1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy –học môn hóa học bằng thí nghiệm thực hành thông qua tính chất của oxi, lưu huỳnh (bài thực hành số 5 tính chất của oxi, lưu huỳnh)

17 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 297,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng không phải tất cả các trường trung học phổ thông đều có phòng thực hành thí nghiệm riêng, do đó để có được một buổi thực hành cho học sinh giáo viên phải chuẩn bị rất nhiều thời gi

Trang 1

MỤC LỤC

Lý do chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Những điểm mới của SKKN

2.2.1 Thực trạng chung 2.2.2 Thực trạng đối với giáo viên 2.2.3 Thực trạng đối với học sinh

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 4 - 11 2.3.1 Giải pháp thực hiện

2.3.2 Tổ chức thực hiện

3.1 Kết luận 3.2 Kiến nghị

Trang 2

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY - HỌC MÔN HOÁ HỌC BẰNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH THÔNG QUA BÀI THỰC HÀNH SỐ 5:”TÍNH CHẤT CỦA OXI,LƯU HUỲNH”

(Chương trình Hoá học 10-Cơ bản)

1 MỞ ĐẦU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hoá học là một môn học rất thiết thực với thực tế đời sống và lao động sản xuất Nó chuyên nghiên cứu về các chất và sự chuyển hoá của các chất, giúp

ta từ các chất ban đầu tạo ra nhiều chất mới, đồng thời giúp ta giải thích được các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống Tuy nhiên, Hoá học lại là một môn học khó đối với học sinh vì nó là một môn khoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tự nhiên và xã hội khác, đồng thời hóa học là một môn học mà có mối liên hệ kiến thức ligic không thể tách rời giữa các cấp, các lớp học Bên cạnh đó một số em học sinh còn cho rằng đây là một môn học phụ nên các em chưa có ý thức để học tập tốt bộ môn này Đặc biệt là đối tượng học sinh của trường đầu vào rất thấp, đa số các em học sinh vào trường đều có học lực yếu, kém, mất căn bản, ham chơi hơn ham học, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đa số phụ huynh học sinh của trường là ngư dân, nông dân, lao đông tự do nên trình độ dân trí thấp, coi nhẹ việc học của con em

Do đặc trưng của môn học và những quan niệm sai lầm về bộ môn cùng với đặc thù đối tượng học sinh của trường dẫn đến kết quả là các em không hứng thú về môn hoá học, dẫn đến tình trạng chay lười suy nghĩ, thụ động trong việc học Từ kết quả này lương tâm và trách nhiệm của một người giáo viên giảng dạy bộ môn hóa học khiến tôi phải trăn trỡ, suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập của các em? Để môn học không còn mang tính đặc thù khó

hiểu tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy –học môn hóa học bằng thí nghiệm thực hành số 5: Tính chất của Oxi, Lưu huỳnh” với mục

đích làm cho môn Hóa học ngày càng dễ hiểu, thiết thực, gần gũi với đời sống

và lôi cuốn học sinh khi học

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Hiện nay đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hóa học, ngày càng lạnh nhạt với các giá trị thực tiễn của hóa học Do đó tôi chọn đề tài trên là nhằm giúp học sinh của mình hiểu được các hiện tượng tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa học trong các câu ca dao-tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống hàng ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán , xa lạ lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học Đó là mục đích thôi thúc tôi tìm tòi, nghiên cứu sáng kiến trên

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

* Các phương pháp dạy học tích cực

* Các bài dạy trong chương trình THPT

* Học sinh bậc trung học phổ thông

Trang 3

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu kiến thức này tôi tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Một là nghiên cứu kĩ lý thuyết trong sách giáo khoa

- Hai là nghiên cứu tình hình thực tiễn ở địa phương để đưa ra những câu hỏi sát với thực tế giúp học sinh dễ nhận thấy và nắm được vấn đề

- Ba là nghiên cứu khả năng tiếp thu của học sinh trường …để có những cách trình bày thật dễ hiểu, phù hợp với đối tượng học sinh

- Bốn là vận dụng phương pháp giải bài tập vào thực tiễn giảng dạy của mình, học tập của học sinh, cũng như thu thập ý kiến phản hồi từ học sinh và đồng nghiệp, rút kinh nghiệm sữa chữa, bổ sung, hoàn thiện hơn

1.5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Tìm tòi các câu hỏi thực tiễn, các câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, các câu ca dao mang hàm ý khoa học hóa học, các bài tập thực tiễn, các phương pháp dạy học tích cực…Hệ thống lại và trình bày từng vấn đề cụ thể, cách áp dụng vào từng bài học cụ thể

2.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Thực hành thí nghiệm là một vấn đề rất cũ nhưng nếu chúng ta không biết làm mới nó thì hiệu quả dạy học chỉ là trên sách vở mà thôi Chính vì vậy mà cho dù ở phương diện nào thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn

đề nóng hổi và cần thiết Đặc biệt là thực hành thí nghiệm trong hoá học Vì mục đích của thực hành thí nghiệm nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức đã học ở các bài lí thuyết trước đó Có những thí nghiệm ở bài lí thuyết giáo viên không có điều kiện biễu diễn cho học sinh quan sát hoặc không thể cho học sinh làm mà thay vào đó là chỉ cho học sinh quan sát thí nghiệm ảo trên máy chiếu Và đến bài thực hành thí nghiệm học sinh mới có cơ hội biễu biễn nhằm chúng minh cho những gì mà mình đã được học Cho dù ở góc độ lí do nào đi nữa thì thí nghiệm thực hành rèn luyện được cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo sử dụng dụng cụ hoá chất với một lượng nhỏ trong phòng thí nghiệm

2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:

2.2.1 Thực trạng chung:

Để tiến hành được buổi thực hành thí nghiệm đạt kết quả cao thì người giáo viên phải chuẩn bị dụng cụ hoá chất kĩ càng, chu đáo Nhưng không phải tất cả các trường trung học phổ thông đều có phòng thực hành thí nghiệm riêng, do đó để có được một buổi thực hành cho học sinh giáo viên phải chuẩn bị rất nhiều thời gian

từ khâu chuẩn bị dụng cụ, hoá chất rồi sau đó khi đến tiết thực hành phải mang lên lớp học cho học sinh.Tất cả điều này làm cho giáo viên cảm giác ngại

2.2.2 Thực trạng đối với giáo viên:

Mặc dù thí nghiệm có vai trò quan trọng như vậy nhưng ở nhiều trường phổ thông giáo viên hoá chưa thực hiện được đầy đủ nội dung các thí nghiệm thực hành đã có quy định trong phân phối chương trình Có những giáo viên ngại chuẩn bị dụng cụ, hoá chất, rồi dẫn đến là không tiến hành thí nghiệm, lấp

Trang 4

vào tiết thực hành đấy lại là tiết bài tập

Nhiều giáo viên không đôn đốc học sinh hoàn thành bản tường trình ngay tại lớp mà lại cho học sinh về nhà hoàn thành rồi hôm sau mới nạp lại Điều này không hề khoa học chút nào.Vì đây là một giai đoạn quan trọng trong thì nghiệm của học sinh Một số giáo viên đã không kiên trì yêu cầu học sinh viết báo cáo đúng lúc, cẩn thận và ngắn gọn Như thế sẽ đánh giá không đúng vai trò về mặt

sư phạm của quá tình viết báo coá thí nghiệm

2.2.3 Thực trạng đối với học sinh:

Phần lớn tất cả các học sinh đều rất thích thú với thực hành thí nghiệm các tiết thực hành đối với học sinh nhằm thay đổi không khí học tập gây hứng thú cho học sinh Đối với bộ phận lớn số học sinh là làm thí nghiệm và hoàn thành bản tường trình nghiêm túc, nhưng cũng có những học sinh dựa cớ là đến buổi thực hành thí nghiệm để được giải lao, nói chuyện, rồi mượn bản tường trình của bạn để chép nạp

Có những học sinh không chuẩn bị bản tường trình nhà,không nghiên cứu các thí nghiệm trước ở nhà Hậu quả là đến lớp tiến hành thí nghiệm rất lóng ngóng, dẫn đến kết quả thí nghiệm không cao, thậm chí không chính xác

2.3 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

Từ cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề, tôi đã nghiên cứu và đưa ra một

số giải pháp và phương thức tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả khi dạy các bài thực hành thí nghiệm

2.3.1 Giải pháp thực hiện:

2.3.1.1 Phân loại thí nghiệm Hóa học và mức độ tích cực của mỗi loại thí nghiệm

* Phân loại thí nghiệm Hóa học

Đối với bộ môn Hóa học thì có nhiều hình thức thí nghiệm như :

+ Thí nghiệm do tự tay giáo viên biểu diễn trước học sinh gọi là thí nghiệm biểu diễn của giáo viên

+ Thí nghiệm do học sinh tự làm gọi là thí nghiệm của học sinh, được chia làm hai loại:

Thí nghiệm của học sinh trong khi học bài mới ở trên lớp để nghiên cứu sâu hơn nội dung một bài học

Thí nghiệm thực hành ở lớp học cũng do học sinh tự làm nhưng để ôn tập củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo làm thí nghiệm

Ngoài các hình thức trên được dùng trong nội khóa còn có những thí nghiệm ngoại khóa như các thí nghiệm vui dùng trong các buổi hội vui về hóa học

* Mức độ tích cực của mỗi loại thí nghiệm

Mức 1 (ít tích cực): Giáo viên hoặc một học sinh thực hiện thí nghiệm biểu diễn – học sinh quan sát hiện tượng nhưng chỉ để chứng minh có phản ứng xảy ra hoặc một tính chất, một quy luật mà giáo viên đã nêu ra

Mức 2 (tích cực): Học sinh nghiên cứu thí nghiệm do giáo viên biểu diễn: Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm; quan sát mô tả hiện tượng; giải thích hiện tượng; học sinh rút ra kết luận

Mức 3 (Rất tích cực): Nhóm học sinh trực tiếp thực hiện, nghiên cứu thí nghiệm Học sinh nắm mục đích thí nghiệm; học sinh làm thí nghiệm; học sinh

Trang 5

quan sát mô tả hiện tượng; giải thích hiện tượng; rút ra kết luận.

Việc sử dụng có hiệu quả thí nghiệm cần chú ý đến nội dung, vị trí bài dạy trong chương trình, tính phức tạp của dụng cụ và độc hại của hoá chất, kĩ năng thí nghiệm đã có của học sinh Với các thí nghiêm độc hại, dễ gây cháy nổ thì cần được thực hiện bởi giáo viên Các thí nghiệm đơn giản hơn, giáo viên có thể giao cho học sinh làm dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Các thí nghiệm của giáo viên cần tăng cường theo phương pháp nghiên cứu hạn chế việc sử dụng thí nghiệm theo phương pháp minh hoạ nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, rèn luyện tính tự học và tư duy của học sinh

2.3.1.2 Các hình thức thí nghiệm thường gặp khi nghiên cứu bài mới

* Thí nghiệm biễu diễn của giáo viên

Thí nghiệm biểu diễn thường là thí nghiệm do giáo viên hoặc một (một vài) học sinh trình bày ở trên lớp Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các thí nghiệm biểu diễn, bản thân tôi luôn có gắng thực hiện tốt các nội dung sau:

- Thí nghiệm phải đảm bảo thành công : Nếu thí nghiệm thất bại học

sinh sẽ mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên Muốn làm tốt được điều này, giáo viên phải:

+ Am hiểu bản chất của các hiện tượng Hóa học xảy ra trong thí nghiệm + Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm cùng với những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa Muốn vậy, giáo viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài

+ Giáo viên phải làm trước thí nghiệm để đảm bảo thành công, tránh trường hợp thí nghiệm thất bại do chất lượng hóa chất, dụng cụ…

- Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí : Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ

khó tập trung sự chú ý của học sinh và dễ cháy giáo án Muốn vậy giáo viên phải hạn chế tối đa thời gian lắp ráp thí nghiệm Thí nghiệm đảm bảo thành công ngay không phải làm lại Nếu thí nghiệm kéo dài có thể chia ra nhiều bước, mỗi bước coi như một thí nghiệm nhỏ

- Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát : Để làm tốt điều này,

giáo viên cần phải:

Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản thể hiện rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu

Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí Điều này biểu hiện:

+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, không bày la liệt những dụng cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong

+ Bố trí sao cho cả lớp đêu nhìn rõ Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ trên mặt phẳng cao so với mặt đất, tốt nhất dùng mặt bàn giáo viên Nếu không được phải đem đến tận bàn cho học sinh xem Giáo viên cũng cần chú ý không che lấp thí nghiệm khi thao tác

- Thí nghiệm phải đảm bảo an toàn cho người và dụng cụ thí nghiệm:

Đối với các chất dễ cháy, nổ phải để xa ngọn lửa và nếu nó bốc cháy thì phải dùng cát hoặc bao tải ướt phủ lên Với những chất độc hại như clo, khí SO2 thì phải hết sức thận trọng phải bố trí thí nghiệm ở nơi thoáng gió như cạnh cửa theo hướng hút gió ra ngoài

- Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải, hợp lý

Trang 6

Cần tính toán hợp lý số lượng thí nghiệm cần biểu diễn trong một bài lên lớp

và thời gian dành cho mỗi thí nghiệm Không kéo dài thời gian thí nghiệm trong một tiết học Chỉ nên chọn làm một số thí nghiệm phục vụ trọng tâm bài học

- Để phát huy được tác dụng của thí nghiệm biểu diễn:

+ Thí nghiệm phải được tiến hành hữu cơ với bài học, tuỳ vào mục đích của bài học mà đưa thí nghiệm đúng lúc

+ Thí nghiệm phải tiến hành kết hợp với phương pháp giảng dạy khác nhất là phương pháp đàm thoại và vẽ hình

+ Thí nghiệm chỉ có hiệu quả tốt khi có sự tham gia tích cực, có ý thức của học sinh Vì vậy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của thí nghiệm, cách bố trí thí nghiệm và các dụng cụ của thí nghiệm Học sinh trực tiếp quan sát và rút ra kết luận cần thiết

* Thí nghiệm nghiên cứu của học sinh

Nếu thí nghiệm biểu diễn của giáo viên, học sinh chỉ được nghiên cứu bằng thị giác và thính giác thì thí nghiệm nghiên cứu bài mới của học sinh giúp học sinh được trao dụng cụ tận tay và được tự làm thí nghiệm, việc làm quen với các dụng cụ hóa chất sẽ cụ thể và đầy đủ hơn Ở đây học sinh được tự tay điều khiển các quá trình làm biến đổi các chất nên có sự phối hợp giữa họat động trí

óc với hoạt động tay chân trong quá trình nhận thức của học sinh → học sinh tích cực tham gia xây dựng bài, hình thành các kiến thức, khái niệm một cách chủ động, kích thích hứng thú của học sinh vì thí nghiệm rèn luyện cho học sinh nhận thức, phân tích những dấu hiệu, hiện tượng cụ thể bằng kinh nghiệm riêng của chính mình, thu hút mọi khả năng của học sinh vào nhận thức đối tượng

Loại thí nghiệm này phù hợp với quá trình giảng bài mới Tùy vào điều kiện trang bị cơ sở vật chất giáo viên có thể tiến hành bằng 2 cách:

* Toàn lớp cùng 1 làm thí nghiệm: Nếu điều kiện trang thiết bị hạn chế từng nhóm làm thí nghiệm khác nhau: Bằng cách này giáo viên nên tổ chức để tạo điều kiện cho các học sinh trong nhóm lần lượt được làm thí nghiệm Nếu không thí nghiệm sẽ trở thành thí nghiệm biểu diễn mà trong đó chỉ có một số

em khá, giỏi phụ trách Nếu thí nghiệm phức tạp thì nên có sự phân công giữa các học sinh trong nhóm Có thể tiến hành loại bài thí nghiệm này theo phương pháp: minh họa - nghiên cứu

2.3.1.3 Các b ướ ự c l a ch n ph ọ ươ ng pháp s d ng thí nghi m ử ụ ệ

Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học và nội dung thí nghiệm được sử dụng

Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (của Bộ giáo dục đào tạo) để xác định mục tiêu dạy học Lưu ý mục tiêu dạy học phải được diễn đạt bằng các động từ hành động có thể lượng hóa, đánh giá được mức độ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng của HS, nghĩa là cần chỉ rõ các kiến thức, kĩ năng HS cần lĩnh hội ở các mức độ biết, hiểu, vận dụng, Mục tiêu được diễn đạt càng chi tiết, cụ thể sẽ định hướng các hoạt động dạy học

Bước 2: Xác định được các kiến thức, kĩ năng liên quan mà HS đã có.

Trang 7

GV cần xác định ở các lớp trước, các bài trước HS đã được học kiến thức cần lĩnh hội chưa (có thể được học rồi nhưng chỉ ở mức độ biết hoặc được giới thiệu) hay đã được học các kiến thức tương tự chưa, cách tiến hành TN có tương

tự TN nào mà HS đã biết không, hay đã được học lí thuyết chung nào liên quan đến kiến thức cần lĩnh hội,…

Bước 3: Lựa chọn phương pháp sử dụng TN phù hợp Trên cơ sở xác định mục tiêu, nội dung TN và kiến thức, kĩ năng đã có của HS, so với bản chất, nét đặc trưng của mỗi phương pháp sử dụng TN ở trên mà GV có sự lựa chọn phù hợp

2.3.1.4 Đánh giá năng l c th c hành thí nghi m sau m i ti t ự ự ệ ỗ ế

d y ạ

Đánh giá năng lực người học là một khâu then chốt trong dạy học Đối

với việc thực hành thí nghiệm, giáo viên cần tập trung vào các năng lực thực

nghiệm, bao gồm các kỹ năng: hình thành giả thuyết nghiên cứu; thiết kế thí nghiệm, thực hiện thí nghiệm, phân tích dữ liệu và rút ra kết luận.Việc này dễ dàng thực hiện được đối với các thí nghiệm trên lớp, bằng cách giáo viên lắng nghe các giả thuyết của học sinh (thông qua vấn đáp hoặc qua phiếu học tập), quan sát kĩ năng tiến hành thí nghiệm, và việc thảo luận kết quả thí nghiệm của học sinh Tuy nhiên, đối với các thí nghiệm thực tế được giao về nhà, việc đánh giá chủ yếu dựa vào kết quả học sinh thu thập được và các kết luận tương ứng được rút ra qua các thí nghiệm Bên cạnh đó, những thí nghiệm được tiến hành theo nhóm cần được giáo viên thiết kế phiếu đánh giá cụ thể để các thành viên trong nhóm tự đánh giá lẫn nhau về quá trình thực hiện, từ đó làm căn cứ để giáo viên đánh giá chung về năng lực hợp tác và năng lực thực hành của học sinh

Mẫu bản tường trình như sau: Giáo viên cho học sinh kẻ bảng và chia làm 5 cột:

Ngày ……tháng……năm…

BẢN TƯỜNG TRÌNH THÍ NGHIỆM

Bài thực hành số:

(Tên bài thực hành)

Họ tên:

Lớp:

ST

T

Tên thí

nghiệm

Dụng cụ-Hoá chất-Cách tiến hành

Hiện tượng-Giải thích-Viết PTPƯ (nếu có)

Ghi chú

1

2

Trang 8

Dây thép Khí O2

Cột thứ 3: Dụng cụ-Hoá chất-cách tiến hành: Giáo viên không yêu cầu

học sinh liệt kê dụng cụ gồm những gì, hoá chất gồm những gì, cách tiến hành như thế nào mà phải cụ thể hoá bằng hình vẽ Bởi nhìn vào hình vẽ giáo viên sẽ đọc được dung cụ , hoá chất gồm những gì và cách tiến hành ra sao

Cách làm này có ý nghĩa rất lớn: Học sinh phải nghiên cứu kĩ thí nghiệm mới có thể mã hoá dưới dạng hình vẽ Có như vậy học sinh sẽ thuộc được cách tiến hành thí nghiệm

- Giáo viên chia nhóm học sinh và cho mỗi nhóm thực hiện một vài thí nghiệm nhất định

- Cuối buổi thí nghiệm, giáo viên cho học sinh báo cáo thí nghiệm sau đó chiếu lên máy chiếu kết quả các thí nghiệm cho học sinh đối chiếu với phần biểu diễn thí nghiệm của mình Việc là này vừa tăng trí tò mò đối với học sinh vì học sinh luôn háo hức muốn biết xem là mình làm có đúng hay không, đồng thời các nhóm có thể nhận xét được phần làm của nhau Từ đó học sinh hoàn thiện báo cáo vào bản tường trình sẽ đạt kết quả cao hơn

2.3.2 Tổ chức thực hiện:

Trên cơ sở này tôi mạnh dạn đưa ra phương thức tổ chức thực hiện một buổi thực hành thí nghiệm để lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp tham khảo và góp ý

Ví dụ : Hướng dẫn học sinh làm thực hành thí nghiệm bài thực hành số 5: Tính chất của oxi, lưu huỳnh (Chương trình Hoá học 10 - cơ bản)

a) Sự chuẩn bị của học sinh: Bản tường trình thí nghiêm theo mẫu

ST

T

Tên thí

nghiệm

Dụng cụ-Hoá chất-Cách tiến hành

Hiện tượng-Giải thích-Viết PTPƯ (nếu có)

Ghi chú

1 Tính

oxihoa

của các

đơn chất

oxi và

lưu

huỳnh

a

Trang 9

Fe (bột)

Đèn Cồn

S (bột)

Khí O2

S (Bột)

Đèn Cồn

b)

2 Tính

khử của

lưu

huỳnh

3 Sự biến

đổi trạng

thái của

lưu

huỳnh

theo

nhiệt độ

b) Giáo án của giáo viên:

I Mục tiêu:

1) Kiến thức: Củng cố kiến thức về tính chất của oxi, lưu huỳnh

2) Kĩ năng: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hành thí nghiệm, quan

sát và giải thích hiện tượng, viết phương trình phản ứng

II.Chuẩn bị:

1) Giáo viên:

- Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, đèn cồn, giá để ống nghiệm, môi đồng,

thìa xúc hoá chất

- Hóa chất: Dây thép, than, lưu huỳnh (bột), khí oxi, bột sắt

Than

S (bột)

Trang 10

Dây thép

Than

2) Học sinh: Bản tường trình thí nghiệm

3) Phương pháp: Biểu diễn thí nghiệm theo nhóm

III.Tổ chức hoạt động dạy học:

Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

Hoạt đông 1:

Giáo viên nêu những yêu cầu buổi thí

nghiệm

Lưu ý cho học sinh những nguy hiểm

trong quá trình thực hiện

Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học

sinh:Bản tường trình thí nghiệm

Hoạt động 2:

Giáo viên chia thành 4 nhóm học sinh:

+ Nhóm 1,2: Làm thí nghiệm 1

+ Nhóm 3: Làm thí nghiệm 2

+ Nhóm 4: Làm thí nghiệm 4

GV: Yêu cầu các nhóm trình bày cách

tiến hành thí nghiệm

Hoạt động 3:

a)

GV:Hãy quan sát và giải thích hiện

tượng?

Viết PTPƯ, xác định số oxi hoá và vai

trò của oxi?

-Vì sao thu oxi phải còn 1 ít nước trong

ống nghiệm?

1.Thí nghiệm 1:Tính oxi hoá của

đơn chất oxi và lưu huỳnh a)

4 Fe + 3O2

o

t

→2Fe2O3

Fe: Chất khử

O2: Chất oxi hoá

b)

Fe + S→t o FeS Fe: Chất khử

Khí O 2

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w