Phương pháp dạy học theo khuynh hướng đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới phương pháp dạy học cho học sinh, và một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm nổi bật đó là phương pháp khai thá
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết 29-NQ/TW được Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI thông qua ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ
mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [5].
Để thực hiện được mục tiêu đó, yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục hiện nay trong giảng dạy là phải chuyển từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh, theo đó người học khi tốt nghiệp ra trường có đủ năng lực, nắm vững kiến thức và kĩ năng nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội cũng như thị trường lao động hiện nay
Như vậy khi thực hiện mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực thì đòi hỏi phải có các phương pháp dạy học phù hợp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cử học sinh để có thể đo lường được mục tiêu giảng dạy
Về kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, Nghị quyết 29-NQ/TW cũng đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; phản ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh” [5]
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, lấy học sinh làm trung tâm là một yêu cầu tất yếu đang được các cấp quản lý và các đơn vị giáo dục đặc biệt quan tâm Phương pháp dạy học theo khuynh hướng đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới phương pháp dạy học cho học sinh, và một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm nổi bật đó là phương pháp khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc
tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra những
cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh, thời gian đào tạo thì có hạn Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày
Trang 2càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời Kênh hình trong SGK Địa lí THPT nói chung bao gồm các bản đồ, lược
đồ, biểu đồ, sơ đồ và các hình ảnh Bản thân các kênh hình đó không chỉ có tác dụng minh hoạ làm cho sách sinh động hơn, trực quan hơn, mà nó còn nhằm tái tạo, bổ sung, khắc sâu nội dung cho kênh chữ, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn Ngoài ra, kênh hình còn là một trong những phương tiện quan trọng nhằm tạo biểu tượng, phát huy tính tích cực,chủ động của học sinh trong học tập, nó là một kênh khai thác kiến thức Địa lí rất hữu ích
Tuy nhiên, thực tế giảng dạy ở trường THPT qua nhiều năm cho tôi thấy hầu hết giáo viên đã có hướng khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa vào dạy học Địa lí, nhưng hiệu quả nhìn chung còn nhiều hạn chế Giáo viên chưa khai thác hết kiến thức tiềm ẩn trong các kênh hình đó Chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong 1 tiết giảng dạy còn hạn chế
Mặt khác, do điều kiện thực tế của Nhà trường hiện nay đã đáp ứng khá tốt về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học giáo viên cần cập nhật đầy đủ hình ảnh và kênh hình có thể trình chiếu để hướng dẫn học sinh khai thác tốt hơn
và sâu hơn để học sinh có cách học tư duy và sáng tạo
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy và khắc phục những khó khăn và hạn chế trong dạy học hiện tại, bản thân tôi đã nghiên cứu rút ra kinh nhiệm cho bản thân để đi đến ứng dụng cho tất cả giáo viên Địa lí trong Trường có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn
Thực tế, qua một năm triển khai đề tài cho các giáo viên trong bộ môn địa lí ở trường chúng tôi đã đạt được hiệu quả nhất định Việc vận dụng đề tài vào dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả cũng như khắc phục được những khó khăn chung của Nhà trường khi mà thiết bị
dạy học còn hạn chế.Từ đó tôi mạnh dạn viết đề tài: “Kinh nghiệm sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 11 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Địa lí ở trường trung học phổ thông Quảng Xương 4”
2 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn để từ đó hướng dẫn học sinh khai thác có hiệu quả kênh hình trong học tập Địa lí 11, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới theo mục tiêu mà Nghị quyết 29-NQ/TW đã đề ra
3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 3Các kinh nghiệm, biện pháp khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 11 nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập Địa lí tại trường trung học phổ thông Quảng Xương 4
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp quan sát, đánh giá thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, nắm bắt thông tin
- Phương pháp thống kê toán học
B.PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận trong khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí
1 Cơ sở lí luận trong khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí
Chương trình Địa lí 11 gồm hai phần chính là Khái quát nền kinh tế
-xã hội thế giới và phần Địa lí khu vực và quốc gia Sách giáo khoa Địa lí 11 được tập thể các tác giả biên soạn một cách công phu với hệ thống kênh hình phong phú và tiêu biểu, nó đảm bảo tỉ lệ hợp lý giữa kênh chữ và kênh hình Nội dung kênh hình phong phú, đa dạng nên học sinh đã có nhiều hứng thú hơn khi học bộ môn này
Hệ thống kênh hình SGK Địa lí 11 có thể khái quát thành các nhóm gồm có:
- Hệ thống bản đồ, lược đồ: 30 cái, chủ yếu ở phần Địa lí các quốc gia, một số khu vực trên thế giới Hệ thống bản đồ gồm có bản đồ tự nhiên, bản đồ dân cư và cả bản đồ kinh tế - xã hội của các nước, châu lục
- Biểu đồ Địa lí cũng đầy đủ các dạng nhưng tập trung chủ yếu là biểu
đồ tròn, cột, miền với 10 biểu đồ; thể hiện cơ cấu, sự chuyển dịch cơ cấu và
so sánh sự phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội của các nước
- Hệ thống tranh ảnh nhiều hơn cả với 33 tranh ảnh; đây là những hình ảnh rất sinh động, thể hiện được những đặc trưng cả về tự nhiên, dân cư, kinh
tế của các nước và khu vực
- So với chương trình Địa lí lớp 10 thì chương trình Địa lí 11 ít sơ đồ hơn nhiều chỉ với 7 sơ đồ Sơ đồ cũng gồm nhiều loại như sơ đồ cấu trúc, sơ
đồ lôgic và sơ đồ địa đồ học
Ngoài ra, sách giáo khoa Địa lí 11 gồm có rất nhiều bảng số liệu thống
kê và các bảng kiến thức Bảng số liệu thống kê, bảng kiến thức bản thân nó vừa là kênh chữ, vừa là kênh hình chứa đựng nhiều kiến thức Địa lí, đặc biệt
Trang 4là các bảng số liệu thống kê, nó cũng là một dạng kiến thức tương tự các biểu
đồ Địa lí
Như vậy, hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 11 có nhiều nhóm khác nhau gồm nhóm bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh và các bảng
số liệu Đề tài tập trung vào các phương pháp khai thác hiệu quả hệ thống bản
đồ, lược đồ, biểu đồ và tranh ảnh để đạt hiệu quả cao trong dạy học Địa lí 11
2 Vai trò của kênh hình trong SGK Địa lí
Kênh hình góp phần hỗ trợ việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của kiến thức, tạo điều kiện cần kiện cần thiết cho học sinh thực hành
để rèn luyện các kĩ năng
Kênh hình giúp đổi mới phương pháp dạy học,đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Giúp cho giáo viên hướng dẫn học sinh học kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng
Ngoài ra còn giúp giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kĩ năng và làm cho kênh h́nh trong dạy học trở nên phong phú đa dạng
3 Một số yêu cầu khi sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí
Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả đáp ứng các yêu cầu về nội dung và phương pháp được qui định trong chương trình giáo dục
Khai thác kênh hình phải nắm vững được các phương khai thác kiến thức, các phương pháp khai thác đối với từng kênh hình
Cần biết phân tích, so sánh đối chiếu các thông tin trên từng kênh hình như so sánh các số liệu, các biểu đồ
Thông qua khai thác kênh hình cần phải rút ra được kết luận cần thiết phù hợp với nội dung bài học
II THỰC TRẠNG HỌC SINH SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG HỌC TẬP ĐỊA LÍ
11 TẠI TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4
Kênh hình trong SGK Địa lí THPT nói chung bao gồm các bản đồ, lược đồ, biểu đồ, sơ đồ và các hình ảnh Bản thân các kênh hình đó không chỉ có tác dụng minh hoạ làm cho sách sinh động hơn, trực quan hơn, mà nó còn nhằm tái tạo, bổ sung, khắc sâu nội dung cho kênh chữ, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn Ngoài ra, kênh hình còn là một trong những phương tiện quan trọng nhằm tạo biểu tượng, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, nó là một kênh khai thác kiến thức Địa lí rất hữu ích
Tuy nhiên, thực tế giảng dạy ở trường THPT qua nhiều năm cho tôi thấy hầu hết giáo viên đã có hướng khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa vào dạy học Địa lí, nhưng hiệu quả nhìn chung còn nhiều hạn chế Giáo viên chưa khai thác hết kiến thức tiềm ẩn trong các kênh hình đó Chính vì vậy mà khả năng đạt hiệu quả cao trong 1 tiết giảng dạy còn hạn chế
Trang 5III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1.Những yêu cầu cần thiết để học sinh sử dụng hiệu quả kênh hình trong học tập địa lí lớp 11
Như chúng ta đã biết kênh hình vừa có chức năng minh họa vừa có chức năng nguồn tri thức, nên trong dạy học Địa lí giáo viên cần phát huy tối
đa các chức năng của kênh hình, giáo viên có thể sử dụng theo 2 cách sau:
Thứ nhất, sử dụng kênh hình để minh họa hoặc giảng giải nội dung bài
học: Khi giáo viên dạy bài mới, đến phần nội dung kiến thức cơ bản ngoài phần nội dung của kênh chữ trình bày, giáo viên xác định trên bản đồ, biểu
đồ, tranh ảnh… để học sinh thấy rõ sự phân bố của các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ nhân quả đia lí
Ví dụ: Khi dạy bài 6 Địa lí 11: Hợp chúng quốc Hoa Kì, tiết 1 Tự nhiên
và dân cư, ở mục I – Lãnh thổ và vị trí Địa lí: Khi trình bày lãnh thổ rộng lớn gồm 3 bộ phận GV cần khai thác hình 6.1 trang 37 để xác định cho học sinh 3 vùng lãnh thổ đó Tuy nhiên, hình 6.1 chưa thể hiện rõ do đó chúng ta yêu cầu học sinh sử dụng bản đồ các nước trên thế giới (trang 4 và 5) sẽ thấy rất rõ 3
bộ phận này, từ đó học sinh rút ra được 3 bộ phận này nằm tách biệt nhau
Thứ hai, Giáo viên sử dụng kênh hình như một cơ sở để học sinh tìm
tòi, khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Bằng cách đó, giáo viên hình thành và rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc lược đồ, bản đồ, phân tích biểu đồ và tranh ảnh
2 Những phương pháp cụ thể
2.1 Khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ
Sách giáo khoa Địa lí 11 gồm có 29 bản đồ trong 12 bài và một bản các nước trên thế giới ở trang 4 và 5 Đây là loại thông tin rất trực quan mô tả về
vị trí của lãnh thổ, các điều kiện tự nhiên và sự phân bố dân cư, kinh tế của mỗi đơn vị lãnh thổ
Nói về kênh hình SGK thì bản đồ như một người “anh cả” có vai trò và
ý nghĩa quan trọng trong dạy và học Trước hết vì nó là kiến thức được “lý giải” bằng đường nét cụ thể nhất và được ví như SGK thứ hai trong tay người học và người dạy Các bản đồ, lược đồ SGK giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tự học, tự tìm tòi nghiên cứu
Để khai thác hiệu quả bản đồ, lược đồ trước tiên giáo viên phải nắm vững kiến thức và kỹ năng về bản đồ như xác định phương hướng, hiểu hệ thống kí hiệu của bản đồ thông qua bảng chú giải và màu sắt Đó là những kiến thức cơ bản để giáo viên và học sinh tiếp cận với bản đồ
Kỹ năng bắt nguồn từ tri thức nên muốn dạy cho học sinh các kỹ năng đọc, hiểu và vận dụng bản đồ thì phải dạy các kiến thức tối thiểu về bản đồ Tri thức giúp học sinh giải mã các kí hiệu bản đồ và xác lập các mối quan hệ
Trang 6giữa chúng Từ đó học sinh phát hiện các kiến thức Địa lí mới ẩn chứa trong bản đồ, lược đồ
Giáo viên phải nắm các bước đọc bản đồ, quan sát phân tích để rút ra các nhận xét về các đối tượng, sự vật và các hiện tượng Địa lí sâu sắc hơn Để
sử dụng hiệu quả nó có các bước sau:
Bước 1: Cần xác định rõ mục đích sử dụng, khai thác lược đồ, bản đồ là
gì, từ đó sẽ đưa ra được cách sử dụng hợp lý
Bước 2: Giáo viên cần hiểu rõ những kiến thức Địa lí được thể hiện trên lược đồ, bản đồ như: Tên bản đồ, chú giải, ký hiệu, quy ước, màu sắc,…
Bước 3: Xác định được thời điểm hợp lý để tiến hành khai thác, sử dụng bản đồ, lược đồ trong tiến trình bài dạy Chúng ta biết rằng trong sách giáo khoa Địa lí không phải lúc nào kênh chữ và kênh hình cũng khớp nhau nghĩa là có thể phần kênh chữ ở trang này nhưng bản đồ vì chiếm diện tích lớn nên tác giả lại bố trí ở trang sau Hoặc là một bản đồ có thể dùng cho nhiều mục đích khác nhau Do đó, xác định được thời điểm để khai thác đóng một vai trò rất quan trọng
Ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Dạy bài 1, mục I: Sự phân chia các nhóm nước Giáo viên giúp học
sinh khai thác hình 1 với hệ thống câu hỏi như sau:
- Quan sát hình 1 hãy nhận xét sự phân bố các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới theo mức GDP bình quân đầu người? Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát chú giải phía dưới: GDP/người chia làm 4 mức và dựa vào màu sắc để đối chiếu với bản đồ, từ đó tìm ra kiến thức
- Học sinh quan sát và rút ra được:
+ Những nước có mức GDP/người cao (những nước phát triển) phân bố
ở Bắc Mĩ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Liên Bang Nga
+ Những nước có mức GDP/người thấp (những nước đang phát triển) phân bố chủ yếu ở Châu Phi, Châu Á, một số nước ở Mĩ La tinh
Ví dụ 2: Bài 5
Tiết 1, mục I: Một số vấn đề về tự nhiên (Châu Phi)
Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi như sau: Quan sát hình 5.1 hãy
- Xác định vị trí Địa lí của Châu Phi (tiếp giáp những biển, đại dương nào, châu lục nào)
- Xác định đường xích đạo, chí tuyến qua Châu Phi
Từ những hình dạng lãnh thổ, vị trí đường xích đạo chạy ngang cùng với hai đường chí tuyến Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 5.2 về hoang mạc Xa-ha-ra để giúp học sinh trả lời được câu hỏi SGK: Dựa vào hình 5.1 và hiểu biết của bản thân, cho biết đặc điểm khí hậu, cảnh quan của Châu Phi
Trang 7Qua ví dụ này ta thấy, nếu để học sinh quan sát hình 5.1 thì chưa đủ để rút ra đặc điểm khí hậu, cảnh quan vì trên bản đồ không có chú giải về các đới, các kiểu khí hậu của Châu Phi
Tiết 2: Khu vực Mĩ La tinh
Với bản đồ hình 5.3 giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh xem chú giải
sẽ rút ra được cảnh quan chính và các loại tài nguyên của Mĩ La tinh
- Với bản đồ tự nhiên: Luôn trình bày ở phần đầu mỗi quốc gia (trừ Liên
minh Châu Âu - EU và ÔXtrâylia) Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác các bản đồ tự nhiên theo hệ thống câu hỏi như sau:
+ Để xác định vị trí Địa lí của quốc gia, khu vực giáo viên cho học sinh trả lời các câu hỏi: Phạm vi tiếp giáp của quốc gia, khu vực đó: Phía Bắc, phía Nam, Phía Tây, phía Đông giáp những nước, biển hay đại dương nào? Giáo viên gợi ý cho học sinh quan sát hệ thống kinh vĩ tuyến rút ra tọa độ Địa lí của quốc gia, khu vực cần tìm hiểu Từ đó rút ra ý nghĩa của vị trí Địa lí đối với phát triển kinh tế của quốc gia, khu vực đó
+ Để tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên giáo viên phải hướng dẫn học sinh quan sát chú giải xem có những loại tài nguyên nào, chú
ý đến tài nguyên khoáng sản, rừng, đất, nước Hầu hết các quốc gia trong chương trình Địa lí 11 đều là các quốc gia có lãnh thổ rộng lớn nên thiên nhiên phân hóa đa dạng Giáo viên phải xác định cho học sinh các ranh giới phân chia các vùng, miền của mỗi quốc gia: Hoa Kì (phần trung tâm Bắc Mĩ) chia thành 3 vùng là phía tây, vùng trung tâm và phía đông, ranh giới của các vùng này là dãy Coóc-đi-e ở phía tây và A-pa-lat ở phía đông; Liên Bang Nga lãnh thổ rộng lớn địa hình chia làm 2 phần rõ rệt mà ranh giới là sông Ê-nit-xây; Trung quốc cũng chia làm 2 miền đông và tây với ranh giới là kinh tuyến
1050Đ; Khu vực Đông Nam Á thì chia làm 2 bộ phận là Đông Nam Á lục địa
và Đông Nam Á biển đảo
Để khai thác hiệu quả kênh hình trong các nội dung trên giáo viên nên xây dựng các phiếu học tập để học sinh so sánh giữa các vùng, miền về đặc điểm khí hậu, địa hình, các loại tài nguyên đất, khoáng sản
- Với các bản đồ dân cư: chủ yếu trình bày về sự phân bố dân cư của mỗi
nước, mỗi khu vực Khai thác hiệu quả các bản đồ này theo hướng như sau: cho học sinh quan sát các mức phân chia mật độ dân số của quốc gia, khu vực
đó Sau đó yêu cầu học sinh xác định các vùng có mật độ dân số đông, mật độ dân số thưa, vì sao dân số lại phân bố như vậy? Giáo viên có thể gợi ý dựa vào điều kiện tự nhiên, lịch sử, điều kiện kinh tế-xã hội để giải thích, từ đó rút
ra thuận lợi, khó khăn gì đối với phát triển kinh tế
- Với các bản đồ về kinh tế: thể hiện sự phân bố theo không gian các ngành
nông nghiệp, công nghiệp Để khai thác các bản đồ này, giáo viên hướng dẫn
Trang 8học sinh quan sát các kí hiệu (tượng hình) và màu sắc trên bản đồ nông nghiệp và các vòng tròn thể hiện các trung tâm công nghiệp để xác định được
cơ cấu ngành nông nghiệp, công nghiệp của mỗi quốc gia, sự phân bố sản xuất của các ngành Dựa vào kiến thức đã học (về tự nhiên, dân cư) để giải thích nguyên nhân sự phân bố đó
Ví dụ: Hình 10.8 và 10.9 về sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp, nông nghiệp Trung Quốc, giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi:
+ Dựa vào hình 10.8 hãy xác định các trung tâm công nghiệp có quy
mô rất lớn và lớn? Cơ cấu ngành của mỗi trung tâm? Các trung tâm công nghiệp phân bố củ yếu ở miền nào? Tại sao có sự phân hóa rõ rệt giữa miền Đông với miền Tây như vậy?
+ Dựa vào hình 10.9 hãy trình bàu các vùng nông nghiệp chính của Trung Quốc? Vì sao có sự khác biệt lớn trong phân bố nông nghiệp giữa miền Đông và miền Tây?
Như vậy hệ thống bản đồ trong Địa lí 11 có những đặc điểm giống nhau về cách trình bày về các quốc gia, giáo viên cần khai thác tốt từng bản
đồ ở mỗi bài, đặc biệt là các bản đồ bắt đầu từ các quốc gia đầu tiên như Hoa
Kì, LB Nga từ đó giáo viên sẽ tạo được thói quen và trình tự khai thác bản đồ khi học về các nước sau như Nhật Bản, Trung Quôc, khu vực Đông Nam Á và Ôxtrâylia
2.2 Khai thác kiến thức từ các biểu đồ
Địa lí 11 có chỉ có 10 biểu đồ trong đó nhiều nhất là biều đồ cột gồm biểu đồ (cột đơn, cột gộp nhóm, thanh ngang dạng tháp tuổi ), biểu đồ tròn, biểu đồ miền Đây là các dạng biểu đồ quen thuộc của chương trình Địa lí THPT, mỗi loại biểu đồ có chức năng thể hiện nhưng do đặc tính riêng của mình mỗi loại biểu đồ có khả năng biểu hiện một đặc điểm nào đó của đối tượng như:
Biều đồ cột có nhiều ưu điểm trong việc thể hiện so sánh các sự vật, hiện tượng, biểu hiện số lượng, tình hình phát triển của sự vật, hiện tượng
Với biểu đồ tròn thể hiện rõ về quy mô và cơ cấu của sự vật hiện tượng
Để thể hiện tốt nhất sự chuyển dịch cơ cấu thì biểu đồ miền là dạng biểu đồ tối ưu
Dù dưới dạng biểu đồ nào thì giáo viên cũng cần tập trung vào việc giúp học sinh rút ra được những kiến thức chứa đựng trong biểu đồ Từ đó hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng biểu đồ cũng như cách xây dựng các biều đồ đó
- Để khai thác tốt các kiến thức từ các biểu đồ cần lưu ý:
+ Nhận xét biểu đồ từ cái tổng quát đến cụ thể
+ Nhận xét phải có số liệu chứng minh (kèm theo năm)
Trang 9+ Có thể tính số lần tăng (số sau chia số trước) hoặc số lần giảm (trước chia sau) hoặc giá trị tăng (sau trừ trước) hoặc giá trị giảm (trước trừ sau) để đưa
ra nhận xét được rõ ràng
+ Cần chú ý đến các giá trị tăng hay giảm đột ngột và dựa vào các mốc thời gian để giải thích sự thay đổi đó
+ Nhận xét thường đi kèm với giải thích nguyên nhân, do đó giáo viên phải định hướng cho học sinh dựa vào những kiến thức nào, những hiểu biết của bản thân như thế nào để giải thích được
Ví dụ 1: Dựa vào hình 5.4 hãy nhận xét tốc độ tăng trưởng GDP của Mĩ La
tinh trong giai đoạn 1985-2004
Đây là biểu đồ cột nên giáo viên cho học sinh quan sát hình với giá trị trên trục tung, so sánh độ cao các cột để nhận xét giai đoạn 1985-2004 các nước
Mĩ La tinh có tốc độ tăng trưởng năm nào cao, năm nào thấp, có thể chia làm những giai đoạn nào hay không?
Học sinh làm việc và rút ra được khu vực Mĩ La tinh có tốc độ tăng trưởng không ổn định Giáo viên cần định hướng cho học sinh không nhận xét là tốc
độ tăng GDP ngày càng tăng, tăng từ 2,3% lên 2,9% và 6,0% mà xen kẽ giữa các năm có tốc độ cao lại có những năm rất thấp (0,5%) Điều đó chứng tỏ kinh tế tăng trưởng không ổn định
Giáo viên nêu câu hỏi: dựa vào kiến thức đã học hãy giải thích nguyên nhân?
Học sinh dựa vào phần kênh chữ để trả lời câu hỏi này
Ví dụ 2: Hình 5.8.
- Dựa vào hình 5.8, hãy tính lượng dầu thô chênh lệch giữa khai thác và tiêu dùng của từng khu vực
- Nhận xét về khả năng cung cấp dầu mỏ cho thế giới của khu vực Tây Nam Á
Đối với biểu đồ hình 5.8, giáo viên phải cho học sinh nhận xét về các khu vực khai thác dầu thô nhiều, các khu vực tiêu dùng dầu thô lớn
Hướng dẫn học sinh tính: sự chênh lệch giữa dầu thô khai thác và tiêu dùng
= lượng dầu khai thác - lượng dầu thô tiêu dùng Gv có thể lập thành bảng như sau:
Sản lượng dầu khai thác và tiêu dùng và chênh lệch giữa khai thác và tiêu dùng một số khu vực trên thế giới năm 2003 (nghìn thùng/ngày)
Nam Á
Trung Á
Tây Nam Á
Đông
Lượng dầu khai
Trang 10dùng 8 Chênh lệch giữa
khai thác và tiêu
dùng
-11106 -1165.3 669.8 15239.4 3839.3 -6721 -14240
Sau khi học sinh tính được chênh lệch giữa khai thác và tiêu dùng dầu thô của mỗi khu vực, giáo viên cho học sinh nhận xét các nước có chênh lệch lớn, từ đó nhận xét được khả năng cung cấp dầu mỏ cho thế giới của khu vực Tây Nam Á
Qua bảng trên GV thấy được Tây Nam Á có sản lượng khai thác lớn nhất (21356.6 nghìn thùng/ngày), trong khí tiêu dùng thấp (6117.2 nghìn thùng/ngày) do đó, khu vực Tây Nam Á có khả năng cung cấp dầu mỏ lớn nhất cho thế giới (15239.4 nghìn thùng/ngày)
2.3 Khai thác kiến thức từ tranh ảnh Địa lí
Tranh ảnh trong sách giáo khoa Địa lí 11 được biên soạn khá phong phú với 33 tranh ảnh các loại từ các tranh ảnh về tự nhiên, về con người, về các đối tượng kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Nó có một vai trò quan trọng là hình thành cho học sinh những biểu hiện cụ thể về Địa lí Tuy nhiên, bản thân tôi thấy nhiều giáo viên chưa phát huy được vai trò các hình ảnh này vì điều kiện thời gian, sợ “cháy” giáo án nên đến phần tranh ảnh thường phớt lờ qua
Thực tế cho thấy, khi giảng dạy cho học sinh nếu không có tranh ảnh, hình vẽ giáo viên khó có thể hình thành cho học sinh những biểu tượng khái niệm và khắc sâu nội dung Nhưng khi qua hình vẽ, tranh ảnh thì việc hình thành biểu tượng, khái niệm và khắc sâu nội dung một cách dễ dàng Do đó tranh ảnh và hình vẽ có một ý nghĩa rất to lớn, nó không chỉ là nguồn kiến thức có tác dụng giáo dục tư tưởng, tính cách mà còn phát triển tư duy cho học sinh Từ việc quan sát học sinh sẽ đi tới công việc của tư duy trừu tượng Nhưng để đạt được điều đó phải được sự hướng dẫn của GV vì bản thân tranh ảnh không thể gây ra sự quan sát tích cực của học sinh nếu như nó không được quan sát trong những tình huống có vấn đề trong những nhu cầu cần thiết phải trả lời một vấn đề cụ thể Từ việc quan sát các em sẽ phân tích, giải thích rút ra những kết luận Địa lí Song việc sử dụng quan sát đó nhất thiết phải theo một trình tự sau:
Bước 1: Giáo viên nghiên cứu xem kỹ hình vẽ tranh ảnh SGK, xem hình đó minh hoạ cho nội dung kiến thức nào trong bài Với hình đó thì sử dụng vào lúc nào là đạt kết quả tốt nhất, gây hứng thú nhất, với hình đó giáo viên nên dùng phương pháp nào là thích hợp nhất
Bước 2: Khi dạy đến phần kiến thức có hình vẽ, tranh ảnh giáo viên đưa hình đó cho học sinh quan sát nếu là hình vẽ to sẽ treo lên bảng để học