Liên quan đến đề tài: “Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” có những công trình sau: Trong tác phẩm “Lịch s
Trang 1Lớp 10SLS, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Giang
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Đà Nẵng, 5/2014
Trang 2-MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Cấu tạo đề tài 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ YẾU TỐ THỜI ĐẠI TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN
THỨ NHẤT 9
1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 9
1.1.1 Tình hình thế giới 9
1.1.1.1 Chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 9
1.1.1.2 Cách mạng tháng Mười Nga và ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc 11
1.1.1.3 Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 13
1.1.2 Tình hình Việt Nam 16
1.1.2.1 Công cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai của thực dân Pháp 16
Trang 31.1.2.2 Tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đối với Việt Nam 19 1.1.2.3 Những chuyển biến của xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 22
1.2 Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 26
1.2.1 Phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 26 1.2.2 Phong trào công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất 28
Chương 2 SỰ KẾT HỢP GIỮA YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG VÀ YẾU TỐ
THỜI ĐẠI TRONG QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ VÀ TIẾP THU CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở VIỆT NAM 31 2.1 Nguyễn Ái Quốc với việc khảo sát, lựa chọn và quyết định con đường cứu nước giải phóng dân tộc 31
2.1.1 Nguyễn Ái Quốc với việc khảo sát, tìm kiếm, lựa chọn con đường cứu nước 31 2.1.2 Nguyễn Ái Quốc với việc quyết định con đường cứu nước giải phóng dân tộc Việt Nam 35
2.2 Chủ nghĩa yêu nước và phong trào công nhân trong việc truyền bá và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam 38
2.2.1 Chủ nghĩa yêu nước đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp xúc và truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam 38 2.2.2 Phong trào công nhân đóng vai trò trung tâm trong việc truyền bá và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam 45
2.3 Sự kết hợp giữa phong trào yêu nước và phong trào công nhân trong việc xúc tiến nhanh sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam 49 2.4 Vai trò của yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 53 KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất để giữ vững độc lập dân tộc Giữ nước vốn là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là sức mạnh thần kì của nhân dân ta, là yếu tố truyền thống cao đẹp trong nền văn hóa bản địa Trải qua những thăng trầm của lịch sử nước nhà, với biết bao kẻ thù hung ác nối tiếp nhau giày xéo đất nước, nhưng không lần nào chúng thắng nổi ý chí và sức mạnh của con người Việt Nam Chính vì vậy, tinh thần yêu nước ngày càng ngấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam, tạo nên những bước phát triển tiếp nối trong phong trào yêu nước của dân tộc
Bước vào thời cận đại, nhân dân ta lại một lần nữa đối đầu với kẻ thù xâm lược vô cùng nham hiểm đến từ phương Tây - thực dân Pháp Đây cũng là thời
kì mà truyền thống yêu nước của dân tộc tiếp tục được phát huy cao độ Song kẻ thù của chúng ta ngày càng mạnh, có trình độ phát triển cao, trang bị kĩ thuật hiện đại, do vậy muốn giải phóng dân tộc đòi hỏi cần phải có giai cấp tiên phong được trang bị lí luận sắc bén Để chủ nghĩa yêu nước được phát huy sức mạnh tối
đa thì cần kết hợp với phong trào công nhân mới có thể đánh thắng kẻ thù
Đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, cùng với quá trình đẩy mạnh bành trướng xâm lược của các nước đế quốc là quá trình phát triển mạnh
mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Với sự xuất hiện của các trào lưu tư tưởng tiến bộ, hình thức giải phóng dân tộc ở mỗi nước ngày càng
đa dạng, diễn ra với nhiều khuynh hướng khác nhau Ở nước ta, đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước của tư sản và tiểu tư sản phát triển rầm rộ, song hầu hết thất bại do không tìm ra con đường đúng đắn, sự nghiệp giải phóng dân tộc không thể phát triển theo con đường này Yêu cầu đặt ra lúc đó phải có giai cấp tiên phong lãnh đạo, có đảng chân chính đứng đầu mới có thể đưa cách mạng đi đến thắng lợi Nhiệm vụ trọng đại này đặt lên vai của thế hệ yêu nước mới dưới ngọn
cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga
Trang 5(1917) đã trở thành ngọn đuốc soi đường, mở ra con đường mới đầy hấp dẫn, đầy triển vọng là con đường cách mạng vô sản cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng như ở Việt Nam đứng lên tự giải phóng mình
Với quyết tâm tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với tư tưởng cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở đó con đường cứu nước, cứu dân, giải phóng nhân dân lao động Người là hiện thân của chủ nghĩa yêu nước kết hợp hài hòa với chủ nghĩa quốc tế, hiện thân của đạo đức cách mạng kết hợp hài hòa với đạo đức dân tộc truyền thống Người trở thành nhân vật đóng vai trò trung tâm, là chiếc cầu nối nối liền chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam Để từ đó đặt nền móng cho sự ra đời của tổ chức đảng đại diện cho giai cấp vô sản Đảng ra đời là một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Từ đây, phong trào yêu nước đã có ánh sáng dẫn đường, từng bước lớn mạnh, kết hợp với phong trào công nhân tạo nên những chuyển biến to lớn trong phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta
Xuất phát từ những lí do trên, tôi xin chọn đề tài: “Sự kết hợp giữa yếu tố
truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong cách mạng Việt Nam là một đề tài khá quen thuộc và hấp dẫn, được bàn luận khá sôi nổi trong nghiên cứu lịch
sử Chính vì thế số lượng các công trình nghiên cứu của các học giả trong và
ngoài nước khá nhiều Liên quan đến đề tài: “Sự kết hợp giữa yếu tố truyền
thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” có những công trình sau:
Trong tác phẩm “Lịch sử Việt Nam từ 1919 - 1945” của tác giả Nguyễn
Đình Lễ đã đề cập đến tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất với những hậu quả nặng nề; những thay đổi vị trí, tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc; tạo điều kiện cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga vĩ
Trang 6đại giành thắng lợi Chính thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng lớn tới phong trào cách mạng thế giới: cao trào cách mạng vô sản bùng lên sôi nổi, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh
mẽ Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đã đề cập đến cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai của thực dân Pháp và những biến đổi về kinh tế - xã hội của Việt Nam; hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc; sự phát triển của phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam từ 1919 - 1930; sự ra đời của ba tổ chức cộng sản
Hay trong các giáo trình: “Đại cương Lịch sử Việt Nam”, tập II (1858 - 1945) của tác giả Đinh Xuân Lâm; “Tiến trình lịch sử Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Ngọc; “Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay” của tác giả Trần Bá
Đệ cung cấp khá đầy đủ những vấn đề thông sử Việt Nam liên quan tới nội dung
đề tài
Đề cập tới các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc có nhiều tác phẩm liên quan
như: “Nguyễn Ái Quốc ở Pháp 1917 - 1923” của tác giả Nguyễn Phan Quang
tìm hiểu rất cụ thể về các hoạt động của Người trên chính mảnh đất của kẻ thù
dân tộc Trong các tác phẩm “Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 1890 - 1929”, tập 1 của tác giả Đặng Xuân Kỳ; “Hồ Chí Minh toàn tập”, tập 1, tập 2, tập 9, tập 10;
“Con đường dẫn Mác đến chủ nghĩa cộng sản và con đường dẫn Bác Hồ đến chủ nghĩa Mác - Lênin” của tác giả Nguyễn Văn Phùng, Kỷ yếu hội thảo khoa
học toàn quốc “Một thế kỉ Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5 - 6 - 1911 đến 5
- 6 - 2011)” đã cung cấp nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với Người từ hành
trình bôn ba ở nước ngoài, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc; cũng như các hoạt động của Người trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước, quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản ở nước ta
Nghiên cứu về những biến động của con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam (1904 - 1925), sự chuyển hóa của các tổ chức
yêu nước theo khuynh hướng cộng sản có các tác phẩm: “Sự chuyển biến của
phong trào yêu nước và mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong 30 năm đầu
Trang 7thế kỉ XX” của tác giả Đinh Trần Dương và “Sự lựa chọn con đường phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỉ XX và quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ 1930 đến nay” của tiến sĩ Nguyễn Thị Đàm
Trong khóa luận tốt nghiệp “Tính truyền thống và thời đại trong con đường
cứu nước phát triển xã hội của Phan Bội Châu” của tác giả Nguyễn Thế Hà
cũng cung cấp một số thông tin cần thiết về yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại liên quan đến đề tài Ngoài ra còn có các Tạp chí, tài liệu trên Internet đề cập khá nhiều về nội dung nghiên cứu
Nhìn chung, khối lượng sách báo, công trình Nghiên cứu khoa học về yếu
tố truyền thống và yếu tố thời đại, phong trào yêu nước và phong trào công nhân tương đối nhiều, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách sâu sắc về sự kết hợp giữa hai yếu tố này trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quý báu, đáng tin cậy giúp tôi hoàn thành tốt đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
- Phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam đầu thế kỉ XX
- Quá trình lựa chọn con đường cứu nước và hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc
- Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
b Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn trong việc tìm hiểu về các yếu tố thời đại xuất hiện đầu thế kỉ XX
để kết hợp với yếu tố truyền thống tạo nên sự phát triển trong phong trào yêu nước và phong trào công nhân ở Việt Nam, hình thành nên các tổ chức cộng sản, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Hiểu rõ về sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong quá trình phát triển của phong trào yêu nước và phong trào công nhân để tất yếu ra
Trang 8đời một chính đảng của giai cấp vô sản Đồng thời thấy được vai trò và sự cần thiết của sự kết hợp hai yếu tố này
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên tôi đã thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát về tình hình thế giới, tình hình Việt Nam và phong trào
yêu nước, phong trào công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất,
để thấy được yêu cầu lịch sử của cách mạng nước ta
Thứ hai, xác định rõ yếu tố thời đại - phong trào công nhân xuất hiện ở Việt
Nam đầu thế kỉ XX
Thứ ba, rút ra những nhận xét, đánh giá về vai trò của sự kết hợp yếu tố
truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu khác nhau: Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, các sách chuyên khảo, các tài liệu liên quan đang được lưu trữ tại các Thư viện như các Tạp chí nghiên cứu lịch sử Ngoài ra còn có nhiều trang web, các Luận văn tốt nghiệp có liên quan đến đề tài…
- Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành công trình khóa luận tốt nghiệp này, tôi dựa trên nguyên tắc:
Phương pháp luận sử học: đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch
sử và phương pháp luận biện chứng của sử học Mácxít
Phương pháp lịch sử: sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
đối chiếu, logic…
6 Đóng góp của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu về một giai đoạn quan trọng của lịch sử dân tộc, đề tài đã khắc họa một cách rõ nét về ý chí kiên cường đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta được thể hiện trong phong trào yêu nước và phong trào công
nhân
Trang 9Qua đó, thấy được vai trò của sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong công cuộc vận động thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, rút ra bài học kinh nghiệm đấu tranh cách mạng cho những thời kỳ sau
Đồng thời cũng đánh giá cao về tầm nhìn của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu nước và đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc
Mặt khác, đề tài cũng góp một phần tài liệu học tập, tham khảo cho những
ai quan tâm về lịch sử phong trào giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX
7 Cấu tạo đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có hai chương:
Chương 1 Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong cách mạng Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
Chương 2 Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong quá trình truyền bá và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam
Trang 101.1.1.1 Chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra một thời kì mới trong lịch
sử phát triển của thế giới nói chung và chủ nghĩa tư bản nói riêng Kết cục của chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hình thế giới, đặc biệt là đối với châu
Âu tư bản chủ nghĩa: “Sau bốn năm chiến tranh, các nước châu Âu bị tàn phá
nặng nề, hoàn toàn kiệt quệ về kinh tế, tài chính, đồng thời phải đối mặt với những vấn đề chính trị - xã hội nan giải Chi phí cho chiến tranh của Pháp là 24,2 tỉ USD; Anh - 35,3 tỉ USD; Italia - 12,4 tỉ USD; Đức - 37,7 tỉ USD; Áo - Hung - 20,6 tỉ USD Những khoản chi phí khổng lồ cho chiến tranh đã biến phần lớn các nước châu Âu, kể cả những nước thắng trận, thành con nợ của Mĩ” [45;
tr.79]
Trong khi đó các nước tư bản ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bị tàn phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, trở thành các cường quốc có tốc độ phát triển nhanh, vượt qua nhiều nước tư bản ở châu Âu
Chiến tranh đã tàn phá châu Âu, làm châu Âu tụt hậu và mất đi vai trò tiên phong trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản Vai trò này đã được chuyển giao cho Mĩ - một nước tư bản ngoài châu Âu
Đồng thời, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại như một hệ thống chính trị thế giới nữa Sự ra đời và phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức
to lớn đối với chủ nghĩa tư bản Các nước tư bản châu Âu đều phải tìm cách đối
Trang 11phó với phong trào cách mạng trong nước cũng như làn sóng đấu tranh của nhân
dân các nước thuộc địa và phụ thuộc Trong bối cảnh đó, để giải quyết vấn đề sau chiến tranh, các nước tư bản đã
tổ chức Hội nghị hòa bình ở Vécxai (1919 - 1920) và Oasinhtơn (1921 - 1922)
để kí kết các hòa ước và các hiệp ước phân chia quyền lợi Một trật tự thế giới
mới được thiết lập thông qua các văn kiện được kí kết, thường được gọi là hệ
thống Vécxai - Oasinhtơn, phản ánh tương quan lực lượng mới giữa các nước tư
bản Các nước thắng trận, trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật Bản giành
được nhiều quyền lợi về kinh tế và xác lập sự áp đặt, nô dịch đối với các nước
bại trận, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc Đồng thời, ngay giữa các
nước tư bản thắng lợi cũng nảy sinh những bất đồng do mâu thuẫn về quyền lợi
Chính vì thế, quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời gian này chỉ là
tạm thời và mỏng manh
Nhằm duy trì trật tự thế giới mới, các nước tư bản đã thành lập Hội Quốc
liên - một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên, với sự tham gia của 44
nước thành viên
Trong những năm 1918 - 1923, phần lớn các nước tư bản (trừ Mĩ) đều lâm
vào cuộc khủng hoảng kinh tế - chính trị Cuộc khủng hoảng bắt đầu biểu hiện ở
sự suy sụp về kinh tế và cao trào cách mạng bùng lên mạnh mẽ ở châu Âu cũng
như ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc
Đến những năm 1924 - 1929, các nước tư bản bước vào thời kì tạm thời ổn
định về chính trị và đạt mức tăng trưởng cao về kinh tế Nhiều ngành công
nghiệp vượt xa mức trước chiến tranh, như khai thác nhiên liệu, luyện kim Một
số ngành công nghiệp mới, như điện lực, sản xuất ô tô, máy bay, hóa chất phát
triển nhanh chóng Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế diễn ra không đồng đều giữa
các nước tư bản Hơn nữa, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng thiếu kế hoạch,
không tương xứng với sự cải thiện đời sống của đa số nhân dân, đã dẫn tới
khủng hoảng kinh tế
Qua đây thấy rằng, bước vào thập niên đầu sau Chiến tranh thế giới thứ
nhất, chủ nghĩa tư bản trải qua những bước thăng trầm đầy kịch tính trên các
Trang 12phương diện kinh tế - xã hội và văn hóa Để khắc phục hậu quả chiến tranh, hầu hết các nước tư bản đều tiến hành khôi phục nền kinh tế, đẩy mạnh xâm lược thuộc địa để mở rộng thị trường Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự xác lập một trật tự thế giới mới và là thời kì phát triển mới của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
1.1.1.2 Cách mạng tháng Mười Nga và ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc
Kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu
cầu bức bách của lịch sử đặt ra, xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, đưa “một bóng
ma ám ảnh châu Âu” trở thành hiện thực ở nước Nga, mở ra chân trời mới cho
mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội trên thế giới
Cách mạng vô sản tháng Mười Nga giành thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với nước Nga và thế giới Chẳng những đã giải phóng nước Nga tư bản -
một nước “chính quốc”, mà còn giải phóng cho nhiều nước khác, là những nước
thuộc địa của Nga Cách mạng tháng Mười đã lật đổ ách áp bức bóc lột của chế
độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản tồn tại từ lâu ở nước Nga Thắng lợi của cách mạng nếu chưa phải là hồi chuông báo tử đối với toàn bộ thế giới cũ - một thế giới áp bức, bóc lột và bất công thì chí ít cũng đã cứu sống trên 1/6 diện tích địa cầu, chẳng những thoát khỏi cảnh hổn bang tàn khốc của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất mà còn tạo cho họ một gương mặt mới: Đó là gương mặt, là tư thế của người đầu tiên làm chủ vận mệnh mình Chính quyền Xô viết - nhà nước của liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga ra đời chứng tỏ quá trình hiện thực hóa của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời mở đầu một thời
đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thắng lợi, cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ phát triển mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa Tiếng vang của Cách mạng tháng Mười Nga đã vượt qua biên giới của nó, tác động mạnh mẽ đến hầu khắp các quốc gia - dân tộc trên hành tinh Trong đêm dài đen tối đầy bất công của các chế độ: phong kiến, tư bản thực dân, nhất là qua
Trang 13những năm tháng khủng khiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), nhân dân ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, những người phải chịu đựng nhiều tai họa nhất của chiến tranh đã tìm thấy ở Cách mạng tháng Mười những niềm hi vọng to lớn đối với mình, thúc đẩy họ vùng dậy đấu tranh giành quyền sống, giành độc lập dân tộc
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười đã thức tỉnh và cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, Phi và Mĩ Latinh, chỉ ra con đường đấu tranh đúng đắn cho họ là giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản Cách mạng tháng Mười cũng đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân trong các nước tư bản, chỉ ra cho họ con đường chống chủ nghĩa tư bản
Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: Cách mạng tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay Người đánh giá rất cao
về Cách mạng tháng Mười: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng
Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” [24; tr.13]
Cách mạng tháng Mười Nga đã góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kì mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và khu vực
Mĩ Latinh Đó là thời kì mà đường lối cách mạng mới đúng đắn hình thành trong phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước, với những nhận thức mới: Cách mạng giải phóng dân tộc phải do Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, đi theo ngọn cờ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo; cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; cách mạng giải phóng dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới; phải kết hợp chặt chẽ giữa phong trào cách mạng giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản đế quốc
Trang 14Từ sau Cách mạng tháng Mười, cách mạng các nước thuộc địa và nữa thuộc địa trở thành một bộ phận không thể tách rời của cách mạng vô sản thế giới và
có liên hệ mật thiết với cuộc cách mạng của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc chủ nghĩa Làn sóng cách mạng dâng cao trên toàn thế giới Cũng từ phong trào
đó, giai cấp vô sản ở nhiều nước bắt đầu bước lên vũ đài chính trị và cùng với lực lượng cách mạng các nước, tập hợp nhau lại để thành lập tổ chức riêng của mình ở từng nước và trên phạm vi thế giới, đứng trên lập trường của chủ nghĩa
Mác - Lênin ““Khẩu hiệu chiến đấu vang dội của Lênin “Giai cấp vô sản và
các dân tộc bị áp bức tất cả các nước, đoàn kết lại” đã mở ra con đường mới, đầy ánh sáng cho cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”” [1; tr.16-17] Nhờ vậy, phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước đã
phát triển mạnh mẽ và từng bước giành được những thắng lợi quan trọng
Một tổ chức quốc tế của giai cấp vô sản - Quốc tế Cộng sản được thành lập (3 - 1919) đã đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng thế giới Tiếp đó, một loạt các Đảng Cộng sản nối tiếp nhau ra đời ở các nước tư bản cũng như các nước phụ thuộc đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và ảnh hưởng to lớn đến phong trào cách mạng thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Cách mạng tháng Mười đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với các trào lưu tư tưởng cơ hội xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cung cấp nhiều bài học kinh nghiêm quý báu cho phong trào cách mạng tế giới
1.1.1.3 Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới và phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
- Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới:
Do hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, một cao trào cách mạng đã bùng nổ ở khắp các nước
tư bản châu Âu trong những năm 1918 - 1923 Phong trào đấu tranh không chỉ dừng lại ở những yêu sách kinh tế mà còn nhằm ủng hộ nước Nga Xô viết Đỉnh cao của cao trào là sự thành lập các nước Cộng hòa Xô viết ở Hung-ga-ri (3 -
Trang 151919), ở Ba-vi-e (Đức, 4 - 1919), thể hiện khát vọng của quần chúng lao động về một xã hội công bằng, dân chủ Tuy không giành được thắng lợi nhưng phong trào đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
Trong cao trào cách mạng 1918 - 1923, các Đảng Cộng sản đã được thành lập ở nhiều nước, như ở Đức, Áo, Hung-ga-ri, Ba Lan, Phần Lan, Ác-hen-ti-na,
Sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế để tập hợp lực lượng và chỉ đạo cùng một đường lối đúng đắn Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự tồn tại của Nhà nước Xô viết là điều kiện thuận lợi để thực hiện yêu cầu đó Với những nỗ lực của Lênin và một số nhà hoạt động quốc tế, Đại hội thành lập Quốc tế cộng sản được tiến hành tại Mát-xcơ-va tháng 3 - 1919 Trong thời gian tồn tại (1919 - 1943), Quốc tế cộng sản
đề ra nhiều đường lối cách mạng phù hợp với từng thời kì phát triển của cách mạng thế giới
Sau cao trào cách mạng 1918 - 1923, từ năm 1924, các nước tư bản bước vào thời kì tạm thời ổn định, phong trào công nhân dần lắng xuống Tuy thế, các cuộc bãi công đòi cải thiện điều kiện làm việc, chế độ tiền lương, đòi tự do, dân chủ vẫn tiếp diễn Cuộc tổng bãi công của công nhân Anh tháng 5 - 1926 với sự tham gia của 5 triệu người, làm tê liệt các khu công nghiệp lớn của nước Anh là một sự kiện điển hình
Có thể thấy rằng, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào cách mạng thế giới có bước phát triển hơn so với trước, thể hiện khát vọng đấu tranh cho sự công bằng, bình đẳng trong xã hội nhằm đem đến cuộc sống ổn định cho quần chúng nhân dân lao động
- Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc:
Phong trào giải phóng dân tộc sau Cách mạng tháng Mười Nga với những nhân tố khách quan và chủ quan tác động, thúc đẩy nên có những bước phát triển nhanh chóng Một xu hướng mới đã xuất hiện trong phong trào giải phóng dân tộc - xu hướng vô sản, trong khi xu hướng tư sản vẫn tồn tại, phát triển, mở rộng
và khẳng định mình
Trang 16Xu hướng vô sản ra đời và phát triển khá độc lập do sự trưởng thành của
giai cấp vô sản và sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin ở thuộc địa “Cùng với sự
thức tỉnh của các dân tộc bị áp bức dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười, trong thập kỉ 20 của thế kỉ XX, bằng nhiều con đường khác nhau, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đến với nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc Trên
cơ sở kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, hàng loạt các Đảng Cộng sản đã được thành lập ở khắp các châu lục trên thế giới Ở châu Á, Đảng Cộng sản Inđônêxia ra đời sớm nhất (5 - 1920) được xem là sự kiện tiêu biểu, đánh dấu xu hướng vô sản xuất hiện sớm nhất ở khu vực các nước thuộc địa” [4; tr.153]
Với sự ra đời của các Đảng Cộng sản, giai cấp vô sản đã khẳng định được vai trò của mình như một lực lượng chính trị độc lập Thông qua các chính đảng của mình, giai cấp vô sản trẻ trung ở các nước Á, Phi và Mĩ Latinh đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và ở một số nước họ đã đóng vai trò là người lãnh đạo phong trào, như Đảng Cộng sản Inđônêxia trong thập niên
20 của thế kỉ XX
So với giai đoạn trước, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào giải phóng dân tộc có những thắng lợi bước đầu Trước hết là thắng lợi của cuộc cách mạng nhân dân Mông Cổ (1921 - 1924), đưa đến thành lập Nhà nước Mông Cổ độc lập - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Thổ Nhĩ Kì (1919 - 1922) thắng lợi đã thủ tiêu chế độ phong kiến quân chủ, gạt bỏ sự thống trị của Anh và Hi Lạp, thành lập nước cộng hòa, tạo điều kiện để Thổ Nhĩ Kì trở thành một quốc gia độc lập và ổn định nhất ở khu vực Cận Đông Cách mạng Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kì là hai cuộc cách mạng duy nhất thắng lợi trọn vẹn trước năm 1945, do hai giai cấp khác nhau (vô sản và
tư sản) lãnh đạo và đi theo hai định hướng khác nhau Ở Châu Phi, nước Cộng hòa Rip (ở Marốc thuộc Tây Ban Nha) ra đời sau cuộc khởi nghĩa của nhân dân
do Apđen Kêrim lãnh đạo, tồn tại từ năm 1921 đến năm 1926 Có thể thấy rằng, khi cuộc đấu tranh chống thực dân vào những thập niên đầu thế kỉ XX còn bị bọn thực dân thẳng tay đàn áp và thất bại thì sự ra đời và tồn tại của các nhà
Trang 17nước độc lập có ý nghĩa lớn lao Nó chứng tỏ rằng, dù phải hi sinh gian khổ nhưng cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc chắc chắn sẽ thắng lợi
Nhìn chung, cao trào cách mạng giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ ở khắp các châu lục, tấn công vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong nước, đồng thời góp phần bảo vệ cách mạng Nga và nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới Đặc điểm của cao trào cách mạng này là giai cấp vô sản non trẻ
đã tích cực tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và ở nhiều nước, họ đã đóng vai trò lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trong điều kiện đó, các Đảng Cộng sản lần lượt được thành lập: Đảng Cộng sản Inđônêxia (1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Aicập (1921), Đảng Cộng sản Brazin (1922), Đảng Cộng sản Cuba (l925),… nhanh chóng quy tụ mọi tầng lớp vào quỹ đạo đấu tranh giải phóng dân tộc
1.1.2 Tình hình Việt Nam
1.1.2.1 Công cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai của thực dân Pháp
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho các nước tư bản châu Âu Nước Pháp bị thiệt hại nặng nề nhất với hơn 1,4 triệu người chết và thiệt hại về vật chất lên tới 200 tỉ Phơrăng Chiến tranh đã tàn phá hàng loạt các nhà máy, cầu cống, đường sá và làng mạc trên khắp đất nước Những vùng giàu có nhất nước Pháp, đặc biệt các vùng công nghiệp phát triển,
bị tàn phá nặng nề; nhiều ngành sản xuất công nghiệp bị đình trệ; hoạt động
thương mại sa sút nghiêm trọng “Trong khi những khoản tiền lớn chi phí cho
chiến tranh và những số vốn lớn đầu tư ở nước ngoài (riêng ở nước Nga Sa hoàng là 14 tỉ Phơrăng) bị mất trắng, thì số nợ quốc gia của Pháp, chủ yếu nợ
Mĩ, tăng từ 170 tỉ Phơrăng (năm 1918) lên tới 300 tỉ Phơrăng (năm 1920) Đồng Phơrăng ngày càng mất giá, giá cả leo thang, đời sống khó khăn đã làm tăng thêm nỗi bất bình, đấu tranh chống Chính phủ của các tầng lớp nhân dân lao động Pháp” [24; tr.15] Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng trong thế giới tư bản
chủ nghĩa sau chiến tranh càng gây khó khăn cho nền kinh tế Pháp
Trang 18Nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi và phát triển nền kinh tế, khôi phục và củng cố địa vị trong thế giới tư bản, đồng thời vừa để tránh nạn phá giá đồng Phơrăng của Pháp, đế quốc Pháp đã tìm mọi biện pháp vừa tăng cường bóc lột nhân dân để thúc đẩy nền sản xuất trong nước; vừa đẩy mạnh đầu tư khai thác, bóc lột thuộc địa Do vậy, Pháp nhanh chóng vạch ra kế hoạch khai thác thuộc địa Lần thứ hai ở Đông Dương, mà chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933)
Cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai về mục tiêu cũng giống như cuộc khai
thác thuộc địa Lần thứ nhất, đó là: “bòn rút thuộc địa để làm giàu cho chính
quốc nhưng không cho thuộc địa có cơ hội cạnh tranh với chính quốc” [31;
tr.247] Trong cuộc khai thác lần này đã chấm dứt tình trạng nhỏ giọt về đầu tư, tình trạng thờ ơ chần chừ của tư bản tư nhân trong việc kinh doanh khai thác ở Việt Nam
Để khai thác được nhiều kho tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn nhân công dồi dào, rẽ mạt và độc chiếm thị trường Đông Dương, tư bản tài chính Pháp tăng cường đầu tư vốn vào các ngành kinh tế ở Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam với quy mô và tốc độ nhanh gấp nhiều lần so với thời kì trước chiến tranh
“Chỉ trong vòng 6 năm (1924 - 1929), tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam tăng gấp
6 lần số vốn đầu tư trong 20 năm trước chiến tranh (1898 - 1918)” [11; tr.85]
Khác với cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ nhất, lĩnh vực đầu tư chủ yếu của tư bản Pháp là khai khoáng thì đến cuộc khai thác thuộc địa lần này vị trí đó thuộc về nông nghiệp, tiếp sau là công nghiệp
Về nông nghiệp, năm 1924, số vốn đầu tư vào nông nghiệp là 52 triệu
Phơrăng, đến năm 1927 lên tới 400 triệu Phơrăng Cao su là mặt hàng đang được giá cao trên thị trường thế giới nên đã thu hút các nhà tư bản Pháp đổ xô vào đầu
tư kinh doanh Thực dân Pháp thực hiện chính sách ăn cướp ruộng đất, lập đồn
điền cao su “Tính đến năm 1930, diện tích đồn điền do chủ người Pháp nắm giữ
chiếm tới 1,2 triệu hécta đất đai, bằng 1/4 tổng diện tích đất đai canh tác ở Việt Nam Riêng diện tích trồng cao su tăng từ 15 ngàn hécta năm 1918 lên tới 120
Trang 19ngàn hécta năm 1930” [11; tr.85] Các chủ đồn điền thực hiện phương thức canh
tác và bóc lột kiểu phong kiến và tiền tư bản, chủ yếu là bóc lột lao động sống, ít đầu tư về kĩ thuật
Những chính sách đầu tư của tư bản Pháp đã góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với khí hậu miền nhiệt đới Làm xuất hiện nhiều đồn điền trồng lúa, cà phê, hồ tiêu bên cạnh đồn điền cao su Trong kinh doanh cao su, nhiều công ty lớn ra đời: Công ty đất đỏ, Công ty Misơlanh, Công ty trồng cây nhiệt đới, 95% sản lượng cao su thu hoạch hằng năm và hầu hết khối lượng cao su xuất khẩu đều đưa sang Pháp
Về công nghiệp, so với thời kì trước đã có bước tiến mới về chất với hai bộ
phận công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Trong ngành công nghiệp nặng,
thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác mỏ, chủ yếu là mỏ than Các công ty than có
từ trước, nay được bỏ vốn thêm và hoạt động mạnh hơn Nhiều công ty than mới nối tiếp nhau ra đời, như: Công ty than Hạ Long – Đồng Đăng, Công ty than và kim khí Đông Dương, Công ty than Tuyên Quang, Công ty than Đông Triều Ngoài than, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn, tăng thêm nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác
Cùng với sự điều chỉnh trong khu vực công nghiệp nặng, khu vực công nghiệp nhẹ cũng trở nên sôi động hơn Tư bản Pháp mở thêm một số cơ sở công nghiệp không có khả năng cạnh tranh với công nghiệp Pháp, chủ yếu là công nghiệp chế biến nông sản tại chỗ, như các nhà máy sợi Hải Phòng, Nam Định; rượu Hà Nội, Nam Định, Hà Đông; diêm Hà Nội, Hàm Rồng, Bến Thủy; đường Tuy Hòa, gạo Sài Gòn, Nhìn chung, ngành sản xuất chế biến không phát triển
gì nhiều, vì Pháp muốn duy trì sự độc quyền của mình trong sản xuất cũng như trong việc tiêu thụ hàng hóa
Về thương nghiệp, có bước tiến mới Hoạt động buôn bán trong nước được
đẩy mạnh với việc xuất hiện các chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ Đông Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội)
Về ngoại thương, Pháp nắm độc quyền Để nắm chặt hơn thị trường Việt Nam và Đông Dương cũng như bảo hộ hàng hóa chính quốc, Pháp ban hành đạo
Trang 20luật đánh thuế nặng hàng ngoại nhập, nhất là hàng Trung Quốc và Nhật Bản; miễn thuế hoặc đánh thuế nhẹ đối với hàng hóa Pháp Do đó hàng hóa Pháp nhanh chóng tràn ngập trên thị trường Việt Nam Trước chiến tranh, hàng hóa Pháp mới chỉ chiếm 37% tổng số hàng nhập nhưng chỉ mấy năm sau chiến tranh
đã lên tới 63% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, nông sản Nhập
khẩu chủ yếu là những mặt hàng tiêu dùng, công nghiệp, kĩ thuật từ Pháp
Về giao thông vận tải, được chú ý đầu tư xây dựng ngay từ đầu nhằm phục
vụ đắc lực cho khai thác và chuyên chở nguyên vật liệu cũng như cho lưu thông
hàng hóa trong nội địa và với nước ngoài Trên cơ sở đó, Pháp tăng cường đầu tư
mở thêm nhiều tuyến đường mới (cả đường sắt, đường bộ và đường thủy) Có thể nói, vào thời điểm những năm 30 của thế kỉ XX, Đông Dương là một trong những nơi có hệ thống giao thông tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á
Ngân hàng Đông Dương - đại diện thế lực của tư bản tài chính Pháp, nắm quyền chỉ huy các ngành kinh tế ở Đông Dương, độc quyền phát hành giấy bạc
và cho vay lãi Với chức năng thương mại và đầu tư, ngân hàng Đông Dương đã trở thành kẻ nắm tài khoản hiện hành của ngân khố Đông Dương Bên cạnh nguồn lãi suất của ngân hàng và các công ty tư bản, thì ngân sách chính quyền
thực dân tiếp tục được tăng cường nhờ chính sách tăng thuế
Như vậy, có thể thấy rằng, chính sách khai thuộc địa Lần thứ hai của Pháp vượt xa so với Lần thứ nhất, đã góp phần giải quyết những khó khăn về mọi mặt cho chính quốc Đối với Việt Nam, nền kinh tế có sự chuyển biến sâu sắc theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực song nhìn chung nền kinh tế nước ta phát triển chậm chạp, què quặt và lạc hậu
1.1.2.2 Tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đối với Việt Nam
“Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Việt Nam vẫn đang chìm đắm trong đêm dài nô lệ Các cuộc khởi nghĩa thất bại, tình hình đất nước đen tối như không có đường ra Đường lối của các sĩ phu yêu nước, tiến bộ không phù hợp với tình hình đất nước và xu thế của thời đại” [18; tr.337] Con đường
theo khuynh hướng phong kiến, tư sản đã từng nổ ra và tạo được tiếng vang
Trang 21nhưng cuối cùng đều thất bại và tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đều bị dìm trong biển máu do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về con đường giải phóng dân tộc Giữa lúc đó, Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã mở ra con đường cứu nước mới cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một Nhà nước bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đây cũng là mô hình Nhà nước mà dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm
Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười đến Việt Nam thông qua vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước, cuối năm 1917, Người trở lại Pháp hoạt động Như tiếng sấm mùa xuân, Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vùng dậy đấu tranh, giải phóng dân tộc và gây sự chú ý đối với Nguyễn Ái Quốc
Cách mạng tháng Mười có ảnh hưởng lớn đến con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: Cách mạng Tháng Mười như một mẫu mực tuyệt vời về khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền; về phương pháp cách mạng - phương pháp dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và chế độ phong kiến địa chủ, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới - xã hội không còn người bóc lột người,
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức đúng thời đại mới là thời kí quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới Người không chỉ nhìn thấy Cách mạng tháng Mười là một cuộc cách mạng vô sản, lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn nhận thấy chỉ có cuộc cách mạng này, vấn đề dân tộc mới được giải quyết Đây chính là cơ sở cho sự lựa chọn con đường độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta: “Muốn cứu nước, giải phóng dân
tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [29; tr.314]
Từ đó, Người chủ trương đưa cách mạng Việt Nam vào đúng quỹ đạo của thời đại
Trang 22Tháng 3 - 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào giải phóng dân
tộc ở Việt Nam “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa” của Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào
năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa,
mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản Quốc tế cộng sản còn có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc không những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế cộng sản đối với phong trào cách mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng
Việt Nam: “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc
tế”
Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có bước phát triển mới mẻ dưới tác động của Cách mạng tháng Mười Nga Xu hướng vô sản dần chiếm vị trí quan trọng trong quá trình đấu tranh của các nước thuộc địa và phụ thuộc Với
sự ra đời của các Đảng Cộng sản và Nhà nước độc lập một số nước ở châu Á, Phi và Mĩ Latinh đã tác động mạnh mẽ đến cách mạng Việt Nam Là động lực thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta vươn lên cùng hòa nhập với phong trào cách mạng vô sản thế giới, để tiến tới thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam, từng bước đưa cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng
Như vậy, với những tác động của Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam đã có sự thay đổi về ý thức hệ, chuyển từ ý thức hệ dân chủ tư sản sang ý thức hệ vô sản trong những nhà yêu nước đầu thế kỉ XX, tiêu biểu nhất là nhà yêu nước Nguyễn
Ái Quốc Họ đã li khai con đường cũ để chuyển sang một con đường mới tiến bộ hơn Từ sự chuyển biến này đã có sự thay đổi cả về nội dung, cả về phương pháp, phương hướng, mục tiêu tiến lên của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX
Trang 231.1.2.3 Những chuyển biến của xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc, nhanh chóng và thuần thục
- Về kinh tế: Nền kinh tế của tư bản Pháp tiếp tục được mở rộng và bao trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam “Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
hai của thực dân Pháp ở Việt Nam không chỉ là quá trình đầu tư vốn và mở rộng quy mô khai thác, mà kèm theo đó là sự đầu tư vào các nhân tố kĩ thuật và con người sản xuất nên cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp trong chừng mực nhất định, đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển Những vấn
đề như vốn, máy móc kĩ thuật, công cụ mới, phân bón, giống cây trồng, kinh nghiệm sản xuất đã có những cải tiến rõ rệt Cùng với đó, sự du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu theo hướng tư bản chủ nghĩa, làm tan rã dần nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc ở nông thôn và tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hóa phát triển” [www.bachkhoatrithuc.vn]
Cơ cấu kinh tế Việt Nam có chuyển biến ít nhiều, song chỉ có tính chất cục
bộ ở một số vùng, còn phổ biến vẫn trong tình trạng lạc hậu, nghèo nàn Quá trình thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa Việt Nam cũng đã làm kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm hao mòn sức lực của nhân dân ta Kinh tế Đông Dương ngày càng bị cột chặt vào kinh tế Pháp và Đông Dương vẫn là thị trường độc chiếm của tư bản Pháp Chính sách thống trị hà khắc cùng với những thủ đoạn bóc lột tàn bạo đã làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ
- Về xã hội: Cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam có những chuyển biến mới
Giai cấp địa chủ phong kiến: Tiếp tục phân hoá và vẫn chia ra hai bộ phận,
mỗi bộ phận có thái độ chính trị khác nhau trước kẻ thù và trong cuộc đấu tranh
dân tộc Bộ phận nhỏ là đại địa chủ, giàu có lên nhờ dựa vào Pháp; do có thế lực
mạnh về kinh tế, lại nắm chính quyền ở nông thôn và tham gia vào chính quyền của thực dân ở hàng tỉnh, hàng xứ (Hội đồng Dân biểu, Hội đồng Quản hạt ),
Trang 24nên bộ phận này đã câu kết chặt chẽ với thực dân Pháp thống trị, bóc lột nhân
dân ta, chống lại cách mạng Bộ phận lớn là trung và tiểu địa chủ bị đế quốc
chèn ép, do có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai
Giai cấp nông dân: Chiếm khoảng 90% dân số Họ tiếp tục là nạn nhân trực
tiếp của chính sách chiếm đoạt ruộng đất, chính sách sưu thuế, địa tô, phu phen, tạp dịch dưới chế độ thực dân phong kiến Ruộng đất của nông dân bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt Cuộc sống của họ hết sức bấp bênh Một bộ phận bị bần cùng hóa Một bộ phận nhỏ rời quê lên thành thị vào làm trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, còn bộ phận lớn phải ở lại quê sống cuộc đời tá điền với chủ điền mới ngay trên mảnh ruộng cũ của mình
Bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến Giai cấp nông dân - một giai cấp có tinh thần cách mạng dồi dào, lực lượng cách mạng to lớn - khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc Đây chính là lực lượng hăng hái và đông đảo nhất của cách mạng
Giai cấp tư sản: Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất mới chỉ là một tầng
lớp nhỏ bé, chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp, hoạt động sản
xuất còn hạn hẹp Nhưng“tư sản Việt Nam đã từ một tầng lớp trở thành một giai
cấp xã hội thực sự sau Chiến tranh thế giới thứ nhất” [31; tr.252] Trong cuộc
khai thác thuộc địa Lần thứ hai, tầng lớp tư sản, phần đông là lớp người làm trung gian cho tư bản Pháp, khi đã kiếm được số vốn khá, họ đứng ra kinh doanh riêng, hoạt động kinh doanh được mở rộng và có quy mô lớn hơn Họ kinh doanh trong hầu hết các ngành kinh tế từ xay xát, nhuộm, dệt, in ấn, vận tải đến sản xuất nước mắm, đường, xà phòng, đồ gốm Một số tư sản đã có trong tay một sản nghiệp lớn như mỏ, đồn điền, các công ty thương mại… Một số cơ sở sản xuất đã có khả năng thu hút vài trăm công nhân
Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam chia thành hai bộ phận:
Tư sản mại bản và tư sản dân tộc
Trang 25Bộ phận tư sản mại bản số lượng ít, là những nhà đại lí cho tư bản nước
ngoài, những nhà thầu khoán và những tư sản hùn vốn kinh doanh với tư sản Pháp có quyền lợi gắn với đế quốc, nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng, chống lại dân tộc
Đại bộ phận là tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập, phát
triển kinh tế dân tộc, nhưng thế lực kinh tế nhỏ bé, chủ yếu về thương nghiệp, không đương đầu nổi với sự cạnh tranh của tư bản Pháp Vốn của tư bản Việt Nam chỉ bằng 5% vốn tư bản nước ngoài Họ bị tư sản Pháp và tư sản ngoại kiều chèn ép, vì thế, để tồn tại và phát triển, bộ phận này đã cố kết với nhau trong kinh doanh và do đó ít nhiều có tinh thần dân tộc Nhưng thế lực chính trị yếu đuối, lập trường của họ không kiên định, dễ dàng thỏa hiệp hay cải lương khi đế quốc mạnh
Giai cấp tiểu tư sản: Sau chiến tranh có sự nhảy vọt về số lượng Bao gồm
nhiều tầng lớp khác nhau: tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẽ nên rất hăng hái cách mạng Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng, văn hóa tiến bộ bên ngoài, nên nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước, có tinh thần cách mạng, hăng hái đấu tranh Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh
vì độc lập tự do của dân tộc
Giai cấp công nhân: Ngày càng đông đảo theo đà mở rộng đầu tư về kinh tế
của tư bản Pháp sau chiến tranh, là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ Trong cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ nhất, giai cấp công nhân đã ra đời, đến cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, từ 10 vạn người năm 1914 tăng lên 22 vạn năm 1929
Do một phần lớn giai cấp công nhân tuyển mộ bằng con đường cưỡng bức, nhất là số công nhân đồn điền nên trình độ văn hóa của công nhân Việt Nam rất thấp, số người mù chữ khá đông Tính chất vô sản hiện đại của họ cũng bị hạn
Trang 26chế bởi việc sử dụng khá rộng rãi lao động thủ công trong các ngành sản xuất, kinh doanh Hiện tượng phổ biến trong quá trình sản xuất là giới chủ sử dụng lao động chân tay một cách triệt để trong bất cứ công việc nào có thể để kiếm lời Bị
áp bức bóc lột nặng nề, giai cấp công nhân Việt Nam sớm có tinh thần đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Tinh thần kĩ luật, ý thức đoàn kết của công nhân cũng được rèn giũa qua quá trình lao động và đấu tranh
Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượng chỉ chiếm khoảng 1% dân số, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công
nghiệp và các đồn điền “Điều kiện sống và làm việc của công nhân rất cực khổ
Họ phải làm việc trung bình từ 10 giờ đến 14 giờ / ngày với đồng lương rẻ mạt, thường xuyên bị cúp phạt và bị đối xử bất nhân Trước khi họ trở thành công nhân, họ đã là người dân một nước nô lệ Vì thế, trong họ đã có sẵn mối thù dân tộc Khi họ trở thành công nhân, làm thuê cho một ông chủ nào đó, bị giới chủ bóc lột, áp bức nặng nề, họ mang thêm một mối thù thứ hai - mối thù giai cấp Mối thù dân tộc có trước thôi thúc mối thù giai cấp chín sớm Do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam sớm giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc” [www.lichsuvietnam.vn]
Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế (đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ, điều kiện sinh sống và lao động tập trung, ), đồng thời còn có những đặc điểm riêng như: là con đẻ của
sự du nhập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ); phần lớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hoá mà ra nên có mối quan hệ gần gũi với nông dân; kế thừa truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất của dân tộc Ra đời trước giai cấp tư sản nên sớm tiếp thu ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị độc lập, tự giác và thống nhất trong cả nước, để sau đó trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng
Như vậy, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai, các giai cấp xã hội cũ (địa chủ phong kiến và nông dân) phân hóa sâu sắc; những tầng lớp xã hội mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản) nảy sinh trong cuộc khai thác
Trang 27thuộc địa Lần thứ nhất, phát triển và trở thành giai cấp thực sự; giai cấp công nhân trưởng thành và trở thành giai cấp tự giác Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp có địa vị và quyền lợi khác nhau, nên có thái độ chính trị khác nhau trong cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp đang ngày càng phát triển
1.2 Yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại trong phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
1.2.1 Phong trào yêu nước Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
Dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử mới, phong trào yêu nước sau Chiến tranh thế giới thứ nhất ở nước ta có bước phát triển mới về cả nội dung lẫn hình
thức, “với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân, dưới nhiều hình thức đấu
tranh phong phú, sôi nổi, nhất là phong trào ở thành thị” [11; tr.95] Trong đó,
hai giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị bắt đầu bước lên vũ đài chính trị Trong lúc chủ nghĩa Mác - Lênin chưa được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam thì tư tưởng dân chủ tư sản, nhất là chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn vẫn tiếp tục tràn vào Việt Nam và đã chi phối không ít phong trào dân tộc, dân chủ theo khuynh hướng dân chủ tư sản
Phong trào yêu nước của tư sản dân tộc: Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất,
với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã hăng hái bước lên vũ đài chính trị Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi, rộng lớn, thu hút đông đảo quần chúng với những hình thức phong phú
Về kinh tế, năm 1919, tư sản gây phong trào “chấn hưng hàng nội hóa, bài
trừ hàng ngoại hóa” Thực chất đây là cuộc xung đột quyền lợi của tư sản Việt
Nam với các thế lực tư bản nước ngoài Tiếp đó, “năm 1923, họ châm ngòi đấu
tranh chống độc quyền xuất nhập khẩu cảng Sài Gòn và độc quyền xuất khẩu lúa gạo Nam Kỳ của tư bản Pháp” [11; tr.95] Cuộc đấu tranh này có tiếng vang tới
chính giới Pháp Ngoài hai phong trào đấu tranh tiêu biểu nói trên, tư sản Việt Nam còn yêu cầu giảm thuế xuất cảng đường (1922), chống độc quyền sản xuất nước mắm (1920 - 1926), yêu cầu được thành lập riêng phòng thương mại cho người Việt Nam (1924),
Về chính trị, một số tư sản và địa chủ lớn Nam Kì (đại biểu là Bùi Quang
Trang 28Chiêu, Nguyễn Phan Long, ) đã tập hợp nhau lại thành một tổ chức có tên là Đảng Lập hiến, rồi đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do, dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng, dùng áp lực quần chúng đòi Pháp nhiều quyền lợi Nhưng khi được thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi (như cho tham gia
Hội đồng quản hạt Nam Kỳ), họ sẵn sàng thỏa hiệp với Pháp “Từ năm 1925, khi
phong trào của quần chúng lên cao, những người theo Đảng Lập hiến chuyển từ chủ nghĩa quốc gia dân tộc cải lương sang lập trường chính trị phản động gắn
bó chặt chẽ với chủ nghĩa thực dân Đến đây phong trào tư sản xẹp hẳn xuống”
[11; tr.96]
Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, họ còn xuất bản báo chí làm cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng cải lương chủ nghĩa, đồng thời đấu tranh đòi một số quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ chế độ thuộc địa
Nhìn chung, phong trào thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc
của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều không thành công vì giai cấp
tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc
Phong trào yêu nước của tiểu tư sản trí thức: Trong nước, tầng lớp tiểu tư
sản trí thức (nhà văn, nhà báo, nhà giáo, sinh viên, học sinh, ) được tập hợp trong các tổ chức chính trị, như Tâm tâm xã (1924), Việt Nam Nghĩa đoàn (1925), Hội Phục Việt (1925), Đảng Thanh niên (1926), Đảng An Nam độc lập (1926) Họ lập các nhà xuất bản tiến bộ như Cường Học thư xã (Sài Gòn), Nam Đồng thư xã (Hà Nội), để ra sách báo cổ động tinh thần yêu nước, đòi các
quyền tự do, dân chủ (“Chuông Rè”, “An Nam trẻ”, “Người Nhà quê”, ) Họ
dùng sách báo làm phương tiện truyền bá tư tưởng yêu nước, tiến bộ; nêu quan điểm, lập trường chính trị của mình
Các tổ chức cũng đẩy mạnh các hoạt động yêu nước, như tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình , những cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp, cả đấu
tranh bất hợp pháp “Nhưng hoạt động có tiếng vang mạnh mẽ nhất lúc bấy giờ
là vụ Phạm Hồng Thái mưu sát Toàn quyền Méclanh, vụ đòi thả Phan Bội Châu
và vụ để tang Phan Châu Trinh” [11; tr.96 - 97]
Trang 29Trong những năm này (1925 - 1926), còn có phong trào của các lực lượng dân tộc dân chủ đòi thực dân Pháp thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh, đón rước Bùi Quang Chiêu
Ngoài nước, tại Pháp, ngoài các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc còn có
hoạt động của nhóm những người yêu nước Việt Nam, đứng đầu là Phan Văn
Trường, Phan Châu Trinh, với “Hội đồng bào thân ái”, sau đó là “Hội những
người Việt Nam yêu nước tại Pháp” Cuộc vận động cho bính lính Việt Nam hồi
hương và đả kích Khải Định trong chuyến đi Pháp (1922) đã gây tiếng vang lớn Tại Trung Quốc, có các hoạt động tuyên truyền yêu nước của Phan Bội Châu cùng với các nhà yêu nước khác như: Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong (trong Tâm tâm xã) Đây là một tổ chức yêu nước tiến bộ Hoạt động của người Việt Nam yêu nước ở nước ngoài đã có ảnh hưởng nhất định đến cuộc đấu tranh ở trong nước, góp phần vào việc truyền bá những tư tưởng cách mạng mới vào nước ta (trong đó có cả chủ nghĩa Mác - Lênin) Nhìn chung, so với phong trào tư sản, phong trào của tiểu tư sản Việt Nam sôi nổi và mạnh mẽ, mang nhiều yếu tố tiến bộ, được quần chúng tham gia đông đảo hơn
Phong trào nông dân diễn ra nhiều nơi ở trong nước, dân cày cũng đã
thức tỉnh, chống đế quốc và địa chủ kịch liệt
Tóm lại, mặc dù các phong trào chống Pháp theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia dưới nhiều hình thức đấu tranh phong phú, mục tiêu đều hướng đến việc giành độc lập cho dân tộc, trên các lập trường giai cấp khác nhau, phương thức, biện pháp đấu tranh khác nhau với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài cũng khác nhau,… nhưng cuối cùng các phong trào trên đều lần lượt thất bại vì không có đường lối đúng đắn
1.2.2 Phong trào công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới Lần thứ nhất
Ở thời kì đầu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, do trình độ giác ngộ còn thấp, những cuộc đấu tranh của công nhân chỉ diễn ra lẻ tẻ, rời rạc ở từng xí nghiệp, từng kíp thợ, xưởng thợ Mục tiêu đấu tranh chủ yếu đòi quyền lợi kinh
Trang 30tế, như đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt Hình thức đấu tranh chủ yếu là phá máy móc, bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh
cai ký, đưa đơn phản kháng
Từ năm 1919 trở đi, phong trào đã có một số nét mới, với những hình thức
đấu tranh đặc thù của giai cấp như bãi công “Theo thống kê của chính quyền
Pháp, từ năm 1920 - 1925 đã nổ ra 25 cuộc bãi công, đó là chưa kể những cuộc lãn công, đưa yêu sách cho chủ, hò reo chống đánh đập ” [23; tr.262] Một số
cuộc bãi công của công nhân bắt đầu có ý thức giai cấp, làm cơ sở cho các tổ chức và phong trào chính trị cao hơn về sau Hình thức bãi công đã trở nên phổ biến, diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn
Năm 1919 nổ ra cuộc bãi công của công nhân thủy thủ tàu Sácnô ở Hải Phòng đòi tăng lương, phản đối việc đưa bính lính Việt Nam sang đàn áp cách mạng Xiri
“Năm 1920, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn bí mật lập ra Công hội đỏ do Tôn Đức Thắng đứng đầu” [11; tr.99] Đây là tổ chức chính trị đầu tiên của giai
cấp công nhân, có ảnh hưởng và vai trò to lớn đến sự phát triển của phong trào công nhân Việt Nam thời kì này
Điều đáng chú ý là từ năm 1921, do ảnh hưởng của phong trào công nhân thế giới, một số công nhân và thủy thủ Việt Nam đã gia nhập Liên đoàn công nhân tàu biển Viễn Đông Họ đã góp phần đưa đón cán bộ, tài liệu cách mạng từ nước ngoài về nước Từ đây, tính liên hiệp đấu tranh của công nhân Việt Nam đã xuất hiện
Từ năm 1922, phong trào công nhân bắt đầu có nét khởi sắc mới Trước hết
là cuộc đấu tranh của 600 công nhân thợ nhuộm Sài Gòn - Chợ Lớn Nét mới ở cuộc đấu tranh này là sự tập hợp đông đảo thợ nhuộm của nhiều cơ sở nhuộm trên đất Sài Gòn - Chợ Lớn Vì thế, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá cuộc bãi công
đó như là “dấu hiệu của thời đại mới”, “lần đầu tiên một phong trào như thế đã
nhóm lên ở thuộc địa” [35; tr.153]
Năm 1924, nổ ra nhiều cuộc bãi công của công nhân các nhà máy dệt, rượu, xay gạo Nam Định, Hà Nội, Hải Dương,
Trang 31Năm 1925, phong trào công nhân đã có bước phát triển nhảy vọt với việc xuất hiện nhiều cuộc bãi công có quy mô lớn, có tổ chức và lãnh đạo ở một mức
độ nhất định “Đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của hơn 1.000 công nhân
xưởng máy Ba Son (sửa chữa và đóng tàu thủy của hải quân Pháp) ở cảng Sài Gòn, tháng 8 - 1925 Công nhân bãi công không chịu sửa chữa chiến hạm Misơlê của Pháp Chiến hạm này đang trên đường chở lính từ Pháp sang tô giới của Pháp ở Trung Quốc để đàn áp phong trào nổi dậy của nhân dân và thủy thủ
ở đó Cuộc bãi công nổ ra với yêu sách đòi tăng lương 20%, đòi tất cả công nhân đều có việc làm” [11; tr.100] Sau 8 ngày bãi công, nhà chức trách Pháp đã
phải chấp nhận tăng lương 10% cho công nhân Nhưng sau khi đã trở lại làm việc, công nhân vẫn tìm cách lãn công, cố kéo dài thời hạn sữa chữa, khiến cho chiến hạm Misơlê sau 4 tháng nằm chờ mới nhổ neo được
Cuộc bãi công Ba Son thắng lợi đánh dấu bước tiến mới của phong trào công nhân Việt Nam, là cuộc đấu tranh có tổ chức và lãnh đạo, mở đầu thời kì
giai cấp công nhân đi vào đấu tranh tự giác.“Cuộc bãi công này không chỉ nhằm
vào mục tiêu kinh tế, mà cao hơn nữa còn nhằm vào mục đích chính trị, thể hiện tình đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế của công nhân Việt Nam với những người anh em Trung Quốc Bằng các việc làm của mình, cuộc bãi công Ba Son
đã cắm một mốc rất quan trọng trong phong trào công nhân - giai đoạn công nhân Việt Nam bắt đầu đi vào đấu tranh có tổ chức và có mục đích chính trị rõ ràng” [23; tr.263]
Nhìn chung, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp công nhân vẫn hết sức thấp kém Với cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ hai, ngoài đồng lương rẽ mạt, điều kiện làm việc cực khổ, công nhân còn bị đánh đập, ngược đãi như nô lệ Chính cảnh sống cùng cực ấy đã thúc đẩy công nhân hăng hái đứng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột và cường quyền Do đó, phong trào công nhân ngày càng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, có bước phát triển mới so với trước chiến tranh