1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 11 – THPT nhằm khơi dậy tính tò mò, gây hứng thú học tập cho học sinh

18 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 201 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng một hệ thống các bài tập định tính và hiện tượng vật lí thực tiễn có thể vận dụng vào bài giảng trong chương trình vật lí 11 THPT.. Vận dụng hệ thống các bài tập định tính và hi

Trang 1

MỤC LỤC Trang

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 1

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 2 2.3 Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện 2

2.3.3 Hệ thống các bài tập định tính và câu hỏi thực tế dùng cho

các bài giảng trong chương trình Vật lí 11- THPT

3

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

15

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Môn vật lí trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh Mục đích của môn học

là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành của vật lí Học vật lí là để hiểu, để giải thích được các vấn đề của tự nhiên và cuộc sống thông qua việc tìm hiểu các thuyết, các định luật chi phối các quy luật của tự nhiên Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người Vật lí góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người

Để đạt được mục đích của học vật lí trong trường phổ thông thì giáo viên dạy vật lí là nhân tố tham gia quyết định chất lượng Do vậy, ngoài những hiểu biết về vật lí, người giáo viên dạy vật lí còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút, khơi dậy tính tò mò, gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức vật lí của học sinh

Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc Chính vì vậy trong sáng

kiến kinh nghiệm (SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh “Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 11 – THPT nhằm khơi dậy tính tò mò, gây hứng thú học tập cho học sinh”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Xây dựng một hệ thống các bài tập định tính và hiện tượng vật lí thực tiễn

có thể vận dụng vào bài giảng trong chương trình vật lí 11 THPT

Vận dụng hệ thống các bài tập định tính và hiện tượng thực tiễn ở trên vào bài giảng nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh

Để vật lí không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một “thuật ngữ khoa học”

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu các câu hỏi và bài tập định tính có thể vận dụng trong các tiết học của chương trình vật lí 11 – ban cơ bản

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

Các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp tích hợp

Các kĩ thuật dạy học, kĩ năng vận dụng kiến thức trong học tập và liên hệ thực tiễn của bộ môn vật lí

1.5 Những điêm mới của sáng kiến.

Đưa ra được hệ thống các câu hỏi và bài tập định tính có thể vận dụng trong các hoạt động dạy học ở các bài học trong chương trình vật lí 11 – ban cơ bản nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất các các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình Vì thế đại hội lần IX, Đảng cộng sản Việt

Nam trong nghị quyết ghi rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của

một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó

Trang 3

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.

Môn vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một

số bộ phận học sinh không muốn học vật lí, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực

tiễn của vật lí.

Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức vật lí

Khi dạy kiến thức vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: điện tích, điện trường, dòng điện không đổi, dòng điện trong các môi trường… đều liên quan đến các hiện tượng vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được mối liên quan giữa các môn học với nhau

Ví dụ: Tại sao không dùng dây đồng, dây thép thay thế dây cầu chì?

Trả lời:Cầu chì có tác dụng ngắt mạch điện khi xảy ra sự cố chập điện

hoặc dòng điện quá tải, khi dòng điện tăng lên cao nó sẽ vượt quá điểm nóng chảy của chì (327,46 o C) nên dây đứt và ngắt mạch mạch điện không làm hư hại các thiết bị điện khác Trong khi đó nếu dùng dây đồng hoặc thép thì nhiệt nóng chảy của nó cao(trên 1000 o C) nên nó khó đứt để ngắt mạch khi xảy ra sự cố điện và như vậy sẽ làm hư hại các thiết bị điện cũng như gây ra hỏa hoạn.

2.3 Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện.

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học, tôi đã thấy rằng: “Vận dụng bài tập

định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 11 – THPT” sẽ tạo hứng thú,

khơi dậy niềm đam mê; học sinh hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học vật lí Để thực hiện được, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng học sinh ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc cần quan tâm đến tính cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn vật lí Tuy

nhiên, thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều, “nó như thứ gia vị trong

đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống”.

2.3.1 Các giải pháp thực hiện.

Trang 4

“Vận dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí 11 -THPT” bằng cách:

+ Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã kết

thúc bài học Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo

+ Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các kiến thức

cụ thể trong bài học Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học Giáo viên có thể giải thích

để giải tỏa tính tò mò của học sinh Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông

+ Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới

thiệu bài giảng mới Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể

là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập

+ Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài

tập tính toán Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán vật lí đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?

+ Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với

nội dung bài giảng để rút ra những kết luận mang tính quy luật Làm cho học sinh không có cảm giác khó hiểu vì có nhiều vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù của bộ môn thì khó tiếp thu được nhanh so với gắn nó với thực tiễn hàng ngày

2.3.2 Các hình thức tổ chức thực hiện.

a Đặt tình huống vào bài mới: Tiết dạy có gây được sự chú ý của học sinh hay

không là nhờ vào người hướng dẫn Trong đó phần mở đầu là rất quan trọng, nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc giả định rồi yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích

b Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy: Vấn đề môi trường luôn

được nhắc đến hằng ngày như: khói bụi của nhà, nước thải của sinh hoạt, ô nhiễm phóng xạ,…có liên quan gì đến sự thay đổi của thời tiết hay không Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy ví dụ sao cho gần gũi

c Liên hệ thực tế trong bài dạy: Khi học xong vấn đề gì mà học sinh thấy

được ứng dụng trong thực tiễn thì sẽ chú ý hơn, chủ động tư duy để tìm hiểu Do

đó trong mỗi bài học giáo viên nên đưa ra được một vài ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh hơn

2.3.3 Hệ thống các bài tập định tính và câu hỏi thực tế dùng cho các bài giảng trong chương trình Vật lí 11- THPT.

Trang 5

Bài 1: Điện tích Định luật Cu-Lông

Câu 1: Tại sao vào mùa đông khi ta cởi quần áo có thể nghe thấy tiếng nổ lách tách?[1].

Giải thích: Trong khi mặc áo và hoạt động hằng ngày, lớp áo bên ngoài

cọ xát với các lớp áo bên trong, hoặc cọ xát với không khí khô vào mùa đông làm cho chúng bị nhiễm điện, khi ở trong phòng tối và cởi áo ngoài do hiện tượng phóng tia lửa điện mà ta thấy có các tia chớp sáng li ti

Tiếng nổ nhỏ lách tách tạo ra bởi hai nguyên nhân:

 Thứ nhất: là hiện tượng đi kèm theo sự phóng điện

 Thứ hai: ở một vài chỗ, lớp áo bên ngoài hút và dính chặt với lớp áo bên trong, khi cởi áo, chúng sẽ bị tách ra đột ngột gây ra tiếng lách tách nhỏ

Áp dụng: Giáo viên sử dụng để đặt vấn đề vào bài.

Câu 2: Các ôtô chở xăng dầu, khả năng cháy nổ rất cao Khả năng này xuất phát từ cơ sở vật lí nào? Người ta làm gì để phòng chống cháy nổ cho các xe này? [1].

Giải thích:

 Cơ sở vật lí: Các vật nhiễm điện có thể phóng điện qua nhau

 Xe chở xăng dầu khi chuyển động, xăng dầu cọ xát nhiều với bồn chứa làm chúng tích điện trái dấu Khi điện tích đủ lớn chúng sẽ phóng tia lửa điện gây cháy nổ

 Thực tế, để phòng chống cháy nổ do phóng điện, người ta thường dùng một dây xích sắt nối với bồn chứa và kéo lê trên đường

Áp dụng: Giáo viên sử dụng câu hỏi cho phần học liên hệ thực tế sau khi

học xong phần: Sự nhiễm điện của các vật Điện tích Tương tác điện

Câu 3: Giải thích hiện tượng khi ta cọ xát bóng đèn neon sẽ thấy đèn sáng trong một thời gian ngắn? [6].

Giải thích: Để khí trong đèn phát sáng phải tạo ra một điện trường trong

đèn Do kết quả của ma sát khi cọ tay lên ống thủy tinh của bóng đèn mà phát sinh ra những điện tích, điện trường của chúng làm đèn phát sáng trong khoảnh khắc

Áp dụng: Giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tìm hiểu Câu 4: Trong sản xuất và tiêu dùng hiện nay ta thường nghe các thuật ngữ

“Sơn thường” và “Sơn tĩnh điện” Vậy bản chất của sơn tĩnh điện là gì? Sơn này có ưu điểm gì so với các loại sơn thường khác?[6].

Trả lời: Sơn tĩnh điện là loại sơn đã được cho nhiễm điện Thực tế khi sơn

những vật cần lớp sơn bảo vệ ( như sơn ôtô, xe máy,…) người ta tích điện trái dấu cho sơn và vật cần sơn Làm như vậy sơn sẽ bám chắc hơn vào vật cần sơn

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng phần củng cố bài học.

Bài 2: Thuyết electron Định luật bảo toàn điện tích

Câu 1: Trong hiện tượng nhiễm điện do hưởng ứng xảy ra trong thanh kim loại, vì sao chỉ có các electron dịch chuyển Các ion dương có dịch chuyển không?[1]

Trang 6

Trả lời: Trong kim loại chỉ có các electron tự do mới có thể chuyển động

tự do trong khối kim loại Các ion dương chỉ dao động quanh những vị trí nhất định ( tại các nút mạng )

Áp dụng: Giáo viên có thể dùng để củng cố sau khi học phần vận dụng

thuyết electron giải thích sự nhiễm điện do hưởng ứng

Câu 2: Đặt một thanh kim loại AB gần với quả cầu C nhiễm điện dương như hình vẽ Có phải tất cả các electron trong thanh kim loại đều chạy hết về đầu

B không?[3]

Trả lời: Chỉ có một số lectron trong kim loại chuyển động về phía B thì

đầu A nhiễm điện dương Khi tác dụng của điện tích hưởng ứng dương ( đầu A )

và âm ( đầu B ) tác dụng lên các electron dịch chuyển tiếp sau cân bằng với tác dụng lực điện của quả cầu C lên chúng thì các electron sẽ không dịch chuyển thêm về đầu B nữa

Áp dụng: Giáo viên có thể dùng để củng cố sau khi học phần vận dụng

thuyết electron giải thích sự nhiễm điện do hưởng ứng

Câu 3: Vào những ngày mùa đông, thời tiết khô hanh dùng lược bằng nhựa hoặc cao su cứng chải tóc, ta thấy các sợi tóc di chuyển như bị hút theo chiếc lược Tại sao lại như vậy?[5].

Giải thích: Do cọ xát một số electron đã di chuyển từ tóc chạy sang lược,

làm cho tóc trên đầu nhiễm điện dương còn lược nhiễm điện âm Để cái lược ở gần thì tóc sẽ bị nhè nhẹ hút vào

Áp dụng: Giáo viên sẽ áp dụng cho phần củng cố hết bài hoặc cho phần

vận dụng của thuyết electron giải thích các hiện tượng điện

Câu 4: Cọ xát vào lông thú rồi đưa thanh thủy tinh lại gần các mẫu giấy vụn,

nó có thể hút được các mẫu giấy Cũng như các thanh kim loại khi cọ xát vào len thì hiện tượng hút giấy không xảy ra Một học sinh đã kết luận: Không thể làm cho thanh kim loại nhiễm điện bằng cọ xát được Kết luận như vậy có chính xác không?[1]

Trả lời: Kết luận như vậy là không chính xác, sở dĩ thanh thủy tinh sau

khi cọ xát vào lông thú hút được các vật nhẹ vì điện tích xuất hiện trên thanh thủy tinh chỉ tập trung ở chỗ cọ xát, hiện tượng xảy ra là dễ quan sát, còn đối với kim loại, khi cọ xát vào len các điện tích (electron) chuyển động tự do trong toàn thể khối kim loại nên sự nhiễm điện tuy vẫn tồn tại nhưng kém rõ nét, vì phải phân bố rộng trên toàn khối kim loại nên lực hút của nó lên các vật nhẹ rất yếu

Áp dụng: Áp dụng củng cố cho phần thuyết electron.

Bài 3: Điện trường và cường độ điện trường Đường sức điện

Câu 1: Treo một quả cầu nhiễm điện bằng sợi dây tơ vào một không gian nào

đó, thấy quả cầu ở vị trí được biểu diễn như hình vẽ Hỏi trong trường hợp nào, có thể kết luận không gian đó có điện trường?[1]

 C

Trang 7

Trả lời: Hai trường hợp a, c có thể kết luận không gian điện tích có điện

trường Trường hợp b, chưa thể kết luận chắc chắn Nếu trường hợp này có điện trường thì đường sức của điện trường đi qua vị trí của quả cầu phải theo phương thẳng đứng Điện trường không làm cho quả cầu bị lệch ra khỏi vị trí cân bằng ban đầu của nó

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho câu hỏi củng cố cuối bài.

Câu 2: Sét đánh có thể làm hỏng các công trình xây dựng, nhà cửa,…hãy tưởng tượng chiếc ôtô đang chuyển động trên đường trống mà gặp một cơn giông, người ngồi trong xe ôtô có nguy cơ bị sét đánh không? Tại sao?[6]

Trả lời: Người ngồi trong ôtô sẽ không bị sét đánh, vì xe ôtô lúc này đóng

vai trò như một màn chắn tĩnh điện Nếu sét đánh vào ôtô thì dòng điện sẽ truyền qua vỏ ôtô xuống đất Lưu ý tránh sờ tay chân vào khung vỏ kim loại của xe

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng đặt tình huống vào bài mới

Bài 4: Công của lực điện

Câu 1: Electron chuyển động quanh hạt nhân của nguyên tử hiđrô theo quỹ đạo tròn Khi electron dịch chuyển, điện trường của hạt nhân có sinh công không?[1].

Trả lời: Không sinh công, vì lực điện đóng vai trò là lực hướng tâm nên

có phương luôn vuông góc với véctơ vận tốc

Áp dụng: Giáo viên có thể sử sụng để củng cố cho phần công của lực

điện

Câu 2: Một hạt mang điện bay xuyên qua hai lỗ thủng A và B của hai tấm kim loại như hình vẽ Hạt mang điện sẽ được tăng tốc hay bị hãm lại nếu nó mang điện tích âm? Trong quá trình chuyển động, quỹ đạo của hạt mang điện có bị lệch không?[3].

Trả lời: Hạt mang điện bị giảm tốc độ Lực điện trường thực hiện công

cản Quỹ đạo không thay đổi vì phương vận tốc trùng với phương của đường sức điện

+

+

Trang 8

Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần công của lực điện hoặc củng

cố bài

Câu 3: Đặt hai quả cầu nhỏ nhiễm điện cùng dấu vào điện trường Hai quả cầu này có thể dịch chuyển theo hai hướng ngược nhau không? Nếu có hãy nêu một ví dụ minh họa.[6]

Trả lời: Có thể, nếu nó đặt vào hai đường sức khác nhau của điện trường

tạo bởi điện tích điểm

Áp dụng: Giáo viên có thể sử dụng cho phần công của lực điện hoặc củng

cố bài

Bài 5: Điện thế Hiệu điện thế[1].

Câu 1: Trong các cơn giông, thỉnh thoảng có hiện tượng sét, đó là sự phóng tia lửa điện từ đám mây tích điện xuống đất Hỏi trong hiện tượng sét, các electron được phóng như thế nào: Từ đám mây xuống đất hay từ đất lên đám mây?

Trả lời: Thực nghiệm chứng tỏ phần dưới của đám mây giông thường tích

điện âm, do hưởng ứng, mặt đất ở dưới đám mây tích điện dương Khi hiệu điện thế giữa đám mây và mặt đất đủ lớn để đánh thủng lớp không khí giữa mây và mặt đất thì xảy ra sự phóng điện tức là có sét đánh Đám mây thừa electron và trút các electron thừa đó xuống đất tạo thành tia sét

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần củng cố bài.

Câu 2: Ở gần bề mặt Trái Đất, cường độ điện trường vào khoảng 130 V/m Hỏi có thể dùng hiệu điện thế giữa hai điểm M, N nào đó theo phương thẳng đứng để thắp sáng bóng đèn được không? Tại sao?

Trả lời: Không được Khi đặt dây dẫn và bóng đèn giữa hai điểm này,

điện thế mọi điểm trong hệ luôn bằng nhau

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng củng cố cho phần “Liên hệ giữa hiệu

điện thế và cường độ điện trường”

Câu 3: Lý thuyết về điện thế cho thấy, người ta chọn gốc điện thế ở vô cực (V

= Œ) Đối với tĩnh điện kế, người ta lại chọn điện thế đất bằng không Tại sao?

Trả lời: Việc xác định hiệu điện thế không phụ thuộc vào cách chọn mốc

điện thế Chọn mốc điện thế V = Œ hay Vđất = Œ điều đó không quan trọng

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần củng cố bài.

Bài 6: Tụ điện[6]

Câu 1: Nhiều người thợ sửa ti vi, vô ý đã bị điện giật ngay cả khi ti vi đã được tắt và rút điện ra khỏi ổ cắm tương đối lâu Tại sao lại như vậy?

Trả lời: Ti vi hoạt động cần có hiệu điện thế rất cao (hàng vạn vôn).

Trong ti vi có rất nhiều tụ điện, một số tụ được mắc vào hiệu điện thế cao đó Khi tắt máy các tụ vẫn còn tích điện trong một thời gian khá lâu Nếu đụng vào chúng trong điều kiện “nối đất”, điện tích của tụ sẽ phóng qua người xuống đất Điện tích trong tụ không lớn nhưng thời gian phóng điện rất nhanh, dòng điện qua người có cường độ đủ lớn làm nguy hiểm đến tính mạng Để an toàn, người

+

Trang 9

-thợ thường nối đất cho các tụ (việc này thực hiện ngay trong ti vi gọi là “nối mát”)

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc

củng cố

Câu 2: Một tụ điện khi đã tích điện rồi, làm thế nào để xả điện tích cho tụ Hãy nêu biện pháp thực hiện?

Trả lời: Biện pháp hữu hiệu và an toàn là nối đất cho các tụ Tuy nhiên

trong thực tế ta có thể chập nhanh hai sợi dây dẫn nối hai bản tụ với nhau, khi chập do sự phóng điện mà xuất hiện tia lửa điện phóng ở giữa hai đầu dây dẫn tạo ra mùi khét Cách làm này không an toàn, không nên thực hiện với tụ điện có hiệu điện thế lớn

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần tụ điện.

Bài 7: Dòng điện không đổi Nguồn điện

Câu 1: Dùng một dây kim loại nối hai quả cầu tích điện trái dấu A và B Trong dây dẫn có dòng điện không ? Các electron dịch chuyển như thế nào ? Dòng điện có thể tồn tại lâu dài không ? Tại sao ?[5]

Trả lời: Nếu có sự chênh lệch về điện thế của các quả cầu thì trong dây

dẫn có dòng điện Các electron sẽ chạy từ quả cầu có điện thế thấp sang quả cầu

có điện thế cao, còn dòng điện có chiều ngược lại Dòng điện không tồn tại lâu dài trong dây dẫn, vì sau một khoảng thời gian rất ngắn, các quả cầu, dây dẫn trở thành vật dẫn duy nhất Điện thế tại mọi điểm trong vật dẫn đều bằng nhau

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt vấn đề vào phần điều kiện để có dòng điện

hoặc cho phần củng cố bài

Câu 2: Một đoạn dây dẫn căng ngang có dòng điện chạy từ A đến B Các electron đã chuyển dời có hướng từ B đến A Một học sinh cho rằng, nếu gấp đôi sợi dây lại thì ở nữa trên và nữa dưới của dây dẫn, các electron đã chuyển động ngược hướng nhau và vì vậy trong dây không có dòng điện, vì theo định nghĩa dòng điện là dòng chuyển dời có hướng của các hạt mang điện Theo

em quan niệm như vậy có đúng không ? Tại sao ?[1]

Trả lời: Quan niệm như vậy là không đúng Cần phải hiểu định nghĩa:

Dòng điện là dòng chuyển dời có hướng của các hạt mang điện dưới tác dụng của điện trường trong dây dẫn Vì vậy, hướng của điện tích ở đây là hướng theo lực điện trường chứ không phải hướng của dây dẫn

Áp dụng: Giáo viên có thể dùng cho phần củng cố bài.

Câu 3: Vì sao chim đậu trên dây điện cao thế không có vỏ bọc cách điện mà không bị điện giật?[6]

Trả lời: Thực ra ở đây chim không có bản lĩnh gì đặc biệt Chúng ta để ý

quan sát thì thấy chim chỉ đậu trên một sợi dây Khi ấy thân thể chúng chỉ tiếp

 A

B

e e

Trang 10

xúc với một sợi dây điện, không có sự chênh lệch điện thế giữa hai chân chim nên không có dòng điện chạy qua, cho nên chúng không bị điện giật

Nếu chúng ta đứng trên mặt đất còn thân thể tiếp xúc với dây điện (dây nóng) thì sẽ có sự chênh lệch điện thế nên có dòng điện chạy qua thân người xuống đất nên ta bị điện giật

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng củng cố cho phần điều kiện để có

dòng điện Thông qua đây giáo viên cũng nêu các biện pháp để phòng tránh bị điện giật cho học sinh nắm được

Câu 4: Một ắcquy đã bị mất dấu đầu dương, âm Làm thế nào để biết cực dương của ắc quy là đầu nào?[6]

Trả lời: Để xác định ta có nhiều cách.

Cách 1: Dùng Vôn kế có thang đo đủ lớn, dựa vào chiều quay của kim xác định Cách 2: Đấu nối tiếp với một mô tơ nhỏ, quan sát chiều quay và vị trí cực từ suy

ra cực ắcquy

Cách 3: Dùng đi ốt phát quang Nếu đấu đúng cực âm, dương của ắcquy bóng sẽ sáng còn ngược lại thì không sáng

Cách 4: Dùng hai dây dẫn nối vào hai cực của ắcquy, rối nối hai đầu tự do vào một cốc nước Ở phía đầu dây nào nhiều bọt khí hơn là cực âm, cực còn lại là cực dương

Áp dụng: Giáo viên có thể dùng cho phần Pin và Acquy hoặc củng cố

bài

Bài 8: Điện năng Công suất điện[3]

Câu 1: Theo định luật Jun-Lenxơ nhiệt lượng tỏa ra ở vật dẫn tỉ lệ với thời gian dòng điện chạy qua Tại sao dòng điện chạy qua dây dẫn suốt cả buổi tối

mà dây dẫn không bị nóng sáng.

Trả lời: Vì có sự tỏa nhiệt ra không gian xung quanh Khi nhiệt lượng

truyền ra môi trường bằng nhiệt lượng dây dẫn tỏa ra thì có sự cân bằng nhiệt động giữa dây dẫn và môi trường xung quanh nên nhiệt độ dây dẫn không tăng lên nữa

Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng cho phần định luật Jun-Lenxơ.

Câu 2: Khi cho dòng điện qua một dây dẫn và dây tóc của một bóng đèn điện, thì dây tóc bị nóng đến sáng lên, trong khi đó dây dẫn hầu như không bị nóng lên Mặc dù dòng điện chạy qua là như nhau và điện trở của dây dẫn đối với một chiều dài tùy chọn là cùng bậc với điện trở dây tóc.

Trả lời: Nhiệt lượng mà dây dẫn được nung nóng đạt tới, khi có một dòng

điện chạy qua, không chỉ được xác định bằng nhiệt lượng tỏa ra trên dây dẫn mà còn do khả năng nhường năng lượng của nó cho môi trường xung quanh Mà khả năng đó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân trong đó có sự phụ thuộc vào độ lớn bề mặt dây dẫn Với điện trở như nhau của dây dẫn và dây tóc, về mặt bức

xạ năng lượng thì dây dẫn lớn hơn dây tóc, do đó nó nguội đi nhanh hơn Điều

đó cũng có nghĩa là điện trở của một đơn vị chiều dài dây tóc lớn hơn so với dây dẫn

Áp dụng: Giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà nghiên cứu

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w