1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao kiến thức hiểu biết về biển, đảo cho học sinh lớp 12 trường THPT hậu lộc 2 qua bài vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ

20 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 881,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC1.1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam 3 1.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền Quốc gia 4 1.3 Khái quát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam 7 2.1 Nội dung chương trình giáo d

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 2 ***************

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO KIẾN THỨC VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM CHO HỌC SINH LỚP 12

TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 2 QUA BÀI :VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ

PHẠM VI LÃNH THỔ

Họ và tên : TRỊNH THỊ HÀ Chức vụ : Giáo viên

SKKN thuộc môn : Địa lí

THANH HÓA NĂM HỌC: 2020 – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1.1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam 3 1.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền Quốc gia 4 1.3 Khái quát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam 7

2.1 Nội dung chương trình giáo dục phổ thông 9 2.2 Tình hình tranh chấp trên biển Đông 9 2.3 Các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề biển

Đông để chống phá cách mạng nước ta

9

3 Giải pháp chính của sáng kiến 9 3.1 Một số kiến thức về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 10 3.2 Một số vụ “gây hấn” của Trung Quốc đối với Việt Nam trên

biển Đông trong thời gian gần đây

10

3.3 Một số bản đồ chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc

12

3.4 Ý kiến của một số học giả Trung Quốc nói về đường lưỡi bò

(đường chữ U hay đường đứt khúc chín đoạn) của Trung Quốc

14

3.5 Ý kiến của một số học giả Trung Quốc nói về việc thành lập cái

gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc

15

3 Kiến nghị hướng phát triển đề tài 18

Trang 3

I.MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài:

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm lịch sử Nắm vững và vận dụng quy luật đó, ngày

nay Đảng ta khẳng định: “Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam”.

Luật Giáo dục Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã xác định

mục tiêu giáo dục là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Chương trình Giáo dục Địa lí góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh hiểu biết về tự nhiên, kinh tế, dân số của các vùng nói riêng, của đất nước ta nói chung

Vì vậy, việc giảng dạy và học tập bộ môn Địa lí trong nhà trường THPT

là hết sức cần thiết Nhưng thực tế trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, các môn Lịch sử, Địa lý, Quốc phòng nội dung kiến thức có đề cập đến vấn đề biển, đảo nhưng chưa nhiều Khi hỏi các em học sinh về biển, đảo của nước ta, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đa số các em học sinh

trả lời đó là “một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc” Nhưng để lý giải

nguồn gốc của nó như thế nào, có tiềm năng, thế mạnh, nguồn lợi kinh tế ra sao thì không phải học sinh nào cũng trả lời được Nhìn chung, kiến thức về biển, đảo của phần lớn các em học sinh hiện nay còn yếu

Thời gian qua, tình hình tranh chấp ngày càng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp về chủ quyền của một số nước trên biển Đông, trong đó có Việt Nam Vấn đề về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vận mệnh của đất nước đều nhận được sự quan tâm của mọi người trong đó có học sinh, là chủ nhân tương lai của đất nước

Lợi dụng về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã tiến hành xuyên tạc, kích động nhằm chống đối cách mạng nước

ta, làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đối với học sinh là lực lượng đông đảo và có vai trò to lớn trong đời sống xã hội; là bộ phận năng động, nhạy bén, có khả năng thích nghi cái mới nhanh, nhiệt tình, xông xáo; nhưng vốn sống và kinh nghiệm ít, kiến thức và bản lĩnh chính trị có hạn, mức

độ kiềm chế và năng lực đề kháng trước những cám dỗ còn thấp, dễ bị lôi kéo bởi những nguồn thông tin sai lệch

Từ ý nghĩa và thực tiễn đó tôi chọn đề tài: “Nâng cao kiến thức hiểu biết

về biển, đảo cho học sinh lớp 12 trường THPT Hậu lộc 2 qua bài: vị trí địa lí

và phạm vi lãnh thổ” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Địa lí tại các Trường THPT trong toàn tỉnh nói chung và trường THPT Hậu lộc 2 nói riêng, đồng thời để bồi

Trang 4

Giúp học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn trong quá trình tiếp nhận tri thức và kiến thức về tình yêu biển, đảo; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và biên giới quốc gia

Giúp học sinh hiểu được khái niệm; sự hình thành; các bộ phận cấu thành lãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam và cách xác định đường biên giới quốc gia trên biển

Quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà nước; các nội dung biện pháp cơ bản về xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia

Xác định thái độ, trách nhiệm của học sinh trong xây dựng, quản lý và bảo

vệ biên giới quốc gia

3 Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh lớp 12 Trường THPT Hậu lộc 2

4 Phương pháp nghiên cứu

Trao đổi thảo luận với đồng nghiệp và học sinh

Nghiên cứu sách Lịch sử, sách Quốc phòng và trao đổi, thảo luận với giáo viên giảng dạy môn Lịch sử, môn Quốc phòng của trường THPT Hậu lộc 2 Nghiên cứu nội dung, mục tiêu các bài học trong sách giáo khoa, sưu tầm thêm tài liệu, thông tin, bản đồ biển, đảo để từ đó xây dựng sơ đồ tư duy phù hợp với chương trình và giảng dạy

Trao đổi với học sinh để tìm hiểu đặc tính tâm sinh lý trong quá trình giảng dạy

Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Hậu lộc 2

5 Những điểm mới của SKKN:

Đề tài tập trung nghiên cứu những hình ảnh, xây dựng các cổng thông tin

về vấn đề tranh chấp trên biển Đông; khái quát về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và các bản đồ về biển, đảo để đưa vào các tiết dạy sao cho sinh động hợp lý, phát huy tính tích cực, tự học, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập, khắc phục thói quen học tập thụ động, lối truyền thụ kiến thức một chiều phổ biến ở các trường phổ thông hiện nay

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ Móng Cái (Quảng Ninh) ở phía Đông Bắc tới Hà Tiên (Kiên Giang) ở phía Tây Nam Có 28/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam giáp biển

Biển đảo Việt Nam có thể chia thành 4 khu vực: Biển Đông Bắc (một phần vịnh Bắc Bộ) nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam và tiếp giáp với Trung Quốc (đảo Hải Nam); Biển Bắc Trung Bộ (một phần biển Đông) ở phía Đông Việt Nam; Biển Nam Trung Bộ (một phần biển Đông) ở phía Đông Nam và vùng biển Tây Nam (một phần vịnh Thái Lan) nằm phía Tây Nam của Việt Nam tiếp giáp với Campuchia và Thái Lan

Trang 5

Vùng biển Việt Nam bao gồm vùng nội thủy nằm bên trong đường cơ sở; lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý (1 hải lý tương đương 1.852m); vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài 350 hải lý Theo công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982, vùng biển Việt Nam có diện tích trên 1 triệu km2 gấp 3 lần diện tích đất liền và chiếm 30% diện tích biển Đông Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển trên Năm 1982, Chính Phủ Việt Nam đã tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối

11 điểm

Vùng biển Việt Nam có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ và hai quần đảo xa bờ

là Hoàng Sa và Trường Sa Trong đó: 84 đảo có diện tích trên 1km2; 24 đảo có diện tích trên 10km2; 66 đảo có dân sinh sống Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia đã làm tăng giá trị kinh tế và an ninh quốc phòng đất nước Các đảo có diện tích lớn nhất: đảo Phú Quốc (320km2 có 50 nghìn dân); đảo Cái Bầu (200km2 trên 21 nghìn dân); đảo Cát Bà (149km2 trên 15 nghìn dân); đảo Côn Đảo (56,7km2 có 1.640 dân); đảo Phú Quý (32km2 gần 18 nghìn dân) và đảo Lý Sơn (3km2 có trên 16 nghìn dân sinh sống)

Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo không chỉ là giá trị vật chất của bản thân chúng mà còn là vị trí chiến lược, là cầu nối vươn ra biển cả, là điểm tựa khai thác các nguồn lợi biển, là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc Nhờ có hệ thống đảo ven bờ được vận dụng làm các điểm cơ sở của hệ thống đường cơ sở thẳng nên đã tạo ra vùng nội thủy rộng lớn, do đó vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cũng được mở rộng ra hướng biển Về giá trị văn hóa, hệ thống đảo đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên cũng như những di sản văn hóa có sức thu hút mạnh đối với du khách (ví dụ Vịnh Hạ Long)

Vịnh Hạ Long – Kỳ quan thiên nhiên của Thế Giới

1.2 Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

* Vùng nội thủy

Trang 6

Vùng nội thủy là vùng nước biển được xác định bởi một bên là bờ biển

và một bên khác là đường cơ sở của quốc gia ven biển Vùng nước nội thủy thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ của quốc gia ven biển

Thực tế của các quốc gia có biển cho thấy, vùng nước nội thủy bao gồm nhiều bộ phận có tính chất và quy chế pháp lý khác nhau Trong vùng này các quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào

Chủ quyền quốc gia ven biển trong vùng nội thủy được quy định rõ ràng

và chủ yếu trong các văn bản pháp luật quốc gia Theo pháp luật Việt Nam, chủ quyền quốc gia trong nhiều văn bản pháp luật, từ hiến pháp đến các luật và các văn bản dưới luật như Luật hình sự Việt Nam năm 1999, Luật biên giới quốc gia năm 2003

Nguồn: www.vietbao.com.vn

* Vùng nước lãnh hải

Vùng nước lãnh hải là vùng biển nằm bên ngoài và tiếp liền với vùng nước nội thủy của quốc gia (hoặc vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo) Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển (Công ước 1982) Bề rộng của lãnh hải theo Công ước Luật Biển năm 1982 do quốc gia tự quy định nhưng không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia (điều 3 Công ước 1982)

Tuyên bố năm 1977 của Chính Phủ Việt Nam đã nêu rõ: “Lãnh hải của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường

cơ sở nối liền các điểm nhô ra xa nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam, tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải”

Luật biên giới quốc gia năm 2003 quy định: “Lãnh hải của Việt Nam rộng

12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo”

Theo các văn bản pháp luật này, chiều rộng của lãnh hải Việt Nam đã

Trang 7

tuyên bố hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 3 Công ước năm 1982 Theo đó: “Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia,

có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải” Quyền này được cộng đồng quốc tế thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, hàng hải và an ninh quốc phòng của các quốc gia trong quan hệ quốc tế từ trước đến nay

* Vùng tiếp giáp lãnh hải

“Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng của lãnh hải” (điều 33 Công ước 1982)

Tuyên bố 1977 của Chính Phủ Việt Nam: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”

Vùng tiếp giáp lãnh hải không phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển cũng không phải là một bộ phận của biển quốc tế Về bản chất, vùng tiếp giáp lãnh hải

là vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển Trên vùng biển này, quốc gia ven biển ngăn ngừa và trừng trị những vi phạm về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình

* Vùng đặc quyền kinh tế

“Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam” (tuyên bố của Chính Phủ Việt Nam năm 1977)

Theo Công ước 1982: “Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh”

Theo quy định của Công ước 1982, quốc gia ven biển có các quyền thuộc quyền chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hay không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió

Các quốc gia khác muốn nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh

tế của quốc gia ven biển phải được sự đồng ý của quốc gia ven biển Đồng thời khi hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế các quốc gia khác phải tôn trọng luật pháp của quốc gia ven biển và những quy định của luật pháp quốc tế

Trang 8

Nguồn: www.tuyengiaoqna.vn

Ngày 26/05/2011 ba tàu Hải giám của Trung Quốc mang số hiệu 12, 17 và 84 cắt cáp của tàu Bình Minh 02 đang làm nhiệm

vụ thăm dò khảo sát địa chấn bằng phương pháp thu nổ tại lô 125 – 126 và

148 – 149 thuộc vùng lãnh hải của Việt

Nam Nguồn: www.laodong.com.vn

* Thềm lục địa

“Thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần đất kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (Công ước 1982)

“ Thềm lục địa của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý

kể từ đường cơ sở đó” (Tuyên bố của Chính Phủ Việt Nam 1977)

Các quyền chủ quyền mà quốc gia ven biển có được trên thềm lục địa của mình xuất phát từ chủ quyền trên lãnh thổ đất liền Mặt khác, các quyền chủ quyền này mang tính “đặc quyền”, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm

dò, khai thác tài nguyên sinh vật, vi sinh vật trên thềm lục địa của mình thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động đó

Trong nhiều năm qua, đặc biệt là từ những năm cuối thập niên 80 của thế

kỷ XX, chúng ta đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác các loại tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là dầu khí, cũng như thành lập các cụm khoa học, kinh tế và dịch vụ trên thềm lục địa Việt Nam, đặt dây cáp, ống dẫn ngầm để chứng minh và khẳng định quyền chủ quyền đối với thềm lục địa Việt Nam với cộng đồng quốc tế

1.3 Khái quát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

* Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

Trang 9

Quần đảo Hoàng Sa là một trong hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của

Việt Nam từ lâu đời Trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa còn có tên là “Bãi Cát

Vàng” Tên quốc tế thường được thể hiện trên các hải đồ là Paracels Quần đảo

gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000km2 Phạm vi quần đảo được giới hạn bằng các đảo, bãi ở các cực Bắc, Nam, Đông, Tây như sau:

Vị trí các cực của quần đảo Vĩ độ Bắc Kinh độ Đông Cực Bắc: Đảo Đá Bắc 17 0 06 ’ 0 ” 111 0 30 ’ 8 ”

Cực Nam: Bãi ngầm Ốc Tai Voi 15 0 44 ’ 2 ” 112 0 14 ’ 1 ”

Cực Đông: Bãi cạn Gò Nổi 16 0 49 ’ 7 ” 112 0 53 ’ 4 ”

Cực Tây: Đảo Tri Ôn 15 0 47 ’ 2 ” 111 0 11 ’ 8 ”

Về khoảng cách đến đất liền, từ đảo Tri Ôn đến mũi Ba Làng An, tỉnh Quảng Nam là 135 hải lý; đến Cù Lao Ré tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý Tổng diện tích phần nổi của quần đảo Hoàng Sa khoảng 10km2, đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm với diện tích khoảng 1,5km2 Quần đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi

Hoàng Sa nằm trong vùng “xích đạo từ” có độ sai lệch từ không thay đổi hoặc thay đổi rất nhỏ, rất thuận lợi cho việc đi biển Quần đảo này có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và nhiều giông bão, nhất là

từ tháng 6 đến tháng 8 hằng năm Trên một số đảo có nguồn nước ngọt, cây cối

um tùm, vô số chim và đặc biệt là có nhiều Rùa biển sinh sống

Nằm phía Đông của Việt Nam, Hoàng Sa án ngự đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Vùng biển này có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản, thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía Bắc Biển Đông

* Quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa tính đến đảo gần nhất là khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất là khoảng 500 hải lý; cách Vũng Tàu 305 hải lý; cách Cam Ranh 250 hải lý; cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý Quần đảo trải dài từ 60 2’ vĩ Bắc đến 1110 28’ vĩ Bắc; từ kinh độ 1120 Đông đến 1150 Đông trong vùng biển chiếm khoảng 160.000km2

đến 180.000km2 Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặt nước lại rất ít, chỉ tổng cộng 11km2

Về số lượng đảo theo thống kê của tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao (vụ Biển thuộc Ban Biên Giới Chính Phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi; không kể

05 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam gồm: bãi Phúc Trần; bãi Huyền Trân; bãi Quế Đường; bãi Phúc Nguyên; bãi Tứ Chính

Trang 10

Nguồn: www.truongsahoangsa infonet.vn Nguồn:www.baoquangngai.com.vn

2 Thực trạng

2.1 Nội dung chương trình giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục phổ thông, nội dung kiến thức trong các môn Địa

Lý, Lịch Sử và Giáo dục Quốc phòng – An ninh có đề cập đến vấn đề biển, đảo chưa nhiều; chưa đảm bảo để thực hiện được Quyết định số 373/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc “ Phê duyệt đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền

về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam”; và Quyết định số 1461/QĐ-BGDĐT về việc giao nhiệm vụ “ Xây dựng và thực hiện đề án tăng cường công tác giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo vào chương trình giáo dục các cấp học và các trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn hiện nay

2.2 Tình hình tranh chấp trên biển Đông

Tình hình tranh chấp trên biển Đông ngày càng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp về chủ quyền của một số nước trên biển Đông, trong đó có Việt Nam Vấn đề về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vận mệnh của đất nước nhận được sự quan tâm của mọi người, trong đó có học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước

2.3 Các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề biển Đông để chống phá cách mạng nước ta

Lợi dụng về vấn đề tranh chấp trên biển Đông, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã tiến hành xuyên tạc, kích động nhằm chống đối cách mạng nước ta, làm mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Nhận thức và thực tế như trên, với trách nhiệm là giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lí của trường THPT Hậu lộc 2; tôi chỉ nêu lên một số giải pháp có hiệu quả từ kinh nghiệm sử dụng tư liệu sưu tầm để giáo dục tình yêu biển, đảo phục

vụ giảng dạy cho học sinh của trường THPT Hậu lộc 2 năm học 2019 – 2020, thể hiện qua những giải pháp sau đây

3 Giải pháp chính của sáng kiến

Trong quá trình giảng dạy, để nâng cao chất lượng bài giảng “Vấn đề phát triển kinh tế,an ninh quốc phòng ở biển Đông và các đảo,quần đảo” môn Địa lí

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w