1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng GAĐT trong dạy và học môn ngữ văn ở trường trung học phổ thông hoằng hoá IV

28 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓATRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOẰNG HOÁ IV” Người

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TRONG DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOẰNG HOÁ IV”

Người thực hiện: Đặng Thị Hà Chức vụ: Phó hiệu trưởng SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn

Trang 2

THANH HÓA, NĂM 2021

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC HÌNH ẢNH 3

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ 4

Phần II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 6

I CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ 6

1 Cơ sở pháp lý 6

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng GAĐT trong giáo dục 8

II THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG DẠY, HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT HOẰNG HOÁ IV 11

1 Hiện trạng dạy và học môn Ngữ văn trong trường THPT Hoằng Hoá IV .11

2 Nguyên nhân 12

III ỨNG DỤNG GAĐT TRONG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT 14

1 Phân biệt GAĐT và BGĐT 14

2 Xây dựng GAĐT 15

3 Sử dụng GAĐT trong dạy học, thuận lợi và khó khăn 20

IV KẾT QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG GAĐT TRONG GIẢNG DẠY MÔN VĂN Ở TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA IV 22

1 Kết quả trong học tập, kiểm tra, đánh giá học tập môn Ngữ văn 22

2 Kết quả trong phát triển các kỹ năng mềm của HS 24

Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 25

1 Kết luận 25

2 Kiến nghị 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo NQ Nghị quyết

CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa THPT Trung học phổ thông

DANH MỤC HÌNH ẢNH

3 Hình 03 Minh họa về slide trình chiếu của BGĐT 17

Trang 5

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tưvới những tiến bộ vượt bậc trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong công nghệ tinhọc, điện tử, viễn thông thì việc ứng dụng công nghệ đa phương tiện trong cuộcsống, học tập, sản xuất, kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến và đi vào chiềusâu, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp, khó lườngthì việc ứng dụng công nghệ đa phương tiện trong mọi hoạt động của đời sống

xã hội đang dần trở thành một nhu cầu tất yếu mang tính sống còn của mỗi cộngđồng, mỗi nghành nghề và mỗi quốc gia

Với vai trò “… là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (theo Khoản 1, Điều 61, Hiến pháp nước

CHXHCN Việt Nam năm 2013), ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải tiênphong trong việc ứng dụng công nghệ đa phương tiện vào công tác dạy và học ởmọi cấp học, đặc biệt đối với cấp học Trung học phổ thông Với vị trí là cấp họccuối cùng trong hệ thống giáo dục phổ thông, cấp Trung học phổ thông là cấphọc mang tính chuyển tiếp từ giáo dục phổ thông sang giáo dục chuyên nghiệp,

là cấp học đặt những “viên gạch đầu tiên” cho việc tiếp cận với nhiều phát kiến,sáng kiến khoa học, phương pháp nghiên cứu, tìm tòi khác nhau trong tương laicủa các thế hệ HS; do đó, cấp Trung học phổ thông là một cấp học cực kỳ quantrọng, có sự ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức, ước mơ, khát vọng tìm tòi, tínhnăng động và sự tích cực trong học tập, nghiên cứu, ứng dụng vào cuộc sống của

HS trong tương lai Trong cấp học này, nếu HS được tiếp cận càng nhiều với cácphương pháp dạy và học tính cực, khoa học, sử dụng nhiều công nghệ, nhiềuphương tiện trong dạy và học thì trong tương lai HS sẽ trở thành những ngườinăng động, tích cực, lạc quan, ham học hỏi, nhiều khát vọng và ngược lại Chính

vì vậy, việc ứng dụng công nghệ và đa phương tiện trong dạy và học ở cấp họcnày có vai trò hết sức quan trọng mà việc sử dụng GAĐT là một trong nhữngứng dụng thiết thực, hiệu quả, tạo được nhiều hiệu ứng tích cực giúp cho HS cónhiều hứng thú trong học tập, tìm tòi, nghiên cứu và ứng dụng trong cuộc sống,sinh hoạt hằng ngày

Ngữ văn là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội là một môn học rất quantrọng giúp cho con người hình thành vốn từ, phát triển tư duy, bồi dưỡng tâmhồn, hoàn thiện nhân cách và thúc đẩy phát triển sự nghiệp của mỗi con người

Trang 6

Ngữ văn chiếm thời lượng lớn trong chương trình dạy và học của chương trìnhgiáo dục cấp Trung học phổ thông Thông qua việc dạy và học môn Ngữ văn,tâm hồn của cả thầy và trò đều được thanh lọc và ngày càng giàu có hơn, ấm áp

và nhân văn hơn Vì vậy nó có tầm quan trọng không thể thay thế trong việcgiáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho các thế hệ thầy và trò nói riêng vàcho cả xã hội nói chung Tuy nhiên, hiện nay việc học môn Ngữ văn của HStrong trường THPT chưa đạt được kết quả như mong muốn Có nhiều nguyênnhân dẫn đến tồn tại này, song một trong những nguyên nhân quan trọng hàngđầu là giáo án, bài giảng thiếu sức hấp dẫn, chưa tạo được sự chủ động cho HStrong việc tìm tòi, nghiên cứu, cảm nhận văn học Sự thiếu hấp dẫn của bài họccũng có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ đạo vẫn là sự truyền đạtmang tính một chiều, đơn điệu do giáo án được thiết kế theo kiểu truyền thống,cứng nhắc, thiếu linh hoạt, khó sử dụng các phương tiện, công nghệ hiện đại,thiếu tính kích thích sự sáng tạo, sự háo hức và sự năng động của HS

Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải thay đổi các vấn đề liên quan đến côngtác giảng dạy môn Ngữ văn trong các trường THPT mà một trong số thay đổicần thiết nhất, đầu tiên nhất là thay đổi giáo án nói chung cũng như bài giảngtrong mỗi giáo án nói riêng Việc thay đổi giáo án chỉ thành công khi thỏa mãnđược các yêu cầu về tính linh hoạt, có khả năng sử dụng đa phương tiện tronggiảng dạy, tạo được những bất ngờ thú vị trong quá trình dạy và học; tạo điềukiện cho HS chủ động và tích cực trong suy nghĩ, cảm nhận văn học và tham giaxây dựng bài; giúp HS nắm được những vấn đề cốt lõi về tư tưởng chủ đạo,nghệ thuật và nội dung của tác phẩm ngay trên lớp Đồng thời, phải bồi dưỡngphương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho HS, giúp cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức Để đáp ứng đầy đủ các yêucầu trên và giúp việc dạy và học môn Ngữ văn đạt được mục đích thì việc sửdụng GAĐT là một trong những giải pháp có hiệu quả tích cực

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu và ứng dụng sáng kiến

kinh nghiệm: “Sử dụng GAĐT trong dạy và học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông Hoằng Hoá IV”.

Trang 7

Phần II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ

1 Cơ sở pháp lý

- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCH Trung ương ĐảngKhóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;

- Khoản 1, Điều 7, Luật Giáo dục năm 2019, quy định: “Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật thường xuyên; coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức

và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng của người học”;

- Khoản 1 và Khoản 2, Điều 8, Luật Giáo dục năm 2019, quy định: “1 Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo

2 Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho phân luồng, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để địa phương và cơ sở giáo dục chủ động triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp; đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới, yêu cầu hội nhập quốc tế Chương trình giáo dục là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện”;

- Khoản 1 và Khoản 4, Điều 29, Luật Giáo dục năm 2019, quy định vềmục tiêu của giáo dục phổ thông nói chung và mục tiêu giáo dục của cấp THPT

là: “1 Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ

Trang 8

nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc.

4 Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho HS củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”;

Điểm c, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 30, Luật Giáo dục năm 2019 quy định

về nội dung, phương pháp phương pháp giáo dục phổ thông và cấp học THPT

nêu: “c) Giáo dục trung học phổ thông củng cố, phát triển nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho HS, có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của HS

3 Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục”;

Khoản 3 và Khoản 4, Điều 21, Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT ngày15/9/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở,trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định hệ thống hồ

cơ quản lý hoạt động giáo dục quy định: “3 Đối với GV:

a) Kế hoạch giáo dục của GV (theo năm học).

b) Kế hoạch bài dạy (giáo án).

c) Sổ theo dõi và đánh giá HS

d) Sổ chủ nhiệm (đối với GV làm công tác chủ nhiệm lớp).

4 Hồ sơ quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này dạng hồ sơ điện tử được sử dụng thay cho các loại hồ sơ giấy theo lộ trình phù hợp với điều kiện của địa phương, nhà trường, khả năng thực hiện của GV và bảo đảm

Trang 9

tính hợp pháp của các loại hồ sơ điện tử Việc quản lý hồ sơ điện tử do Sở Giáo dục và Đào tạo quy định theo chuẩn kết nối, chuẩn dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo”;

Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo ban hành qui định chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở giáo dục phổ thông có

05 tiêu chuẩn với 15 tiêu chí đã nêu rõ các phẩm chất và năng lực cần có của

GV cơ sở giáo dục phổ thông Trong đó, Tiêu chuẩn 2 Phát triển chuyên môn,

nghiệp vụ được quy định tại Điểu 5 với Tiêu chí 4 “Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS” và Tiêu chuẩn

5 Sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ thông tin, khaithác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục với Tiêu chí 15

“Ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong

dạy học, giáo dục”;

Tiểu mục 2.6 của Kế hoạch thực hiện mục tiêu phát triển bền vững lĩnhvực giáo dục và đào tạo đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 ban hànhkèm theo Quyết định 2161/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2017 của Bộ Giáo dục và

Đào tạo nêu rõ: “Tăng cường các nội dung giáo dục có tính thực tiễn, sử dụng phương pháp dạy học tích cực, học qua trải nghiệm/nghiên cứu, học qua các dự án/tình huống và phương pháp tiếp cận trường học toàn diện”.

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng GAĐT trong giáo dục

2.1 Một số khái niệm GAĐT

Theo Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiển, NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội,

2001, Tr.104), giáo án là dàn ý, kế hoạch bài giảng của GV cần phải soạn ra đểtiến hành dạy học cho 1, 2 tiết học trên lớp Nội dung của giáo án đạt tiêu chuẩngồm: Đề tài của giờ lên lớp, mục đích giáo dục, nội dung, phương pháp, thiết bị,những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá Tất cả đượcthiết kế gắn gọn theo trình tự, diễn biến của học, tiết học

Theo tài liệu "Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS - môn Tinhọc" do Vụ Giáo dục Trung học - Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2007(trang 95) thì "GAĐT có thể hiểu là giáo án truyền thống của GV nhưng đượcđưa vào máy vi tính - giáo án truyền thống nhưng được lưu trữ, thể hiện ở dạngđiện tử Khi giáo án truyền thống được đưa vào máy tính thì những ưu điểm, thếmạnh của CNTT sẽ phát huy trong việc trình bày nội dung cũng như hình thức

Trang 10

của giáo án Như vậy, GAĐT không bao hàm có ứng dụng hay không việc ứngdụng CNTT trong tiết học mà giáo án đó thể hiện"

Theo phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Công Triêm (Trường Đại học Sư phạmHuế), GAĐT là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GVtrên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được đa phương tiện hoá mộtcách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bàihọc GAĐT là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài giảng được thể hiệnbằng vật chất trước khi bài giảng được tiến hành

2.2 Cơ sở lí luận

Từ các khái niệm trên, có thể thấy GAĐT chính là giáo án truyền thốngcủa GV được soạn trên máy tính bằng cách sử dụng các phần mềm ứng dụng, cónội dung đa dạng về ngôn ngữ, chữ viết, âm thanh, hình ảnh sống động để tạonên một bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của của ngườidạy học trong giờ lên lớp

GAĐT là một tập hợp các bài giảng điện tử được người dạy thiết kế đểtruyền đạt kiến thức cho người học bằng cách giao tiếp trực tiếp với thiết bịdạy học và hoạt động dựa trên một quy trình đã được người dạy lập trình trước.Qua đó người học có thể rút ra kiến thức cho bản thân mình trên cơ sở phát huytính sáng tạo, khả năng tiếp thu của bản thân dưới sự trợ giúp, gợi ý, thúc đẩy,hướng dẫn của người dạy Một GAĐT đạt yêu cầu phải đảm bảo một số yếucầu như: sức hấp dẫn của từng bài giảng, lượng kiến thức truyền tải phù hợp,kiến thức được mở rộng, phát huy được sự năng động, tích cực và tính sáng tạocủa người học

Khi sử dụng GAĐT để giảng dạy, GV sẽ trình bày các bài giảng trên máy,thông thường GV sẽ sử dụng phần mềm Powerpoint để trình chiếu các slide vềnội dung bài giảng cũng như nội dung kiểm tra, đánh giá Các slide thường đượctrình bày hết sức gợi mở nhưng cô đọng, ngắn gọn và kèm theo nhiều âm thanh,hình ảnh sinh động giúp cho giờ học trở nên sống động, tạo không khí thoải mái

và kích thích sự sáng tạo, sự ham muốn tìm tòi, khám phá của mỗi HS Điềungày đồng nghĩa với việc người dạy phải có kiến thức nhất định về công nghệtin học, phải sử dụng thành thạo một số kỹ năng tin học văn phòng và sử dụng

có hiệu quả các thiết bị dạy học đa phương tiện Bên cạnh đó, người dạy cònphải sử dụng thành thạo phương pháp giảng dạy tích cực, lấy người học làm

Trang 11

trung tâm và có vốn kiến thức sâu rộng về môn học nói chung và bài giảng nóiriêng Ngoài ra, người dạy cũng phải luôn mang một tâm thế cởi mở, sẵn sàngtiếp thu cái mới từ phía HS, chấp nhận những ý kiến trái chiều, những suy nghĩ,cảm nhận độc đáo, khác biệt và sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ tâm tư, nguyện vọngcủa mỗi HS.

2.3 Cơ sở thực tiễn

Với ưu điểm linh hoạt trong thiết kế, sắp xếp nội dung, phương pháp, thayđổi cách trình bày, bổ sung hoặc loại bỏ các hình ảnh, đoạn video, kiểu chữ,công thức toán học, đồ họa, hiệu ứng âm thanh, hình thức xuất hiện của các nộidung trong cùng một slide, một bài giảng và cả giáo án; việc xây dựng và sửdụng GAĐT trong dạy và học có thể áp dụng cho tất cả các môn học trong nhàtrường ở mọi cấp học và ứng dụng rất hiệu quả trong việc hoạch định, xây dựng

kế hoạch, đề tài, đề án, trình bày kết quả các công trình nghiên cứu khoa học của

HS, sinh viên, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà sáng chế

Là một môn học mang tính nghệ thuật cao, có khả năng ứng dụng trongmọi lĩnh vực, mọi tình huống trong cuộc sống, Ngữ văn giúp HS hình thành vốn

từ vựng, vốn câu, vốn ngôn ngữ để giao tiếp, học tập tất cả các môn học và hoạtđộng giáo dục khác trong nhà trường cũng như trong cuộc sống hàng ngày ở cảhiện tại và tương lai; đồng thời, Ngữ văn còn là môn học có vai trò hàng đầutrong việc hình thành nhân cách, khiếu thẩm mỹ, sự cảm nhận cuộc sống, cảnhquan xung quanh, hướng con người đến các giá trị văn hóa cao đẹp, sống có đạođức, phát triển một tâm hồn hướng thiện, sống có đạo đức, nhân văn, biết tự hào

về truyền thống của gia đình, quê hương, đất nước từ đó khơi dậy khát khaovươn lên để làm dạng danh dòn tộc, quê hương, đất nước, …Do đó, việc dạy vàhọc tốt môn Ngữ văn trong nhà trường, nhất là môn Ngữ văn ở cấp THPT, cấphọc có tính định hướng nghề nghiệp, phân luồng HS cao, chuẩn bị cho các embước vào đời với vị thế của một người trưởng thành có vai trò hết sức quantrọng đối với cuộc sống và sự thành công của mỗi cá nhân

Việc sử dụng GAĐT trong dạy và học môn Ngữ văn đòi hỏi GV phải thayđổi một cách đồng bộ, toàn diện cả về hình thức, nội dung, phương pháp trìnhbày và tâm thế trong mỗi giờ lên lớp Với việc sử dụng các hình ảnh, sơ đồ, dàn

ý, âm thanh, … mang tính gợi mở, ngắn gọn, dễ hiểu, có khả năng mở rộng sựtưởng tượng, cảm nhận và phân tích của HS sẽ giúp người dạy, người học xử lý

Trang 12

tốt các tác phẩm văn học cũng như các hình thức nghệ thuật sử dụng trong tácphẩm, hình tượng văn học, thậm trí cả các vấn đề liên quan đến môn học TiếngViệt GAĐT, sử dụng đa phương tiện và phương pháp dạy học tích cực giúp chocác bài văn trở nên khoa học, mạch lạc, dễ nhớ, dễ thuộc nhưng cũng rất lãngmạn (do gắn với hình ảnh, âm thanh phù hợp với từng tác phẩm), làm cho tácphẩm trở nên đẹp hơn, tươi mới hơn, giàu hình tượng hơn, qua đó làm cho HSngày càng hứng thú hơn, yêu hơn môn Ngữ văn và thôi thúc HS ngày càngmong muốn được tự chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân, hệ thống hóa kiến thứcmôn học, biến các kiến thức học được thành kiến thức của bản thân, từ đó vậndụng cho việc giải quyết tốt nhiệm vụ học tập và các tình huống trong cuộcsống Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp GAĐT còn giúp HS rèn luyện, pháthuy tính tự giác trong học tập và rèn luyện, tính sáng tạo trong tiếp cận vấn để,phát triển tư duy và cách làm việc khoa học, bài bản, có trình tự, có tính logic;thúc đẩy ham muốn tự học, tự khám phá và tự hoàn thiện những nhiệm vụ đượcgiao trong học tập và trong cuộc sống.

II THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG DẠY, HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT HOẰNG HOÁ IV

1 Hiện trạng dạy và học môn Ngữ văn trong trường THPT Hoằng Hoá IV

Những năm gần đây, là khi đất nước ngày càng phát triển theo hướngnghiệp hóa, hiện đại hóa thì ngày càng có nhiều bậc cha mẹ và bản thân HS coinhẹ các môn xã hội, trong đó có môn Ngữ văn và hướng tới các môn như: Ngoạingữ, Tin học, Y, Dược và các môn khoa học tự nhiên nhằm bảo đảm cho một sự

an toàn về công việc và thu nhập tương lai Thực trạng này tồn tại ở nhiều địaphương, nhiều cơ sở giáo dục và trường THPT Hoằng Hoá IV cũng không phải

là một ngoại lệ

Kết quả khảo sát tại một số trường trên địa bàn huyện Hoằng Hóa cho thấytình trạng ngày càng nhiều HS không thích học môn Ngữ văn, tỷ lệ HS thi vàocác trường khối C, trường có thi môn Văn càng ngày càng ít, nhiều HS chọn thikhối C là do không còn lựa chọn khác chứ không phải vì yêu thích do đó chấtlượng đầu vào và đầu ra đều không cao, dẫn đến khả năng tìm kiếm việc làm vàtạo lập vị trí trong xã hội ngày càng khó khăn, cuối cùng dẫn đến hệ lụy là việchọc môn Ngữ văn nói riêng và các môn xã hội nói chung ngày càng kém sự hấpdẫn, thu hút được ít người học và chất lượng có chiều hướng ngày càng giảm sút

Trang 13

Kết quả kiểm tra các các bài thi, kỳ thi môn Ngữ văn của HS trườngHoằng Hóa IV đã chỉ ra một hiện tượng đang dần trở nên phổ biến, đó là: ngàycàng có nhiều HS, bài kiểm tra mắc các lỗi sơ đẳng như không viết hoa tênriêng, bài văn từ đầu đến cuối không có dấu chấm câu, hoặc có chăng cũng làdùng dấu câu tùy tiện không theo quy luật nào, không phù hợp với cách diễnđạt; không biết cách thành lập đoạn văn; câu văn què, cụt, ngô nghê, sai cấu trúcngữ pháp, sai logic diễn đạt, diễn đạt sai, nhiều câu văn của HS khi đọc lênngười đọc không hiểu nổi là HS muốn viết gì; cảm nhận văn học một cách méo

mó, sai với chủ đề và mong muốn của tác giả; xuyên tạc chủ đề, bóp méo hìnhtượng văn học; phân tích nhảm nhí, phản nhân văn; không biết rung động trướcnhững tác phẩm văn học, ngay cả đối với những tác phẩm kinh điển Trong giờlên lớp, có nhiều HS học theo kiểu đối phó; không chú ý lắng nghe, không cótinh thần xây dựng bài Do vậy, khi làm các bài kiểm tra, bài thi, có nhiều HS đãsuy luận chủ quan theo cách hiểu của bản thân; phân tích qua loa, cẩu thả, dungtục hóa nghệ thuật hoặc sai kiến thức cơ bản dẫn đến tình trạng “Râu ông nọcắm cằm bà kia”;…

2 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các tồn tại trên nhưng chủ yếu là cácnguyên nhân sau:

2.1 Nguyên nhân từ môn học

Ngữ Văn là một môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, có tính lý thuyếtkhá cao, gắn bó mật thiết với tâm trạng GV và HS trong từng buổi học, chịu tácđộng của môi trường xung quanh, không khí và cách bài trí lớp học Đây là mộtmôn học có tính trừu tượng cao nên HS sau khi học xong vẫn còn rất mông lung,

mơ hồ và kết quả tiếp thu phụ thuộc rất nhiều vào cảm xúc cá nhân Các bài tậpphân tích về nội dung, nghệ thuật, hình tượng văn học hoặc đánh giá tác phẩm,vận dụng tác phẩm vào cuộc sống thường nhật hoặc vào hoàn cảnh cụ thểthường rất khó, dài và dựa trên các cấp độ: biết, hiểu, vận dụng với mức độ từthấp lên cao; do đó, để thực hiện được sẽ tốn rất nhiều thời gian, phải suy nghĩnhiều, đào sâu tìm hiểu và đặc biệt là phụ thuộc vào sự tự cảm nhận Tuy nhiên,không phải HS nào cũng có khả năng cảm thụ văn học tốt nên có nhiều HS chépbài mà không hiểu bản thân đang chép gì, đọc tác phẩm mà không hiểu nộidung, diễn biến và nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng trong tác phẩm như thế nào

Trang 14

2.2 Về phía GV

- Mặc dù các GV thường xuyên được tập huấn phương pháp giảng dạynhưng phần lớn đều rất rời rạc, mỗi năm vài lần, thậm trí vài năm một lần Cácnội dung phổ cập, tập huấn thiếu tính đồng bộ, hoặc là tập huấn về phương phápgiảng dạy tích cực, hoặc là tập huấn về phân tích tác phẩm,… một các hoàn toàntách biệt ở các lớp khác nhau, các khóa tập huấn khác nhau, các năm học khácnhau Song, việc dạy học là một nghệ thuật tổng hợp, nó bao gồm cả phươngpháp truyền thụ, cách thức trình bày, trình tự giảng dạy, nội dung giảng dạy,phương tiện hỗ trợ, tâm lý giảng dạy, tố chất của từng HS và tâm lý HS Chính

vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn cần phải có giải pháptổng hợp, cần đầu tư nhiều thời gian và công sức, cần phải tâm huyết, mến nghề,yêu trẻ Đây là một thách thức khó vượt qua của rất nhiều GV và để an toàn, một

bộ phận không nhỏ GV đã quay về với cách chuẩn bị giáo án, bài giảng vàphương pháp giảng dạy truyền thống, truyền thụ một chiều, khiến HS luôn ở tưthế bị động trong tiếp thu bài giảng, từ đó gây chán nản trong học tập môn Ngữvăn trong nhà trường

- Một số lớn GV các môn xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng cònthiếu kinh nghiệm, kỹ năng trong sử dụng các phương tiện hỗ trợ giảng dạy,nhất là máy tính, mạng internet; chưa biết khai thác thông tin, dữ liệu trên khônggian mạng để phục vụ cho công tác chuẩn bị giáo án, bài giảng và giảng bài.Bên cạnh đó là sự vận dụng thiếu linh hoạt và chưa phù hợp các phương phápgiảng dạy trong các tình huống văn học dẫn đến hiệu quả thấp, gây mất thời gian

và giảm hứng thú trong học tập cho các HS

- Đa số các trường THPT nói chung và trường THPT Hoằng Hóa 4 nóiriêng có hệ thống thiết bị, phương tiện dạy và học còn thiếu thốn, cũ kỹ, thiếuđồng bộ nhưng lại phải ưu tiên cho các môn thuộc khoa học tự nhiên Thực tếnày xuất phát từ quan niệm cũ của BGH nhà trường về môn Ngữ văn, coi mônNgữ văn và các môn khoa học xã hội khác là lý thuyết, là học thuộc lòng, là cầnđược GV phân tích kỹ lưỡng và HS chỉ cần tiếp thu một chiều như vậy là đủ.Đây là một quan niệm sai lầm, bởi cũng giống các môn khoa học khác, môngNgữ văn có mối liên hệ chặt chẽ, không tách rời với cac môn học khác, với môitrường tự nhiên và xã hội và với cuộc sống của chính GV và HS Nó chịu tácđộng rất lớn của ngoại cảnh, hình ảnh, âm thanh, ngữ điệu,… do đó nó cần đượcgiảng dạy một cách khoa học trên cơ sở sử dụng đa phương tiện từ máy tính, loa

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:30

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w