 đề với các loại câu hỏi thường gặp trong đề thi để học sinh luyện tập, rèn kĩ năng làm bài Các câu hỏi thể hiện ở các mức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng Sau mỗi đề
có đáp án để các em đối chiếu, giáo viên sửa bài cho học sinh
Phần 1: Ôn luyện kiến thức lý thuyết Đọc hiểu
Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với những thầy cô ôn thi THPT nói chung, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường hoặc năm đầu ôn thi THPT Quốc gia Vì phần kiến thức lý thuyết liên qua đến dạng câu hỏi Đọc – hiểu này khá rộng, kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào, kiến thức
đó nằm rải rác từ lớp 6 cho đến lớp 12 Vì vậy giáo viên mất nhiều thời gian thu thập, thanh lọc, xử lý kiến thức, chia thành các mảng, với các chủ đề cụ thể cùng các ví dụ tương ứng để hướng dẫn học sinh Tháo gỡ khó khăn trên tôi đã nghiêncứu và phân loại kiên thức lý thuyết có liên quan đến dạng câu hỏi Đọc hiểu để
ôn tập cho học sinh, nhằm giúp các em học sinh nhận diện đúng từng thể loại,
dễ dàng khắc sâu kiến thức Sau mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểm chứng lại lý thuyết
1 Các phương thức biểu đạt
Yêu cầu: - Nắm được có 6 phương thức biểu đạt
- Nắm được: + Khái niệm
+ Đặc trưng của từng phương thức biểu đạt
1.1 Tự sự (kể chuyện, tường thuật):
Trang 8- Khái niệm: Tự sự là kể lại, thuật lại sự việc, là phương thức trình bày 1 chuỗi các sự việc, sự việc này đẫn đến sự việc kia, cuối cùng kết thúc thể hiện 1 ý nghĩa.
1.3 Biểu cảm: Là dùng ngôn ngữ bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung quanh
1 4 Thuyết minh: Được sử dụng khi cần cung cấp, giới thiệu, giảng giải những tri thức về 1 sự vật, hiện tượng nào đó cho người đọc , người nghe
- Đặc trưng:
a Các luận điểm đưa đúng đắn, rõ ràng, phù hợp với đề tài bàn luận
b Lý lẽ và dẫn chứng thuyết phục, chính xác, làm sáng tỏ luận điểm
c Các phương pháp thuyết minh :
+ Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích
+ Phương pháp liệt kê
+ Phương pháp nêu ví dụ , dùng con số
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp phân loại ,phân tích
1 5 Hành chính – công vụ: Văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ là văn bản điều
hành xã hội, có chức năng xã hội Xã hội được điều hành bằng luật pháp, văn bản hành
chính
- Văn bản này qui định, ràng buộc mối quan hệ giữa các tổ chức nhà nước vớinhau, giữa các cá nhân với nhau trong khuôn khổ hiến pháp và các bộ luật văn bản pháp
lý dưới luật từ trung ương tới địa phương
1 6 Nghị luận: Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải, trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết, thuyết phục ngườikhác đồng tình với ý kiến của mình
2.Phong cách ngôn ngữ [1],[2].[3]
2 1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:[1]
- Khái niệm: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là phong cách được dùng trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức, dùng để thông tin ,trao đổi ý nghĩ, tình cảm….đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống
Trang 9- Đặc trưng:
+ Giao tiếp mang tư cách cá nhân
+ Nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người thân, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp
- Nhận biết:
Gồm các dạng: Chuyện trò, nhật kí, thư từ
Ngôn ngữ: Khẩu ngữ, bình dị, suồng sã, địa phương
2 2 Phong cách ngôn ngữ khoa học:[2]
- Khái niệm : Là phong cách được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học
+ Là phong cách ngôn ngữ đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu
- Đặc trưng
+ Chỉ tồn tại chủ yếu ở môi trường của những người làm khoa học
+ Gồm các dạng: khoa học chuyên sâu; Khoa học giáo khoa; Khoa học phổ cập
+ Có 3 đặc trưng cơ bản: (Thể hiện ở các phương tiện ngôn ngữ như từ
ngữ,câu, đọan văn,văn bản)
a/ Tính khái quát, trừu tượng
+ Thể hiện dấu ấn riêng của tác giả
2 4 Phong cách ngôn ngữ chính luận:[2]
- Khái niệm: Là phong cách ngôn ngữ được dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ với những vấn đề thiết thực, nóng bỏng của đời sống, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, xã hội
- Mục đích: Tuyên truyền, cổ động, giáo dục, thuyết phục người đọc, người nghe để có nhận thức và hành động đúng
- Đặc trưng:
+ Tính công khai về quan điểm chính trị: Rõ ràng, không mơ hồ, úp mở
Tránh sử dụng từ ngữ mơ hồ chung chung, câu nhiều ý
+ Tính chặt chẽ trong biểu đạt và suy luận: Luận điểm, luận cứ, ý lớn, ý nhỏ, câu đọan phải rõ ràng, rành mạch
+ Tính truyền cảm, thuyết phục: Ngôn từ lôi cuốn để thuyết phục; giọng điệu hùng hồn, tha thiết, thể hiện nhiệt tình và sáng tạo của người viết
(Lấy dẫn chứng trong “Về luân lý xã hội ở nước ta”Và “Xin lập khoa luật” )
Trang 10- Đặc trưng: Phong cách ngôn ngữ hành chính có 2 chức năng:
+ Chức năng thông báo: thể hiện rõ ở giấy tờ hành chính thông thường
VD: Văn bằng, chứng chỉ các loại, giấy khai sinh, hóa đơn, hợp đồng,…
+ Chức năng sai khiến: bộc lộ rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của cấp trên gửi cho cấp dưới, của nhà nước đối với nhân dân, của tập thể với các cá nhân
2 6 Phong cách ngôn ngữ báo chí (thông tấn):[2]
- Khái niệm: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thong báo tin tức thời sựtrong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
+ Là phong cách được dùng trong lĩnh vực thông tin của xã hội về tất cả những vấn đề thời sự: (thông tấn có nghĩa là thu thập và biên tập tin tức để cung cấp cho các nơi)
Một số thể loại văn bản báo chí:
+ Bản tin: Cungcấp tin tức cho người đọc theo 1 khuôn mẫu: Nguồn tin- Thờigian- Địa điểm- Sự kiện- Diễn biến-Kết quả
+ Phóng sự: Cung cấp tin tức nhưng mở rộng phần tường thuật chi tiết sự kiện, miêu tả bằng hình ảnh, giúp người đọc có 1 cái nhìn đầy đủ, sinh động, hấpdẫn
+ Tiểu phẩm: Giọng văn thân mật, dân dã, thường mang sắc thái mỉa mai, châm biếm nhưng hàm chứa 1 chính kiến về thời cuộc
3 Các thao tác lập luận [1], [2], [3]
3 1 Thao tác lập luận giải thích:
Là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề
Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ được tư tưởng, đạo
lí, phẩm chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm
Cách giải thích: Tìm đủ lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa vấn đề đó Đặt ra hệ thống câu hỏi để trả lời
Thao tác lập luận phân tích:
Là chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng
Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận theo những tiêu chí, quan hệ nhất định
3 3 Thao tác lập luận chứng minh:
Dùng những bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng
Trang 11Cách chứng minh: Xác định vấn đề chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phù hợp Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với vấn đề cần chứng minh, sắp xếp dẫn chứng phải lô gic, chặt chẽ và hợp lí.
3.6.Thao tác lập luận bác bỏ:
Là cách trao đổi, tranh luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai
Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý kiến đúng; nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu từng phần
- Phân loại theo đối tượng
+ So sánh các đối tượng cùng loại
+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại
4 2 Nhân hóa:
- Khái niệm: Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn
- Các kiểu nhân hóa:
+ Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…
+ Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:
+Trò chuyện với vật như với người:
“Trâu ơi ta bảo trâu này…” (Ca dao)
4 3 Ẩn dụ
- Khái niệm: Ẩn dụ là BPTT gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
Trang 12- Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:
+ Ẩn dụ hình thức - tương đồng về hình thức
“Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
+ Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” (Ca dao)
(ăn quả - hưởng thụ, “trồng cây” – lao động)
+ Ẩn dụ phẩm chất - tương đồng về phẩm chất “Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” (Ca dao)
[thuyền – người con trai; bến – người con gái]
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác - chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảmnhận bằng giác quan khác
“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” ( Đêm Cô Sơn - Trần Đăng Khoa)
4 4 Hoán dụ:
- Khái niệm: Hoán dụ là BPTT gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt b Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:
+ Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:
+ Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:
+ Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:
+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:
4 5 Nói quá/ phóng đại/ khoa trương/ ngoa dụ/ thậm xưng/ cường điệu:
Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượngđược miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm
“Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” ( Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)
4 6 Nói giảm nói tránh:
Nói giảm nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển
chuyển, nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự
“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!” (Bác ơi - Tố Hữu)
4 7 Điệp từ, điệp ngữ:
- Là BPTT nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” ( Cây tre Việt Nam – Thép Mới) - Điệp ngữ có nhiều dạng:
4 8 Chơi chữ:
Chơi chữ là BPTT lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,… làm câu văn hấp dẫn và thú vị - Các lối chơi chữ thường gặp: + Dùng từ ngữ đồng âm
+ Dùng lối nói trại âm (gần âm)
+ Dùng cách điệp âm + Dùng lối nói lái