1.1 Khái niệm về lũ ống, lũ quét Lũ quét là sự chảy dồn nước nhanh vào một vùng tương đối rộng tới vàichục km2 thường quét theo các triền sông, suối với cường độ mạnh xảy ra bấtngờ, duy
Trang 1Người thực hiện: Mai Đình Võ Chức vụ: Bí thư Chi bộ - Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Giáo dục Quốc phòng - An ninh
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2TT Đề mục Nội dung tiêu đề Trang
Trang 31 I MỞ ĐẦU 1 - 2
5 I.4 Phương pháp nghiên cứu 2
8 1.1 Khái niệm về lũ ống – lũ quét 3
9 2.2 Tổng quan về lũ ống – lũ quét 3 - 6
10 2.2.1 Nguyên nhân hình thành lũ ống – lũ quét 3 - 4
11 2.2.2 Cơ chế hình thành và vận động của lũ ống – lũ quét 4
12 2.2.3 Những giai đoạn chính hình thành lũ ống – lũ quét 4 - 5
13 2.2.4 Những đặc tính cơ bản lũ ống – lũ quét 5 - 6
14 2.2.5 Những đặc trưng cơ bản của lũ ống – lũ quét 6
15 2.3 Xây dựng mô hình phòng chống lũ ống – lũ quét 7 - 13
16 2.3.1 Thành lập bản đồ nguy cơ lũ ống – lũ quét 7
17 2.3.2 Các biện pháp ngăn ngừa lũ ống – lũ quét 7 - 11
18 2.3.3 Biện pháp phi công trình 11 - 13
19 2.4 Biện pháp quản lý và cảnh báo 13 - 15
20 2.4.1 Cảnh báo và dự báo 13 - 14
21 2.4.2 Xây dựng chính sách về lũ ống – lũ quét 14 - 15
22 II.2 Thực trạng trước và sau thực nghiệm đề tài 15 - 16
23 2.1 Khảo sát số lượng HS của nhà trường ở các địa bàn chịuảnh hưởng trực tiếp ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau 15
24 2.1.1 Tổng số học sinh toàn trường được chia thành ba nhóm 15
25 2.1.2 Sự mâu thuẫn của vấn đề 15 - 16
28 II.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện 16 - 19
29 3.1 Tổ chức và giảng dạy chính khóa 16 - 17
30 3.2 Tổ chức hoạt động ngoại khóa 17 - 18
31 II.4 Hiệu quả của đề tài ( Tác dụng của SKKN ) 18 - 19
32 4.1 Với giáo viên nói chung 18
Trang 4I MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài:
Liên tục nhiều năm gần đây xảy ra lũ quét ở các tỉnh miền núi phía Bắc,miền Trung, Tây Nguyên, mỗi năm một hung dữ hơn, khủng khiếp hơn, bất ngờhơn Những người sống trong vùng nguy hiểm không có nhiều cơ hội để thoátthân khi con nước ập về như trên trời giáng xuống Mạng chưa lo được, huốngchi tài sản Cho dù sống sót sau cơn lũ thì đa số người dân mất hết tài sản và vậtnuôi cây trồng, phương tiện sản xuất, họ đối diện với những ngày đen tối vì đóinghèo, dịch bệnh
Hàng trăm con người chết và mất tích, hàng nghìn gia súc, gia cầm trôitheo dòng nước lũ, hàng vạn héc ta lúa, rau màu, đất bờ xôi ruộng mật thànhđống đất đá, thiệt hại và hậu họa vì mưa lũ thật khó mà đong đếm
Huyện Ngọc Lặc với diện tích tự nhiên của là 497,2 km² Tổng dân số là136.210 người (2018), bình quân 274 người/km², gồm các dântộc: Mường, Dao, Thái, Kinh sinh sống, đơn vị hành chính gồm 1 Thị trấn và 20
- Phía bắc giáp huyện Cẩm Thủy và huyện Bá Thước
- Phía nam giáp huyện Thường Xuân và huyện Thọ Xuân
- Phía tây giáp huyện Lang Chánh
- Phía đông giáp huyện Yên Định
Với gần 70% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, người dân miền núithường sống dọc các con sông con suối hay dưới các sườn núi để tiện sinh hoạt
và sản xuất, nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ khi lũ và sạt lở đất xảy ra thì khó tránhkhỏi bị mất tài sản và chết người Những năm gần đây nhiều địa bàn cũng đãxuất hiện lũ lụt cục bộ và cũng đã có những thiệt hại đáng kể về con người vàvật chất, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán, tâm lý của đại
bộ phận người dân, kể cả khu vực thị trấn và một số ít khu vực trung du
Trường THPT Ngọc Lặc đóng trên địa bàn phố Lê Duẩn - Thị trấn NgọcLặc - Huyện Ngoc Lặc - Tỉnh Thanh Hóa, hằng năm tuyển sinh vào lớp 10 gần
500 học sinh với tổng cả 3 khối học trên 1.300 học sinh, là trường điểm, trungtâm của huyện nên địa bàn tuyển sinh rộng, trãi đều ở các xã với khoảng cách,con đường đến trường cũng khác nhau mà chủ yếu ở xa trên 10 km Mùa mưa lũcận kề, học sinh phải đi trên những cung đường đồi dốc khó khăn, qua nhữngkhe suối, con sông, mặt đập, thủy điện nhỏ với cầu cống còn tạm bợ, đường kiên
cố ít Do đặc tính của miền núi là mưa, giông, lốc xoáy cục bộ, thường xuyên,bởi vậy có nghĩa rằng việc sinh sống và đến trường của các em tiềm ẩn rất nhiềurủi ro bởi thiên tai ập đến bất cứ lúc nào, đe dọa tính mạng con người nói chung
và học sinh trường THPT Ngọc Lặc nói riêng
Trang 5Để giảm thiểu rủi ro mà thiên tai, lũ lụt, giông lốc ập đến một cách bấtngờ, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý, tính mạng của gia đình, cộng đồng, họcsinh khi mà thời tiết khắc nghiệt và ngày một cực đoan, giúp các em hiểu biếtthêm về thiên tai, lũ ống- lũ quét, nguyên nhân và cách phòng chống, đề phòngmọi tình huống có thể xảy ra trên địa bàn huyện Ngọc Lặc mà nội dung chươngtrình môn học Giáo dục Quốc phòng và An ninh cũng như những môn học khác
có liên quan đến chủ đề chỉ giới thiệu sơ qua Việc giúp học sinh và đồng nghiệp
có được cái nhìn thiết thực hơn, rõ hơn về thiên tai, lũ ống - lũ quét, mức độnguy hiểm, sự tàn phá khốc liệt, hệ lụy của nó gây ra đối với con người, vật chất
và môi trường là cần thiết hơn bao giờ hết
Đó là cơ sở, là lý do bản thân lựa chọn đề tài “ Giải pháp giáo dục và
tuyên truyền để nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng của rừng – Nguyên nhân và cách phòng chống lũ ống, lũ quét, giảm thiểu thiên tai cho học sinh THPT ” để giảng dạy cho học sinh Trường THPT Ngọc Lặc năm học 2020 -
2021 và các năm học tiếp theo
I 2 Mục đích nghiên cứu.
- Phổ biến những kiến thức:
+ Giới thiệu về lũ ống, lũ quét
+ Nguyên nhân gây ra lũ ống, lũ quét
+ Sự hình thành lũ ống, lũ quét
+ Những đặc tính cơ bản của lũ ống, lũ quét
+ Ảnh hưởng của lũ ống, lũ quét
+ Mô hình phòng chống thiên tai lũ ống, lũ quét
I 3 Đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể: Quá trình giảng dạy môn học Giáo dục Quốc phòng và An ninh
bậc THPT về Thiên tai, tác hại của chúng và cách phòng tránh ( Sách giáo khoa
10 môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh )
+ Thực trạng tiếp thu kiến thức, sự hiểu biết về kiến thức thiên tai, lũ ống,
lũ quét, tác hại của chúng và cách phòng tránh ( Sách giáo khoa 10 môn Giáodục Quốc phòng và An ninh ) của học sinh Trường THPT Ngọc Lặc - HuyệnNgọc Lặc - Tỉnh Thanh Hóa trong năm học 2020 - 2021
- Chủ thể: Giáo viên và học sinh Trường THPT Ngọc Lặc.
I 4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu
+ Tổng hợp và phân tích tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn,
+ Điều tra dư luận (ý kiến tiếp thu, phản hồi của giáo viên và học sinh)+ Kiểm chứng bằng thực nghiệm
- Phương pháp toán học xắc suất thống kê
+ Đưa ra số liệu
+ Phân tích và tổng hợp số liệu
Trang 6II NỘI DUNG.
II 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.
1.1 Khái niệm về lũ ống, lũ quét
Lũ quét là sự chảy dồn nước nhanh vào một vùng tương đối rộng (tới vàichục km2) thường quét theo các triền sông, suối với cường độ mạnh xảy ra bấtngờ, duy trì trong một thời gian ngắn và có sức tàn phá rất mạnh, quét sạch hoặcphá huỷ hầu như mọi vật trên bề mặt mà dòng nước chảy qua
Lũ quét là một dạng tai biến nguy hiểm xếp hàng thứ ba sau động đất,trượt đất Lũ quét rất thường xuyên xẩy ra nhiều vị trí ở Tây Bắc Bộ, gây nhiềuthiệt hại về người và tài sản của nhân dân Có nhiều vị trí lũ quét xẩy ra liên tiếpnhiều năm trên diện rộng
Lũ ống là sự chảy dồn nước bộc phát đột ngột từ cao xuống thấp với tốc
độ rất cao vào một thung lũng suối nhỏ hoặc một khe hẻm có quy mô nhỏ hơn(từ vài trăm mét đến vài km) theo sườn rất dốc, tạo thành một khối nước hìnhống, thời gian xẩy ra rất ngắn và sức tàn phá cũng rất mạnh
2.2 Tổng quan về lũ ống - Lũ quét
2.2.1 Nguyên nhân hình thành lũ quét – lũ ống
Nguyên nhân gây ra lũ quét do mưa to nhiều ngày liên tiếp với cường độmạnh, mưa nhiều ngày liên tục và kết thúc bằng một trận mưa cường độ cao ởnhững nơi có địa hình dốc, đặc biệt ở những nơi mà địa hình hai phía thung lũngđều dốc, ở những khu vực đồi núi trọc, thực vật ít thì sự tàn phá của lũ quét càngmạnh và tần suất càng cao Khi lũ quét xẩy ra trong khu vực có các thành tạo bị
vỡ vụn, bị phong hoá mạnh thì thường kèm theo dòng bùn đá rất nguy hiểm(điển hình là trận lũ quét kèm dòng bùn đá ở Nậm Coóng, huyện Sìn Hồ, tỉnhLai Châu)
Lũ quét xảy ra chịu ảnh hưởng của các dạng tổ hợp, các điều kiện tựnhiên và các hình thức hoạt động của con người trên lưu vực Đi vào bản chất,
có thể phân nhân tố theo 3 nhóm tùy theo tốc độ biến đổi của chúng
Các nhân tố hình thành lũ quét
Ít biến đổi Biến đổi chậm Biến đổi nhanh
Hoạt động của con người
Địa chất thủy vănLớp phủ thực vật
Mưa lớnLũĐộng đấtXói mòn, trượt lỡLượng ẩm lưu vực
Trang 7Các hình thức hoạt động của con người trên lưu vực có thể ảnh hưởng đến
cả ba nhóm các nhân tố: biến đổi nhanh, biến đổi chậm và ít biến đổi Biến đổi
rõ nhất là các nhóm nhân tố biến đổi nhanh Đây là nhóm nhân tố chỉ thị thườngđược chọn làm các đặc trưng để phân biệt lũ quét với lũ thường Nhóm các nhân
tố biến đổi chậm tham gia vào quá trình hình thành lũ quét khi quá trình biến đổivượt qua một "ngưỡng" nào đó "Ngưỡng" của từng nhân tố là một khoảng khárộng vì lũ quét hình thành do những tổ hợp khác nhau của các nhân tố
2.2.2 Cơ chế hình thành và vận động của lũ quét qua khảo sát thực trạng, thu thập phân tích dữ liệu, số liệu
Lũ quét xảy ra ác liệt, tập trung rất nhanh lượng vật chất hỗn hợp nước vàchất rắn, lũ kết thúc nhanh là những đặc điểm quan trọng nhất dễ nhận thấy Lũquét có những đặc điểm khác biệt như vậy là do cơ chế hình thành và vận độngcủa lũ quét đã thay đổi về căn bản so với lũ nước thông thường Do điều kiệnmặt đệm thay đổi đáng kể, kết hợp với cường độ mưa lớn hiếm thấy làm cho cơchế hình thành dòng nước lũ trong lũ quét đã khác hẳn với cơ chế trước đó: cơchế hình thành nước lũ theo phương thức vượt thấm là chính (dòng mặt chiếmtuyệt đại bộ phận) đã thay cơ chế dòng bão hòa trước đó Vì thế, dòng chảy mặttràn lan trên mặt lưu vực, xói mòn rửa trôi mạnh hơn, vật chất tập trung nhanhhơn hẳn, hầu như đồng thời đổ về hạ lưu Trong quá trình hình thành, với cơ chế
và phương thức vận động như vậy, dòng nước lũ thông thường dần dần chuyểnhóa, lũ quét tập trung nhanh hơn, tạo ra dòng xiết trong lòng dẫn, đỉnh lũ cao,động năng rất lớn Theo ước tính sơ bộ, trị số dòng chảy rắn thường chiếm 15-20% đỉnh lũ quét Tại hạ lưu, lũ không những quét mà còn bồi lấp vùng gần cửasông rất mạnh, tàn phá vùng này theo hai kiểu: quét và bồi lấp Tổn thất nướctrong quá trình hình thành dòng lũ quét là không đáng kể càng làm cho tổnglượng lũ, đỉnh lũ gia tăng Dòng vật chất lỏng - rắn thường chuyển động trượttrên sườn dốc đứng với lưu tốc đặc biệt lớn khác với dòng chảy theo khe lạchtrong các trận lũ thường, gây tiếng động mạnh khi tập trung dòng lũ Lũ có sứctàn phá ghê gớm, gây thiệt hại lớn cho vùng hạ lưu thung lũng sông và hủy hoại
rõ rệt trên bề mặt lưu vực
Với nhận thức như trên về cơ cấu hình thành và vận động của lũ quét, rõràng, cùng với các loại biện pháp tác động vào các nguyên nhân, cần có nhữngbiện pháp làm thay đổi cơ chế hình thành và vận động của dòng lũ Trước hết lànhững biện pháp nhằm làm cho cơ chế dòng vượt thấm chuyển một phần sang
cơ chế bão hòa, tăng tổn thất nước, giảm tổng lượng nước lũ, sau đó là giảm xóimòn, rửa trôi, điều tiết dòng chảy, cản trở tập trung nhanh và đồng thời nước lũ
về hạ lưu, giảm động năng, lượng bùn cát - vật chất rắn khác trong dòng lũ, chiacắt lũ, trữ chậm lũ, hạn chế tiết diện "quét", diện bồi lấp và cuối cùng là giảm,hạn chế tác hại của lũ quét Rõ ràng ở đây việc áp dụng các biện pháp phi côngtrình và công trình trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, giaothông là cần thiết Các biện pháp tăng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, hồchống lũ là những biện pháp hiệu quả nhất tác động vào mặt cơ chế hìnhthành, vận động của lũ quét
2.2.3 Những giai đoạn chính hình thành lũ quét – lũ ống
Trang 8Sự hình thành lũ quét trải qua các giai đoạn sau:
- Mưa lớn, cường độ lớn gây hình thành dòng lũ mặt lớn và đặc biệt trànngập trên mặt lưu vực nhỏ vùng núi dốc có độ che phủ rừng ít, bị khai thácmạnh mẽ, tiềm tàng nhiều điều kiện thuận lợi cho xói mòn, rửa trôi đất đá, bùncát, cây cối, song lòng dẫn lại tiêu thoát kém
- Nước lũ gây xói mòn, rửa trôi, sạt, trượt, sụt lỡ mạnh mặt lưu vực, cuốntheo các vật chất rắn, dòng lũ khi đó thay đổi căn bản về chất, trở thành dòngchất lỏng - rắn (gồm nước - bùn đá - cây cối ) tập trung vào sông chính Lũ khi
đó có tổng lượng lớn hơn hẳn tổng lượng dòng lũ nước sinh ra nó
Dòng lũ bùn - nước - cây cối tập trung hầu như đồng thời, rất nhanh từcác sườn dốc lưu vực (thường có độ dốc lớn, trên 20-30%) vào lòng dẫn, đổ vàocác vùng trũng, thung lũng sông ở dạng lũ quét rồi thoát một phần nước - bùncát - cây cối ra sông chính Dòng lũ quét tàn phá mọi vật cản trên đường chuyểnđộng, tạo ra lòng dẫn mới, xói, bồi lòng dẫn cũ
Bồi lắng bùn cát, đất đá, cây cối ở các vùng trũng, thấp dọc lòng dẫn (cũ
và mới tạo thành trong trận lũ quét) ở dạng các bãi lầy, bãi bùn cát, đá sỏi, câycối phủ đầy vườn tược và cả những khu dân cư, kinh tế vùng thấp
Nếu xét về mặt không gian, mỗi giai đoạn nêu trên thường những miềnhoạt động chính, hầu như mọi quá trình xảy ra trên toàn bộ lưu vực
- Khu vực sinh ra lũ là phần thượng nguồn lưu vực sông độ dốc lớn, thườngchiếm 2/3 diện tích lưu vực Tại đây, các quá trình chính hình thành dòng chảymặt, xói mòn, rửa trôi mặt đất xảy ra mạnh nhất Quá trình tập trung dòng lũcũng xảy ra đồng thời, song chưa xảy ra mạnh mẽ
- Khu vực tập trung dòng lũ quét, nơi còn xảy ra mạnh mẽ quá trình xóisâu, sạt trượt lỡ đất đá, cuốn trôi cây cối, tắc ứ tạm thời sau vỡ hàng loạt Khunày bao trùm một phần thấp hơn (thường là phần chân dốc, chân các sườn núi)của thượng lưu, các đoạn sông suối phần trung tâm lưu vực nơi độ dốc lòng dẫncòn rất lớn, hợp lưu của nhiều sông suối trước khi dòng lũ đổ vào thung lũng
- Khu vực chịu lũ: là nơi thường xảy ra mạnh mẽ nhất là quá trình "quét",trong đó hiện tượng xói sâu, lở, sạt trượt còn xảy ra ở cường độ cao trên đoạnđầu của thung lũng, hiện tượng quét, bồi lấp xảy ra mạnh mẽ nhất ở đoạn cuốicủa thung lũng trước khi lũ quét thoát được dòng chính
2.2.4 Những đặc tính cơ bản của lũ quét – lũ ống
a Tính bất ngờ:
Khoảng thời gian từ khi xuất hiện sự gia tăng mực nước trong sông đếnkhi đạt đỉnh lũ là rất ngắn Do vậy thường khó khăn trong dự báo, cảnh báo lũquét một cách hiệu quả ở trình độ chuyên môn và kỹ thuật hiện nay Hiểu biết rõ
về cơ chế hình thành, những đặc tính và đặc trưng của lũ quét từ đó có thể cóbiện pháp dự báo, cảnh báo hiệu quả Mặc dù vậy, lũ quét vẫn là thiên tai bấtngờ ngay cả khi đã báo trước được 1-3 giờ Cần có biện pháp đặc biệt để giảmtính chất này của lũ quét
b Tính ngắn hạn, ác liệt:
Lũ quét thường tồn tại trong thời gian ngắn, thường kết thúc sau 10-18giờ, rất ít khi quá 1 ngày, nước lũ lớn xói mòn, rửa trôi khối lượng rất lớn vật
Trang 9chất rắn từ các sườn núi dốc rồi trở thành dòng bùn - nước - vật rắn tập trunghầu như đồng thời và rất nhanh Do đó, lũ quét thường có nhánh lên xuống rấtdốc, khác hẳn lũ thường, lại có đỉnh rất lớn, tổng lượng lớn, hơn hẳn đỉnh lũnước (có khi gấp 2-5 lần) trong điều kiện mưa tương đương do cơ chế hìnhthành và vận động khác hẳn Như thế, để giảm hoặc loại trừ tính ngắn hạn của lũquét, các biện pháp có lẽ phải hướng vào kéo dài thời gian lũ lên (là chủ yếu) và
lũ xuống mà trên căn bản là hướng vào tăng thời gian tập trung dòng lũ ở lưuvực, từ đó cũng giảm hẳn tính ác liệt của lũ (giảm đỉnh lũ, tần suất lũ lên, xuống,lưu tốc dòng sông)
c Tính hàm chứa lượng vật rắn rất lớn:
Dòng lũ quét khác hẳn dòng lũ nước thường bởi tỷ lệ vật chất rắn rất lớn.Trong quá trình hình thành và vận động, tỷ lệ vật rắn trong dòng lũ quét khôngngừng tăng lên, tăng mạnh nhất ở khu vực hai - khi chuyển động từ trên núi caoxuống thung lũng Lượng chất rắn thường chiếm 3-10%, thậm chí trên 10%trong dòng lũ để trở thành dạng lũ bùn đá Một dòng chảy như vậy, xét về bảnchất hình thành và động lực của nó đã khác biệt về chất so với lũ nước thôngthường Dòng lũ quét là pha trung gian giữa vật thể lỏng và rắn Để giảm và hạnchế tác động đặc tính này của dòng lũ quét, hoặc ngăn ngừa nguy cơ lũ quét, cầnphải có biện pháp nhằm vào giảm xói mòn, sạt, trượt, tức là giảm lượng vật chấtrắn trong lũ, có biện pháp cắt bớt lượng vật rắn trong lũ quét, giảm quá trìnhchuyển động trượt
2.2.5 Những đặc trưng cơ bản của lũ quét:
Để thiết kế, thực thi bất kỳ loại biện pháp công trình nào, ngay cả với biệnpháp phi công trình thì các đặc trưng cơ bản của lũ quét là những cơ sở quantrọng nhất, ngoài những hiểu biết về khu vực hình thành, vận động, khu vựcchịu lũ, đặc tính của lũ quét
Những đặc trưng cơ bản của lũ quét là:
- Thời gian xuất hiện, thời gian lũ lên, xuống và cả trận, quá trình lũ quét
- Đỉnh lũ và thời gian xuất hiện, biên độ lũ, lưu tốc trung bình và cực đại, phânbố
- Cường suất lũ lên, xuống trung bình và lớn nhất
- Tổng lượng, thành phần vật chất trong lũ (lỏng, rắn), đặc trưng cơ lý của dòng
- Thời gian tập trung lũ, thời gian truyền lũ, khả năng chuyển tải của dòng lũquét
- Thành phần chất rắn, thành phần hạt, phân bố hạt trong dòng lũ quét
- Động lượng của dòng và tác động của dòng khi gặp vật cản
- Kích thước hình học của dòng
- Áp lực thủy động khi vỡ đập, và các chỗ tắc ứ tạm thời khi có lũ quét
- Vận tốc quán tính khi lũ gia tăng và tắt dần tùy theo yêu cấu trúc lũ quét
Loại thiên tai này kéo theo hiện tượng trượt lở đất, phá huỷ rừng, xói mònđất và gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực, đặc biệt làvùng nông thôn miền núi phía Bắc Do xói mòn mạnh, một lượng lớn cácchất dinh dưỡng như nitơ, kali, canxi, magiê cùng các loài vi sinh vật bịcuốn rửa trôi Đất dần dần mất khả năng tích nước và trở nên rắn, chặt hơn
Trang 102.3 Xây dựng mô hình phòng chống lũ ống – lũ quét
2.3.1 Thành lập bản đồ nguy cơ lũ quét – lũ ống
- Phân vùng nguy cơ lũ quét dựa trên cơ sở phân tích từng vùng, từng đơn vịdiện tích và tác động tổng hợp của các yếu tố:
- Địa hình, hình dạng lưu vực, hướng dòng chảy thể hiện ở bản đồ phân cấp độdốc
- Khả năng thấm của đất, khả năng sinh dòng chảy, xói mòn, rửa trôi thể hiện ởbản đồ phân bố các loại đất
- Mặt đệm, lớp phủ thực vật và các yếu tố tác động của con người thể hiện ở bản
đoạn hạ lưu, khi lũ tập
trung nhanh, lưu lượng lớn
mà lại tiêu thoát kém thì
phần hoặc toàn bộ lưu lượng
lũ quét đi theo một tuyến
khác ra sông chính hoặc vùng
trữ để không gây thiệt hại cho
Xã Ngọc Khê – huyện Ngọc Lặc làm thủy lợi mùa khô, khơi thông dòng chảy, năm 2020
Gia cố cửa xả lũ đập Cống Khê xã Ngọc Khê
Trang 11vùng bảo vệ ở thung lũng sông Việc phân dòng thường được thực hiên bằngcách đào kênh để dẫn ra sông chính hoặc vùng trũng.
b Tách vật rắn khỏi dòng lũ
Biện pháp nhằm tách nước ra khỏi vật chất rắn trong dòng lũ quét để giảmđược tác động của nó Khi đa phần các vật chất rắn bị tách thì lũ quét sẽ trởthành lũ thường và có thể giảm nhẹ bằng các công trình quen biết trên sông Đểtách vật chất rắn, các loại đập có độ dốc đáy nhỏ hoạc các tấm đập chắn thấpngay đáy lòng dẫn thường được sử dụng
c Biện pháp kĩ thuật thủy lợi
Biện pháp kĩ thuật thủy lợi nhằm cải thiện địa hình đồi núi, làm gián đoạnlòng chảy, lưu trữ nước ở sườn dốc, thực hiện thủy lợi hóa Đây là biện phápkhống chế dòng lũ quan trọng và có hiệu quả lớn Các biện pháp công trình đơngiản bao gồm: đắp bờ dưới nước, đào mương ngăn nước ở khe suối, xây dựngcác đập kiểm soát Biện pháp thủy lợi quan trọng khác là: xây dựng hồ chứakiểm soát lũ, công trình phân chậm lũ, thoát lũ,…
d Tăng khả năng thoát lũ của cầu cống bằng
Mở rộng khẩu độ cầu cống là biện pháp đặc biệt cần thiết ở những đoạnsông, suối thường xảy ra lũ quét Quạt bồi do lũ quét tạo ra ngày càng cao, khẩu
độ cầu cống sẽ không đủ thoát nước, cần mở rộng khẩu độ hoặc xây thêm cầu ở
vị trí thấp của quạt bồi cầu cống phải được xây dựng kiên cố, duy tu và bảodưỡng thường xuyên để đảm bảo cho nền đường và cầu cống được an toàn vìdòng lũ quét khi chảy có cuốn theo một lượng lớn bùn đá, lưu tốc cân bằng độnglực lớn hơn so với dòng nước bình thường dễ gây tác hại đến nền đường và cầucống
e Hạn chế lũ quét bằng đập thủy điện
Đập thủy điện với hồ chứa nước có thể giúp điều tiết nước trong mùa lũ.Đập nước được xem là một biện pháp hữu hiệu để trị thủy, kiểm soát dòng chảy,giữ nước trong mùa mưa để hạn chế lũ lụt ở hạ nguồn và xả nước ở mùa khô đểgiảm bớt hạn hán Từ các hồ chứa này, người ta còn chú ý khai thác nước choviệc tưới ruộng, cấp nước sinh hoạt, vận tải thủy, nuôi cá trong hồ chứa Thếnhưng việc xây đập cũng có thể đem lại những hậu quả không nhỏ
* Một số liệt kê chính về tác động môi trường có thể có của các đập nước, như:
Một lượng lớn phù sa sông bị giữ lại ở trong lòng hồ chứa làm chất lượng
ở hạ nguồn giảm, đồng ruộng sẽ thiếu phù sa màu mỡ bồi bổ khiến nông dânphải nhập phân bón hóa học vừa tốn tiền, vừa tác hại cho đồng ruộng, sinh vậtchung quanh và cả con người
- Nhiều loại cá sông không thể tồn tại và phát triển vì đường đi để sinh sản vàkiềm ăn của chúng bị cắt đứt Một số công trình hồ chứa có hạng mục xây dựngđường đi cho cá nhưng thực tế nhiều nới có công trình này nhưng lượng cá trênsông vẫn tụt giảm thê thảm, có nhiều nơi chưa đến 10% so với khi chưa có côngtrình
- Nước trong hồ chứa bị tù đọng có thể sẽ là nơi phát sinh nhiều dịch bệnh từnguồn nước như sốt rét, sốt xuất huyết, sên sán, tảo độc,
Trang 12- Một lượng lớn diện tích cây rừng bị mất đi do lòng hồ phải ngập nước, ảnhhưởng này có thể làm giảm nguồn gien thực và động vật quí hiếm, đa dạng
- Việc di dân và vấn đề định cư người dân sinh sống trong khu vực lòng hồ cóthể là một khó khăn, do tác động đến sự an cư, phong tục tập quán người dân,đặc biệt là người dân tộc thiểu số
- Các đập nước lớn có thể gây ra nhiều biến động liên quan đến địa chất, địahình, thổ nhưỡng Nước trong lòng hồ có thể thấm qua các tầng đất gây úngnước, tăng mức độ bão hòa các lớp thổ nhưỡng, có thể ảnh hưởng đến việc ổnđịnh vỏ trái đất ở khu vực Một số nơi hiện tượng động đất, đất chuồi xảy rathường xuyên sau khi có các hồ chứa
- Sự thay đổi chế độ dòng chảy trên sông có thể tạo ra một hình thái xói lở vàbồi lấp mới ở hạ lưu Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng một phần ổn định bờ sông
và hệ sinh thái hai bên bờ sông
- Nước khi chảy qua các turbine máy phát điện sẽ gia tăng nhiệt độ do ảnhhưởng của hiện tượng ma sát dòng chảy với đường ống và thiết bị turbine Nước
xả ra có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ nước bình thường của dòng sông cũng gây racác ảnh hường đến hệ sinh thái và sử dụng nước ở các vùng cận kề nhà máy phátđiện
- Đập nước có thể bị vỡ do các nguyên nhân như nước lũ dồn về quá lớn vượtqua khả năng xả của đập tràn, áp lực nước lớn có thể phá vỡ kết cấu công trìnhcủa đập nước, hoặc do các tác nhân khác như thấm ngang quá lớn gây sạt lở máiđập, các công trình dẫn nước qua đập bị phá hủy, hoặc do động đất tại chỗ hoặccác chấn động địa chất tạo sóng cường trong hồ chứa làm trượt mái đập Điềunày sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng người dân vùng hạ nguồn
- Dự báo tổn thất do vỡ đập thường không chính xác lắm vì nó phụ thuộc vàohoàn cảnh và thời điểm đập bị vỡ Trường hợp đập vỡ trùng với thời kỳ mưa lũ,triều cường ở hạ lưu thì tổ hợp các thảm họa này sẽ nhân cao các tổn thất Nếu
hạ lưu là các vùng đồng bằng hẹp và dài thì nguy cơ càng tăng và tổn thất sẽ lớnhơn vùng đồng trũng rộng Nếu trên một hệ thống sông nhiều bậc nước, kịchbản vỡ nhiều đập nước do nguyên nhân thiên nhiên (như động đất, lũ cực lớn, )hoặc do con người (do phá hoại, khủng bố, ) cần phải xem xét và thực nghiệmcẩn thận trên các mô hình vật lý hoặc toán học
f Sử dụng đất hợp lý
Làm đất và cải tạo đất
- Chuẩn bị đất trước khi gieo
trồng rất có ý nghĩa trong việc
hạn chế xói mòn và dòng chảy
cày phải được tiến hành thật
chính xác theo đường đồng
mức, phải đều và sâu
- Cày sâu theo đường đồng
mức: đây là một biện pháp
quan trọng nhằm tạo ra nhiều
rãnh nhỏ ngang mặt dốc, mỗi
Hình ảnh thị trấn Ngọc Lặc, góc nhìn quy hoạch từ trên cao xuống - Năm 2020
Trang 13luống cày có tác dụng như một bờ ngăn nước, làm cho nước mưa được giữ lạinhiều Mặt khác đất cày sâu độ xốp sẽ tăng nên khả năng thấm và giữ nước củađất cũng được nâng cao, do đó hạn chế được dòng chảy Tuy nhiên, ở những nơi
có độ dốc cao, lượng mưa lớn, đất chặt khó thấm nước thì hiệu quả của biênpháp này không lớn, cần phải kết hợp với các biện pháp khác
- Làm luống theo đường đồng mức: trên cơ sở cày sâu trên đường đồng mức,làm luống trên đường đồng mức có tác dụng chống xói mòn và dòng chảy rấtlớn Làm luống trên đường đồng mức có thể giảm được lưu lượng dòng chảy 60
- 90%, giảm lượng bào mòn mặt đất tới 80 - 95%, sản lượng tăng 8 - 33% so vớiđất sản xuất không làm luống tính ưu việt củ làm luống ngang dốc là cải tạo địahình, diện tích hứng mưa của mặt đất tăng lên, lượng mưa trên đơn vị diện tíchgiảm, mỗi luống có tác dụng như một bờ chắn nước ngang dòng chảy, lượngnước không thấm kịp sẽ được dồn xuống giữ ở khoảng giữa 2 luống rồi tiếp tụcthầm vào đất, mặt khác do làm luống đất tơi xốp cũng tăng khả năng thấm nước
Kỹ thuật gieo trồng trên đất dốc
Trồng theo hàng trên đường đồng mức: đây là biện pháp có tác dụng ngăncản và giảm nhẹ tốc độ dòng chảy, tăng lượng nước thấm xuống đất, do đó giảmđược lượng đất bị cuốn trôi, tăng sản lượng cây trồng hiện nay biện pháp nàytương đối phổ biến ở nước ta và là một trong những biện pháp then chốt trên đấtdốc
Trồng xen canh gối vụ: xen canh gối vụ là kinh nghiệm sản xuất lâu đờicủa nhân dân ta và cũng đã được áp dụng nhiều ở các nước nhiệt đới xen canh
là biện pháp tận dụng tối đa khả năng sản xuất của điều kiện lập địa, đồng thờitrồng xen có tác dụng che
phủ và cải tạo đất rất tốt
gối vụ là biện pháp làm
cho mặt đất luôn luôn cò
cây che phủ, thu hoạch
được nhiều sản lượng
trong một thời gian ngắn,
bảo vệ được đất canh tác
khỏi bị xòi mòn và hạn
chế được dòng chảy
trong biện pháp trồng xen
cần chú ý trồng xen cây
nông nghiệp với cây lâm
nghiệp (nông, lâm kết hợp) đây là biện pháp có hiệu quả, được người dân ápdụng rộng rãi
Trồng xen băng cây trên
đường đồng mức: là biện pháp
ngăn cản dòng chảy, chống xói
mòn có hiệu quả đồng thời tăng
sản lượng cây trồng với phương
pháp này chia mặt dốc thành nhiều
Mô hình trồng mía- lạc, xen canh gối vu ở chân đồi xã Lam Sơn – Ngọc Lặc năm 2020