1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp giúp học sinh yếu kém trường THPT triệu sơn 2 làm bài tập trắc nghiệm môn vật lí đạt hiệu quả

17 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên môn Vật lí lại là một môn học tự nhiên đòi hỏi khả năng tính toán và tư duy .Việc này với học sinh yếu kém không dễ dàng, hơn nữa với lượng kiến thức rộng trong bài kiểm tra tr

Trang 1

M ỤC L ỤC Trang

1 MỞ ĐẦU… 1

1.1 Lí do chọn đề tài……… 1

1.2 Mục đích nghiên cứu……… 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi đề tài……… 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu……… 1

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

2.1 Cơ sở lí luận ……… 2

2.2 Thực trạng của vấn đề……… 3

2.3 Giải quyết vấn đề……… 3

A.Cơ sở đề xuất giải pháp……… 3

B Các biện pháp cụ thể ……… 3

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……… 11

a Về phía học sinh……… 11

b Về phía giáo viên……… 11

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……… 13

3.1 Kết luận 13

3.2 Kiến nghị……….……… 14

Tài liệu tham khảo… 15

Danh mục… 16

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thông qua các đợt coi thi trong những năm học gần đây tôi nhận thấy đa

số học sinh yếu, kém của trường THPT Triệu Sơn 2 đều làm xong bài trắc nghiệm trước thời gian quy định, thậm chí có em chọn đáp án một cách ngẫu nhiên mà không cần đọc kỹ đề thi Trong đó có môn Vật lí các em làm bài xong trước thời gian và điểm các em không đạt yêu cầu

Kết quả trên có nhiều nguyên nhân như: Đầu vào học sinh của trường là yếu, do các em mất căn bản từ lớp dưới dẫn đến chán học, lười học Trong đó,

có nguyên nhân các em cho rằng thi trắc nghiệm không cần học cũng có thể làm bài được Tuy nhiên môn Vật lí lại là một môn học tự nhiên đòi hỏi khả năng tính toán và tư duy Việc này với học sinh yếu kém không dễ dàng, hơn nữa với lượng kiến thức rộng trong bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan do đó các em sẽ không nhớ nỗi các kiến thức trong cả năm học

Đối với học sinh trung bình khá một số học sinh còn có ý thức tự học nhưng đa số học sinh yếu kém các em chưa có ý thức tự học Như vậy, làm thế nào để học sinh phải học, phải nắm kiến thức để làm bài thi trắc nghiệm

Xuất phát từ tình hình thực tế như trên, tôi quyết định chọn đề tài “Giải pháp giúp học sinh yếu kém Trường THPT Triệu Sơn 2 học và làm bài trắc nghiệm môn Vật lí đạt hiệu quả” nhằm đưa ra các giải pháp giúp học sinh yếu,

kém lớp 12 A4 cách học để làm bài trắc nghiệm đạt hiệu quả trong các kỳ thi

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thực hiện đề tài này bản thân hướng tới mục đích:

- Giúp các em học sinh yếu, kém có ý thức học tập, có phương pháp học phù hợp với từng đối tượng học sinh từ đó giúp các em yêu thích môn vật lí và làm bài trắc nghiệm môn Vật lí đạt hiệu quả

- Chia sẻ với đồng nghiệp giải pháp giúp học sinh yếu kém lớp 12 A4 Trường THPT Triệu Sơn 2 nói riêng và học sinh các trường THPT nói chung để các em

có phương pháp học và làm bài trắc nghiệm môn Vật lí đạt kết quả cao

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

- Đề tài tập trung nghiên cứu việc học và làm bài trắc nghiệm môn Vật lí của học sinh yếu kém lớp 12 A4 Trường THPT Triệu Sơn 2

- Các kết quả khảo sát được tiến hành tại các lớp 12A4 năm học 2019-2020 lớp 11C3 trường THPT Triệu Sơn 2 năm học 2020-2021

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khi thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu :

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: tìm kiếm, nghiên cứu các tài liệu

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh số liệu

Trang 3

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi đã rút ra một số điểm quan trọng

Đa số học sinh ngại học lý thuyết, ngại học thuộc công thức, các em chỉ thích làm bài tập vận dụng, chính vì vậy khi học ở lớp có sẵn công thức thì các em làm bài tập rất tốt còn khi đi thi thì không nhớ công thức nên cũng không làm được bài

Trước hết giáo viên phải tìm hiểu hoàn cảnh của từng học sinh Có em vì điều kiện mưu sinh nhưng cũng có em vì bạn bè rủ rê hàng quán, chơi điện tử,

bi da… mà xa rời học tập Có những em bố mẹ li dị, rượu chè, đánh đập nhau làm cho con cái chán học Khi ta biết chia sẻ, giải quyết được tận gốc thì mới hòng vực dậy được các em đó Người dạy lúc đó phải nắm xem học sinh hổng chỗ nào để bổ sung kiến thức Có khi ta phải quay lại dạy những kiến thức sơ đẳng từ tiểu học như cách đổi đơn vị của một đại lượng vật lí, cách cộng, trừ hai phân số khác mẫu, hoặc các kiến thức toán học từ THCS như giải phương trình, giải hệ phương trình… Học sinh yếu thường ngại học, ngại hỏi nên giáo viên phải chủ động đề ra kế hoạch kiểm tra mà mình nghi ngờ học sinh hiểu sai hoặc không hiểu Ví dụ: Khi đổi đơn vị chiều dài, diện tích, thể tích nhiều em đổi sai Khi cộng các phân số khác mẫu số có nhiều em lấy tử cộng tử, mẫu cộng mẫu Trong việc giảng dạy học sinh yếu, giáo viên không nên đưa ra kiến thức cao quá, hoặc đòi hỏi mẹo làm ức chế học sinh Những bài tập chỉ mang tính chất vận dụng khắc sâu lý thuyết Khi học sinh trả lời đúng, giáo viên phải biết động viên khen ngợi, khi trả lời sai thì nhẹ nhàng gợi ý để tìm ra chân lý Giáo viên cho HS làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập tại lớp để thuộc bài

Những nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém? Do đâu các em lại làm bài thi trắc nghiệm đạt kết quả thấp như vậy? Đó là vấn đề đòi hỏi người giáo viên phải tìm hiểu, để tìm ra giải pháp và hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập Đây là vấn đề chung cho tất cả các nhà trường

Thứ nhất về phía học sinh: Đa số học sinh của trường THPT Triệu Sơn 2

sinh sống ở vùng nông thôn còn nhiều khó khăn, bố mẹ đi làm ăn xa nên các

em thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình Vì vậy một số em trở nên lười học, ham chơi Ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập ngày càng kém Nhiều

em kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm chưa có, bài thi nhiều câu không làm được cũng bỏ trống

Thứ hai về phía giáo viên: Học sinh yếu không phải hoàn toàn là do các

em Có thể giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học chưa thực sự phù hợp với từng đối tượng học sinh, giáo viên chưa hướng dẫn cho các em các kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm để đạt hiệu quả cao Vì vậy để thực hiện tốt trong công tác giảng dạy để giảm bớt tình trạng học sinh yếu kém hay ngồi nhầm lớp đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, khảo sát và lựa chọn những biện pháp giảng dạy tối ưu nhất, hiệu quả nhất để dần nâng cao chất lượng học sinh

Trang 4

2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Việc thi trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải có kiến thức rộng, khả năng tư duy tốt, vì vậy học sinh phải học thường xuyên, liên tục mới đảm bảo yêu cầu, song rất nhiều học sinh ý thức học tập chưa cao, chưa cố gắng trong học tập dẫn đến kết quả chưa đạt được như mong muốn

Lớp 12 A4 tỉ lệ học sinh yếu, kém còn khá cao, mà đã yếu kém thì các

em rất lười học, mất căn bản từ lớp dưới Đặc biệt có một số em có suy nghĩ tiêu cực rằng mình dốt rồi có học nữa cũng thế thôi nên các em không chịu suy nghĩ, không chịu làm bài tập, chỉ ngồi ghi bài cho hết giờ

Trong những năm gần đây số học sinh tốt nghiệp Đại học sau khi ra trường không có việc làm khá cao, chính vì vậy nhiều học sinh đi học không có mục tiêu phấn đấu, các em xác định học cho xong chương trình lớp 12 rồi đi xuất khẩu lao động, đi làm công nhân dẫn đến các em học một cách cầm chừng chưa có sự nổ lực hết mình

Bên cạnh đó cũng rất nhiều em chăm chỉ, có ý thức học tập tốt song chưa

áp dụng đúng phương pháp học dẫn đến kết quả đạt được chưa cao Có em thì hổng kiến thức từ lớp dưới nên mặc dù rất thích học để phấn đấu được như các bạn nhưng không biết bắt đầu từ đâu

2.3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

A Cơ sở đề xuất giải pháp:

Đa số học sinh yếu, kém các em ít tự giác học tập, do đó vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để các em chịu học, tự học để có kiến thức thì sẽ làm bài đạt hiệu quả Theo tôi để các em chịu học và tự học thì giáo viên phải là người hướng dẫn cho các em học, giao việc cụ thể cho các em và phải có biện pháp kiểm tra đánh giá, khen thưởng khi các em thực hiện tốt hoặc phạt khi các em không thực hiện Đồng thời, phối hợp tổ chức cho các em thi đua với nhau trong học tập Giáo viên là người theo dõi sự tiến bộ của các em động viên khen thưởng kịp thời nhằm hướng các em ý thức tự học và để giúp các em học sinh yếu kém lớp 12 A4 học như thế nào để làm bài kiểm tra trắc nghiệm đạt hiệu quả

B Các biện pháp cụ thể:

1 Nắm đối tượng học sinh yếu kém, phân loại tìm hiểu nguyên nhân

và lập một quyển sổ theo dõi học sinh yếu kém để theo dõi sự tiến bộ của các em.

- Ngay từ đầu năm học, dựa vào kết quả bộ môn năm học và kết quả khảo sát đầu năm giáo viên phải phân loại được học sinh, nắm được từng đối tượng học sinh yếu kém Đa số các em yếu kém là do mất căn bản ở các lớp dưới, riêng một số em như: Lê Cảnh Đạt bố mẹ ly hôn, bố lấy vợ 2 em Đạt ở với bố

và dì nên hay buồn, mất tập trung trong giờ học, em Thùy Trang, Lê Văn Trường và em Lê Đình Trường là 3 em gia đình khá giả nhưng các em ham chơi điện tử nên lười học, em Lê Ngọc Cường thường mất trật tự trong giờ học, các em Tân, Phong, Đức Tuấn, Đăng Quang, Hoàng Trang ngoan ngoãn nhưng học yếu do mất kiến thức căn bản từ lớp dưới, khả năng tư duy, tính toán rất kém

Trang 5

- Để theo dõi học sinh yếu kém, tôi tiến hành lập một quyển sổ ghi lại điểm của học sinh yếu kém sau mỗi đợt khảo sát, điểm số các lần trả bài và làm bài tập, số lần phát biểu trong giờ học và kết quả tự học, chuẩn bị bài ở nhà của các em để từ đó theo dõi và giúp các em học tập tiến bộ hơn

2 Đổi mới phương pháp giảng dạy:

a) Đầu tư về chuyên môn, nâng cao hiệu quả giảng dạy:

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với học sinh yếu kém lớp 12 A4, giáo viên phải đầu tư cho chuyên môn, tích cực nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa, tài liệu, các đề thi, sách tham khảo… Đặc biệt giáo viên phải soạn một bộ đề dành riêng cho các

em, để phù hợp với năng lực của từng nhóm học sinh

b)Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy:

Dạy giáo án điện tử, ôn tập chương, củng cố kiến thức bằng máy chiếu, sửa bài thi cho học sinh bằng máy chiếu hoặc chiếu các câu trắc nghiệm lí thuyết

c) Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và phương pháp học tập bộ môn:

- Đối với giáo viên:

+Phần dặn dò của giáo viên phải kĩ, phần chuẩn bị bài mới cần có hệ thống câu hỏi từ dể đến khó về những kiến thức trọng tâm của bài mới

+Khi kiểm tra bài cũ giáo viên phải kiểm tra tập bài học, vở bài tập và vở

tự học của học sinh

+Giáo viên quy định mỗi em phải có 1 quyển vở tự học ghi những công thức học sinh hay quên như công thức chu vi, diện tích… Soạn bài và học công thức phải ghi trong vở tự học

- Trong tiết dạy:

+ Giáo viên đặt câu hỏi từ dể đến khó, để học sinh yếu có thể trả lời các câu để tạo hứng thú cho các em học tập Khi giảng bài trên lớp Tôi thường đặt câu hỏi và quy định điểm cho câu hỏi Ví dụ: Em nào trả lời được câu hỏi này

cô cho 8 điểm, 9 điểm hay 10 điểm Câu hỏi 8 điểm không khó chỉ yêu cầu học sinh tập trung nghe giảng là trả lời được tôi thường ưu tiên cho các em yếu mà

có cố gắng Đồng thời với cho điểm có thể tuyên dương các em để động viên tinh thần

+Hướng dẫn học sinh ghi chép bài, trình bày vở sạch đẹp như: tựa bày phải viết chữ in, dưới các tiêu đề gạch bằng viết đỏ, các công thức phải đóng khung … có như thế khi nhìn vào vở học sinh sẽ dễ học bài hơn

+Kiểm tra vở nháp, dụng cụ học tập và máy tính của học sinh thường xuyên

+Quản lí thật chặt chẽ giờ dạy

- Đối với học sinh:

Để việc tự học của học sinh đạt kết quả tốt học sinh cần lưu ý một số vấn

đề như:

+Học sinh phải có góc học tập ở nhà ở nơi thoáng, đủ ánh sáng

+Có thời khóa biểu ở trường và thời gian biểu ở nhà hợp lí, học xen kẻ các môn với nhau, có thời gian nghỉ ngơi hợp lí để đảm bảo sức khỏe

Trang 6

+Thực hiện nghiêm túc kế hoạch tực học và biết tự kiểm tra.

+Ở nhà các em phải học lí thuyết, công thức rồi sau đó mới vận dụng giải các bài tập sách giáo khoa, sách bài tập

-Việc tự học của học sinh ở nhà bao gồm học bài cũ, chuẩn bị bài mới và thường xuyên ôn tập kiến thức cũ

* Học bài cũ

+ Các định nghĩa, khái niệm, định luật: Cần cố gắng hiểu rõ và nhớ chính xác từng ý nghĩa của các mệnh đề được phát biểu

+ Các công thức: Cần hiểu rõ ý nghĩa, đơn vị của từng đại lượng, học công thức bằng cách ghi ra giấy hoặc ghi bảng nhiều lần Học sinh ghi lại mỗi công thức ít nhất 5 lần vào vở tự học

+ Tập thói quen tự làm dàn bài tóm tắt bài học theo ý mình sau khi vừa học xong, để sao cho khi học theo dàn bài, ta dễ dàng hiểu và nhớ chính xác bài học

+ Để làm được bài tập học sinh phải học thuộc công thức, tóm tắc được

đề bài sau đó vận dụng công thức đã học để giải bài tập

+ Làm đầy đủ bài tập (từ dễ đến khó) trong sách giáo khoa và sách bài tập Vật lí do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành

+ Học sinh yếu kém phải làm lại các bài tập đã sửa trên lớp vào vở tự học

*Chuẩn bị bài mới:

+ Học sinh phải ghi câu hỏi soạn bài cẩn thận, đầy đủ

+ Phải có vở bài tập, có sách giáo khoa, kết hợp đọc câu hỏi và đọc sách giáo khoa để trả lời các câu hỏi vào vở bài tập

+ Trong quá trình soạn bài nếu học sinh có vướng mắc gì phải ghi chép lại, khi vào lớp học sinh phải chú ý nghe giảng nếu chưa hiểu vấn đề gì có thể hỏi bạn bè hoặc thầy cô

d) Kiểm tra việc tự học của học sinh

*Trong giờ kiểm tra bài cũ:

- Học sinh lên trả bài phải có 3 quyển vở: Vở bài học, bài tập và vở tự học ghi chép đầy đủ Học sinh không thực hiện bị điểm 0

- Học sinh không thuộc bài bị điểm 0 và viết lại 5 lần nội dung bài đó nộp lại cho giáo viên vào tiết học sau Nếu học sinh không thuộc bài lần 2 viết lại 10 lần nội dung bài đó và mời phụ huynh học sinh vào để kết hợp giáo dục học sinh

*Trong giờ bài tập:

- Học sinh không làm bài tập về nhà thì không được lên bảng sửa bài và

bị điểm không

- Giáo viên gọi 1-2 em lên bảng sửa bài tập, các em còn lại ngồi dưới lớp tập trung theo dõi để nhận xét bài bạn

- Khi làm bài tập mời 1-2 em lên bảng, các em còn lại làm bài tại chỗ, giáo viên có thể gọi bất kì em nào lên nộp, nếu em nào không làm sẽ bị điểm không

3 Quản lý chặt chẽ giờ dạy trên lớp:

Trang 7

- Giáo viên phải chuẩn bị bài thật tốt trước khi dạy trên lớp.

- Học sinh yếu kém học trên lớp thường ít tập trung do đó giáo viên quy định nếu giáo viên đang giảng bài, học sinh không chú ý, giáo viên đặt câu hỏi

và gọi ngay học sinh không tập trung nếu trả lời không được cho điểm không Khi đã quy định giáo viên thực hiện đúng như vậy trong mọi tiết dạy sẽ hạn chế tình trạng học sinh yếu kém không tập trung

- Đối với phương pháp thảo luận nhóm thường chỉ có những học sinh khá, tập trung làm mà các em yếu kém thường lơ là do đó khi hết giờ thảo luận giáo viên gọi bất kì em nào có thể yếu kém (không nhất thiết phải gọi học sinh khá) từ đó buộc các em nào có thể yếu kém phải tham gia thảo luận

Trong tiết bài tập, khi giáo viên gọi một học sinh lên bảng giải bài tập cả lớp ở dưới cũng phải làm bài vào vở bài tập Giáo viên quan sát bao quát lớp, nếu có học sinh không làm bài giáo viên gọi đúng em đó lên kiểm tra bài tập và cho điểm

4 Nhớ kiến thức lý thuyết qua tiếp xúc nhiều với các câu trắc nghiệm:

- Học sinh yếu kém rất lười học bài, học sinh thuộc nhưng đôi ba ngày lại quên, khả năng vận dụng lí thuyết vào giải các câu hỏi trắc nghiệm rất yếu, do

đó sau mỗi bài học tôi cho các em nhớ kiến thức trong bài bằng cách tiếp xúc với nhiều câu trắc nghiệm Ngay từ đầu năm học tôi lên mạng chọn 1 quyển trắc nghiệm vừa sức với các em (435 câu lý thuyết Vật lí ôn thi THPT Quốc Gia) cho cả lớp phô tô, lúc nào các em cũng mang theo Sau mỗi bài dạy giáo viên quy định bài này học sinh phải về nhà học các câu trắc nghiệm này trong sách

Muốn học sinh về nhà học bài và học các câu trắc nghiệm giáo viên phải kiểm tra học sinh

Vào đầu mỗi tiết học tôi dành thời gian 5 đến 10 phút kiểm tra các em Tôi phát cho các em phiếu học tập trong đó ghi câu hỏi (đã dặn học sinh) Phiếu trình bày dưới dạng ghi nội dung câu dẫn không ghi 4 phương án mà bỏ trống một hàng để các em ghi lại nội dung phương án đúng vào đó Sau thu bài tôi ghi đáp án lên bảng cho một số học sinh chấm chéo bài của bạn nếu em nào làm sai câu nào thì viết lại 10 lần câu đó

- Sau mỗi chương tôi thực hiện hệ thống hóa kiến thức dạng cô động nhất, đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng, ôn tập chương bằng máy chiếu một số câu trắc nghiệm trong chương (thực hiện khoảng 1 tiết) Kiểm tra lí thuyết trên máy chiếu chủ yếu là kiểm tra trắc nghiệm lý thuyết và Tôi thực hiện như sau:

+ Chiếu lần 1: Cho học sinh xung phong trả lời, giải thích vì sao chọn phương án đó, giáo viên nhận xét và giải thích rõ từng câu, có thể gọi học sinh nêu lại lý thuyết hoặc công thức liên quan

+ Chiếu lần 2: Đảo thứ tự các câu gọi bất kì học sinh trong lớp trả lời + Chiếu lần 3: Chủ yếu gọi học sinh yếu kém trả lời

- Tạo điều kiện cho học sinh giải được 1 đến 2 đề kiểm tra tổng hợp trong chương có thể cho đề trước để các em về nhà giải và sửa đề trên

Trang 8

lớp Sửa đề ở lớp là cơ hội để giáo viên củng cố kiến thức, chốt vấn đề, sửa các lỗi của học sinh Nên để học sinh thảo luận khi sửa để để học sinh khá có thể giúp đỡ học sinh yếu tránh tình trạng giáo viên “bao sân” hoặc chỉ sửa qua loa mà không có giải thích nhấn mạnh

Qua các bài kiểm tra cần có đánh giá, nhận xét theo dõi sự tiến bộ của từng học sinh yếu kém từ đó giáo viên có thể giúp đỡ các em tốt hơn

5 Học thuộc công thức để vận dụng vào trắc nghiệm khách quan.

Theo thống kê số liệu các đề Thi THPT Quốc Gia năm 2017, 2018, 2019,

2020 số câu có dùng công thức trên tổng số câu của đề thi trên 50%

Trong Vật lí, công thức Vật lí rất quan trọng Công thức giúp học sinh giải được các bài tập định lượng (mức độ 3) mà còn giải được các bài tập định tính ở (mức độ 1-2)

Ví dụ: Tại một nơi xác định, chu kì dao động điều hòa của con lắc tỉ lệ thuận với:

A: Chiều dài con lắc

B Gia tốc trọng trường

C Căn bậc hai chiều dài con lắc

D Căn bậc hai gia tốc trọng trường

Để giải được câu trắc nghiệm này các em phải thuộc công thức:

2 l

T

g

-Dựa vào công thức tìm được đơn vị của các đại lượng đề bài yêu cầu

*Làm thế nào để học sinh học thuộc công thức

- Đối với giáo viên:

Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể trình bày cách ghi của mình sao cho dễ hiểu dễ nhớ

Ví dụ: Trong bài 9 sóng dừng công thức điều kiện để có sóng dừng ghi

2

l k 

(2 1)

4

  

Học sinh khó nhớ ở chỗ khi thì

2

, khi thì

4

Ta có thể ghi lại:

2

l k 

1 ( )

2 2

  

Đồng thời cách ghi này cũng đồng dạng với cách ghi công thức vân sáng

và vân tối trong bài giao thoa ánh sáng

Vị trí vận sáng x kki

Vị trí vân tối '

1 ' 2

k

x k  i

Trang 9

Giáo viên cần ghi thêm những công thức quan trọng mà sách giáo khoa không đề cập được rút ra từ quá trình giải các bài tập

Ví dụ: Công thức liên hệ giữa li độ và vận tốc

v  Ax

Trong vật lí hạt nhân cần bổ sung công thức:

0 0

0 0

.2 2 2

2

t T t T t T t T

m

m m

N

Công thức sức căng dây của con lắc đơn ở li độ bất kì:

3cos 2cos 0

mg

Kết thúc chương giáo viên cần cho học sinh tự thống kê lại công thức có trong chương trình Sau đó giáo viên chỉnh lí lại cho khoa học và thêm vào những công thức tổng hợp mà trong bài học không thể có được

Ví dụ công thức tính cường độ dòng điện

C

U

U

I

- Kiểm tra việc học công thức của học sinh

+ Yêu cầu học sinh học công thức ở nhà trong vở tự học (mỗi công thức viết ít nhất 5 lần) để giáo viên kiểm tra lúc các em trả bài, có thể phân công tổ trưởng và lớp phó học tập kiểm tra thường xuyên và báo cáo cho giáo viên, giáo viên kiểm tra đột xuất

+ Kiểm tra mỗi đầu tiết học (kiểm tra bài cũ)

+ Kiểm tra trước khi làm bài tập: Gọi học sinh nhắc lại công thức có liên quan đến bài toán

+ Kiểm tra trong giờ bồi dưỡng hoặc tiết ôn tập bằng nhiều hình thức

Ví dụ: Chia lớp thành 02 nhóm có số học sinh bằng nhau, yêu cầu mỗi học sinh trong nhóm viết ra giấy khoảng 10 công thức trong một chương khác với nhóm kia Sau đó cho nhóm này chấm bài nhóm kia Cách này học sinh vừa

là thí sinh vừa là giám khảo nên các em rất hứng thú Giáo viên kiểm tra lại và nếu có thưởng phạt càng tốt

Hay cũng có thể chia lớp thành 2 nhóm đều nhau có học sinh yếu kém và trung bình khá giáo viên giao cho mỗi nhóm số lượng công thức ngang nhau (Dựa vào bảng tóm tắt công thức) Chia bảng ra làm 2, mỗi nhóm cử thành viên của nhóm luân phiên lên bảng viết công thức và thi đua với nhau về thời gian Với cách làm như vậy, tất cả học sinh trong nhóm đều hoạt động, kích thích học sinh yếu kém học tập Giáo viên nhận xét cộng điểm hoặc khen thưởng cho nhóm hoàn thành sớm

- Đối với học sinh:

+ Học thuộc công thức

+ Ghi công thức vào vở tự học, các đại lượng trong công thức đơn vị, mỗi công thức ít nhất 5 lần

Trang 10

+ Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách học thuộc công thức bằng cách viết nhiều lần trên giấy hoặc trên bảng

+ Các bảng tóm tắt công thức phải trở thành “vật bất li thân đối với học sinh”

6 Hướng dẫn học sinh yếu kém kỹ năng và “mẹo” để làm trắc nghiệm khách quan.

- Để làm được các bài tập định lượng trắc nghiệm học sinh phải thuộc công thức Đối với học sinh yếu kém chúng ta chỉ yêu cầu các em làm được các câu trắc nghiệm đơn giản để đạt điểm 5 mà không nên yêu cầu cao đối với các em

+ Hướng dẫn học sinh chuyển vế công thức suy ra đại lượng cần tìm + Hướng dẫn học sinh cách bấm máy tính vì các em đã yếu thì không có

kỹ năng tính toán Do đó, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh các thao tác bấm máy tính ngay từ đầu năm học.Thông thường học sinh thường sai do đơn

vị không phù hợp với chế độ hiện hành của máy Ví dụ: x = 4cos(3t + π/2) (cm) Tính x khi t = 1s biểu thức đang ở chế độ “rad” mà các em nhập vào máy tính đang ở chế độ “độ” thì kết quả sẽ sai

+ Khi làm bài tập giáo viên yêu cầu tất cả học sinh phải có máy tính phải biết thế số và bấm ra kết quả Giáo viên gọi học sinh yếu kém đọc kết quả hoặc xuống lớp kiểm tra kết quả của các em

- Về đơn vị trong Vật lý cũng rất quan trọng: Đa số học sinh yếu kém khi làm bài tập ra kết quả sai là do không đổi đơn vị hoặc đổi đơn vị sai Do đó, khi trả bài công thức học sinh giáo viên yêu cầu học sinh phải nêu được các đại lượng và đơn vị Đối với biểu thức có chứa nhiều đại lượng khác nhau trong một công thức thì phải đổi đơn vị theo hệ thống SI Nếu công thức mà đại lượng cùng loại ở dạng tỷ số thì không nhất thiết phải đổi đơn vị theo hệ thống SI

Ví dụ: Tìm vị trí vân sáng trùng nhau ta sử dụng công thức:

1 1 2 2

k k  2 1 1

2

k

  (  1 , 2 cùng đơn vị là m).Trong trường hợp này học sinh không cần đổi đơn vị

Trong một số trường hợp học sinh có thể giải nhanh không cần đổi đơn

vị Khi giải bài tập về giao thoa ánh sáng tìm bước sóng ánh sáng hoặc khoảng vân i Nếu đề cho đúng các đơn vị sau:   ( m i mm a mm D m); ( ); ( ); ( ) Khi tính bước sóng ánh sáng hoặc khoảng vân i học sinh không cần đổi đơn vị

Ví dụ: Người ta thực hiện giao thoa ánh sáng đơn sắc với khe Young mà khoảng cách giữa hai khe là 2mm Khoảng cách từ màn đến hai khe là 1,5m Biết khoảng cách giữa hai vân sáng liên tiếp là 0,45mm Bước sóng của ánh sáng tới là:

2.0, 45

0,6 1,5

ai

m D

- Học sinh yếu kém cần phải thuộc và nhớ một số đơn vị thường gặp:

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w