1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THIẾT kế VÀ sử DỤNG PHIẾU HỌC tập TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 8 HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực GIẢI QUYẾT vấn đề VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH

25 26 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từnhiều kênh, nguồn khác nhau... Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế và sử dụng PHT nhằm phát triển NLGQVĐ&ST trong DHHH phần dẫn x

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, kiến thứckhông còn là “tài sản” riêng của trường học Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từnhiều kênh, nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà ngườihọc có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mớicách dạy và cách học

Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lựcchiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vếnđề nảy sinh trong cuộc sống Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáodục nói chung, nhà trường, giáo viên nói riêng Giáo viên không chỉ là người mangkiến thức đến cho học sinh mà cần dạy cho học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiếnthức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời

Ở mỗi quốc gia, mục tiêu giáo dục thường được thay đổi theo từng giai đoạnphát triển Ở nước ta, mục tiêu giáo dục với quan điểm giáo dục toàn diện, chútrọng bốn mặt: trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo những người lao động mới có khảnăng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0, mục tiêugiáo dục nước ta đã được cụ thể hoá và bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của tìnhhình mới Để có thể thay đổi thành công mục tiêu giáo dục cần phải tác động đầy đủcác thành tố của quá trình giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là mộtcách làm hiệu quả, phù hợp để đạt được mục tiêu đó Trong đó, việc lựa chọn, sửdụng các phương tiện dạy học phù hợp với điều kiện học sinh, nhà trường, môn họclà yếu tố quan trọng nhằm hỗ trợ giáo viên nâng cao hiệu quả dạy học và góp phầnphát triển các năng lực cần thiết cho học sinh

Hiện nay, có rất nhiều phương tiện dạy học đã và đang là công cụ hỗ trợ đắclực trong việc nâng cao chất lượng dạy và học như: sách giáo khoa, video, tranhảnh, hình vẽ, mô hình, sơ đồ, thí nghiệm hóa học, máy tính, máy chiếu, máy ảnh…Một dạng phương tiện khác rất tiện lợi, rẻ tiền, hiệu quả trong dạy học hiện đại, đó

là phiếu học tập.Thông qua phiếu học tập, giáo viên chuyển từ hoạt động trình bày,

giảng giải, thuyết minh sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo Mọi học sinh khi hoànthành phiếu học tập sẽ phải tìm ra vấn đề và giải quyết vấn đề đó

Hóa học là môn khoa học có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thựcnghiệm Trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, môn hóa học có nhiều cơ hộiđể góp phần hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho họcsinh, nhất là áp dụng các phương pháp dạy học tích cực có sử dụng phiếu học tập

Xây dựng hệ thống phiếu học tập theo hướng tạo ra các vấn đề học tập và sửdụng hệ thống phiếu học tập đó theo hướng tích cực giúp học sinh rèn luyện đượckhả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo sẽ góp phầnvào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Dựa trên tác dụng mà phiếu học tập mang lại và tình hình thực tế sử dụng

phiếu học tập hiện nay trong dạy học hóa học, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương 8 Hoá học 11 nhằm phát

triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh ” với mong muốn giúp

Trang 2

cho giáo viên THPT nâng cao hiệu quả dạy học hóa học và học sinh không chỉ lĩnhhội tốt kiến thức mà còn tích cực, chủ động, say mê tìm kiếm kiến thức, phát triển

tư duy, đặc biệt là phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hóa học lớp 11 THPT nhằmphát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thiết kế và sử dụng PHT nhằm phát triển

NLGQVĐ&ST trong DHHH phần dẫn xuất chứa oxi của hiđrocacbon lớp 11

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

– Nội dung: chương trình hóa học lớp 11 THPT chương 8: Dẫn xuất Ancol - Phenol

halozen-– Phạm vi thực nghiệm sư phạm: Học sinh lớp 11B3, 11B5, 11B7, 11B8 nămhọc 2020-2021

1.4 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Những nhiệm vụ của đề tài sẽ được thực hiện bằng cách phối hợp các nhómphương pháp (PP) nghiên cứu sau:

– Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:

+ Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới đề tài

+ PP phân loại, hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá…

– PP nghiên cứu thực tiễn: trò chuyện, phỏng vấn, dự giờ, quan sát, thực nghiệm

– PP xử lí thông tin: Tổng hợp, so sánh, đánh giá, rút ra kết luận

1.4.2 Phương tiện nghiên cứu

– Các loại tài liệu tham khảo: báo, tạp chí khoa học, sách (SGK, sách GV,sách bài tập, các sách tham khảo hóa học,…), luận văn, luận án, một số trang webhóa học liên quan đến đề tài

– Phòng thí nghiệm, máy ảnh, máy chiếu

1.5 Những điểm mới của SSKN

– Hệ thống hoá cơ sở lí luận về việc thiết kế phiếu học tập theo hướng pháttriển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

– Nghiên cứu cách sử dụng phiếu học tập nhằm phát triển năng lực giải quyếtvấn đề và sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy học

– Thiết kế hệ thống phiếu học tập trong dạy học hóa học chương 8 lớp 11nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

– Thiết kế một số KHDH hoá học lớp 11 chương 8 có sử dụng phiếu học tập ởtrên nhằm hỗ trợ cho việc dạy và học, giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu kiến thức,phát triển tư duy, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo góp phần nângcao hiệu quả dạy và học

Trang 3

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm phiếu học tập

Theo PGS.TS Nguyễn Đức Thành: “PHT là những tờ giấy rời, in sẵn nhữngcông tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát cho HS để HS hoàn thành trongmột thời gian ngắn của tiết học Trong mỗi PHT có ghi rõ một vài nhiệm vụ nhậnthức nhằm hướng tới hình thành kiến thức, kĩ năng hay rèn luyện thao tác tư duy đểgiao cho HS” (Nguyễn Đức Thành, 2005)

Theo TS Trịnh Văn Biều: “PHT là một phương tiện dạy học hỗ trợ GV khicần đặt ra các yêu cầu mà HS cần thực hiện trên lớp hay ở nhà Về nội dung, PHTchứa đựng các bài tập, câu hỏi… Về hình thức, PHT thường được in trên giấy, viếttrên bảng phụ hoặc chiếu trên màn hình nhờ các phương tiện trình chiếu” (TrịnhVăn Biều, 2005)

Như vậy, PHT là một loại phương tiện dạy học được GV chuẩn bị sẵn khisoạn bài, phục vụ cho tiết học Nguồn thông tin để HS hoàn thành PHT có thể là từSGK, từ hình vẽ, từ các thí nghiệm, từ mô hình, hoặc từ những tài liệu GV giao cho

HS sưu tầm trước khi học Nội dung trong phiếu là các yêu cầu hay hướng dẫn của

GV ứng với từng hoạt động dạy học cụ thể, hoặc cũng có thể là các câu hỏi thảoluận, các ý kiến của HS… mà thông qua đó, GV có thể tổng hợp một cách nhanhnhất những ý kiến trả lời của các em Thời điểm sử dụng phiếu rất linh hoạt, GV cóthể cho HS làm ở nhà hay làm tại lớp

2.1.2 Cấu trúc phiếu học tập

Thường gồm các phần sau: (Trịnh Văn Biều, 2005)

Tiêu đề: PHT số… bài…

Phần thông tin, hướng dẫn, yêu cầu HS thực hiện: là phần cung cấp thông tinban đầu (hay nguồn thông tin), các chỉ dẫn của GV về cách thức hoạt động, cácthao tác, công việc HS cần thực hiện

– Phần quy định thời gian: căn cứ vào trình độ HS, thời gian tiết học, côngviệc cần thực hiện mà GV quy định thời gian cho HS hoàn thành, có thể là 5 phút,

10 phút, 15 phút, cũng có thể kéo dài hơn

– Phần đáp án: thường tách biệt với các phần trên và được GV dùng để chỉnhsửa, bổ sung cho HS Phần này có thể được GV thông báo bằng lời hoặc chiếu lênmàn hình hoặc bảng phụ

2.1.3 Phân loại phiếu học tập

– Căn cứ vào mục đích lí luận dạy học, có thể chia PHT thành các loại sau(Trịnh Văn Biều, 2005):

Nên có thời gian cho HS tự nghiên cứu và nhận thức ra được nhiệm vụ học tậpđể giúp HS nắm vững nhiệm vụ cần giải quyết được ghi trong PHT, nếu HS thắcmắc hay có điều gì chưa rõ, GV cần hướng dẫn, sau đó để HS tự thực hiện hoặcchia nhóm để hoàn thành công việc được giao Trước khi GV tổng kết nên để mộtvài nhóm tự báo cáo kết quả và HS ở nhóm khác tham gia, góp ý Nếu HS làm

Trang 4

đúng, GV tuyên dương và lấy đó là kết luận bài học, GV chỉ nói điều nào chưađúng, chưa đủ.

+ PHT dùng để củng cố, hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức

PHT dùng để củng cố kiến thức là những PHT với mục tiêu khắc sâu kiếnthức trọng tâm của bài học và tăng cường khả năng vận dụng kiến thức mới

Hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức thường thực hiện vào cuối chương haycuối một chủ đề lớn Do vậy, HS phải chuẩn bị trước theo PHT Ta có thể cho từng

HS đủ số phiếu để hệ thống hoá được toàn bộ kiến thức khi ôn tập, HS tự hoànthành ở nhà, đến lớp cho HS báo cáo bổ sung, cuối cùng GV tổng kết, hệ thống làmnội dung học tập chính thức

Sau khi học xong 1 chương hay 1 học kì, GV hệ thống lại toàn bộ kiến thức mộtcách khái quát nhằm cho HS thấy được bức tranh toàn diện những nội dung đã học

– Căn cứ vào mục đích và cách thức sử dụng

+ PHT chỉ có các bài tập, câu hỏi… không có khoảng trống Loại này nhằmcung cấp yêu cầu của GV với HS

+ PHT có các bài tập, câu hỏi… kèm theo khoảng trống để HS điền câu trả lời

+ PHT in sẵn dàn ý của bài học có các khoảng trống để HS điền vào Loại nàythường dùng trong các giờ dạy bằng giáo án điện tử, còn gọi là “phiếu ghi bài”

– Căn cứ vào hình thức tồn tại

+ PHT in trên giấy phát cho HS

+ PHT viết trên bảng phụ hoặc các tờ giấy khổ lớn được GV chuẩn bị trướctiết học

+ PHT trên màn hình của các phương tiện trình chiếu

– Căn cứ vào nguồn thông tin sử dụng hoàn thành PHT

+ PHT khai thác kênh chữ: Thường dùng trong các khâu dạy bài mới, nộidung của phiếu dạng này thường đi kèm với “đọc thông tin” hay “nghiên cứu mục,bài…”

+ PHT khai thác kênh hình: Được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trìnhdạy học, giúp HS phát triển kĩ năng quan sát, phân tích; tận dụng kênh hình trongSGK, tranh ảnh, phim, tư liệu… Là dạng PHT tạo hứng thú, phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của HS

+ PHT khai thác cả kênh chữ và kênh hình Đây là dạng PHT phổ biến nhất,yêu cầu HS vừa đọc thông tin vừa quan sát hình mới hoàn thành được PHT

Như vậy, dựa vào quan điểm, mục đích sử dụng có thể có nhiều loại PHTkhác nhau Tùy thuộc vào nội dung bài, phương pháp dạy học của GV, trình độ của

HS và các trang thiết bị, cơ sở vật chất của nhà trường mà GV lựa chọn các loạiphiếu sao cho phù hợp, nhằm đạt hiệu quả dạy học cao nhất

2.1.4 Tác dụng của phiếu học tập

Theo (Trịnh Văn Biều, 2005), PHT giúp GV truyền đạt thông tin đến HSnhanh chóng, chính xác Qua PHT, thông tin được truyền nhanh (bằng thị giác) vàlưu giữ trong óc HS lâu hơn Giúp GV và HS tiết kiệm thời gian và công sức

PHT là một phương tiện đơn giản, có hiệu quả cao để duy trì sự hưng phấntích cực của HS trong giờ học

PHT có tác dụng trong việc giảng dạy bằng giáo án điện tử vì qua các PHT mà

HS có thể dễ dàng theo dõi, nắm bắt kịp bài giảng, nhất là đối với những bài cónhiều câu hỏi cần được giải quyết

Trang 5

PHT chính là phương tiện mà GV có thể sử dụng để hướng dẫn HS tự học ởnhà hoặc GV giao một đề tài và hướng dẫn HS tìm hiểu kiến thức nội dung bài học,chuẩn bị bài ở nhà, bài tập về nhà… Như vậy, HS sẽ có một sự chuẩn bị trước đểnắm bắt những tri thức mà GV chuẩn bị truyền tải.

Sử dụng PHT góp phần đổi mới phương pháp dạy học, chuyển hoạt động của

GV từ trình bày, giảng giải, thuyết minh sang hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo nhằmphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Thông qua tính chất hoạt động bằng PHT, HS có thể tự đánh giá kết quả cáchoạt động trong giờ học của chính bản thân và GV có thể đánh giá được một cáchkhách quan quá trình học tập, trình độ của hầu hết các HS trong lớp Từ đó cónhững điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với đối tượng và tăng hiệu quả dạy học

PHT là một phương tiện để tổ chức hoạt động học tập độc lập của HS nhằmlĩnh hội, củng cố kiến thức Thông qua hoạt động giải quyết vấn đề đặt ra trongPHT, ở HS đã hình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết trong học tập vàcuộc sống như:

– Khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề

– Góp phần hình thành khả năng tự học

– Hình thành phẩm chất tư duy mềm dẻo, linh hoạt trước những tình huống,yêu cầu khác nhau

– Thói quen tự làm việc và hợp tác tích cực trong nhóm để đạt được hiệu quảcao trong học tập, cuộc sống

– PHT thể hiện sự sáng tạo, cũng như tài năng thiết kế các hoạt động của GVkhi lên lớp Để thực hiện được điều này, đòi hỏi GV phải biết vận dụng, kết hợpkhéo léo tất cả các phương tiện dạy học thích hợp cùng các phương pháp dạy họclinh hoạt nhằm khai thác triệt để ưu điểm của PHT

2.1.5 Các yêu cầu đối với phiếu học tập

2.1.5.1 Nội dung

– Bám sát mục tiêu bài học, không xa rời nội dung chính của bài

– Nội dung trên phiếu phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp vớitrình độ nhận thức của HS

– Nội dung trên PHT nên phân chia ra từ dễ đến khó để HS trong lớp với khảnăng học khác nhau đều có thể tham gia vào hoạt động

– Các câu hỏi trắc nghiệm phải kích thích hoạt động tích cực của HS và gópphần hình thành tư duy logic cho HS (Trịnh Văn Biều, 2005)

2.1.5.2 Hình thức

– Hình thức trình bày trên PHT phải rõ ràng, dễ đọc, hấp dẫn: cỡ chữ đủ lớn,có thể sử dụng sơ đồ, hình ảnh, bảng số liệu để kích thích hứng thú học tập cho HS.Thiết kế PHT kết hợp kênh chữ và kênh hình Kích thước chữ trên phiếu cũng nhưkhoảng cách chữ phải bảo đảm để cho HS có thể đọc được

– Hình vẽ trong phiếu phải rõ ràng

– Số lượng PHT trong một tiết học vừa phải, không nhiều gây tốn thời gian vàkhông cần thiết nhưng cũng không nên quá ít

– Yêu cầu mà GV đưa ra cần phù hợp với thời gian thực hiện (Trịnh VănBiều, 2005)

2.1.6 Yêu cầu của phiếu học tập nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn

đề và sáng tạo cho học sinh

Trang 6

PHT phải chứa tình huống có vấn đề, kích thích được HS tham gia vào tìmhiểu, nghiên cứu, giải quyết vấn đề Các vấn đề đó có thể chứa những mâu thuẫn cụthể như:

+ Mâu thuẫn giữa tri thức đã có với tri thức mới

+ Mâu thuẫn giữa cấu tạo hóa học với tính chất

+ Mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực hành, thực tiễn

+ Mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng

+ Mâu thuẫn giữa các hiện tượng với nhau

– Yêu cầu bắt buộc của dạy học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề vàsáng tạo là khi giải quyết mâu thuẫn nhận thức, HS phải tiếp thu được tri thức mới.Tri thức mới ở đây là kiến thức hóa học mới hoặc là một phương pháp mới để tìmkiến thức, những kiến thức hay phương pháp đó không mới với khoa học nhưngmới với HS

2.1.7 Nguyên tắc thiết kế phiếu học tập nhằm phát triển năng lực giải

quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Để thiết kế được một PHT tốt, phát triển được năng lực giải quyết vấn đề vàsáng tạo của HS, cần tuân theo các nguyên tắc sau (Nguyễn Thị Phượng, 2013):

2.1.7.1 Nội dung của phiếu học tập phải phù hợp với mục tiêu, nội dung

bài học

Sử dụng PHT là một trong những biện pháp để HS thực hiện nhằm đạt đượcmục tiêu của bài học Vì vậy, PHT phải giúp HS khai thác và nắm bắt được nhữngkiến thức cơ bản, trọng tâm của bài học thì mới có giá trị và mang lại hiệu quả.PHT có thể chuyển tải nội dung một phần bài học, hoặc nội dung cả bài học

2.1.7.2 Đảm bảo tính vừa sức, tính linh hoạt của vấn đề

– Vấn đề muốn trở thành tình huống chứa đựng vấn đề đối với HS thì phảivừa sức với HS, để có thể giải quyết thành công được vấn đề đó thì HS phải chủđộng, tích cực, tìm tòi

– Nếu vấn đề quá khó, vượt xa tầm hiểu biết, vốn kinh nghiệm và khả năng tưduy của HS thì HS cũng không hứng thú tham gia giải quyết, như vậy vấn đề khôngtrở thành tình huống cho HS

– Ngược lại, nếu vấn đề quá đơn giản hoặc HS đã biết cách giải quyết, khi đóvấn đề sẽ không tạo được tình huống để kích thích HS, làm cho quá trình khám phávà tiếp thu kiến thức không hiệu quả, không kích thích được tính tích cực, sáng tạocủa HS

Do đó, trong quá trình dạy học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề vàsáng tạo cho HS, các vấn đề đưa ra phải vừa sức, phải căn cứ vào khả năng nhậnthức, tri thức, trình độ và kinh nghiệm đã có của HS và khả năng tư duy của từngđối tượng HS cụ thể để từ đó xây dựng kiến thức phù hợp, đáp ứng được mục đích,yêu cầu của các nội dung kiến thức được quy định

2.1.7.3 Phiếu học tập phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, chứa đựng tri thức mới

Có mâu thuẫn thì mới kích thích được người học suy nghĩ, tìm tòi, phát hiệnvà giải quyết mâu thuẫn Như vậy, điều kiện tiên quyết của dạy học nhằm phát triểnnăng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là nội dung kiến thức phải chứa một hoặcmột số mâu thuẫn Những mâu thuẫn đó có thể tồn tại ngay trong bản thân vấn đề

Trang 7

cần nhận thức.

2.1.7.4 Phiếu học tập phải vừa nêu được nhiệm vụ học tập, vừa hướng dẫn

và gợi ý HS cách thực hiện

Nội dung trong PHT chính là nhiệm vụ học tập mà GV giao cho HS, được cụthể hoá bằng các câu hỏi, bài tập hoặc những tình huống yêu cầu HS thực hiện vàgiải quyết Các nhiệm vụ này xuất phát từ nội dung của bài học Thông thường GVđặt ra câu hỏi, bài tập hoặc tình huống kèm theo những gợi ý và hướng dẫn để HSbiết phải làm gì, làm như thế nào và dựa vào cơ sở nào để thực hiện nhiệm vụ Vídụ: Em hãy dựa vào bảng trong SGK trang để phân tích, giải thích, cho nhậnxét, rút ra kết luận về

2.1.7.5 Phiếu học tập phải đảm bảo tính khoa học, độ tin cậy và tính thẩm mĩ

Tính khoa học và độ tin cậy thể hiện trong PHT ở chỗ các thông tin trong phiếuphải đảm bảo khách quan, chính xác, khoa học và phải có xuất xứ đáng tin cậy

Tính thẩm mĩ của PHT thể hiện ở cách trình bày đẹp, ngôn ngữ ngắn gọn, súctích, rõ ràng PHT có tính thẩm mĩ cao sẽ tăng tính hấp dẫn, tạo hứng thú học tậpcho HS

2.1.8 Một số hình thức sử dụng phiếu học tập (Nguyễn Thị Phượng, 2013)

2.1.8.1 Sử dụng phiếu học tập để hình thành kiến thức mới

Việc soạn giáo án và lên lớp khi có sử dụng PHT có khác so với giáo án thôngthường Giáo án có thể phân cột thành hoạt động của GV và hoạt động của HS Nộidung trong giáo án này chủ yếu là chuỗi hoạt động của thầy và trò Ứng với mỗiPHT là một hoạt động của thầy và trò Trong giáo án có kèm theo PHT mà GV đãsoạn để phát cho HS nhằm phục vụ cho các hoạt động của thầy và trò Kèm theoPHT là phần trả lời câu hỏi, bài tập đặt ra trong PHT gọi là tờ nguồn

PHT nên được sử dụng một cách có hệ thống Trong từng trường hợp có thểsử dụng cho từng nhóm HS hoặc từng cá nhân

Khi sử dụng PHT trong tiết học, GV có thể phát trực tiếp trên lớp hoặc phátphiếu cho HS về nhà điền vào yêu cầu của phiếu đã đặt ra

Điều đáng lưu ý khi sử dụng PHT trên lớp là phát PHT cho các nhóm, GVphải thường xuyên kiểm tra hoạt động của các nhóm, kịp thời uốn nắn và giúp đỡcác em, tránh tổ chức các hoạt động mang tính hình thức

2.1.8.2 Sử dụng phiếu học tập để củng cố, hoàn thiện kiến thức

GV có thể sử dụng PHT để củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng cho HS.Đây cũng là một trong những biện pháp củng cố bài học mang lại hiệu quả cao docủng cố bài học bằng PHT đòi hỏi HS phải hoạt động, khắc phục thực trạng một số

HS không tập trung vào cuối tiết học Hơn nữa, bằng PHT, GV có thể cùng một lúccủng cố được nhiều nội dung và đánh giá được mức độ tiếp thu bài học của HS mộtcách nhanh chóng, chính xác

2.1.8.3 Sử dụng phiếu học tập khi kiểm tra bài cũ

Nội dung của phiếu là một đề kiểm tra ngắn được in hoặc ghi sẵn vào phiếu cóchừa chỗ trống để HS làm ngay vào đó

Dùng phiếu để kiểm tra bài cũ giúp GV có thể kiểm tra được cùng lúc nhiều

HS, khắc phục được tình trạng GV chỉ gọi một hoặc một vài HS kiểm tra còn các

HS khác chỉ ngồi nghe hoặc làm việc riêng Tuy nhiên, loại phiếu này cũng cónhược điểm là không phát huy được năng lực trình bày và diễn đạt bằng lời nói trực

Trang 8

tiếp của HS Vì vậy, tránh dùng tràn lan loại phiếu này mà nên kết hợp cân đối vớikiểm tra bài cũ truyền thống (còn gọi là kiểm tra miệng).

2.1.8.4 Sử dụng phiếu học tập kết hợp với giáo án điện tử

Xu hướng hiện nay là thay đổi cách soạn giáo án, chuyển từ thiết kế các hoạtđộng của thầy sang hoạt động của trò, tăng cường hoạt động cá nhân hoặc làm việctheo nhóm nhỏ bằng các PHT Sử dụng PHT kết hợp với giáo án điện tử góp phầntiết kiệm thời gian, tăng hiệu quả dạy và học

2.1.8.5 Sử dụng phiếu học tập khi tổ chức thuyết trình, thảo luận nhóm

Khi sử dụng PHT, GV cần phải kết hợp với phương pháp dạy học theo nhómnhỏ, rèn luyện kĩ năng hợp tác nhóm, thảo luận để tìm kiếm kiến thức đồng thời xâydựng ý thức tập thể, trách nhiệm cộng đồng và xây dựng niềm tin về bản thân chomỗi HS Để việc sử dụng PHT kết hợp với phương pháp tổ chức thuyết trình, thảoluận nhóm có hiệu quả, GV cần chuẩn bị:

– Số lượng mẫu phiếu cho các nhóm

– Đáp án PHT trên bảng phụ đủ lớn (hoặc bảng trong và đèn chiếu) để HS đốichiếu kết quả

– Điều khiển hoạt động của HS linh hoạt, đúng yêu cầu về thời gian hoànthành phiếu, trình bày nội dung PHT của HS

– Các tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu… có liên quan đến kiến thức theo yêu cầucác nội dung trong PHT để tạo điều kiện cho HS lĩnh hội kiến thức tốt hơn

2.1.8.6 Sử dụng phiếu học tập khi hướng dẫn tiết thực hành

PHT được sử dụng trong các tiết thực hành còn được gọi là phiếu thực hành.Nội dung của phiếu thực hành là những câu hỏi ngắn liên quan đến cách thức tiếnhành thí nghiệm Ngoài ra, GV còn có thể đưa ra những câu hỏi liên quan đến cácthiết bị, dụng cụ, các nguyên tắc, thao tác… trong phòng thí nghiệm để nâng cao kĩnăng thực hành cho HS, đồng thời kiểm tra việc chuẩn bị bài của các em trước khithực hành

2.1.8.7 Sử dụng phiếu học tập khi giao bài về nhà

GV giao các PHT để HS thực hiện ở nhà Nội dung của phiếu dùng để ra bàivề nhà là những câu hỏi, bài tập có mục đích yêu cầu HS vận dụng, ôn tập lạinhững kiến thức, kĩ năng vừa được học hoặc tìm hiểu bài mới trước khi đến lớp

GV có thể giao các phiếu bài tập có nội dung là những bài tập mà HS cần giảiquyết Những bài tập này có thể được cho đáp số hoặc trình bày dưới dạng câu hỏitrắc nghiệm Để giải được những bài tập này yêu cầu HS phải vận dụng linh hoạtcác kiến thức đã học, qua đó rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho HS

2.1.8.8 Sử dụng phiếu học tập trong các PPDH tích cực

Khi vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, PHT được sử dụng thườngxuyên để định hướng hoạt động của HS

Với phương pháp dạy học theo dự án, PHT là bộ câu hỏi định hướng, bao gồmcác câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung, trong đó các câu hỏi nộidung là các câu hỏi cụ thể, giải quyết từng thành phần kiến thức nhỏ nhất cần đạt

Với phương pháp dạy học theo góc, mỗi góc học tập có một PHT riêng chotừng góc để từng nhóm HS thực hiện theo yêu cầu, như góc quan sát, góc phân tích,góc trải nghiệm, góc áp dụng

PHT sử dụng cá nhân hoặc nhóm 2 – 3 – 4,… phụ thuộc nội dung và quy mô bàidạy

Trang 9

2.1.9 Một số nguyên tắc khi sử dụng phiếu học tập theo hướng phát triển

năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học hoá học trung học phổ thông

Khi sử dụng PHT trong dạy học hoá học ở trường trung học phổ thông, GVcần tuân thủ một số nguyên tắc sau (Trịnh Văn Biều, 2005):

– Sử dụng đúng mục đích, đúng nội dung, đúng đối tượng

Các loại PHT khác nhau có tác dụng hình thành kiến thức, rèn luyện các kĩnăng khác nhau Nếu là bài lí thuyết thì PHT yêu cầu khai thác kiến thức lí thuyết.Nếu là bài thực hành thì PHT phải yêu cầu rèn luyện kĩ năng thí nghiệm, thực hànhnhư: các kĩ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm, lắp đặt thí nghiệm

Việc sử dụng PHT cũng cần lưu ý đến đối tượng HS Ví dụ như phiếu đượcthiết kế cho HS có mức độ nhận thức cao như HS ở các trường chuyên thì khôngthể áp dụng được cho HS ở các trường ở nông thôn, miền núi

– Sử dụng vừa đủ số lượng PHT trong một tiết học

Không nên sử dụng quá nhiều phiếu trong một tiết học vì như thế sẽ không đủthời gian để xử lí những tình huống ngoài dự kiến Trong một tiết học chỉ nên sửdụng từ 1 đến 2 phiếu là hợp lí nhất, trừ trường hợp dạy học theo góc, có bao nhiêugóc thì cần có bấy nhiêu PHT Nếu sử dụng phiếu trong tiết dạy bài mới thì nên kếthợp các phiếu cho từng mục nội dung kiến thức thành một phiếu

– Sử dụng PHT kết hợp với các tài liệu học tập và phương tiện dạy học khác

Khi dạy môn Hoá học rất cần sử dụng các đồ dùng dạy học như SGK, dụng cụthí nghiệm, tranh ảnh, mô hình máy móc hoặc những thí nghiệm không tiến hànhtrực tiếp được thì cần các video mô phỏng thí nghiệm Bên cạnh đó, các phươngtiện như đèn chiếu projector, máy chiếu… giúp cho GV thuận lợi hơn trong việcgiảng dạy và tiết kiệm được thời gian Do đó, để phát huy tốt tính tích cực nhậnthức của HS, GV cần sử dụng PHT kết hợp với các tài liệu học tập và các phươngtiện dạy học khác

– Sau khi HS hoàn thành, GV cần công bố đáp án

Khi sử dụng PHT, sau khi HS thảo luận, trình bày ý kiến của mình thì GVphải có nhận xét, bổ sung, góp ý và điều quan trọng là công bố đáp án Điều nàygiúp HS có thể đối chiếu, so sánh và tự đánh giá được thành quả công việc củamình, rút ra được những điểm chưa đạt để có sự nỗ lực hơn trong học tập

2.2 Thực trạng của việc sử dụng phiếu học tập để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trong dạy học môn Hoá học ở một số trường trung học phổ thông

2.2.1 Về phía giáo viên: Trong cuộc họp tổ chuyên môn, khi được hỏi ý kiến,

đa số GV xác nhận chưa thường xuyên sử dụng PHT khi giảng dạy hàng ngày,nhiều GV cho rằng chỉ sử dụng phiếu học tập trong các tiết thao giảng hoặc khi cóngười dự giờ Hầu hết GV đều nhận thấy sự cần thiết cũng như tác dụng của việc sửdụng PHT trong dạy học nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn khi thiết kế và sử dụngcũng như làm sao sử dụng PHT để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạocho HS

2.2.2 Về phía học sinh: Tôi làm cuộc khảo sát với đối tượng là học sinh lớp

11B3, 11B5, 11B7, 11B8 năm học 2020-2021.

Số phiếu điều tra phát ra: 150; Số phiếu điều tra thu về: 144

Câu 1 Em có thích các giờ học HH có sử dụng PHT không?

Trang 10

Lựa chọn Rất thích Thích Bình thường Không thích

Câu 2 Em thấy có cần thiết phải hình thành và rèn luyện NLGQVĐ&ST không?

Lựa chọn Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết

Qua kết quả trên ta thấy phần lớn HS đều nhận thức được việc hình thành vàrèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là cần thiết và rất cần thiết

Câu 3 Em có thái độ như thế nào khi phát hiện các vấn đề (mâu thuẫn với các kiến

thức đã học, khác với điều em biết) trong PHT?

Rất hứng thú, muốn tìm hiểu bằng mọi cách 59 40,97

Từ kết quả trên ta thấy, đa số các em đều có thái độ ham học hỏi, muốn tìmhiểu những điều mới, lạ Đó là một tín hiệu đáng mừng khi GV sử dụng các PP dạyhọc tích cực để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS

Câu 4 Em gặp khó khăn gì khi làm việc với PHT?

Không được hướng dẫn kĩ cách thực hiện do thời gian trên lớp ít 29 20,14

Chưa biết cách phát hiện vấn đề và cách xử lí 57 39,58Chưa có các kĩ năng làm việc cá nhân cũng như làm việc nhóm 68 47,22

Câu 5 Khi gặp các vấn đề mâu thuẫn với kiến thức đã học hoặc điều em biết, em

thường làm gì?

Cố gắng sử dụng các kiến thức đã biết để giải quyết 69 47,92

Tìm hiểu thông qua các trang mạng, sách báo hoặc các nguồn

Tự đề xuất các phương án khác nhau để giải quyết vấn đề, làm

thử và chọn phương án cho kết quả tốt nhất 36 25,00

Từ kết quả trên ta thấy, mặc dù các em đều có thái độ ham học hỏi, muốn tìmhiểu những điều mới, lạ nhưng lại chưa thực sự hành động để khám phá ra VĐ

Câu 6 Em có áp dụng các PP và kiến thức về giải quyết vấn đề đã học để giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tế không?

Lựa chọn Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Trang 11

Điều này cho thấy rằng, giữa việc học và áp dụng cũng còn một khoảng cáchkhông nhỏ cần GV phải sử dụng các PPDH kích thích HS hơn nữa để rút ngắnkhoảng cách này.

Câu 7 Em hãy đánh dấu vào những điều em đã làm được trong quá trình học tậpmôn Hoá học ở trường phổ thông

Trả lời nhanh, chính xác câu hỏi của GV 37 25,69

Luôn tự tìm hiểu, mày mò để tìm ra câu trả lời cho các câu

Có thể tư duy, phân tích, tổng hợp, so sánh để đưa ra kết

Biết vận dụng tri thức để GQVĐ trong thực tế cuộc sống 36 25,00

Mạnh dạn đề xuất những ý kiến, cách làm mới, biết cách

chỉ ra những hạn chế của cách làm cũ 19 13,19

Biết sử dụng các PTKT hiện đại trong quá trình học tập 48 33,33

Biết cách tự đánh giá quá trình học của bản thân 38 26,39

Thường xuyên liên tưởng, tưởng tượng nhằm tạo ra các ý

Mặc dù các kết quả này chưa cao nhưng cũng là tín hiệu tốt để chúng ta có kế hoạchbồi dưỡng, khích lệ, động viên HS nhiều hơn nữa trong học tập cũng như trongcuộc sống

2.3 Thiết kế và sử dụng PHT nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và

sáng tạo cho HS trong dạy học phân hóa chương 8 lớp 11

2.3.1 Cấu trúc nội dung chương 8 Hoá học 11

Dẫn xuất halogen –

Ancol – Phenol

Bài 39 Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon (giảm tải)Bài 40 Ancol

Bài 41 PhenolBài 42 Luyện tập: Dẫn xuất halogen, ancol, phenolBài 43 Bài thực hành 5: Tính chất của etanol, glixerol và

phenol

2.3.2 Những lưu ý khi dạy học phần ancol-phenol Hoá học 11

– Cần chú ý hướng HS quan sát nhận xét đầy đủ về đặc điểm cấu tạo của cả haithành phần gốc và chức, cần chú ý đến thành phần của nhóm chức, số lượng, đặcđiểm các liên kết trong nhóm chức và sự phân bố các nhóm chức trong phân tử

– Sử dụng triệt để các phương tiện trực quan, thí nghiệm hóa học

– Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực qua đó hình thành cho HSphương pháp tư duy, phương pháp nghiên cứu, học tập hóa học

– Cần sử dụng triệt để phương pháp so sánh trong bài dạy So sánh giữa ancol vàphenol để tìm ra sự giống nhau và khác nhau, nguyên nhân của sự giống và khácnhau đó

– Cần chú ý đến một số nội dung mới và khó của chương trình Đồng thời lưu ý

HS chú ý đến tính chất đặc trưng của các nhóm chức và cả tính chất của phần gốchiđrocacbon trong các loại dẫn xuất chứa oxi của hiđrocacbon

– GV cần đa dạng hoá các hoạt động học tập để HS tham gia tích cực, chủ động

Trang 12

2.3.3 Thiết kế phiếu học tập nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

và sáng tạo cho học sinh

2.3.3.1 Quy trình thiết kế PHT nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

và sáng tạo

Để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học hoáhọc, chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế PHT gồm các bước sau:

Bước 1: Xác định tri thức mà HS đã biết và tri thức cần hình thành để phát

triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Bước 2: Xác định mục tiêu toàn bài và mục tiêu từng phần của bài học.

VD: Bài “Phenol”.

– Mục tiêu của toàn bài:

+ HS trình bày được định nghĩa phenol

+ HS phân loại được phenol

+ HS nêu được tính chất vật lí của phenol

+ Từ công thức cấu tạo, HS so sánh được tính chất hoá học của phenol và ancol

– Mục tiêu của từng phần:

+ Phần 1: Biết được định nghĩa, phân loại được phenol, biết được cấu tạo củaphenol

+ Phần 2: Nêu được một số tính chất vật lí tiêu biểu của phenol

+ Phần 3: HS hiểu được tính chất hoá học của phenol Giải thích được sự ảnhhưởng qua lại giữa các nhóm nguyên tử trong phân tử phenol Viết các PTHH minh hoạ

+ Phần 4: HS biết và trình bày được cách điều chế, những ứng dụng của nol

phe-Bước 3: Xây dựng các mâu thuẫn nhận thức cơ bản, đảm bảo tính vừa sức giải

quyết của HS

Bước 4: Xác định phương pháp dạy học chủ yếu và các kỹ thuật dạy học,

phương pháp dạy học kết hợp

Để HS tiếp thu bài học một cách hiệu quả thì phương pháp dạy học mà GV sửdụng cũng rất quan trọng Để phương pháp dạy học mà GV sử dụng trong bài pháthuy được tác dụng tốt nhất thì các kỹ thuật dạy học và các phương tiện dạy họcphối hợp phải sử dụng và thiết kế sao cho phù hợp với phương pháp và khả năngtiếp thu của HS

Bước 5: Xác định những nội dung cụ thể trong bài cần thiết kế PHT.

Trong một tiết học chỉ nên sử dụng 1 đến 2 PHT và tùy nội dung từng bài màcó thể 1 hoặc 2 đơn vị kiến thức được sử dụng PHT

Bước 6: Diễn đạt nội dung trên PHT.

Các thông tin, nhiệm vụ học tập được giao trong phiếu phải rõ ràng, ngắn gọndưới dạng tường minh Các câu hỏi, nhiệm vụ học tập đưa ra trong phiếu phải đảmbảo mọi HS đều hiểu được phải làm gì, những yêu cầu đưa ra cần phải chỉ rõ căn

cứ, nguồn để HS có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ đề ra, như: “Quan sát hãy nêu ”,“Căn cứ vào hãy cho biết ”,“Dựa vào hãy chứng minh ”,“Từ thí ng- hiệm hãy nhận xét ” Sau mỗi câu hỏi, bài tập cần có một khoảng trống thích

hợp để HS trình bày kết quả Thời gian suy nghĩ, thực hiện nhiệm vụ và trình bàyphiếu cần phù hợp với khối lượng công việc Khi sử dụng nhiều PHT nên đánh sốthứ tự như PHT số 1, PHT số 2

Bước 7: Kiểm tra tính chính xác, khoa học, theo các tiêu chí đánh giá năng lực

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w