Hơn thế, thơ Nôm trung đại có thể phản ánh hiện thực cuộc sống bình thường của nhân dân một cách linh hoạt và cụ thể, có thể xây dựng những hình tượng văn học đậm màu sắc dân tộc và
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT VĨNH LỘC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU BÀI THƠ “THƯƠNG VỢ” CỦA TRẦN TẾ XƯƠNG
TỪ BÌNH DIỆN ĐỜI TƯ CỦA TÁC GIẢ
Trang 2TT MỤC LỤC Trang
2.3 Tìm hiểu những bình diện đời tư của Trần Tế Xương có liên quan đến
2.3.2 Chân dung bà Tú – người vợ tảo tần trong thơ văn Trần Tế Xương 6
2.5. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục 17
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Huyền (1986), Tú Xương, tác phẩm và giai thoại, NXB Hội
Văn học nghệ thuật, Hà Nam Ninh
2 Nhiều tác giả (2012), Trần Tế Xương, Thơ và đời, NXB Văn học, Hà Nội
3 Xuân Diệu (2012), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội
4 Trần Quang Dũng (2009), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉXIX
5 Nhiều tác giả (2014), Trần Tế Xương, Thơ chọn lọc, NXB Văn học, HàNội
6 Nguyễn Lộc (2012), Văn , NXB Giáo dục, Hà Nội
7 Lã Nhâm Thìn (1997), Thơ Nôm Đường luật, NXB Giáo dục, Hà Nội
8 Lã Nhâm Thìn (2001), Bình giảng thơ Nôm Đường luật, NXB Giáo dục,
Trang 4SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trương Hồng Phương
Chức vụ và đơn vị công tác:Giáo viên – Trường THPT Vĩnh Lộc
TT Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá xếp loại (Phòng, Sở, Tỉnh )
Kết quả đánh giá xếp loại (A, B, hoặc C)
Năm học đánh giá xếp loại
1. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm với việc
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở
trường Nội trú Mường Lát
Sở GD&ĐT B 2012 - 2013
2. Một số kinh nghiệm dạy hiệu quả tiết
Đọc – hiểu văn bản cho học sinh dân tộc
thiểu số ở trường DTNT Mường Lát
Sở GD&ĐT C 2016 - 2017
Trang 51 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Thơ với hiện thực cuộc sống nói chung và đời tư của tác giả nói riêngluôn có một mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời Cố thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã từng nói rằng: “Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút
cho được cái nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy” Tố Hữu cũng có cách nói tương tự: “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã thực đầy” Còn Bi-ê-lin-xki thì khẳng định “Thơ trước hết là cuộc đời sau mới là nghệ thuật” và Đuy-bray cũng thật chí lí khi cho rằng “Thơ là người thư kí trung thành của trái tim” Như vậy có thể thấy rằng chính hiện thực cuộc
sống, cuộc đời của nhà thơ là nơi khởi phát của những vần thơ
Trong nền văn học Việt Nam, sự xuất hiện thơ Nôm Đường luật đã đánhdấu một bước ngặt quan trọng trong lịch sử văn học Nó giữ một vị trí đáng kểbên cạnh các thể thơ khác đồng thời còn thể hiện tinh thần tự lập, tự cường vềmặt văn hóa, văn học của dân tộc Việt trong tương quan với văn hóa, văn họcTrung Quốc Kể từ khi ra đời, thơ Nôm Đường luật giữ một vai trò hết sức quantrọng trong đời sống, tư tưởng, tình cảm của cộng đồng người Việt Nam, đặc
biệt là trong thời trung đại “Thơ Nôm Đường Luật là tiếng nói gửi gắm tâm tư,
tình cảm, suy nghĩ của nhiều bậc trí thức về con người, thiên nhiên, quan niệm sống thời trung đại Hơn thế, thơ Nôm trung đại có thể phản ánh hiện thực cuộc sống bình thường của nhân dân một cách linh hoạt và cụ thể, có thể xây dựng những hình tượng văn học đậm màu sắc dân tộc và do đó dễ thấm sâu hơn vào
cảm quan của công chúng”[1] Vì vậy đến với thơ Nôm Đường luật, chúng ta sẽ
cảm nhận một cách đâỳ đủ, sâu sắc nhất những khía cạnh sâu kín trong đời sốngtâm tư tình cảm của con người Việt Nam thời trung đại
Trần Tế Xương (còn gọi là Tú Xương) là nhà thơ lớn của lịch sử văn họcnói chung và văn học trung đại nói riêng đồng thời còn là một trong hai đại diệntiêu biểu cuối cùng của văn học giai đoạn cuối thế kỉ XIX (Bên cạnh nhà thơ củalàng cảnh – Nguyễn Khuyến) Thơ văn ông là điểm sáng của văn học Việt Namgia đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, những năm đầu thế kỉ XX Thơ Trần Tế Xương đềcập tới mảng chủ để, trong đó có chủ đề đời tư Những bài thơ Nôm của ông đã
“cho thấy được bức tranh đời sống tinh thần tầng lớp nho sĩ Hán học cuối cùng của đất nước Bên cạnh đó còn cho thấy được nét phong cách riêng độc đáo của nhà thơ tài năng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, góp phần khẳng định giá
trị thơ ca trung đại trong tiến trình văn học Việt Nam” [2].
Thế nhưng thực tế nhiều học sinh khi học những tác phẩm văn học trungđại – trong đó có mảng thơ Nôm Đường luật - luôn cảm thấy nhàm chán, khóhiểu vì cách xa về thời gian, cách tư duy, cách dùng ngôn từ, nội dung có phầnđơn điệu, khuôn sáo
Để thay đổi tâm thế tiếp nhận cũng như tạo thêm hứng thú học tập, việcnghiên cứu đời tư của tác giả và áp dụng và giảng dạy sẽ góp thêm những hiểubiết mới mẻ, hấp dẫn, giúp học sinh thấy được thơ không hề xa lạ mà rất gần gũivới cuộc đời
Trang 6Từ thực tế đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng đề tài “Hướng dẫn
Đọc hiểu bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương từ những bình diện đời tư của tác giả” vào thực tiễn giảng dạy của mình trên lớp học Hy vọng đề tài sẽ
mang đến một con đường mới giúp học sinh tìm hiểu tác phẩm cũng như có thểgóp thêm một tư liệu hữu ích cho các đồng nghiệp trong công tác chuyên môncủa mình
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Đối với giáo viên
Đề tài nghiên cứu tiếp cận bài thơ “Thương vợ” từ góc nhìn đời tư của tác
giả nhằm góp thêm tư liệu cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên đang trực tiếpgiảng dạy Ngữ văn 11
Thêm một phương pháp để giúp giáo viên hoàn thành mục tiêu một giờ
dạy đọc hiểu bài thơ “Thương vợ” hiệu quả.
1.2.2 Đối với học sinh
- Vận dụng con đường, biện pháp phát triển tính tích cực, độc lập trongnhận thức, sáng tạo đặc biệt là tư duy giúp các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâukiến thức, và có những cảm nhận mới mẻ về tác phẩm văn học trong nhà trường,tránh lối mòn quen thuộc, áp đặt
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tìnhcảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học sinh với bài thơ
“Thương vợ” nói riêng và phần văn học trung đại trong nhà trường nói chung.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập trung vào tác
giả Trần Tế Xương với bài thơ “Thương vợ”.
- Sáng kiến tập trung nghiên cứu về đời tư của Tú Xương, đặc biệt là về sựnghiệp và tình cảm vợ chồng trong thơ ông Từ đó, xác định hướng khai thácmới mẻ khi dạy học văn bản này
- Đối tượng áp dụng khảo sát đề tài: Học sinh lớp 11C3 và 11C5 TrườngTHPT Vĩnh Lộc năm học 2019 – 2020
1.4 Phương pháp nghiên cứu
* Về lí thuyết:
- Các tài liệu về Trần Tế Xương, nhất là văn học thế kỉ XIX
- Các bài nghiên cứu về tác phẩm “Thương vợ”
- Các phương pháp dạy học văn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của học sinh
- Về thực tiễn:
+ Dự giờ đồng nghiệp dạy cùng khối chương trình ban cơ bản
+ Thực nghiệm sư phạm: thực nghiệm đề tài vào giảng dạy bài thơ
Thương vợ trong chương trình Ngữ văn 11 do bản thân trực tiếp đứng lớp ở
trường THPT Vĩnh Lộc
+ Chọn phương pháp so sánh hai lớp có năng lực tiếp thu bài tương đươngnhau: một lớp có vận dụng đề tài nghiên cứu trong giờ dạy, một lớp chỉ sử dụngphương pháp truyền thống đọc hiểu văn bản nhằm kiểm chứng những biện pháp
Trang 7mà đề tài nêu ra từ đó rút ra các kết luận khoa học và khẳng định tính khả thi của
đề tài
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: để chia tách, đánh giá, lí giải và nhậnbiết sâu sắc các phương diện thể hiện chủ đề đời tư của tác giả TTX Từ đó tổnghợp các bình diện để so sánh, đối chiếu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận
Thơ Nôm Đường luật là một thể thơ độc đáo bậc nhất trong văn học trungđại Việt Nam Đây là một thể thơ được dùng phổ biến trong văn chương báchọc, vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc cho nên để tồn tại trong đời sống văn họcViệt Nam nó phải trải qua quá trình dân tộc hóa thành thơ Nôm Đường luật
mang bản chất, chức năng mới của thể loại, “Thơ Nôm Đường luật không là
“kiều bào nước ngoài” mang quốc tịch Việt Nam Cái nguồn gốc ngoại lai của nó trở nên thứ yếu, đến mức văn học dân tộc quên cả cấp “thị dân nhập cảnh”
và thơ Nôm Đường luật mặc nhiên đứng cùng hàng với lục bát, song thất lục
bát – những thể loại thuần túy dân tộc” [3].
Với tất cả những ưu việt của nó, đặc biệt là sự gần gũi đối với tâm hồnngười Việt Nam, thơ Nôm là thể loại thích hợp nhất thể hiện những tư tưởngtình cảm cá nhân của con người Bởi vậy nhiều nhà thơ đã chọn thơ Nôm trongnhững sáng tác thể hiện tâm tư, tình cảm của cá nhân mình Từ Nguyễn Trãi,đến những nhà thơ tài hoa như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, NguyễnCông Trứ, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát Khi viết bằng chữ Nôm, thứ ngônngữ phù hợp nhất để thể hiện những nỗi niềm sâu kín nhất của các nhà thơ vàđược họ sáng tác ngoài chức trách, phận vị nên dấu ấn cá nhân được thể hiện rất
rõ nét Nếu như vách ngăn của thời trung đại là những tư tưởng chuẩn mực vôngã thì các nhà thơ viết bằng chữ Nôm - trong đó có Trần Tế Xương – đã vượt
qua bằng sự tự khẳng định mình, ý thức về mình bằng những biểu hiện “phi
chuẩn”, “ngoài chuẩn” Vì thế thơ Nôm đã góp phần “giúp cho văn học trung đại Việt Nam đã ghi dựng được những mẫu anh hùng, tài nhân, quân tử; giúp văn học trung đại có những sáng tác làm xuất hiện được cái tôi rất ngông
nghênh kiêu bạc” [4] Đây là phạm trù biểu hiện cá tính riêng với những manh
nha về con người cá nhân trong văn học
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Trần Tế Xương có 124 bài thơ viếtbằng chữ Nôm trong đó có đến 56 bài thơ về chủ đề đời tư Do đó có thể khẳngđịnh đây là một chủ đề lớn và quan trọng trong sáng tác của tác giả Nguyênnhân là do Trần Tế Xương sống trong giai đoạn xã hội phong kiến đã hết thời,thay vào đó là một bộ máy thống trị quan liêu do bọn thực dân Pháp cầm đầucùng với hệ thống bọn tay sai từ lớn đến bé với biết bao ngang trái, lố bịch nửatây nửa ta Là một nhà nho, hẳn ông đã rất đau lòng khi phải chứng kiến xã hộiđảo điên như vậy Cuộc đời con người nhiều chữ như Tú Xương vẫn cứ đắmchìm trong thi cử và hỏng thi Ông đơn độc trong xã hội buổi giao thời, khôngthể hòa nhập cùng những kẻ ôm chân giặc bán nước hại dân, cũng không thểlàm ngơ trước cảnh nước nhà Vì vậy như bao nho sĩ bế tắc đương thời, Trần Tế
Trang 8Xương đã gửi gắm tâm sự riêng tư của mình trong những vần thơ Nôm chânthành, thắm thiết
Thương vợ là một trong những bài thơ đã thể hiện rõ nét chủ đề đời tư
trong thơ của TTX Vì vậy có thể áp dụng những bình diện đời tư của tác giả đểthực hiện giảng dạy trong nhà trường
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: 2.2.1 Thuận lợi
* Về phía giáo viên:
Đây là đề tài tôi đã ấp ủ, tìm hiểu từ lấu nên bản thân có sự tìm tòi ,nghiên cứu khá kĩ càng từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau về tác giả Trần TếXương từ cuộc đời cho đến sự nghiệp sáng tác
Trong thực tế giảng dạy tại trường THPT Vĩnh Lộc, được sự quan tâmcủa tổ chuyên môn về kiến thức, kĩ năng giảng dạy, đặc biệt thường xuyên có sựtrao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên đã giúp bản thân tôi thường xuyên đượctạo điều kiện tốt nhất trong giảng dạy Thêm vào đó Ban giám hiệu nhà trường
có những định hướng, chỉ đạo về chuyên môn theo tinh thần đổi mới phươngpháp dạy học của Bộ Giáo dục đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho giáoviên được áp dụng đổi mới phương pháp trong dạy học
* Về phía học sinh:
Các em phần lớn có ý thức học tập tốt, có tinh thần học hỏi, tìm tòi vàhứng thú với môn Ngữ văn nói riêng, nền văn học dân tộc và của nhân loại nóichung
2.2.2 Khó khăn
* Về phía giáo viên:
“Thương vợ” đã trở thành một bài thơ quen thuộc của bao thế hệ giáo
viên giảng dạy Vì vậy để khám phá một hướng đi mới không phải là điều đơngiản Thêm vào đó tài liệu về nhà thơ nhất là người vợ tảo tần là bà Tú lại cànghiếm Đây chính là điều khó khăn nhất khi áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy
* Về phía học sinh:
Tìm hiểu thơ đối với học sinh đặc biệt là thơ trung đại là một thử tháchlớn các em Mặc dù có nhiều em thực sự đam mê với môn Ngữ văn tuy nhiênhiện tượng học sinh thờ ơ, quay lưng lại với môn học này cũng là một thực tếkhông thể phủ nhận mà có lẽ không chỉ riêng với trường chúng tôi
2.3 Tìm hiểu những bình diện của đời tư Trần Tế Xương có liên
quan đến bài thơ “Thương vợ”.
2.3.1 Con người, quê hương, thời đại.
Việc tìm hiểu con người, quê hương và thời đại có lí do của đề tài sángkiến Đó là chính con người Trần Tế Xương đã trực tiếp trở thành một nhân vậtđiển hình trong thơ của ông Chính quê hương Tú Xương, cụ thể là Nam Địnhthưở ấy cũng in bóng trong thơ Tú Xương như một hiện tượng nghệ thuật đặc
sắc “Rồi ra, thời đại Tú Xương đã đi vào thơ ông một cách nghệ thuật tới mức,
vào thời đó, dễ gì có ai thay thế được” [5]
Tú Xương chính tên là Trần Tế Xương, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, TửThịnh Ông sinh ngày 10 tháng 8 năm Canh Ngọ (1870) ở làng Vị Xuyên, huyện
Trang 9Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay là phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định Tú Xươngthuộc dòng dõi nho gia Dòng họ của ông thành họ Trần là bởi vào đời Trần cóngười lập công lớn nên được vua cho đổi theo họ nhà vua (quốc tính) Cha ôngcũng là một nhà Nho, thi nhiều khoa không đậu, sau là Tự thừa ở dinh đốc họcNam Định.
Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi Vợ là bà Phạm Thị Mẫn, người họ Phạm ởlàng Lương Đường, thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Họ Phạm cónhiều người đậu đạt Tú Xương có lần nhắc tới gia thế nhà vợ “Chẳng nhữngLương Đường có thủ khoa” Gia đình bà Phạm Thị Mẫn đến đời bố mẹ thì dờisang sinh sống ở Nam Định Bà Mẫn sinh trưởng tại đây Cuộc kết hôn giữa ông
Tú với bà là từ hoàn cảnh gần gũi đó Vợ chồng Tú Xương sinh được 8 ngườicon, trong đó có 6 trai Bà Tú là một người phụ nữ tiêu biểu cho phụ nữ ViệtNam xưa ở nhiều phương diện như tần tảo, thương chồng, thương con, nhẫn nạiquên mình Công việc kiếm sống cho gia đình của bà – theo cách nói bây giờ - làthuộc hàng lớp tiểu thương Điều đặc biệt là chính bà đã đi vào thi phẩm của ôngchồng như một nhân vật điển hình hấp dẫn
Tú Xương đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng thông minh, giỏi thơ phú.Ông học chữ Hán và bắt đầu đi thi từ năm 17 tuổi “Đời thi của ông tính ra có tất
cả 8 lần Đó là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891),Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903), Bính
Ngọ (1906)” [6] Ông đậu tú tài khoa Giáp Ngọ nhưng cũng là tú tài thiên thủ
(lấy thêm) Sau đó không không sao lên nổi cử nhân, mặc dù khá kiên trì theođuổi Khoa Bính Ngọ, Tú Xương đổi tên thành Trần Cao Xương, tưởng là bớtđen đủi, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng, đến phát cáu lên:
Tế đổi làm Cao mà chó thế Kiện trông ra Tiệp hỡi trời ôi!
Trong xã hội cũ, cái bằng tú tài là thuộc nửa đời nửa đoạn, dang dở dởdang Luật cũ định: tú tài không được thi hội Cử nhân mới được thi Tú tàikhông được bổ quan Cử nhân mới được bổ Cho nên sau khi đậu tú tài, muốnđậu cử nhân, phải đợi ba năm sau thi lại
Tú Xương thường thích giao du với bạn bè Cái tài thơ phú văn chương,lại thêm lối sống hào hoa phong nhã, tính tình cởi mở của Tú Xương đã làm chotình bạn thêm đậm đà Trong bạn bè của Tú Xương, có người không đậu gì, cóngười đậu cao Có người nhân cách cao thượng, được Tú Xương kính nể nhưPhạm Tuấn Phú Có người nhân cách bình thường Tú Xương chơi cùng là docùng quê, cùng lứa tuổi, cùng học vấn như Cử Thăng, Huấn Mỹ, Tú Tây Hồ
Tú Xương, sinh thời hầu như ngoài việc học hành, thi cử, làm thơ phú,không có nghề gì cả Ngay cái nghề gõ đầu trẻ, tuy Tú Xương nói đến trong thơcủa mình nhưng xem ra cũng chẳng thành nghề Tú Xương đúng cũng là loạinhà Nho “dài lưng tốn vải” Cuộc sống vật chất là nhờ vào bà vợ đảm đang, tầntảo
Cuộc đời Tú Xương sinh ra, lớn lên và đi qua, hồn thơ Tú Xương đã đượcươm trồng và nảy nở trên quê hương Nam Định rất đáng tự hào đó Không phảitất cả cái gì của quê hương cũng ảnh hưởng tới cuộc đời và hồn thơ của Tú
Trang 10Xương Nhưng chắc chắn là phần thơ ảnh hưởng của nó tới con người và thơ TúXương là không nhỏ Điều đáng quý là Tú Xương đã biết đền ơn trả nghĩa quêhương bằng cách đem tài thơ của mình gắn với quê hương, tới mức thành ra một
hiện tượng nghệ thuật độc đáo “Đọc thơ Tú Xương thấy bật lên một địa phương
Trong thơ Tú Xương, trong phú Tú Xương, chỉ rặt có cảnh Nam Định, sự
Nam Định, lời Nam Định, người Nam Định” (Nguyễn Tuân)” [7].
Tú Xương mất năm 1907 Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của Tú Xương
đã nằm gọn trong giai đoạn bi thương nhất của đất nước Tú Xương vừa làchứng nhân vừa là nạn nhân của của cuộc đổi thay này Tú Xương với tài năngtâm huyết của mình đã đóng vai trò một “nhà thơ thư ký” để nếu chưa ghi chép,phản ánh được bao nhiêu cái mâu thuẫn cơ bản, trung tâm của thời đại thì cũng
đã ghi chép, phản ánh được nhiều mặt cuộc đổi thay xã hội đó bằng tài thơ xuấtsắc của mình
2.3.2 Chân dung bà Tú – người vợ tảo tần, trong thơ văn Trần Tế Xương.
Tình cảm vợ chồng là một trong những mối quan hệ hết sức đặc biệt đượcphản ánh trong văn học trung đại bởi nó là một trong những tình cảm thiêngliêng nhưng ít khi được đưa vào thơ ca bởi những quan niệm cổ hủ lạc hậu của
xã hội phong kiến về vai trò của người phụ nữ Chúng ta chỉ biết đến một
Nguyễn Trãi với hai bài thơ nổi tiếng viết về người vợ của mình là Bảo kính
cảnh giới số 2 và Tích cảnh số 10; Nguyễn Khuyến với những bài thơ về người
vợ tào khang và Trần Tế Xương cũng viết về vợ với tấm lòng chân tình đầy yêuthương mà “Thương vợ” có lẽ là bài thơ hay nhất trong số đó
Như bao nhà thơ trung đại khác, Tú Xương viết rất ít về vợ mình Khôngphải vì ông không yêu thương hay tôn trọng mà ngược lại trong mối qua hệ vợchồng, Tú Xương thương vợ bằng một tình cảm chân thành, tha thiết, thủychung, một thái độ cởi mở, hồn nhiên, đầy tình nghĩa vợ chồng để từ đó pháthiện ra vẻ đẹp dịu hiền trong tâm hồn người vợ lam lũ
Bà Phạm Thị Mẫn người vợ duy nhất của ông, con nhà gia giáo, mộtngười phụ nữ đảm đang, tháo vát, hết mực yêu chồng thương con, nhẫn nại đếnquên mình Gia cảnh ông Tú đông con, nghèo đói đã có lúc ông tính chuyện làm
liều: “Lúc túng toan lên bán cả trời” (Tự trào), những tưởng ông sẽ phải chung
lưng đấu cật với vợ lo cho gia đình và đàn con đông đúc Nhưng không, ông vẫn
phó mặc cả cho vợ: “Quanh năm buôn bán ở mom sông… Lặn lội thân cò khi
quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Bà Tú làm việc đầu tắt mặt tối
trong một môi trường không gian, thời gian đặc biệt: triền miên liên tục nơi
“mom sông” đầy chông chênh hiểm trở của “buổi đò đông” để làm tròn bổn
phận trách nhiệm với gia đình và đặc biệt là chỗ dựa để ông Tú dùi mài kinh sử.Song nấu sử mãi mà vẫn chưa sôi kinh, xôi hỏng bỏng không, Tú Xương lại trở
về trong nỗi tuyệt vọng chán chường, sống trong sự cưu mang của người vợ.Ông đã giễu mình, đức ông chồng vô tích sự, là một thứ “con cao cấp” thậm chíđược cưng chiều hơn cả đứa con út của ông trong gia đình:
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ
Đem chuyện trăm năm dở lại bàn
(Quan tại gia)
Trang 11Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn
Sờ bụng, thầy không một chữ gì…
(Đi thi)
Không những thế, bà còn chạy thầy, chạy thuốc mỗi khi ông ốm, ông đau:
Vừa đồng bạc lớn ông lang Sáu Lại mấy hào con chú Ích Sinh
Viết vào giấy dán trên ngay lên cột Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?
Thưa rằng hay thực là hay Chẳng hay sao lại đỗ tú tài Xưa nay em vẫn chịu ngài
(Tết dán câu đối)
Với tấm lòng yêu thương, thủy chung, tri ân vợ, Trần Tế Xương đã khắctạc nên hình tượng bà Tú – người vợ điển hình, chân thật mang những đức tínhquý báu của người phụ nữ Việt Nam truyền thống Bà Tú dù có vất sớm hômsong vẫn luôn mỉm cười hạnh phúc vì được sống giữa tình yêu thương chânthành của người chồng Đã mấy ai trên trần gian cổ kim đông tây này như TúXương yêu vợ, quý vợ, đùa với vợ bằng cách đưa vợ ra mà làm văn tế sống Văn
tế sống kể ai lịch, chân dung, nghề nghiệp của vợ như thế này, vợ nghe không
nở ruột nở gan sao được:
Trang 12Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ;
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ.
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng gầy;
Người ung dung, tính hạnh khoan hòa, chỉ một bệnh hay gàn dở.
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười;
Trong họ ngoài hàng, vụng lẽ chào dơi nói thợ.
(Văn tế sống vợ)
Tú Xương làm thơ, mà thơ với Tú Xương cũng là một thứ đùa vui, âuyếm vợ cho khuây khỏa nỗi vất vả quanh năm Đó chính là sự khác biệt củaTTX với các tác giả truyền thống trong cách thể hiện thái độ và tình cảm với vợcủa mình Trong thơ văn trung đại Việt Nam tìm thấy được một người thật sựthấu hiểu nỗi vất vả của vợ như Tú Xương thầy là hiếm thấy Nét đáng quý ấy ởông Tú dường như chúng ta không thấy ở bất kì một tác giả nào khác của văn
học thời kì này Điều đó đã tạo nên ở nhà thơ làng Vị Xuyên “một dấu nối đầy
ấn tượng giữa nền văn học trung đại ở giai đoạn cuối chiều nhưng lại kết tinh hoa của hàng nghìn năm với nền văn học cận hiện đại đang bắt đầu có dấu hiệu
hình thành với bao điều mới mẻ” [8].
2.3.3 Bi kịch con người cá nhân trong thơ Trần Tế Xương.
Nếu sinh ra bất tài vô dụng hoặc đạt được trọn vẹn lý tưởng của nho sĩtrên con đường công danh sự nghiệp thì có lẽ đã không có một Trần Tế Xươngđược hậu thế vinh danh ngày hôm nay Tú Xương thông minh, tài trí nhưng lạithất bại trên con đường đã lựa chọn và gắn bó suốt đời nên ôn mới day dứt, dằnvặt khôn nguôi Dằn vặt bản thân mình và day dứt với những người thân thiết.Cuộc đời Tú Xương thực sự là một chuỗi những bi kịch nối tiếp nhau, bi kịch từgia cảnh sống, bi kịch trong lý tưởng khát vọng đến sự bất lực cá nhân trước xã
hội đương thời Đọc bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương, hẳn chúng ta đều
thấy bi kịch của ông được thể hiện trong ý thức của ông về nỗi vất vả, sự tảo tần
lam lũ của bà Tú “Quanh năm buôn bán”, “Nuôi đủ năm con với một chồng”; trong cách ông chửi đời, chửi mình “Cha mẹ thói đói đời”, “Có chồng hờ hững
cũng như không” Tìm hiểu că nguyên những bi kịch cuộc đời của Trần Tế
Xương giúp ta hiểu hơn về con người ông cũng như hiểu rõ lí do vì sao ông lại
thành công đến thế khi viết về đề tài bà Tú nói chung và bài thơ “Thương vợ”
Dù ông biết rõ cái thời mà ông đang sống chữ nho đã hết thời:
Nào có ra gì cái chữ nho Ông nghè ông cống cũng nằm co.
(Chữ nho)