1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng linh hoạt các hoạt động dạy học tạo hứng thú và phát triển năng lực cho học sinh trong bài ôn tập văn học dân gian

29 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 3,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Trước hết, bản thân là một giáo viên dạy văn, một môn học đặc thù - haynhưng khó, học sinh rất dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, buồn ngủ cho nên khiđứng trước mỗ

Trang 1

MỤC LỤC

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 32.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4

2.4.1 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động dạy và

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Được hiểu là

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Trước hết, bản thân là một giáo viên dạy văn, một môn học đặc thù - haynhưng khó, học sinh rất dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, buồn ngủ cho nên khiđứng trước mỗi tiết học nói chung và các tiết ôn tập nói riêng tôi luôn có mongmuốn làm thế nào để có được những tiết học hiệu quả thực sự, học sinh có niềmđam mê, yêu thích với môn học Ngữ văn Đây là một khó khăn và thách thứcđòi hỏi tôi luôn cố gắng tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học phùhợp với đặc trưng bộ môn

Mặt khác, trong chương trình môn Ngữ văn, các tiết ôn tập nói chung và

Ôn tập văn học dân gian nói riêng có vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, trong

thực tế, ý thức học tập của học sinh đối với các tiết ôn tập chưa thật cao, nếu đểtrả lời cho câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó thì có rất nhiều lý do khác nhaunguyên nhân khách quan có, chủ quan có - Thứ nhất, vì đặc thù các tiết học nàybao giờ cũng khô khan hơn so với tiết đọc hiểu văn bản; thứ hai, hầu hết kiếnthức của tiết học đều đã được học cụ thể, chi tiết trong các tiết trước đó nên các

em vừa không có hứng thú và chủ quan cho rằng đó chỉ là phần học lại khôngquan trọng Từ những lí do trên mà không chỉ học sinh, đôi khi ngay cả giáoviên cũng dễ rơi vào tâm lí nhàm chán, chủ quan, chưa tìm được một phươngpháp tối ưu, tiếp cận tiết học một cách qua loa dẫn đến kết quả là các em sẽkhông được khắc sâu kiến thức một cách có hệ thống để có thể nhớ lâu mỗi phầnlớn của chương trình Và như vậy, khi học đến các phần tiếp theo các em sẽkhông nhớ kiến thức ở những phần trước để liên hệ, đối chiếu với phần đang họcgiúp kiến thức sâu, chắc chắn, toàn diện hơn

Bên cạnh những lí do trên thì cũng không thể không nói đến xu thế đổi mớidạy và học diễn ra sôi nổi trong những năm gần đây Mỗi người giáo viên phảiluôn tích cực, nỗ lực tìm tòi đổi mới phương pháp, đa dạng hóa hình thức chomỗi tiết dạy, tạo hứng thú cho học sinh, tránh sự mệt mỏi nhàm chán Quantrọng hơn là giúp các em được làm việc, sáng tạo, được hoạt động nhóm, đượcphân công công việc để phát triển năng lực và phẩm chất theo hướng đổi mớicủa giáo dục Và theo mục đích, yêu cầu của bài học thì có thể nói đây là mộtphần giáo viên có thể khai thác được yếu tố tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh khá cao, lại có thể kết hợp các hình thức dạy học khác nhau

Từ những lí do trên, tôi đã suy nghĩ và cố gắng tìm ra cho mình một

phương pháp tối ưu nhất để dạy các tiết học ôn tập nói chung và tiết Ôn tập văn học dân gian nói riêng thực sự hiệu quả, học sinh vẫn hứng thú và làm việc tích

cực trong mỗi tiết học giống như khi các em được tiếp cận một tiết đọc hiểu vănbản, tránh tình trạng mỗi khi đến tiết ôn tập các em lại mặc định ngay một suynghĩ là không quan trọng, đó chỉ là những kiến thức đã học Qua rất nhiều các

tiết dạy ở những năm học khác nhau tôi đã lựa chọn cho mình cách “Vận dụng linh hoạt các hoạt động dạy học tạo hứng thú và phát triển năng lực cho học sinh trong bài Ôn tập văn học dân gian” (Tiết 29, 30 Ngữ văn 10 - Chương

trình cơ bản)

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Trang 3

- Đề tài hướng đến những mục đích cụ thể sau: Kết hợp linh hoạt cácphương pháp khác nhau trong tiết dạy - phát vấn, trả lời cá nhân với phươngpháp chia nhóm thực hiện các hoạt động ngoại khóa - đóng kịch, đọc sáng tạo,diễn cảm tạo tính mới mẻ, sự sôi nổi, hứng thú cho tiết học.

- Định hướng, hình thành cho học sinh các năng lực: năng lực hợp tác - làmviệc theo nhóm, năng lực diễn xuất, năng lực giao tiếp, thẩm mĩ, sáng tạo, nănglực phản xạ nhanh Các em sẽ khám phá ra bản thân có những khả năng đặc biệt

để tự tin hơn trong cuộc sống

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Đề tài tập trung nghiên cứu vận dụng linh hoạt các hoạt động dạy học tạo hứng thú và rèn luyện năng lực cho học sinh trong bài Ôn tập văn học dân gian (Ngữ văn 10) tại lớp 10B5 (lớp dạy thực nghiệm) và lớp 10B9 (lớp đối chứng) tại trường THPT Triệu Sơn 1 năm học 2020-2021

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Đọc sách giáo khoa,

sách giáo viên Ngữ văn 10 tập 1, tài liệu tham khảo có liên quan đến đề tài, soạnbài giảng theo phương pháp, kế hoạch đã đề ra

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát giờ dạy của giáo viên để

thấy được tính hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực theo hướng phát triểnnăng lực của học sinh

-Phương pháp thống kê, phân loại (thống kê phân loại kết quả khảo sát

thực trạng và kết quả dạy học qua thực nghiệm và lớp đôi chứng)

- Phương pháp phân tích, tổng hợp (phân tích, tổng hợp kết quả khảo sát

thực trạng và kết quả dạy học ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng)

- Đề tài của tôi tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau trong các quá trình

từ xây dựng cơ sở lý thuyết, đến điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin haythống kê xử lý số liệu tôi đều vừa phân tích, so sánh, đối chiếu và đi đến tổnghợp

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận:

Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng: trong quá trình học tập, người học sinhkhông ngừng lĩnh hội những kiến thức do giáo viên cung cấp, mà quan trọnghơn các em còn phải tự tìm ra tri thức mới, kỹ năng mới từ những nguồn tài liệukhác nhau Tuy nhiên, sự tìm kiếm cái mới của học sinh không giống như hoạtđộng hoàn toàn độc lập, sáng tạo của các nhà khoa học khi thực hiện một đề tàinghiên cứu khoa học Vì hoạt động của học sinh được thực hiện với vai trò cốvấn, tổ chức, điều khiển thường xuyên của người giáo viên Do vậy, trong nhiềunăm trở lại đây việc cố gắng tìm ra một số giải pháp hữu hiệu để nhằm nâng caochất lượng giáo dục nói chung và tạo sự hứng thú cho các em học sinh nói riênglà một vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên cũng như toàn ngành giáo dục

Những năm gần đây các Nghị quyết, chiến lược phát triển giáo dục củaĐảng và chính phủ đã tập trung vào dạy học theo hướng đổi mới phương pháp,phát triển năng lực học sinh:

Trang 4

Hội nghị TW 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết 29/2013/NQ-TW về đổimới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phươngpháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạovà vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặtmột chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích

tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, pháttriển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đadạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” [1]

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theoQuyết định 711/QĐ - TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ chỉ rõ:

“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyệntheo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tựhọc của người học” [2]

Nghị quyết 88 Quốc hội XIII về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáodục phổ thông: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng phát triểntoàn diện năng lực và phẩm chất người học, phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác và khảnăng tư duy đọc lập”; “ Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng giáodục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh” [3]

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực: “Giáo viên chủ yếu làngười tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức, chú trọng sựphát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp” [4] “Tăng cường phốihợp học tập cá thể với học tập hợp tác, tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiềuhơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” [4]

Trong xu thế chung đó các môn học nói chung và môn ngữ văn nói riêng

để dạy và học có hiệu quả theo chương trình sách giáo khoa mới cũng cần phải

đổi mới phương pháp dạy học Và “Vận dụng linh hoạt các hoạt đông dạy học tạo hứng thú và rèn luyện năng lực cho học sinh trong bài Ôn tập văn học dân gian” mà tôi đã lựa chọn cũng là một hình thức phát huy tính tích cực, chủ động

cho học sinh Đồng thời có thể rèn luyện, phát triển các năng lực khác nhau chongười học

2 2 Thực trạng trước khi thực hiện giải pháp của đề tài.

- Hiện nay phương pháp dạy học phát huy vai trò chủ động, tích cực của

học sinh theo định hướng phát triển năng lực là một phương pháp dạy học mớiphù hợp với xu hướng của thời đại, tuy nhiên từ thực tế giảng dạy tại trườngTHPT, tôi nhận thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, pháthuy tính tích cực, tự học của học sinh ở môn Ngữ văn chưa nhiều Dạy học vẫnnặng về truyền thụ kiến thức Việc rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm đúngmức, dạy học chưa thật sự phát huy được năng lực của học sinh

- Đa số học sinh thường có tâm lí ngại học, vì môn văn phải chép nhiều,thuộc nhiều; các em học trong tâm lý văn là một môn để xét tốt nghiệp, xét đạihọc chứ chưa thật sự dành cho môn học tình yêu và sự hứng thú, niềm đam mê

- Bài Ôn tập văn học dân gian kiến thức đều đã học, lại là phần không

thuộc phạm vi kiến thức thi THPTQG cho nên nhiều học sinh chưa học đã cótâm lí chán, ngại học dẫn đến các em không khắc sâu được kiến thức bộ phận

Trang 5

văn học dân gian để làm nền tảng tiếp cận văn học viết Rất nhiều học sinhkhông nắm được tính sử thi trong văn học cách mạng vì các em không hiểu bảnchất của thể loại sử thi trong văn học dân gian Hay các câu ca dao, thành ngữ,

cổ tích truyền thuyết trong Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

- Chính vì vậy với đề tài “Vận dụng linh hoạt các hoạt động dạy học tạo hứng thú và phát triển năng lực cho học sinh trong bài Ôn tập văn học dân gian” (Tiết 29, 30 Ngữ văn 10 - Chương trình cơ bản) tôi mong muốn không chỉ

tạo được hứng thú, phát triển năng lực mà còn gợi được tình yêu thật sự cho các

em đối với bộ phận VHDG

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Giải pháp 1: Định hướng trọng tâm của bài học: Ôn tập văn học dân

gian theo định hướng phát triển năng lực.

2.3.2 Giải pháp 2: Định hướng nội dung bài học.

1 Nội dung 1: Ôn tập các đặc trưng cơ bản của VHDG

2 Nội dung 2: Hệ thống lại các thể loại của VHDG theo các nhóm truyện dângian; câu nói dân gian; thơ ca dân gian; sân khấu dân gian Ôn tập đặc điểm củathể loại sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao, truyện thơ

3 Nội dung 3: Bài tập vận dụng

4 Nội dung 4: Định hướng một số hoạt động ngoài giờ học

2.3.3 Giải pháp 3: Định hướng mục tiêu bài học.

1 Kiến thức:

- Củng cố, hệ thống hóa các kiến thức về VHDG Việt Nam đã học: kiến thứcchung, kiến thức về thể loại và kiến thức về tác phẩm

2 Về kĩ năng

a Về kĩ năng chuyên môn

- Biết cách khái quát kiến thức

- Biết vận dụng đặc trưng của các thể loại của văn học dân gian để phân tíchnhững tác phẩm cụ thể

b Về kĩ năng sống

- Rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm

3 Thái độ:

- Bồi dưỡng tình cảm trân trọng, tự hào về VHDG Việt Nam

- Yêu quê hương, tự hào về những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc

4 Năng lực.

- Năng lực tự chủ và tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và

sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ… 2.3.4 Giải pháp 4: Xây dựng khung năng lực vận dụng cho bài học.

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng và vận dụng cao

- Nêu các đặc trưng của

VHDG

- Kể tên các thể loại của

văn học dân gian; Chỉ ra

những đặc trưng chủ yếu

của các thể loại

- Minh họa bằng cáctác phẩm

- Vận dụng hiểu biết về đặctrưng của văn học dân gian

để phân tích những đặc sắcvề nghệ thuật và tư tưởngcủa các tác phẩm cụ thể

Trang 6

- Nêu các thể loại truyện

DGVN

- Tổng hợp so sánhcác thể loại truyệnDG: Sử thi; Truyềnthuyết; Truyện cổtích; Truyện cườitrên các phương diệnmục đích sáng tác,hình thức lưu truyền,nội dung, kiểu nhânvật, đặc điểm nghệthuật

- Vận dụng hiểu biết về đặcđiểm các thể loại truyện đểphân tích những đặc sắc vềnghệ thuật và tư tưởng củacác đoạn trích, tác phẩm cụ

thể Chiến thắng Mtao Mxây, Truyện An Dương Vương và

Mị Châu Trọng Thủy, Tấm Cám, Tam đại con gà; Nhưng nó phải bằng hai mày…

- Chuyển thể văn bản truyệndân gian thành các hoạt cảnh

- Nêu các thể loại ca dao - So sánh sự khác

nhau giữa ca dao yêuthương tình nghĩa;

Ca dao than thân; cadao hài hước trênphương diện nộidung và nghệ thuật

- Vận dụng hiểu biết về đặcđiểm của mỗi dạng ca dao đểphân tích nội dung, nghệthuật của các bài cụ thể

- Sáng tác ca dao

2.3.5 Giải pháp 5: Xây dựng quy trình dạy học bài Ôn tập VHDG.

- Để giúp học sinh có sự hứng thú, tích cực chủ động và hình thành đượccác kĩ năng, năng lực trong tiết học tôi đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu vàqua quá trình thực tế giảng dạy tôi đã có những đổi mới nhất định đó là sự vậndụng linh hoạt các phương pháp, hình thức, hoạt động học tập trong từng bước

như sau:

Bước 1: Hoạt động khởi động

a Mục đích của bước này là giúp HS:

- Huy động vốn kiến thức và kĩ năng để chuẩn bị tiếp nhận tiết học mới,đồng thời tạo hứng thú cho HS và giúp GV nắm bắt được những hiểu biết của

HS những vấn đề có liên quan đến bài học

b Nội dung và hình thức khởi động:

- Để thực hiện hoạt động này tôi lồng ghép cho học sinh nhận thức vềnhan đề tiết học Trước bất kỳ một tiết học nào tôi cũng có thói quen giúp họcsinh tìm hiểu về nhan đề của nó, một mặt các em sẽ có ngay định hướng về nộidung toàn tiết học, mặt khác nó cũng sẽ giúp các em có ý thức về vị trí, vai trò

của tiết học Cụ thể, tôi cho học sinh trả lời câu hỏi: Khi thực hiện các bài tập,

nhiệm vụ được giao để chuẩn bị cho tiết học Ôn tập văn học dân gian em đánh

giá đây sẽ là tiết học dễ hay khó? Thú vị hay không thú vị? (Trả lời chân thành, đúng với suy nghĩ, đánh giá) Trước câu hỏi này HS có thể sẽ chia làm

2 xu hướng khác nhau với 2 đáp án, đáp án thứ nhất sẽ là: Tiết học dễ vì chỉ ônlại những kiến thức đã học, không thú vị vì không có kiến thức mới; đáp án thứ

2 sẽ là khó vì chỉ trong 2 tiết phải tổng hợp lại toàn bộ kiến thức của cả bộ phậnvăn học dân gian và rất thú vị vì các em sẽ có các hoạt động mới ít khi đượcthực hiện trong giờ học Sau các ý kiến trả lời của HS tôi sẽ dẫn dắt vào bài –

Trang 7

Tiết học này đúng là ôn tập lại kiến thức và chỉ trong một thời gian ngắn phảitổng hợp lại toàn bộ kiến thức về một bộ phận văn học quan trọng của văn họcViệt Nam một cách sáng tạo cho nên khó hay dễ, thú vị hay không các em phảicùng thực hiện ta mới có được kết luận chính xác, đáp án đúng nhất đang chờcác em Như vậy, với câu hỏi trên trong khoảng 5 phút tôi đã tạo cho tất cả họcsinh ngay từ những phút đầu của tiết học đã đứng trước những tranh luận, cầnphải tiếp cận bài học ngay để có lời giải đáp và các em sẽ cuốn vào bài học mộtcách háo hức; mặt khác các em cũng đã ý thức được vị trí, mục tiêu của tiết họcmột cách cụ thể hơn

Bước 2: Hoạt động ôn tập kiến thức chung – luyện tập

a Mục đích của bước này: giúp HS củng cố, hệ thống hóa các tri thức đãhọc về văn học dân gian thông qua hệ thống các hoạt động, bài tập, nhiệm vụ

b Nội dung và hình thức các hoạt động, bài tập, nhiệm vụ được tiến hànhtheo trình tự sau:

- Phần này học sinh tập trung vào 4 nội dung kiến thức

+ Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

+ Văn học dân gian có những thể loại gì? (lập bảng tổng hợp các thể loạitheo mẫu)

+ Nêu đặc trưng của các thể loại truyện dân gian sử thi, truyền thuyết, cổtích, truyện cười (Lập bảng so sánh theo mẫu)

+ So sánh sự khác nhau của ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa, cadao hài hước

- Đây đều là những kiến thức các em đã học cho nên giáo viên có thể sửdụng phương pháp hỏi đáp cá nhân để các em ôn tập nhanh tuy nhiên nếu nhưvậy nhiều HS sẽ không chú ý vì các em thấy nó đều là kiến thức đã học Vì vậy,

để tạo sự tập trung cho học sinh, để các em chủ động tự ôn tập lại kiến thức vàquan trọng để các em phát triển năng lực hợp tác, tự chủ, sử dụng ngôn ngữ…phát triển kĩ năng giao tiếp, thuyết trình vấn đề tôi sẽ giao 4 phần này cho 4 tổ

để các em về nhà chuẩn bị bài vào giấy A0 một cách ngắn gọn, tiết kiệm thờigian nhất nhưng đầy đủ dễ hiểu để đến lớp thuyết trình cho các tổ khác nhận xét.(Phần giao nhiệm vụ này thực hiện ở cuối tiết học trước - tiết 28) Như vậy trongbước này HS vừa hoạt động nhóm, vừa hoạt động cá nhân và có thể có hoạtđộng chung cả lớp….phát triển được sự chủ động, tích cực và các năng lực củacác em

Bước 3: Hoạt động vận dụng- Bài tập vận dụng.

Bước 4: Hoạt động mở rộng, sáng tạo.

- Tôi đã suy nghĩ, tư duy và quyết định lồng ghép 2 hoạt động này lại với nhau để tạo hứng thú cho giờ học và để học sinh có cơ hội rèn luyện, phát triển năng lực nhiều nhất Lý do tôi lồng ghép 2 hoạt động này là vì:

a) Mục đích của 2 hoạt động này là giúp HS từ những tri thức được ôntập, củng cố về VHDG ở phần trên vận dụng vào cảm nhận, phân tích, lý giảimột số tác phẩm cụ thể đã học hoặc chưa học nhằm củng cố và rèn luyện kĩnăng đã có và các kĩ năng chưa có Tạo cho các em những rung động thẩm mĩvới các tác phẩm văn học dân gian và phát huy những ý tưởng sáng tạo

b) Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ

Trang 8

- Nếu bình thường ở Bước 3 với hoạt động vận dụng này GV sẽ cho HSlàm các bài tập có sẵn trong SGK giúp HS đọc hiểu, phân tích, ôn tập lại nhữngđặc sắc về nội dung, nghệ thuật của một số đoạn trích, tác phẩm thuộc các thểloại truyện và thơ DG đã học như:

+ Đọc hai đoạn miêu tả cảnh Đăm Săn múa khiên và đoạn cuối tả hình

ảnh và sức khỏe của chàng trong đoạn trích Chiến thắng Mtao M xây Từ 3 đoạn

văn đó em hãy cho biết những nét nổi bật trong nghệ thuật miêu tả nhân vật anhhùng của sử thi? Và nhờ những thủ pháp đặc trưng đó, vẻ đẹp của người anhhùng sử thi đã được lí tưởng hóa như thế nào?

+ Từ tấn bi kịch của Mị Châu – Trọng Thủy em hãy cảm nhận về cốt lõi

sự thật lịch sử, bi kịch được hư cấu, những chi tiết hoang đường kỳ ảo, kết cụccủa bi kich, bài học rút ra

+ Đặc sắc nghệ thuật của truyện thể hiện ở sự chuyển biến của hình tượngnhân vật Tấm từ yếu đuối, thụ động đến kiên quyết đấu tranh giành lại sự sống.Anh chị hãy phân tích truyện cổ tích Tấm Cám để làm sáng tỏ

+ Căn cứ vào 2 truyện cười đã học so sánh sự khác nhau trên các phươngdiện

+ Phân tích giá trị của cụm từ thân em trong các bài ca dao than thân,

thống kê các hình ảnh so sánh ẩn dụ trong các bài ca dao đã học và nêu hiệu quảnghệ thuật

- Sau Hoạt động 3 này sẽ là Hoạt động 4- Hoạt động sáng tạo, thường thì

GV có thể chọn một số bài tập ngoài SGK như bài tập kiểu trắc nghiệm hoặc tựluận ngắn để giúp HS vừa khắc sâu kiến thức vừa có những rung động với cáctác phẩm

- Tuy nhiên, với 2 hoạt động này tôi đã tư duy rất nhiều, tất cả các phầnbài tập ở hoạt động 3 đều hướng đến mục tiêu ôn tập lại những kiến thức các em

đã học, đã biết về các tác phẩm truyện DG, ca dao cho nên nếu cho học sinh làmtheo trình tự như vậy sẽ đơn điệu không tránh được sự nhàm chán, các em sẽnhắc lại kiến thức không hề hứng thú, tôi muốn các em chủ động, thích thú,hứng khởi với vấn đề Và quan trọng là phát huy được nhiều nhất các kĩ năng,năng lực của HS Chính vì vậy, tôi đã táo bạo lựa chọn một hình thức khác đểcho các em thực hành, vận dụng, sáng tạo mở rộng - tôi kết hợp Bước 3 vớiBước 4 Và ở Bước 4 này tôi không ra các bài tập mở rộng mà tôi sử dụng phầnIII trong SGK - Các hình thức hoạt động ngoài giờ học, trong mục này GV cóthể lựa chọn 1 trong 3 hình thức: Chuyển các văn bản truyện dân gian thành hoạtcảnh; Sưu tầm các tác phẩm văn học dân gian ở địa phương ; Viết bài thu hoạch

Tôi chọn hình thức chuyển các văn bản truyện dân gian thành hoạt cảnh (kịch nói) và Đọc diễn cảm, sáng tạo ca dao Tuy nhiên, để lồng ghép với Bước

3 và để đảm bảo với dung lượng thời gian của tiết học không thể chuyển toàn bộcác văn bản, tôi sẽ định hướng cho học sinh chọn cảnh, chi tiết nổi bật về nộidung tư tưởng nghệ thuật, bám sát các bài tập trong SGK ở Bước 3 (Phần địnhhướng này tôi cũng sẽ thực hiện nhanh vào cuối tiết 28) Như vậy tôi sẽ thựchiện được 2 hoạt động một cách mới mẻ, các em được thay đổi không khí tronggiờ học, sẽ thích thú tự nguyện đọc lại các tác phẩm để nắm đặc điểm nghệthuật, chi tiết, nhân vật, lời thoại, nhập vai và quan trọng là các em được hợp tác

Trang 9

làm việc nhóm một cách tích cực, phát huy năng lực sáng tạo, năng lực thẩm mĩ,ngôn ngữ, năng lực diễn xuất, giao tiếp của bản thân Tôi nghĩ môn văn là mộtmôn học đặc thù có nhiều lợi thế để rèn luyện kĩ năng, năng lực cho học sinh, tôimuốn khai thác yếu tố này ngay trong từng tiết học để các em hào hứng chứkhông nhất thiết phải tách thành một buổi hoạt động ngoại khóa riêng.

- Cụ thể, tôi sẽ chia lớp làm 5 nhóm và mỗi nhóm các em sẽ chọn 1 hoặc

2 cảnh, chi tiết tương ứng với một bài tập trong Bước 3 - Bài tập vận dụng đểdiễn

+ Nhóm 1 sẽ diễn cảnh Đăm Săn và Mtao Mxây giao đấu

+ Nhóm 2 sẽ diễn cảnh An Dương Vương và Mị Châu khi chạy tới bờbiển, Mị Châu bị thần rùa vàng kết tội là giặc, bị vua cha chém đầu, sau đó AnDương Vương cùng Rùa vàng rẽ nước xuống thủy cung

+ Nhóm 3: Diễn cảnh Tấm khóc gọi bụt giúp đỡ khi mất giỏ tép, khi mấtcá bống và cảnh Tấm biến thành chim, từ nhà bà hàng nước trở lại dạy Cám làmđẹp

+ Nhóm 4: Diễn 1 trong 2 truyện cười

+ Nhóm 5: Đọc diễn cảm và sáng tạo 3 bài ca dao đã học hoặc chưa họcthuộc 3 dạng ca dao Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của mỗi bài một cáchngắn gọn

- Sau khi các nhóm diễn và đọc sáng tạo xong các em sẽ trả lời các câuhỏi ở hoạt động 3 - bài tập vận dụng để ôn tập lại kiến thức bằng chính sự trãinghiệm của mình vào nhân vật, chi tiết chứ không phải là nhắc lại kiến thức đãhọc một cách máy móc Ví dụ nhóm 1 sẽ trả lời câu 1: Sau khi diễn xong cảnhgiao đấu của 2 nhân vật em thấy người anh hùng Đăm Săn được miêu tả bằngnhững nghệ thuật nổi bật nào? Tác dụng của những biện pháp nghệ thuật đó?Tương tự vậy nhóm 2 sẽ gắn với câu 2, nhóm 3 câu 3, nhóm 4 câu 4 và nhóm 5câu 5 Vì các em đã học, giờ lại đọc lại, cùng nhau bàn bạc để nhập vai cho nên

sẽ nhớ lại kiến thức một cách nhanh chóng Với phần các câu hỏi này tôi sẽ đảmbảo được mục tiêu cho học sinh vận dụng kiến thức khái quát cảm nhận, phântích tác phẩm để các em khắc sâu đặc điểm nội dung, nghệ thuật của mỗi thể loạimột cách nhập tâm và thích thú Giờ học diễn ra hoàn toàn do các em chủ động,các em được sáng tạo phát huy nhiều năng lực của mình mà vẫn ôn lại được kiếnthức một cách sôi nổi, hào hứng Tôi chỉ là người định hướng cho các em

Bước 5: Hoạt động bổ sung

a) Mục đích của hoạt động này giúp HS tiếp tục mở rộng kiến thức, kĩnăng Hoạt động này dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của HS làkhông ngừng, do vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập,rèn luyện sau mỗi bài học cụ thể

b) Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ

- Làm bài tập 6 SGK phần II để học sinh thấy được sự ảnh hưởng củaVHDG tới văn học viết phục vụ cho các em học nhiều tác phẩm văn học viết saunày

- Tìm đọc thêm sách báo, mạng in-tơ-nét…các bài viết về bộ phậnVHDG; các bài phân tích, bình luận về những tác phẩm đã học

- Tập sáng tạo ca dao; Viết bài thu hoạch

Trang 10

- HS tự làm việc ở nhà HS có thể thực hiện độc lập, hoặc kết hợp cácbạn, nhóm bạn, tập thể lớp để thực hiện.

2.3.6 Giải pháp 5: Thiết kế nội dung dạy học: Ôn tập VHDG.

Hoạt động của GV – HS Nội dung cần đạt

Hoạt động 1: Khởi động

- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:

- GV: Khi thực hiện các bài tập, nhiệm vụ

được giao để chuẩn bị cho tiết học Ôn tập

văn học dân gian em đánh giá đây sẽ là

tiết học dễ hay khó? Thú vị hay không thú

vị?

- Dự kiến HS trả lời:

+ Tiết học dễ vì chỉ ôn lại những kiến thức

đã học, không thú vị vì không có kiến thức

mới

+ Khó vì trong 2 tiết phải tổng hợp lại toàn

bộ kiến thức của cả bộ phận văn học dân

gian

+ Rất thú vị vì các em sẽ được diễn kịch,

một hoạt động ít khi được thực hiện trong

giờ học vừa vui, vừa ý nghĩa

- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

+ HS: suy nghĩ trả lời câu hỏi

+ GV: Quan sát, hỗ trợ học sinh

- Bước 3: Báo cáo kết quả

+ HS trả lời

-Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả

thực hiện

- GV: Nhận xét, dẫn dắt vào bài - Tất cả

các đáp án đều có sơ sở Bài học này đúng

là ôn tập lại kiến thức và ta phải tổng hợp

lại toàn bộ kiến thức về một bộ phận văn

học quan trọng của văn học Việt Nam

Nhưng cô trò ta sẽ ôn tập một cách sáng

tạo kết hợp với cả hoạt động ngoại khóa

cho nên khó hay dễ? thú vị hay không?

Hay vừa khó vừa dễ? các em phải cùng

thực hiện ta mới có được kết luận chính

xác, đáp án đúng nhất đang chờ các em

- Nhận thức được nhiệm vụ cần giải quyết của bài học

- Tập trung cao và hợp tác tốt để giải quyết nhiệm vụ

- Có thái độ tích cực, hứng thú

Trang 11

phần kiến thức đã

giao chuẩn bị trước ở

nhà vào giấy A0

yếu của các thể loại

sử thi, truyền thuyết,

truyện cổ tích, truyện

cười, ca dao, truyện

thơ

Nhóm 3: Lập bảng

tổng hợp, so sánh

theo mẫu trong bài

tập 3 để so sánh các

thể loại sử thi, truyền

thuyết, cổ tích,

truyện cười

Nhóm 4: Nét đặc sắc

về nội dung và nghệ

thuật của ca dao than

thân, ca dao hài

hước?

Bước 2: Thực hiện

nhiệm vụ

- HS: Đem các phần

nhiệm vụ đã thảo

luận chuẩn bị ở nhà

I Nội dung ôn tập:

1

Các đặc trưng cơ bản của VHDG:

- VHDG là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyềnmiệng (tính truyền miệng)

VD: Kể chuyện Tấm Cám, Thạch Sanh ; kể - hát sửthi Đăm Săn; lời thơ trong ca dao được hát theo nhiềulàn điệu; các vở chèo được trình diễn bằng lời, nhạc,múa và diễn xuất của nghệ nhân

- VHDG là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (tínhtập thể)

VD: Các bài ca dao than thân cùng môtíp mở đầu bằnghai chữ “thân em”,

- VHDG gắn bó mật thiết với các sinh hoạt khác nhaucủa đời sống cộng đồng (tính thực hành)

VD: Kể khan Đăm Săn ở các nhà Rông của người đê; Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- TrọngThủy gắn với lễ hội Cổ Loa

Ê-2 Các thể loại của VHDG; Những đặc trưng chủ yếu của các thể loại

- B ng t ng h p các th lo i VHDG: ảng tổng hợp các thể loại VHDG: ổng hợp các thể loại VHDG: ợp các thể loại VHDG: ể loại VHDG: ại VHDG:

Truyện DG Câu nói DG Thơ ca DG Sânkhấu DG

- Thần thoại

- Sử thi

-Truyềnthuyết

* Các đặc trưng chủ yếu của một số thể loại VHDG:

(1) Sử thi:

- Là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn

- Nội dung: kể về những biến cố lớn diễn ra trong đờisống cộng đồng thời cổ đại

Trang 12

hóa kiến thức Vì đây

đều là kiến thức đã

học cho nên GV sẽ

dùng luôn các phần

kiến thức HS trình

bày trên giấy A0 để

chốt và chuẩn hóa

- Có sự hoà trộn giữa yếu tố hiện thực và yếu tố thần kì

- Thể hiện nhận thức, quan điểm đánh giá, tình cảm củanhân dân lao động đối với các sự kiện và nhân vật lịchsử

(3) Truyện cổ tích:

- Là tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hìnhtượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận conngười bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhânđạo và lạc quan của nhân dân lao động

Truyện cổ tích thần kì: Là loại truyện cổ tích có sựtham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triểncủa câu chuyện

+ Thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời của nhân dân laođộng

- Là lời thơ trữ tình dân gian, thường được kết hợp với

âm nhạc khi diễn xướng

- Diễn tả đời sống nội tâm con người, thể hiện tâm tư,tình cảm của con người ở nhiều hoàn cảnh, nghềnghiệp

- Dung lượng thường ngắn gọn

- Thể thơ phần lớn là thể lục bát

- Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ, cólối diễn đạt bằng một số công thức mang đậm sắc tháidân gian

Trang 13

(6) Truyện thơ:

Là tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữtình, phản ánh số phận và khát vọng của con người khihạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt

3 Lập bảng tổng hợp so sánh các truyện dân gian đã học theo mẫu SGK

Nội dung phản ánh

Kiểu nhân vật chính

Đặc điểm nghệ thuật

Ngườianhhùng sửthi caođẹp, kìvĩ

(ĐămSăn)

Biệnphápsosánh,phóngđại,trùngđiệptạo nênnhữnghìnhtượnghoànhtráng,hàohùng

Kể về

các sự kiện và

nhân vật lịch

sử có thật nhưng

đã được khúc

xạ qua một cốttruyện

hư cấu

Nhânvật lịch

sử đượctruyềnthuyếthoá (AnDươngVương,MịChâu,TrọngThủy)

Từ

“cái lõi là

sự thật lịch sử” đã

được

hư cấu thành câu chuyệnmang yếu tố

kì ảo, hoang đường

Truyệnhoàn

Trang 14

mồ côi,người

em út,ngườilaođộngnghèokhổ, bấthạnh,người

có tàilạ,

toàn do

hư cấu.-Kết cấu trực tuyến

- Kết thúc thường

Kiểunhânvật cóthói hưtật xấu

-Ngắngọn.-Tạotìnhhuốngbấtngờ,mâuthuẫnpháttriểnnhanh,kếtthúcđộtngột

4 Ôn tập Ca dao

- Ca dao than thân thường là lời của người phụ nữ trong

xã hội cũ nói chung Vì:

+ Họ vừa phải chịu ách áp bức bóc lột của giai cấpthống trị và những nỗi khổ vật chất khác

+ Vừa phải gánh chịu những khổ đau bất hạnh riêng củagiới mình: thân phận bị phụ thuộc, giá trị của họ khôngđược ai biết đến,

+ Thân phận người phụ nữ hiện lên rất cụ thể qua lời sosánh hoặc ẩn dụ

- Ca dao yêu thương tình nghĩa đề cập đến những tìnhcảm: tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình,tình nghĩa xóm giềng, tình cảm bạn bè, tình yêu namnữ

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w