Luật giáo dục ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành pháp lệnh Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh hội nhập Quốc tế Luật giáo dục ghi
rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Thực hiện hướng đi đó cùng với yêu cầu đổi mới về mọi mặt
để nâng cao chất lượng giáo dục trong trường THPT, vai trò định hướng của người thầy quyết định đến việc tiếp thu, nắm vững kiến thức của từng học sinh
Vì vậy người thầy cần có phương pháp đúng đắn, phù hợp với từng phân môn, từng bài dạy, từng đối tượng cụ thể để giúp học sinh đạt kết quả tốt nhất trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Trong bối cảnh đất nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có chất lượng trong cơ chế thị trường
và hội nhập quốc tế là vấn đề cần thiết Do đó mỗi người Thầy phải luôn trăn trở, tìm tòi sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học để phát triển tối đa năng lực học sinh Muốn vậy người giáo viên phải có lòng nhiệt tình, say mê nghề nghiệp và cần tìm hiểu lựa chọn những biện pháp hay để áp dụng cho từng bài dạy của mình
từ đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như: tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo hứng thú trong môn học… từ đó nâng cao chất lượng giờ học
Môn Ngữ văn luôn là một môn học có ý nghĩa xã hội rất quan trọng Vị trí của môn Văn trong nhà trường là giúp cho thế hệ trẻ thấy rằng: môn Văn là một nghệ thuật của cuộc sống, là quà tặng tinh thần, là kim chỉ nam của những tâm hồn đang lớn Vì thế, môn Ngữ văn có vai trò, vị trí rất quan trọng trong nhà trường nói chung và nhà trường trung học phổ thông nói riêng
Mặt khác, mỗi bài dạy môn Ngữ văn đều có vị trí, vai trò quan trọng của
nó song những văn bản thơ Trung đại đưa vào chương trình lại khá khó đối với học sinh, thậm chí giáo viên cũng không dễ tiếp cận, giải mã Vấn đề đặt ra như một thách thức với người giáo viên là tiến hành dạy kiểu bài này như thế nào? Tổ chức các hoạt động dạy học ra sao để đúng với mục đích, tính chất một giờ học văn học Trung đại
Trước thực trạng trên, qua quá trình giảng dạy tôi thiết nghĩ mình phải tìm
ra các giải pháp áp dụng cho từng bài dạy cụ thể là một việc làm cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Vì vậy, với kinh nghiệm giảng dạy của mình
tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến: Giải pháp nâng cao hiệu quả bài dạy “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão cho học sinh lớp 10 trường THPT Hàm Rồng - TP
Trang 2Thanh Hóa Hi vọng rằng đề tài sẽ góp một phần nhỏ cho việc đổi mới phương
pháp dạy học đem lại hiệu quả thiết thực cho bản thân và đồng nghiệp
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em giải pháp tìm hiểu bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão chúng tôi muốn nâng cao chất lượng bài giảng văn trong nhà trường THPT nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và sự hứng thú trong từng tiết học
- Góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực diễn đạt và cách thức tiếp cận văn bản văn học Trung đại của học sinh
- Giáo dục bồi dưỡng học sinh trau dồi đạo đức và tài năng để sống tốt, sống đẹp, sống có ý nghĩa
- Cung cấp những tri thức cơ bản về văn bản“Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy bài “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão cho học sinh lớp 10
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng trực tiếp nghiên cứu của tôi là văn bản “Tỏ Lòng” của Phạm Ngũ Lão
- Đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 10 ở 2 lớp tôi trực tiếp giảng dạy
là lớp 10C8 và 10C10 trường THPT Hàm Rồng TP Thanh Hóa, năm học 2020 -2021
1 4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp sau :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, tổng kết lí luận, thực tiễn
- Phương pháp rút kinh nghiệm: Là phương pháp đúc rút từ kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường để tìm
ra biện pháp, cách thức tối ưu
- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Tham khảo tài liệu, sách báo và các phương tiện thông tin mạng
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
Tình hình ngại học môn Ngữ văn đang diễn ra khá phổ biến trong học sinh
ở trường phổ thông: Kiến thức học xong vội quên, nhất là những kiến thức cơ bản cần phải ghi nhớ; trên lớp học sinh ngại thảo luận, tranh luận; một không khí buồn
tẻ bao bọc nhiều giờ Ngữ văn … Sự ngại học, coi nhẹ đó đã dẫn đến thực tế đáng buồn là kết quả thi tốt nghiệp, Đại học, Cao đẳng chưa cao Nguyên nhân do nhiều phía: Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp, sức thuyết phục của chương trình
Trang 3còn ở mức độ thấp, tâm lí đề cao khoa học tự nhiên thời đại số hoá của học sinh…
và còn nhiều lí do khác nữa được đưa ra để biện minh cho một thực tế yếu kém Song tôi thiết nghĩ mấu chốt vấn đề ở chỗ bản thân người giáo viên Ngữ văn cũng đang bị chi phối theo chính sự ngại học của học sinh, chưa tích cực tìm giải pháp nâng cao chất lượng giờ dạy, quá nặng nề đến việc trang bị kiến thức mà không thấy kiến thức ấy phải được tổ chức thế nào để giúp học sinh tiếp nhận một cách hứng thú
Xã hội báo động, nhiều nhà nghiên cứu lên tiếng, học sinh ngại học và những người thầy tâm huyết với nghề, quan ngại trước thực tế dạy- học Ngữ văn
đã thấy vấn đề: cần chú trọng hơn nữa việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn Ở đây chúng tôi nhấn mạnh đến vấn đề rất cụ thể: đổi mới cách dạy bài đọc -hiểu văn bản thơ của văn học Trung đại cho học sinh THPT
Văn học Trung đại là khái niệm chỉ nền văn học viết từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, với những phương thức nhận thức, phản ánh và đặc điểm nghệ thuật đặc thù Đặc biệt thơ trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn cực kì quan trọng trong lịch sử đất nước - giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam được xác lập, đi tới chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới chỗ suy vi Giai đoạn văn học này đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội dung, đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền thống cao đẹp của dân tộc Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho
tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam” (Phạm Văn Đồng) Đối với nhà trường THPT, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng
tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ, tình yêu thiên nhiên, con người, Tổ quốc, xác định lí tưởng sống cao đẹp cho học sinh thông qua những thành quả nổi bật của người xưa kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu
Để thực hiện tốt giờ đọc - hiểu văn bản thơ Trung đại theo tinh thần đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú của học sinh trong việc cảm nhận được giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, bản thân tôi đã không ngừng đổi mới về tư duy, nhận thức từ khâu soạn giáo án cho đến cách ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn Lập phiếu điều tra để nắm bắt tình hình học tập của học sinh, từ đó điều chỉnh cho phù hơp với thực tế nhà trường Rút kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp và bằng thực tế giảng dạy
của mình, tôi xin giới thiệu sáng kiến kinh nghiệm: Giải pháp nâng cao hiệu quả bài dạy “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão cho học sinh lớp 10 trường THPT Hàm Rồng- TP Thanh Hóa
2.2 Thực trạng của vấn đề
2.2.1 Thuận lợi
Trang 4- Về phía văn bản: “Tỏ lòng” (Phạm Ngũ Lão)
+ Đây là một bài thơ tiêu biểu của Phạm Ngũ Lão
+ Văn bản thuộc thể loại thơ Thất ngôn tứ tuyệt học sinh thường gặp trong chương trình Do vậy, học sinh phần nào đã hiểu được cách tiếp cận bài thơ
- Về phía học sinh: Học sinh đều được trang bị một phần kiến thức nhất
định về văn bản thơ và đọc - hiểu nhiều văn bản thơ trong chương trình
- Về phía giáo viên: Bản thân tôi luôn yêu thích, say mê, tâm huyết với
nghề Trong mỗi bài giảng văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung, tôi luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để có được những phương pháp dạy học đem lại hiệu quả cao cho học sinh
22.2 Khó khăn
Về văn bản: “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão là văn bản viết bằng chữ Hán, thuộc thời kỳ văn học trung đại, Chính vì vậy, học sinh thường mang tư tưởng học
để biết, ít có sự tìm tòi nghiên cứu sâu sắc
Từ thực trạng trên, để quá trình giảng dạy đạt hiệu quả hơn, tôi đã tìm tòi nghiên cứu, mạnh dạn đổi mới phương pháp Dạy - học văn bản “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão để tạo hứng thú trong quá trình học tập, khơi gợi tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện
Để việc đọc - hiểu văn bản “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão đạt hiệu quả Tôi xin nêu ra một số giải pháp sau:
2.3.1 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
Xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ với sự bùng nổ của thông tin khoa học, kĩ thuật và công nghệ, lượng kiến thức cần cập nhật ngày càng nhiều Do vậy, chúng ta cần phải dạy học sinh phương pháp học và chủ động lĩnh hội kiến thức Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Khi học sinh
có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học thì sẽ tạo cho các em lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi học sinh, kết quả học tập sẽ được nâng lên
Vấn đề phát triển ý thức tự học cho học sinh ở trường THPT là một quá trình liên tục từ việc tự học bài đã học trên lớp, tự học cả bài mới trước khi đến lớp, tự học cả trong tiết học có hướng dẫn của giáo viên
Vì vậy đối với mỗi văn bản đọc văn nói riêng, môn Ngữ văn nói chung, giáo viên cần hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà Cách soạn có thể theo trình tự SGK kết hợp với mục đích dạy học của người thầy, chất lượng giờ dạy sẽ được nâng lên
Trong mỗi tiết học về đọc văn, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh soạn bài theo các bước sau:
Bước 1: Yêu cầu học sinh chuẩn bị một quyển vở ghi chung cả phần soạn bài và
phần kiến thức học trên lớp
Trang 5Bước 2: Hướng dẫn cho học sinh cách soạn bài: chia đôi vở, phần bên trái (hoặc
bên phải) chuẩn bị bài soạn ở nhà theo câu hỏi sách giáo khoa (SGK), phần vở còn lại để bổ sung những thông tin cần thiết khi học trên lớp
Giảng văn - Tiết 34,35: Tỏ lòng (Thuật hoài) Phạm Ngũ Lão Phần soạn bài Phần ghi bổ sung Câu 1: Chỉ ra điểm khác nhau giữa câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán (qua phần dịch nghĩa) với câu thơ dịch Có gì đáng lưu ý về không gian, thời gian trong đó con người xuất hiện? Con người ở đây mang tư thế, vóc dáng như thế nào? Câu 2: Anh (chị) cảm nhận như thế nào về sức mạnh của quân đội nhà Trần qua câu thơ “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”? Câu 3: Nợ công danh mà tác giả nói tới trong bài thơ có thể hiểu theo nghĩa nào dưới đây: - Thể hiện chí làm trai theo tinh thần Nho giáo: lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm) - Chưa hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước - Cả hai nghĩa trên Câu 4: Phân tích ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong hai câu thơ cuối Câu 5: Qua những lời tỏ lòng, anh (chị) thấy hình ảnh trang nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý gì đối với tuổi trẻ hôm nay và ngày mai?
Cách làm này có nhiều ưu điểm: Học sinh đã nắm được phần nào nội dung
cơ bản của bài học mới, tiết kiệm thời gian trên lớp bằng việc chỉ bổ sung những
Trang 6kiến thức cần thiết từ phía giáo viên và bạn bè, cùng một lúc kết hợp cả kiến thức
ở nhà với kiến thức trên lớp, tiện ích cho việc học bài mới hay bài cũ, phát huy được tính tự học, tính tích cực của học sinh
2 3 2 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản theo hướng sáng tạo
Trước khi tìm hiểu văn bản bao giờ giáo viên cũng cho học sinh đọc một lần nhưng chỉ với mức độ yêu cầu đơn giản: rõ ràng lưu loát là đủ Trong quá trình nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta nhận thấy bản thân việc đọc có nhiều cấp độ: cấp độ thứ nhất là đọc thông thường (đọc trôi chảy không vấp về ngữ âm, ngữ nghĩa, biết ngừng giọng đúng chỗ) Cấp độ thứ hai là đọc kĩ, đọc sâu, biết đọc các hành văn, sắp xếp ý, dụng ý trong dùng từ, ngắt câu Cấp độ thứ ba là đọc - hiểu được thông điệp mà văn bản gửi đến người đọc Nhưng quan trọng hơn là đọc văn còn là để cảm, để thưởng thức để tự phát triển bản thân Trong quá trình đọc, học sinh phải tìm được ý nghĩa mà tác giả thể hiện kín đáo trong văn bản, tiến thêm một bước là tìm thấy điều mà người đọc trước chưa thấy,
đó mới thực sự là đọc sáng tạo Do đó, cần rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc theo từng cấp độ nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp thì mới
có kết quả
Từ việc nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của khâu đọc văn bản, chúng ta cần giúp học sinh đọc hiểu văn bản bản “Tỏ lòng” (Phạm Ngũ Lão) theo đúng đặc trưng thể loại, nhận thấy được tính chất giáo dục của nó để có những định hướng tốt cho bản thân và xã hội
*Yêu cầu chung
- Cần định hướng ngay từ đầu cho học sinh về việc tìm hiểu văn bản “Tỏ lòng” (Phạm Ngũ Lão) cần tìm hiểu một cách chi tiết nội dung và nghệ thuật của tác phẩm vì đây là tiết đọc - hiểu văn bản quan trọng trong chương trình
- Trong phần tiểu dẫn học sinh phải nắm được những nét chính về tác giả
và văn bản (vị trí, hoàn cảnh sáng tác, nhan đề, đề tài, bố cục)
- Học sinh không chỉ đọc đúng từ ngữ, giọng điệu mà còn phải làm toát lên được cảm xúc, tâm tư tình cảm của tác giả thể hiện qua văn bản, phải nghiền ngẫm để bước đầu nắm được ý nghĩa của văn bản
* Yêu cầu cụ thể
Bước 1: Tạo tâm thế, tình huống cho học sinh ngay từ lời dẫn vào bài mới
Ví dụ : Giáo viên có thể dẫn vào bài mới như sau:
Thơ văn thời Trần là tiếng nói của những anh hùng - những thi sĩ dạt dào
cảm hứng yêu nước, phản ánh “Hào khí Đông A” Một “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn sục sôi căm hận, một Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải hừng hực khí thế đổi mới; một Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu hào hùng, bi tráng và hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu thêm bài thơ “Tỏ lòng”(Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão - Đây là lời bày tỏ tiếng nói sâu thẳm trong cõi lòng của
một danh tướng và vẻ đẹp của trang nam nhi và thời đại nhà Trần
Trang 7Bước 2: Hướng dẫn học sinh đọc - tìm hiểu chung về văn bản
Các bước tiến hành:
Câu hỏi 1: Hãy trình bày những
nét cơ bản về tác giả?
- GV gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn
SGK trang 115
Câu hỏi 2: Bài thơ ra đời trong
hoàn cảnh nào?
- Dự đoán khoảng cuối năm 1284
Khi PNL tham gia đánh quân
Nguyên- Mông lần thứ 2 Ta biết
rằng quân Nguyên - Mông là đế
quốc hùng mạnh, hung hãn nhất thời
Trung đại, chúng đi đến đâu là gieo
rắc chết chóc cho mọi sinh linh đến
đó “Vó ngựa quân Nguyên - Mông
đi đến đâu, cỏ không mọc được đến
đó Chiến thắng quân Nguyên
-Mông là nhờ sức mạnh đoàn kết của
cả dân tộc và những người tướng tài
như PNL
Câu hỏi 3: Nêu ý nghĩa nhan đề
của bài thơ?
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Phạm Ngũ Lão (1255-1320), người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (Ân Thi-Hưng Yên)
- Là một danh tướng kiệt xuất thời đại nhà Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (giữ chức Điện Súy, được phong tước Quan nội hầu)
- Là người văn võ toàn tài (Lúc ông qua đời, vua Trần Minh Tông ra lệnh nghỉ triều 5 ngày tỏ lòng thương nhớ (nghi lễ Quốc gia)
- Sáng tác còn lại: 2 tác phẩm:
+ Tỏ lòng (Thuật hoài) + Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Vãn Thượng tướng quốc
công Hưng Đạo Đại Vương)
2 Tác phẩm
- Hoàn cảnh: Trong không khí quyết
chiến, quyết thắng của vua tôi nhà Trần chống giặc Nguyên - Mông lần thứ hai
- Nhan đề và đề tài:
+ Nhan đề: Thuật hoài (Thuật: tả, kể;
hoài: Tâm sự, nỗi lòng) - > bày tỏ tình
Trang 8Câu hỏi 4: Em có nhận xét gì về đề
tài của bài thơ?
Đề tài quen thuộc trong văn học
trung đại: Ngôn hoài (Dương Không
Lộ); Cảm hoài (Đặng Dung) Là loại
thơ “nói chí tỏ lòng”, qua thơ mà
bày tỏ và nói lên nỗi lòng cùng chí
hướng của người viết
Câu hỏi 5: ? Nên chia bố cục bài
thơ như thể nào?
cảm, suy nghĩ, khát vọng, hoài bão trong lòng
+ Đề tài: Thơ tỏ chí “thi dĩ ngôn chí” - loại
thơ trữ tình phổ biến thời trung đại
- Bố cục: 2 phần.
- Hai câu đầu: Hình tượng người anh hùng
và quân đội thời Trần
- Hai câu sau: Chí làm trai - tâm tình của
tác giả
2 3 3 Phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học
Theo chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, SGK Ngữ văn THPT biên soạn trên nguyên tắc dạy học tích hợp và phát huy tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập Như vậy trong quá trình dạy học, giáo viên phải lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò định hướng học sinh chiếm lĩnh các đơn vị kiến thức Để giờ dạy trên lớp thực sự có hiệu quả, trước hết giáo viên gợi cho học sinh có thể vận dụng những hiểu biết, những kiến thức đã được trang bị làm cơ sở cần thiết trong việc tìm hiểu tác phẩm Thứ hai, là sử dụng phương pháp đàm thoại, nêu câu hỏi có tính chất gợi mở, đặt học sinh vào các tình huống
có vấn đề để phát huy tính sáng tạo và khả năng phát hiện của học sinh vừa nhằm phát triển năng lực tư duy, vừa tạo hứng thú trong học tập cho học sinh Thứ ba, cần có sự liên hệ giữa bài học với thực tế để học sinh thấy được vai trò quan trọng của nó đối với cuộc sống
Giáo viên tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức thông qua việc tăng cường kết hợp hình thức học tập cá thể với học tập hợp tác
Tùy từng đơn vị kiến thức và mục đích dạy học, giáo viên tổ chức học sinh hoạt động độc lập hay hoạt động hợp tác (theo tổ, nhóm) Hoạt động độc lập giúp học sinh được bộc lộ, khẳng định ý kiến, qua đó người đọc nâng mình lên một trình độ mới Hoạt động hợp tác (mỗi tổ, nhóm từ 8 đến 10 người) làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Với các hoạt động này giúp học sinh quen dần với sự phân công hợp tác trong hoạt động xã hội
*Yêu cầu chung
Trang 9- Với tinh thần “lấy học sinh làm trung tâm”, người thầy đóng vai trò tổ chức cho học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức đồng thời tạo không khí học tập sôi nổi, thoải mái, khơi dậy tính tích cực chủ động học tập của học sinh trong quá trình đọc - hiểu văn bản
- Tổ chức hệ thống câu hỏi đi từ nhận biết đến vận dụng mức độ cao, vừa đảm bảo kiểm tra được kiến thức cơ bản vừa kích thích được tính sáng tạo và khả năng độc lập suy nghĩ của học sinh
* Yêu cầu cụ thể
Các bước tiến hành
Đây là một văn bản thơ thuộc thời kì văn học Trung đại, vì vậy ta có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản theo bố cục từng phần Dựa theo hệ thống câu hỏi cho học sinh thảo luận và trả lời
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
Nhóm 1
Câu hỏi 1:
- Câu thơ đầu hình tượng người
anh hùng hiện lên với tư thế và
hành động như thế nào?
Câu hỏi 2:
- So sánh phần phiên âm với phần
dịch thơ? (từ “hoành sóc”dịch
thành “múa giáo”)
Câu hỏi 3:
- Con người xuất hiện trong bối
cảnh không gian và thời gian như
thế nào?Họ mang tầm vóc ra sao?
II/ Đọc- hiểu văn bản
1 Hình tượng người anh hùng và quân đội nhà Trần (2 câu đầu):
Câu 1 : Múa giáo non sông trải mấy thu
- Hình ảnh người anh hùng
+Tư thế, hành động: Hoành sóc (thế tĩnh
của con người chủ động, hiên ngang): Cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ đất
nước -> con người hiện lên với tư thế
hiên ngang, vững vàng, oai phong, lẫm liệt
+ So sánh câu đầu trong nguyên tác chữ
Hán và câu dịch ta thấy từ múa giáo biến
thế tĩnh thành động, chủ yếu thiên về biểu diễn những động tác thuần thục, điêu luyện nhưng thiếu sự cứng rắn, mạnh mẽ, mất đi tư thế hiên ngang, dũng liệt của
người tráng sĩ thuở “bình Nguyên” chưa
thể hiện được hết ý nghĩa của 2 từ hoành sóc
+ Không gian: Non sông (giang sơn, tổ
quốc) - không gian rộng lớn, kì vĩ, mở ra theo chiều rộng của non sông Ngọn giáo được đo bằng chiều dài của non sông, người cầm giáo mang tầm vóc vũ trụ Tạo dáng đứng cho người dân đất Việt
Trang 10Câu hỏi 4:
Nhận xét chung về tầm vóc của
người anh hùng trong câu thứ
nhất?
Chuyển ý: Từ hình ảnh một tráng
sĩ tác giả đã khái quát thành sức
mạnh của ba quân nhà Trần trong
câu thơ thứ 2
Nhóm 2
Câu hỏi 5:
Hình ảnh “ba quân” có ý nghĩa gì?
Câu hỏi 6:
- Câu thơ thứ 2 sử dụng thủ pháp
nghệ thuật gì?Hiệu quả?
Câu hỏi 7:
- Câu thơ thứ 2 có mấy cách hiểu ?
Cách hiểu thứ nhất khắc họa khí thế
dũng mãnh của quân đội nhà Trần
còn cách hiểu thứ 2 vừa gợi hào khí
xung thiên trời đất, vừa gợi tầm vóc
kì vĩ, sánh ngang vũ trụ
+ Thời gian: Mấy thu (Đã bao mùa thu,
đã mấy năm) - thời gian lịch sử dài lâu -> Hình ảnh người dũng tướng xuất hiện với tư thế hiên ngang, bất khuất, chiến đấu trong suốt chiều dài lịch sử để bảo vệ non sông mà không hề mảy may mệt mỏi
Tư thế ấy mang tầm vóc lớn lao, kì vĩ, sánh ngang cùng vũ trụ, mang tầm vóc sử thi
Câu 2: Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
- Hình ảnh ba quân: quân đội nhà Trần
nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sức mạnh, tinh thần của cả dân tộc Nghĩa hẹp: ba đạo quân (tiền quân, trung quân, hậu quân - 3 đội quân hùng hậu, tinh nhuệ nhất Nghĩa rộng: chỉ toàn thể quân dân nhà Trần
-> tượng trưng cho sức mạnh tinh thần dân tộc)
+ Thủ pháp so sánh, phóng đại “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” (ba quân như hổ báo khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu) đã phản ánh sức mạnh vô địch, phi thường, vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất của ba quân vừa khái quát hoá sức mạnh tinh thần của dân tộc
(Tì hổ (sức mạnh như hổ báo) câu thơ dịch là khí mạnh -> mất đi hình ảnh so
sánh, diễn tả sự hùng dũng của 3 quân) + Có 2 cách hiểu câu thơ thứ hai
Cách 1: Ba quân như hổ báo, khí thế
hùng dũng nuốt trôi trâu
Cách 2: (Khí thế) ba quân như hổ báo, át
cả sao Ngưu
Dù hiểu như thế nào ta cũng thấy được sức mạnh, sự hào hùng, khí thế tiến công