Đổi mới phương pháp dạy học phải được hiểu là vận dụng sáng tạo các phương pháp, các biện pháp, thủ pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng, nội dung, chương trình, điều kiện dạy học… nh
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOÀNG LỆ KHA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU….….……… …… 3
1.1 Lý do chọn đề tài……… 3
1.2 Mục đích nghiên cứu……….…… 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu……….…… 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu……… ……….4
II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINHNGHIỆM……… …4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.2 Thực trạng vấn đề……… ……… … 4
2.3 Các giải pháp thực hiện……… ……… … 5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến………… ……… 20
III KẾT LUẬN……… ……….……… 20
Trang 3I MỞ ĐẦU.
1.1 Lý do chọn đề tài.
Đổi mới phương pháp dạy học phải được hiểu là vận dụng sáng tạo các phương pháp, các biện pháp, thủ pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng, nội dung, chương trình, điều kiện dạy học… nhằm làm cho người học chủ động, sáng tạo trong quá trình tự tiếp thu tri thức và xử lý tri thức…
Một trong những nội dung quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học
là đổi mới hình thức đánh giá học sinh: từ hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm khách quan, trong đó bao gồm cả thi học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh Song hình thức thi trắc nghiệm khách quan có những yêu cầu khác biệt so với hình thức thi tự luận đó là: trong một thời gian ngắn học sinh phải giải quyết một số lượng câu hỏi và bài tập khá lớn (trong đó bài tập yêu cầu phảitính toán chiếm số lượng không nhỏ) Mặt khác đối với học sinh THCS , kể cả những học sinh giỏi lâu nay chủ yếu làm các bài tập theo hình thức tự luận nên khi làm các bài tập theo hình thức trắc nghiệm khách quan thì thường lúng túng, mất nhiều thời gian
Đứng trước yêu cầu đó, việc vận dụng các kiến thức đã học để giải các bàitập hoá học trắc nghiệm khách quan một cách thành thạo, đặc biệt là bài tập ở
mức vận dụng cao là một vấn đề cấp thiết, chính vì vậy tôi chọn đề tài ‘‘Một số
dạng bài tập trắc nghiệm vận dụng cao bồi dưỡng học sinh giỏi môn hóa học lớp 10 ’’ Hi vọng với đề tài nhỏ này sẽ giúp các bạn đồng nghiệp dạy học
hiệu quả hơn trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp nâng cao kĩ năng giải bài tập hóa học của các em học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Đề tài nhằm hướng dẫn học sinh vận dụng một số định luật cơ bản và một
số quy tắc của hoá học để giải các bài tập trắc nghiệm khách quan ở mức vận dụng cao; từ đó giúp các em học sinh hình thành các kĩ năng giải bài tập (kĩ năng định hướng, kĩ năng phân dạng và các thao tác tính toán), giúp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình học; nhằm chuẩn
bị tốt kiến thức cho kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cũng như tạo tiền đề cho kì thi tốt nghiệp THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh thực hiện nội dung này: học sinh lớp 10
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 4 Phương pháp nghiên cứu lý luận : Nghiên cứu các tài liệu liên quan như lý luận dạy học, sách giáo khoa hóa học 10, các phương pháp giải nhanh….
Phương pháp điều tra quan sát : Tìm hiểu về việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực ở một số trường phổ thông
Phương pháp thực nghiệm : Tiến hành thực nghiệm ở các lớp 10B1, 10B2, trường THPT Hoàng Lệ Kha
II NỘI DUNG.
- Bài tập hóa học giúp học sinh mở rộng, nâng cao kiến thức…
- Bài tập hóa học giúp học sinh vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế…
- Bài tập hóa học giúp giáo viên rèn nhân cách cho học sinh: tính chủ động, sáng tạo, kiên trì, cẩn thận…
- Bài tập hóa học còn đặc biệt giúp học sinh phát triển tư duy, độc lập sáng tạo…
- Nếu không chú trọng rèn luyện tư duy cho học sinh thì kiến thức học sinh tiếp thu sẽ rất nhanh quên, rất nông và hời hợt…
- Nếu học sinh không được thực hành lý thuyết đã học trên bài tập nhận thức
và tư duy thì hứng thú và niềm tin khoa học sẽ rất khó được hình thành.Như vậy các em sẽ không hiểu được vấn đề, không có kỹ năng giải toán, không có khả năng nhanh nhạy, không phát huy được trí thông minh dẫn đến kết quả họctập không cao…
2.2 Thực trạng vấn đề.
Các học sinh khi học ở trường THCS đã quen với việc làm các bài tập tự luận thuần túy để tham gia các bài kiểm tra và các bài thi theo kiểu tự luận vì vậy thường được các thầy, cô giáo giảng dạy định hình cho mình một kiểu mẫu hoặc “phom” để diễn tả cách giải bài tập của mình Số lượng bài tập trong một
Trang 5đề kiểm tra hoặc đề thi là rất ít và nếu cho các dạng bài tập mà chưa được thầy,
cô giáo đưa mẫu thì lại không làm được hoặc không biết trình bày ý tưởng của mình thế nào, khả năng tư duy suy luận chưa nhanh nhạy, khả năng thích ứng với các bài kiểm tra trắc nghiệm còn chậm dẫn đến kết quả học tập chưa cao
Từ năm học 2020-2021 trở về trước, kì thi học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh do Sở GD&ĐT Thanh Hóa tổ chức được tiến hành theo hình thức thi tự luận Bắt đầu từ năm học 2021-2022 sẽ tiến hành theo hình thức thi trắc nghiệm
ở một số môn Vì vậy, việc bồi dưỡng học sinh giỏi theo hướng cho học sinh làm quen dần và thành thạo với các bài tập trắc nghiệm là vô cùng cần thiết
- Cần rèn luyện cho học sinh nâng dần các hoạt động từ dễ đến khó
- Biết vận dụng kiến thức, tổng hợp kiến thức cũ và phát hiện, xây dựng kiến thức mới…
*Trong phạm vi đề tài này, tôi xin đưa ra một số dạng bài tập như sau:
Dạng 1: Bài tập về tính khử của HCl
Để giải được bài tâp ở dạng này, học sinh cần nắm vững kiến thức cơ bản
đó là: HCl thể hiện tính khử khi tác dụng với các chất oxi hóa mạnh như: MnO2, KMnO4, KClO3, KClO, KClO2, Ca(ClO3)2 Trong các phản ứng trên , xảy ra quá trình oxi hóa:
Trang 60,36 mol 0,72 mol 0,36 mol 0,72
Bảo toàn mol e Số mol O=0,36 mol
Cách giải:
Trong hỗn hợp X đặt số mol Ca(ClO3)2 là a mol, KClO3 (x mol) và CaCl2 là
b mol
mX = 207a +122,5x + 111b = 20,14(1)
Bảo toàn electron: 3x + 6a = 0,24 (2)
Bảo toàn nguyên tố Ca: a + b = 0,12 (3)
Từ (1), (2), (3) a=0,02; b =0,1; x = 0,04
Trang 7Bảo toàn nguyên tố C: n K CO2 3 n CaCO3 n CO2= 0,24
Bảo toàn K: n KCln KClO3 2n K CO2 3= x + 0,48= 0,52= y
Dạng 2: Bài tập về phản ứng nhiệt phân muối giàu oxi
Khi nhiệt phân hỗn hợp các muối giàu oxi như: KMnO4, KClO3, CaOCl2,
Ca(ClO3)2, Ca(ClO2)2, thì sẽ thu được hỗn hợp các sản phẩm như
K2MnO4,MnO2,CaCl2 và O2
Nếu đề bài cho nhiệt phân hỗn hợp sau một thời gian có nghĩa là không hoàn toàn thì hỗn hợp sau phản ứng ngoài các sản phẩm và khí oxi thì còn có hỗn hợp các chất ban đầu còn dư Chính vì vậy, nếu như đặt ẩn từng chất trong hỗn hợp và mol tham gia phản ứng thì chúng ta sẽ gặp rắc rối vì khối lượng ẩn quá lớn (có thể lên đến 9 –10 ẩn) trong khi dữ kiện của bài toán chỉ có từ 3 –4 Như vậy, đối với dạng bài tập này, chúng ta cần sử dụng khéo léo và thuần thục các định luật bảo toàn như: bảo toàn khối lượng, bảo toàn nguyên tố và bảo toàn e
Ví dụ 1:
Nung m gam hỗn hợp KClO3 và KMnO4 thu được chất rắn Y và O2, biết
KClO3 phản ứng hết, còn KMnO4 còn dư một phần, trong Y có 0,894 gam KCl chiếm 8,132% theo khối lượng, trộn lượng O2 trên với không khí theo tỉ lệ 1:3 trong bình kín ta thu được hỗn hợp khí Z, cho vào bình 0,528 gam cacbon rồi đốt cháy hết thì thu được hỗn hợp khí T gồm N2, O2, CO2 trong đó CO2 chiếm 22,92% về thể tích Giá trị của m gần nhất với giá trị nào sau đây?
Trang 8C, S hay A1, chúng là các chất rắn được đem đốt cháy với oxi hoặc một hỗn hợpkhí chứa oxi,… và sau phản ứng người ta thu được một khí/hỗn hợp khí mới,…Trong nhiều trường hợp, ta cần so sánh số mol hỗn hợp khí mới và cũ, như trongtình huống (1), hai giá trị này bằng nhau, tình huống (2) thì khác, khi có oxit tạo thành, tổng số mol khí sẽ giảm.
Với bài tập này, phản ứng của cacbon với oxi xảy ra và số mol hỗn hợp khí không thay đổi, đó chỉ là một sự thay thế như tăng giảm khối lượng vậy, O2 trở thành CO2 theo tỉ lệ 1:1 → nZ = nT
Bảo toàn nguyên tố C: nC/T = nCO2/T = 0,528/12 =0,044
Trang 9Ví dụ 3:
Nhiệt phân hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm KClO3 và KMnO4,thu được khí Oxi và 8,66 gam chất rắn Dẫn lượng O2 ở trên qua cacbon nóng đỏ thu được 2,24 lít (đktc) hỗn hợp khí Y có tỷ khối so với hydro bằng 17,6 Hấp thụ hết Y vào dung dịch nước vôi trong dư, sau phản ứng thu được 4 gam kết tủa Phần trăm khối lượng của KClO3 có trong hỗn hợp X là?
Cách giải:
Ví dụ 4:
Trang 10Nhiệt phân 25,28 gam KMnO4, sau một thời gian thu được 23,36 gam chất rắn Cho toàn bộ lượng khí sinh ra phản ứng hết với hỗn hợp X gồm Mg, Fe thu được hỗn hợp Y nặng 6,52 gam Hòa tan hoàn toàn hỗn hợp Y trong dung dịch H2SO4 đặc, nóng, dư thu được 0,672 lít SO2 (đktc) Phần trăm khối lượng Mg trong X là
và dung dịch D Lượng KCl trong dung dịch D nhiều gấp 22/3 lần lượng KCl trong A % khối lượng KClO3 có trong A là
A 54,67% B 56,72% C 58,55% D 47,83%
Trang 11
+ O2KClO3 t0 KCl + O2 (1)
Trang 12Dạng 3: Nhiệt phân muối giàu oxi, sau đó cho chất rắn sau phản ứng tác dụng với HCl.
Ví dụ 1:
Đun nóng 48,2 g hỗn hợp KMnO4, KClO3, sau một thời gian thu được 43,4 gam hỗn hợp chất rắn Y Cho Y tác dụng hoàn toàn với dung dịch HCl đặc, sau phản ứng thu được 15,12 lít Cl2 (đktc) và dung dịch gồm MnCl2, KCl, HCl dư Số molHCl phản ứng là:
Dung dịch thu được chứa KCl ( a + b) ; MnCl2 ( a)
Bảo toàn nguyên tố Cl: b + 2( 4a + 3b – 0,3) = a + b + 2a + 2.0,675 (2)
Từ ( 1) và (2) => a = 0,15 và b = 0,2
=> nHCl = 1,8 mol
Chọn đáp án D
Ví dụ 2:
Trộn KMnO4, KClO3với một lượng bột MnO2 trong bình kín thu được hỗn hợp
X Lấy 52,55 gam X đem nung nóng, sau một thời gian thu được hỗn hợp rắn
Y và V (lít) O2 Biết rằng KClO3 nhiệt phân hoàn toàn tạo 14,9 gam KCl
chiếm 36,315% khối lượng chất rắn Y Sau đó cho toàn bộ Y tác dụng hoàn toàn với axit HCl đặc, dư, đun nóng, sau phản ứng cô cạn dung dịch thu được 51,275 gam muối khan Hiệu suất quá trình nhiệt phân KMnO4 là:
Cách giải:
Trang 13Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề bài dưới dạng sơ đồ
0,12
0, 02 0,06
Trang 14Hỗn hợp X gồm 31,6 gam KMnO4 và 73,5 gam KClO3 Nung nóng X trong bìnhkín một thời gian thu được khí O2 và 93,9 gam hỗn hợp rắn Y gồm KMnO4, K2MnO4, MnO2, KClO3 và KCl Cho Y tác dụng hoàn toàn với dung dịch axit clohidric 36,50%, đun nóng (khối lượng riêng là 1,18 g/ml) Thể tích dung dịch
HCl cần dùng (vừa đủ) gần nhất với giá trị nào sau đây?
Cách giải:
Trang 16BTKL: m O2 = m KMnO4 + m KClO3 – m rắn X = 22,12 + 18,375 – 37,295 = 3,2 gam
n = nO(X) = 0,81 mol nHCl = 2n H O2 = 1,62 mol
Bảo toàn Cl ta có: n Cl2 = (n KClO3 + nHCl – nKCl – 2n MnCl2) : 2 = (0,15 + 1,62 – 0,29 – 2.0,14) : 2 = 0,6 mol
Hòa tan Y vào nước sau đó cho tác dụng với AgNO3 dư:
Kết tủa thu được gồm: AgCl (0,6.2 = 1,2 mol) và Ag
mAg = 204,6 – 1,2.143,5 = 32,4 gam nAg = 0,3 mol
nFe2+ = nAg = 0,3 mol
Dd Z gồm: Fe2+ (0,3 mol), Fe3+ (x mol) và Cl- (1,2 mol)
Bảo toàn điện tích: nFe3+ = (1,2 – 0,3.2) : 3 = 0,2 mol
nFe = 0,3 + 0,2 = 0,5 mol m = 28 gam
Chọn đáp án B
Dạng 4: Bài tập về phản ứng halogen đẩy halogen yếu hơn ra khỏi muối
Phương pháp giải nhanh chủ yếu áp dụng cho dạng bài tập này là tăng giảm khốilượng
Ví dụ 1:
Một hỗn hợp X gồm ba muối NaF, NaCl, NaBr nặng 4,82 gam Hòa tan hoàn toàn X trong nước được dung dịch A Sục khí clo dư vào dung dịch A rồi cô cạnhoàn toàn dung dịch sau phản ứng thu được 3,93 gam muối khan Lấy một nửa lượng muối khan này hòa tan vào nước rồi cho phản ứng với dung dịch
Trang 17AgNO3 dư thì thu được 4,305 gam kết tủa Z Phần trăm khối lượng mỗi muối trong hỗn hợp ban đầu là:
A 14,29% NaF, 57,14% NaCl, 28,57% NaBr
B 57,14% NaF, 14,29% NaCl, 28,57% NaBr
C 8,71% NaF, 48,55% NaCl, 42,74% NaBr
D 48,55% NaF, 42,74% NaCl, 8,71% NaBr
Cách giải:
Trang 18Gọi số mol NaBr và NaI trong X lần lượt là x và y
dư Làm bay hơi dung dịch và làm khô chất còn lại người ta thấy khối lượng chất thu được lại nhỏ hơn khối lượng muối phản ứng là m gam Thành phần phần trăm về khối lượng của NaBr trong hỗn hợp đầu là
Cách giải:
Gọi x là số mol NaI, y là số mol NaBr trong hỗn hợp
2NaI + Br2 → 2NaBr + I2 (thăng hoa)
Chuyển 1 mol NaI thành 1 mol NaBr khối lượng giảm:
150 - 103 = 47g
Trang 19Vậy chuyển x mol NaI thành x mol NaBr khối lượng giảm:
Trang 202.4 Hiệu quả của sáng kiến.
Trong năm học vừa qua tôi đã áp dụng hệ thống bài tập này cho HS lớp 10B1 và 10B2 thấy kết quả rất khả quan đặc biệt là khả năng tư duy suy luận của các em, nhất là các em học sinh khá giỏi đã được nâng cao, khi tung các bài kiểm tra trắc nghiệm dạng như đề thi TN THPT và đại học, cao đẳng với số lượng câu hỏi nhiều thấy HS đã chủ động sử dụng các phương pháp giải toán hóa học một cách linh động
III KẾT LUẬN.
Trong thực tế chúng ta thấy rằng nếu giờ học nào mà học sinh được luyện tập nhiều thì học sinh sẽ tiếp thu kiến thức tốt và vững vàng hơn Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm thế nào để kết hợp việc trang bị kiến thức mới đồng thời chú trọng vào việc rèn luyện khả năng tư duy của học sinh thì các em sẽ hiểu , nhớ
và vận dụng kiến thức đó một cách tốt nhất Từ đó học sinh sẽ hệ thống hóa, mở rộng, nâng cao kiến thức và kỹ năng Vì vậy bài tập rèn luyện khả năng tư duy
và trí thông minh cho học sinh có tầm quan trọng rất lớn trong việc rèn luyện tính chủ động, sáng tạo, khả năng tư duy và niềm tin yêu khoa học vào bộ môn Hóa học Tôi hi vọng chúng ta có thể xây dựng được hệ thống bài tập có chất lượng cao nhằm phát huy khả năng tư duy suy luận của học sinh đặc biệt là các học sinh mới vào lớp 10 để các em có tiền đề cho các năm học tiếp theo
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Kính mong hội đồng khoa học các cấp và bạn bè đồng nghiệp góp ý, xây dựng, bổ sung cho bản kinh nghiệm của tôi đạt chất lượng tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 8 tháng 5 năm 2021 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dungcủa người khác
Trang 21Trương Thị Hồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sách giáo khoa hóa học 10; tác giả Nguyễn Xuân Trường (Tổng Chủ biênkiêm Chủ biên), Phạm Văn Hoan, Từ Vọng Nghi, Đỗ Đình Rãng, Nguyễn PhúTuấn; NXB Giáo Dục năm 2008
2 Các phương pháp dạy học hiệu quả; tác giả Robert J.Marzano, Debra J.Pickering, Jane E Pollock- Người dịch: Nguyễn Hồng Vân; NXB Giáo dục ViệtNam năm 2018
3 Nguồn khác: Internet