1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp dạy học nhóm để dạy học nội dung chương trình sgk tin học lớp 10

76 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các phương pháp dạy học thì phương pháp thuyết trình người học chỉ có thể trao đổi với nhau rất ít quan điểm thì trong làm việc nhóm các thành viên có cơ hội đưa ra quan điểm của m

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA TIN HỌC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ DẠY HỌC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SGK

Trang 2

Lời cảm ơn

Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các

thầy cô trong khoa Tin học - Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã

hết lòng giảng dạy, truyền đạt kiến thức

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Lê Viết Chung đã tận

tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Bích và học sinh trường THPT Sào Nam Duy Xuyên – Quảng Nam đã

giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Dương Quỳnh Như

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 7

GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC THEO NHÓM 10

1.1 Phương pháp dạy học 10

1.1.1 Phương pháp 10

1.1.2 Phương pháp dạy học 10

1.1.3 Các đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học 11

1.1.4 Một số phương pháp dạy học cụ thể 11

1.2 Phương pháp dạy học tích cực 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 12

1.2.2.1 Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh 12

1.2.2.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học 13

1.2.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác 13

1.2.2.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò 14

1.3 Phương pháp dạy học theo nhóm 17

1.3.1 Lịch sử phát triển 17

1.3.2 Khái niệm 17

1.3.3 Mục đích và công dụng của dạy học nhóm 19

1.3.4 Cấu trúc chung của quá trình dạy học theo nhóm 20

1.3.4.1 Nhập đề và giao nhiệm vụ 20

1.3.4.2 Làm việc nhóm 21

1.3.4.3 Trình bày và đánh giá kết quả 22

1.3.5 Cách thành lập nhóm 22

1.3.5.1 Tiêu chí thành lập nhóm 22

1.3.5.2 Tiêu chí chọn trưởng nhóm 25

Trang 5

1.3.5.3 Làm việc theo nhóm 26

1.3.6 Các bước tổ chức hoạt động nhóm 29

1.3.7 Vai trò của GV trong hoạt động nhóm 30

1.3.8 Đặc điểm dạy học theo nhóm 32

1.3.9 Ưu, nhược điểm của dạy học nhóm 32

1.3.9.1 Đối với học sinh 32

1.3.9.2 Đối với giáo viên 33

CHƯƠNG 2 35

GIỚI THIỆU VỀ CHƯƠNG TRÌNH SGK TIN HỌC LỚP 10 VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC THEO NHÓM BỘ MÔN NÀY Ở NHÀ TRƯỜNG THPT 35

2.1 Giới thiệu sách giáo khoa Tin học 10 35

2.1.1 Căn cứ khi xây dựng chương trình Tin học 35

2.1.2 Định hướng chính của sách giáo khoa 35

2.1.3 Mục tiêu chung của Tin học 10 36

2.1.3.1 Mục tiêu chung của bậc THPT 36

2.1.3.2 Mục tiêu cụ thể của Tin học 10 36

2.1.4 Nội dung chính 37

2.1.5 Cấu trúc chương mục 37

2.2 Thực trạng dạy - học theo nhóm bộ môn Tin học hiện nay ở trường THPT 37

2.2.1 Thực trạng 37

2.2.2 Thuận lợi 38

2.2.3 Khó khăn 39

2.2.4 Kết quả khảo sát thực tế 41

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46

3.1 Ý tưởng thực hiện 46

3.2 Một số bài giảng áp dụng mô hình dạy học theo nhóm 46

§8 Những ứng dụng của Tin học 47

§9 Tin học và xã hội 47

Trang 6

§ BÀI TẬP THỰC HÀNH: SOẠN THẢO VĂN BẢN 48

3.3 Giáo án thực nghiệm 50

Bài 9: TIN HỌC VÀ XÃ HỘI 50

Bài 11: TỆP VÀ QUẢN LÝ TỆP 62

KẾT LUẬN 72

1 Kết quả đạt được 72

2 Hạn chế 72

3 Hướng phát triển của đề tài: 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và xu thế hội nhập, hợp tác ngày một tăng thì yêu cầu làm việc theo nhóm là càng cần thiết hơn bao giờ hết Bởi trong thực tế cuộc sống không có ai là hoàn hảo, vì vậy mà làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu, hơn nữa còn tạo ra được niềm vui và sự hứng thú trong học tập

Trong quá trình thực tập sư phạm bộ môn Tin Học tôi thấy rằng học sinh cảm thấy khó khăn để tiếp thu kiến thức mặc khác còn coi Tin học chỉ là một bộ môn phụ bởi nhiều lý do Có thể học sinh thích học môn này nhưng do điều kiện

cơ sở vật chất như phòng máy tính trong nhà trường lại hạn chế… Vậy làm sao

để kích thích học sinh ham học khi mà chúng ta đang sống trong xã hội CNTT và yêu cầu của xã hội ngày càng cao?

Trong các phương pháp dạy học thì phương pháp thuyết trình người học chỉ

có thể trao đổi với nhau rất ít quan điểm thì trong làm việc nhóm các thành viên

có cơ hội đưa ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, nâng cao được tính tương tác giữa các thành viên Làm việc nhóm sẽ giúp mọi người thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khuyến khích sự độc lập tự chủ, thái độ có trách nhiệm, kích thích tinh thần hợp tác, giúp học sinh chia sẽ cũng như góp phần nâng cao nhận thức của mình Ngoài ra, làm việc nhóm còn phát huy sức mạnh tập thể, công việc được hoàn thành nhanh hơn, tốt hơn, sáng tạo và phong phú hơn, nâng cao khả năng làm việc của từng cá nhân, phát huy tối đa ưu thế của mỗi người

Việc sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong giảng dạy đối với giáo viên không phải là mới vì ngay từ khi việc đổi mới chương trình triển khai thì song song đó giáo viên cũng được tập huấn những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong đó có phương pháp dạy học theo nhóm và giáo viên cũng đã vận dụng trong công tác giảng dạy

Vậy sử dụng phương pháp dạy học nhóm trong môn Tin Học lớp 10 có thể

gây hứng thú trong quá trình dạy và học hay không? Vai trò của giáo viên trong

Trang 8

dạy học nhóm có hiệu quả? Với những lý do trên, tôi quyết định chọn và nghiên

cứu đề tài “SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHÓM ĐỂ DẠY HỌC

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SGK TIN HỌC LỚP 10” nhằm góp phần vào

việc đổi mới phương pháp dạy và học môn Tin học ở trường phổ thông

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này với mục đích của tôi là nhằm:

sở khai thác đặc điểm triệt để tâm sinh lý của học sinh

nhóm đối với giáo viên khi giảng dạy Tin học 10

nhóm, giúp bản thân rút kinh nghiệm sử dụng phương pháp một cách có hiệu

quả trong quá trình dạy học sau này

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

 Nghiên cứu về mặt lý luận:

trò, lợi ích của phương pháp này, giới thiệu sơ lược nội dung chương trình SGK Tin Học lớp 10

Trang 9

 Nghiên cứu thực tiễn:

nhóm bộ môn Tin Học lớp 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tôi các phương pháp sau:

 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

khái quát hóa các nguồn tài liệu lý luận và thực tiễn có liên quan đến phương pháp dạy học nhóm

 Phương pháp quan sát và áp dụng:

số lớp để áp dụng phương pháp này

 Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra:

10 trường THPT Sào Nam (Duy Xuyên – Quảng Nam)

 Phương pháp toán học:

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm có 3 chương: Chương 1: Giới thiệu về phương pháp dạy học tích cực theo nhóm

Chương 2: Giới thiệu về chương trình SGK Tin Học lớp 10 và thực trạng dạy – học theo nhóm bộ môn này ở nhà trường THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC THEO NHÓM 1.1 Phương pháp dạy học

Theo lý thuyết hệ thống thì hoạt động là một hệ thống bao gồm 3 thành tố

cơ bản: mục đích – nội dung – phương pháp Phương pháp là con đường, là sự vận động của nội dung đến mục đích Khi định nghĩa phương pháp không thể tách rời cái đích của nó Một thành tố chỉ là phương pháp trong một hệ thống nhất định Cũng thành tố ấy đặt trong một hệ thống khác có thể nó không còn là phương pháp nữa Định nghĩa về phương pháp chỉ mang tính tương đối

1.1.2 Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học do giáo viên tổ chức, điều

khiển, học sinh tự tổ chức, điều khiển nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

Phương pháp dạy học là sự kết hợp giữa hữu cơ thống nhất biện chứng giữa

hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học

Phương pháp dạy học theo nghĩa rộng bao gồm:

Trang 11

1.1.3 Các đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học

Đặc điểm thứ nhất là vai trò của hoạt động của thầy và của trò Đây không phải là hai hoạt động song song độc lập với nhau Hoạt động của thầy gây nên

hoạt động của trò Như vậy hoạt động của thầy là một tác động điều khiển Tuy nhiên tác động không phải chỉ gồm các hoạt động của thầy mà còn có cả sự giao

lưu giữa thầy với trò

Đặc điểm thứ hai là tính khái quát của phương pháp Phương pháp dạy học không phải là bản thân hoạt động và giao lưu của giáo viên ở bình diện xem xét riêng lẻ, cụ thể Nếu coi những hoạt động va sự giao lưu cụ thể trong những tình huống cụ thể đã là phương pháp thì số lượng các phương pháp sẽ rất nhiều, có bao nhiêu giáo viên là có bấy nhiêu phương pháp, bởi vì đứng trước một tình huống, những cá nhân hoạt động và giao lưu không hoàn toàn giống nhau Phương pháp dạy học là hình ảnh khái quát nhưng hoạt động và giao lưu nào đó của người thầy Hình ảnh này thường được hình thanh do phán ánh những hoạt động, giao lưu dẫn tới thành công của giáo viên trong quá trình dạy học và phản ánh những thành tựu khoa học giáo dục hoặc của những khoa học khác thông qua khoa học giáo dục Do tính cách nói “áp dụng một phương pháp” mới có nghĩa

Ở đây cần phân biệt phương pháp với những hoạt động và giao lưu phù hợp với

phương pháp

Đặc điểm thứ ba là chức năng phương tiện tư tưởng của phương pháp

Phương pháp dạy học là phương tiện để đạt được mục tiêu dạy học, chúng phân biệt với phương tiện dạy học (hiểu theo nghĩa thông thường) ở chỗ chúng là phương tiện tư tưởng Còn phương tiện dạy học là phương tiện vật chất

1.1.4 Một số phương pháp dạy học cụ thể

- Phương pháp thuyết trình: GV chủ yếu dùng lời nói để làm cho học sinh hiểu được nội dung bài học HS chủ yếu nghe hiểu, ghi chép HS có xu hướng nhớ kiến thức theo một trình tự logic chặt chẽ đã được sắp xếp

- Phương pháp đàm thoại: GV dùng hàng loạt câu hỏi đã được sắp xếp theo một logic chặt chẽ để tác động đến HS nhằm dẫn dắt chúng đến mục đích dạy

Trang 12

học của mình HS lắng nghe và cố gắng trả lời câu hỏi theo một trình tự Do đó,

HS đã có thể chủ động tìm hiểu tài liệu, nghiên cứu đối tượng

- Phương pháp thí nghiệm biễu diễn: GV tiến hành biễu diễn các thí nghiệm để rút ra kết luận HS chủ yếu theo dõi để hiểu tiến trình thí nghiệm, nắm bắt được những kết luận đã rút ra từ thí nghiệm

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề: GV đóng vai trò tổ chức, hướng HS vào vấn đề cần được giải quyết

- Phương pháp gợi tìm: GV định hướng vấn đề và hướng dẫn HS giải quyết HS phải suy nghĩ, động não và có hứng thú học tập

- Phương pháp dạy học theo nhóm: là phương pháp tổ chức các nhóm, tổ, khối…để thực hiện nhiệm vụ học tập trong một thời gian nhất định

- Phương pháp tự học: người học tự tìm hiểu, tự nhận thức vấn đề bằng

chính hoạt động của mình dưới sự hướng dẫn của GV

1.2 Phương pháp dạy học tích cực

1.2.1 Khái niệm

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở

nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học "Tích cực" trong phương pháp

dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với

không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận

thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên

để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy

theo phương pháp thụ động

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

1.2.2.1 Dạy và học không qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động

"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá

Trang 13

những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

1.2.2.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu

óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng

Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn

luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ

tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt

động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ

động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ

thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

1.2.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học

Trang 14

được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm,

tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất

là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường

đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh

1.2.2.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh

Trang 15

hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng

vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết

kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự

lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể

thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn,

trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh

Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

Có thể so sánh đặc trƣng của dạy học cổ truyền và dạy học mới nhƣ sau:

Quan niệm

Học là quá trình tiếp thu và lĩnh

hội, qua đó hình thành kiến

thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm

Học là qúa trình kiến tạo; học sinh

tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện

tập, khai thác và xử lý thông tin,…

tự hình thành hiểu biết, năng lực

và phẩm chất

Trang 16

Bản chất

Truyền thụ tri thức, truyền thụ

và chứng minh chân lí của giáo

viên

Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm ra

chân lí

Mục tiêu

Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ

năng, kĩ xảo Học để đối phó

với thi cử Sau khi thi xong

những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương

pháp và kĩ thuật lao động khoa

học, dạy cách học Học để đáp ứng

những yêu cầu của cuộc sống hiện

tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội

Nội dung

Từ sách giáo khoa + giáo viên

Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,

GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảng tàng, thực tế…: gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS

- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương

- Những vấn đề học sinh quan tâm Phương

pháp

Các phương pháp diễn giảng,

truyền thụ kiến thức một chiều

Các phương pháp tìm tòi, điều tra,

giải quyết vấn đề; dạy học tương tác

Trang 17

1.3 Phương pháp dạy học theo nhóm

1.3.1 Lịch sử phát triển

Lịch sử giáo dục đã ghi lại: Con người đi những bước đầu tiên trong việc giảng dạy và học tập như là sự truyền thụ và học hỏi mang tính chất gia đình như cha mẹ dạy bảo con cái, anh em chỉ bảo kinh nghiệm lẫn nhau cùng với sự phát triển của xã hội, việc học tập của con người được cải tiến, từ học hỏi cá nhân chuyển dần sang từng nhóm nhỏ học hỏi kinh nghiệm và chính từ đó đã tạo ra nhu cầu của trường học đầu tiên

Cùng với thời gian, với sự phát triển của các nhà trường, với những cố gắng lớn lao của các nhà giáo, việc dạy học đã được tổ chức ngày càng chặt chẽ, khoa học hơn Đặc biệt, sự ra đời và trưởng thành của tâm lý thực nghiệm đã làm cơ sở cho việc cải tiến, hoàn thiện các phương pháp dạy học

Chính trong những giai đoạn cải tiến đó đã hình thành phương pháp dạy học thông qua hoạt động nhóm

Việc học theo nhóm đã bắt đầu ít nhất từ năm 1867, lúc nhà cải cách giáo dục tiên phong W.T.Harris đề xướng một kế hoạch ở St.Lous bang Musouri cho phép một nhóm học sinh học nhảy qua trình độ tiểu học Nhưng đến đầu thế kỉ

XX quan điểm học nhóm mới được thực hiện và đưa vào nhà trường để thực hành làm mẫu Năm 1982, đã có hàng ngàn trường ở Mỹ đã đi theo mô hình học nhóm và đạt được nhiều kết quả khả quan Cũng trong thời điểm những năm thập niên 80 này, ở Việt Nam đang hình thành việc học nhóm sơ khai (bài tập, tiểu luận…) Đến cuối thế kỉ XX, việc học nhóm ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ

1.3.2 Khái niệm

Dạy học nhóm là hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập dựa trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

Dạy học theo nhóm là một hoạt động học tập có sự phân chia học sinh theo từng nhóm nhỏ với đủ thành phần khác nhau về trình độ, cùng trao đổi ý tưởng,

Trang 18

một nguồn kiến thức dựa trên cơ sở là hoạt động tích cực của từng cá nhân Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của mình mà còn

có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của bạn bè trong nhóm

Dạy học theo nhóm là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích học tập chung của nhóm đặt ra

Vậy dạy học theo nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh hình thành các nhóm học tập nhỏ Mỗi thành viên trong nhóm học tập này vừa có trách nhiệm tự học tập, vừa có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên trong nhóm để cùng hoàn thành mục đích học tập chung của cả nhóm

Có ít nhất 4 loại nhóm khác nhau được phân biệt bởi mức độ gắn kết trong nhóm 4 cấp độ đó là :

với nhau nhưng thực sự họ không có hứng thú làm việc đó Vì thế hiệu quả công việc thường không bằng hiệu quả thực hiện của từng người

cùng nhau nhưng họ chưa thực sự thấy hoặc ít thấy lợi ích của cách làm việc theo nhóm Kết quả là chỉ một số người được hưởng lợi từ cách làm việc này, số còn lại lại thấy rằng họ sẽ thực hiện công việc tốt hơn khi làm một mình

nhau nhằm thực hiện những mục tiêu chung có lợi cho toàn nhóm cũng như cho bản thân họ Các thành viên trong nhóm chia sẻ, động viên, giúp đỡ lẫn nhau về vấn đề hoàn thành nhiệm vụ chung Thông qua hoạt động nhóm, các thành viên

có thể phát triển nhiều kỹ năng khác nhau, trong đó đặc biệt quan trọng là kỹ năng làm việc và học tập trong tập thể Kết quả là tổng sản phẩm mà họ thu được bao giờ cũng lớn hơn những gì mà một cá nhân trong nhóm có thể làm

tiêu chí cần đạt được của một nhóm học tập hợp tác, thậm chí kết quả của sự hợp tác nhóm còn tốt hơn mong đợi và tình đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm thông qua quá trình làm việc được xây dựng và phát triển một cách tốt đẹp

Trang 19

1.3.3 Mục đích và công dụng của dạy học nhóm

Mục đích chính của dạy học nhóm là thông qua cộng tác àm việc trong một nhiệm vụ học tập nhằm phát triển tính tự lực, sáng tạo cũng như năng lực xã hội, đặc biệt là khả năng cộng tác lằm việc, thái độ đoàn kết của học sinh

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt, sẽ thực hiện được những chức năng

và công dụng khác với dạy học toàn lớp, do đó có tác dụng bổ sung cho dạy học toàn lớp:

nhóm, học sinh phải tự lực giải quyết nhiệm vụ học tập, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các thành viên, trách nhiệm với nhiệm vụ và kết quả làm việc của mình Dạy học nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm, hành động độc lập, sáng tạo của học sinh

làm việc được học sinh ưa thích Học sinh được luyện tập những kĩ năng cộng tác làm việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến người khác và tính khoan dung

sinh phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm

tập mang tính xã hội Học sinh học tập trong mối tương tác lẫn nhau trong nhóm,

có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các quan hệ xã hội và không cảm thấy phải chịu áp lực của giáo viên

giao tiếp xã hội, các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc sai lầm Mặc khác, thông qua giao tiếp sẽ giúp khắc phục sự thô bạo, cục cằn

việc và làm việc nhóm giúp học sinh rèn luyện, phát triển phương pháp làm việc

thú chung hay lựa chọn ngẫu nhiên, các đòi hỏi như nhau hay khác nhau về mức

độ khó khăn, cách học tập như nhau hay khác nhau, phân công công việc như

Trang 20

nhau hoặc khác nhau, nam học sinh và nữ học sinh làm bài cùng nhau hay riêng

rẽ

học tập của học sinh cho thấy rằng, những trường học đạt kết quả dạy học đặc biệt tốt nhất là những trường có áp dụng và tổ chức dạy học nhóm

1.3.4 Cấu trúc chung của quá trình dạy học theo nhóm

1.3.4.1 Nhập đề và giao nhiệm vụ

NHẬP ĐỀ VÀ GIAO NHIỆM VỤ

Xác định nhiệm vụ các nhóm

LÀM VIỆC NHÓM

Chuẩn bị chỗ làm việc

Lập kế hoạch làm việc

Thoả thuận quy tắc làm việc

Tiến hành giải quyết nhiệm vụ

Chuẩn bị báo cáo kết quả

TRÌNH BÀY KẾT QUẢ / ĐÁNH GIÁ

Trang 21

Giai đoạn này được thực hiện trong toàn lớp, bao gồm những hoạt động chính sau:

việc giới thiệu chủ đề, nhiệm vụ chung như những chỉ dẫn cần thiết, thông qua thuyết trình, đàm thoại hay làm mẫu Đôi khi việc này cũng được giao cho học sinh trình bày với điều kiện là đã có sự thống nhất và chuẩn bị từ trước cùng giáo

viên Ví dụ như ở §8 Những ứng dụng của tin học (SGK Tin học lớp 10) giáo

viên yêu cầu các nhóm học sinh liệt kê vai trò, ứng dụng của máy tính trong đời sống

của các nhóm, xác định rõ những mục tiêu cụ thể cần đạt được Thông thường, nhiệm vụ của các nhóm là giống nhau nhưng cũng có thể khác nhau Với ví dụ trên thì các nhóm cần xác định rõ mục tiêu cần đạt được là cần liệt kê các vai trò, ứng dụng của máy tính trong đời sống như thiết kế ô tô trên máy tính; cập nhật, lưu trữ, sắp xếp, tìm kiếm, thống kê,… bảng điểm của từng lớp; soạn thảo, in ấn văn bản; nghe nhạc, xem phim,…

khác nhau Tùy theo mục tiêu dạy học để quyết định các thành lập nhóm Với ví

dụ trên thì giáo viên chia lớp thành 4 nhóm để dễ dàng cho việc thực hiện tốt yêu cầu đã nêu ra

1.3.4.2 Làm việc nhóm

Trong giai đoạn này các nhóm tự lực thực hiện nhiệm vụ được giao, trong

đó có những hoạt động chính là:

việc nhóm sao cho các thành viên có thể đối diện với nhau để thảo luận Cần làm nhanh để không tốn thời gian và giữ trật tự

Trang 22

 Làm rõ, xem xét tất cả mọi người có hiểu các yêu cầu, nhiệm vụ không

1.3.4.3 Trình bày và đánh giá kết quả

Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp: Thông thường trình bày miệng hoặc trình bày miệng với báo cáo kèm theo

Kết quả trình bày của các nhóm được đánh giá và rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo

1.3.5 Cách thành lập nhóm

1.3.5.1 Tiêu chí thành lập nhóm

Việc phân chia nhóm thường dựa trên:

Trang 23

Cách chia nhóm như thế nào cho hợp lý : có thể theo một tiêu chuẩn nào đó của bài học hay của giáo viên và cũng có thể hoàn toàn ngẫu nhiên Bảng sau trình bày 10 phương án khác nhau:

Tiêu chí Cách thực hiện – Ƣu, nhƣợc điểm

1 Các nhóm gồm những người tự

nguyện, chung mối quan tâm

- Đối với học sinh thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất

- Dễ tạo ra sự cách biệt trong nhóm, trong lớp, vì vậy cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất

2 Các nhóm ngẫu nhiên

- Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,…

- Các nhóm luôn mới sẽ đảm bảo được là tất cả các học sinh đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các học sinh khác

- Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao Học sinh phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách thành lập nhóm như vậy là bình thường

3 Nhóm ghép hình

- Xé nhỏ 1 bức tranh hoặc các tờ liệu cần

xử lý Học sinh được phát các mẫu xé nhỏ, những học sinh ghép thành bức tranh hoặc

tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm

- Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch

- Cần 1 ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian để tạo lập nhóm

4 Các nhóm với những đặc điểm

chung

- Ví dụ tất cả những học sinh cùng sinh ra trong mùa đông, mùa xuân, mùa hè, hoặc

Trang 24

mùa thu sẽ tạo lập thành nhóm

- Tạo lập nhóm 1 cách độc đáo, tạo ra niềm vui và học sinh có thể biết nhau rõ hơn

- Cách làm này làm mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên

5 Các nhóm cố định trong một

thời gian dài

- Các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số tháng Các nhóm này thậm chí

có thể được đặt tên riêng

- Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập có nhiều vấn đề

- Sau khi đã quen nhau một thời gian dài thì việc lập nhóm mới sẽ khó khăn

6 Nhóm có học sinh khá để hỗ trợ

học sinh yếu

- Những học sinh khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các học sinh yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn

- Tất cả đều được lợi Những học sinh giỏi đảm nhận, những học sinh yếu được giúp

đỡ

- Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có

ít nhược điểm, trừ khi những học sinh giỏi hướng dẫn sai

7 Phân chia theo năng lực học tập

khác nhau

- Những học sinh yếu sẽ xử lý các bài tập

cơ bản, những học sinh đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm bài tập bổ sung

- Học sinh có thể tự xác định được mục đích của mình

- Cách làm này có thể dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy bị phân chia thành những nhóm học sinh giỏi và những nhóm

Trang 25

học sinh kém

8 Phân chia theo các dạng học tập

- Được áp dụng khi học tập theo tình huống Những học sinh thích học tập theo hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng

- Học sinh sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào?

- Học sinh chỉ học những gì mình thích và

bỏ qua những nội dung khác

9 Nhóm với các bài tập khác nhau

- Ví dụ như khi tìm hiểu về một số di sản văn hóa thế giới, một số học sinh sẽ tìm hiểu về Vịnh Hạ Long, một số khác tìm hiểu về Mỹ Sơn, một số khác nữa tìm hiểu

về Động Phong Nha, … sau đó gõ và định dạng văn bản cho đẹp

- Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với nhứng gì đặc biệt quan tâm

- Thường chỉ có thể áp dụng trong khuôn khổ một bài tập lớn

10 Phân chia học sinh nam và học

sinh nữ

- Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho con trai và con gái, ví dụ như trong chủ đề hướng nghiệp, sức khỏe sinh sản, …

- Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam, nữ

1.3.5.2 Tiêu chí chọn trưởng nhóm

tất cả vấn đề thảo luận, có quyên lực nhất

Trang 26

 Có khả năng giao tiếp tốt, tạo được mối quan hệ thân thiện với các thành viên trong nhóm

viên, đánh giá vấn đề , ngoài khả năng chuyên môn, khả năng này cũng rất quan trọng, nó đảm bảo công việc được thực hiện với hiệu quả cao nhất

đảm nhận các công việc: Thống nhất mục tiêu chiến lược cho nhóm; Chủ trì các cuộc họp; Đảm bảo tiến độ thực hiện các công việc, nhiệm vụ đã đề ra; Kiểm tra, phân tích, khắc phục sai sót; Là đại diện chính thức của nhóm; Phân nhiệm vụ thực hiện cho từng thành viên…

1.3.5.3 Làm việc theo nhóm

a Xây dựng mục tiêu cho nhóm

- Đề ra mục tiêu là vô cùng quan trọng để hoạt động nhóm được thành công Những mục tiêu được xác định đúng là kim chỉ nam cho hoạt động của nhóm Vì vậy, sau khi thành lập nhóm, các nhóm cần xây dựng mục tiêu tổng quát riêng cho nhóm của mình dựa trên những mục tiêu chiến lược đã được đề ra

- Sau khi xây dựng mục tiêu tổng quát xong, chia các mục tiêu đó thành nhiều dự án ngắn hạn

- Xây dựng các dự án cụ thể dựa trên các dự án ngắn hạn đó

- Xây dựng các chỉ tiêu cụ thể cần thực hiện

- Xây dựng các quy tắc, quy định riêng cho nhóm, thực hiện trong nhóm và mọi thành viên trong nhóm phải thực hiện nghiêm túc các quy định đó

 Lưu ý: Các bài tập lớn, chỉ tiêu được xây dựng cần:

Trang 27

- Xây dựng tiêu chí đánh giá các bài tập bằng các tiêu chí định lượng; đánh giá dựa trên tiêu chí định lượng là xác định tiến độ thực hiện dựa trên các phương pháp có thể: cân, đong, đo, đếm bằng các dụng cụ và cho ra số liệu cụ thể Đánh giá theo tiêu chí định tính là đánh giá dựa trên nhận xét chung của cá nhân

- Đừng để thất bại một phần bài tập làm hủy hoại thành công chung của nhóm

b Tiến hành họp nhóm

- Chuẩn bị:

+ Các thành viên tự chuẩn bị các vấn đề cần trao đổi trước, hoàn thành các công việc được giao, vạch ra những vấn đề mới cần được trao đổi Các thành viên phải tự nỗ lực lao động và học tập, các vấn đề được bàn luận khi họp nhóm

là các vấn đề mới, khó giải quyết, các bài tập lớn cần nhiều người cùng làm Không ỷ lại vào nhóm, trước khi họp nhóm, các thành viên phải chuẩn bị kỹ lưỡng cho nội dung cần bàn luận Ví dụ như khi bàn luận một bài tập khó trên nhóm thì đòi hỏi thành viên của nhóm đó phải tự giải bài tập đó ở nhà trước bằng nhiều phương pháp khác nhau, mặc dù không giải ra được nhưng đã có sự chuẩn

bị và hình dung được vấn đề cần giải quyết, đồng thời tiết kiệm thời gian chuẩn

bị đó cho những công việc khác

- Tiến hành giải quyết vấn đề

+ Cách thức làm việc theo nhóm và tính cách kín đáo, bảo thủ, áp đặt không thể sống chung với nhau Mọi người đều có khả năng đưa ra nhiều ý tưởng khác nhau, khi ý tưởng được trình bày các thành viên nên chú ý lắng nghe trọn vẹn ý tưởng, không nên phản ứng, cắt ngang ý tưởng của thành viên khác Nếu có những phản ứng riêng của cá nhân muốn phủ định ý tưởng được nêu ra thì nên

Trang 28

ghi lại những ý kiến riêng của mình vào một tờ giấy Sau khi thành viên đưa ra ý tưởng, tự rút ra các ưu điểm và nhược điểm của ý tưởng đó, so sánh với ý tưởng khác hoặc ý tưởng của bản thân rồi mới đưa ra ý kiến phản biện Công việc của nhóm là quan sát, đánh giá, nhận xét các ý tưởng, để cùng phát huy, bổ sung các

ưu điểm và bù lấp những khuyết điểm đang tồn tại

+ Nhóm cùng thống nhất ý tưởng và đưa ra phương án hành động Nếu có nhiều ý tưởng và phương án có khả năng thực hiện như nhau, nhóm tiến hành lấy

ý kiến bằng hình thức biểu quyết để thống nhất ý tưởng và phương án hành động Khi các ý tưởng và phương án được thống nhất thực hiện, có thể sẽ làm nảy sinh tâm lí không phục tùng với các thành viên có ý tưởng- phuơng án bị bác bỏ Vì vậy, mỗi thành viên hãy học cách thực hiện theo tập thể, tìm ra các nhược điểm của ý tưởng - phương án đó để tìm cách bù lấp, xóa bỏ những khuyết điểm, làm cho phương án ngày càng thể hiện ưu điểm, giảm bớt nhược điểm có như vậy hiệu quả của công việc mới được nâng lên, nhóm đó mới trở thành một nhóm mạnh

+ Các vấn đề, các công việc đòi hỏi nhiều sự sáng tạo và tư duy ưu tiên giải quyết trước

- Kết thúc:

+ Ghi nhận và đánh giá các kết quả đã thực hiện được trong buổi họp nhóm Đánh giá tiến độ thực hiện công việc Nhóm nên có một cuốn sổ để ghi chép quá trình thực hiện

+ Nêu vấn đề sẽ giải quyết trong lần họp nhóm lần sau, phân chia nhiệm vụ

và công việc cần chuẩn bị cho từng thành viên

+ Thông báo những thông tin liên quan đến nhóm và các công việc ngoài lề khác

 Lưu ý:

- Thời gian họp nhóm nên tiến hành trong khoảng thời gian ngắn, nên tận dụng thời gian này hoạt động với hiệu quả cao nhất có thể được, không nên phí phạm thời gian này cho những công việc ngoài lề

Trang 29

- Khi họp nhóm không cần thiết phải tạo ra bầu không khí quá nghiêm túc gây ức chế cho nhóm, cũng không quá dễ dãi, đùa cợt làm mất thời gian của nhóm Khi họp nhóm cần tạo ra bầu không khí thoải mái, thân thiện, cùng nhau hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau Làm việc theo hướng hiểu biết lẫn nhau: khuyến khích trao đổi cởi mở

- Cố gắng sắp xếp các nhiệm vụ phù hợp với tính cách của thành viên, để thành viên lựa chọn hơn là cố ép thành viên đó vào một nhiệm vụ Nên nhớ rằng mỗi thành viên, mỗi cá nhân có một cách nghĩ, tư duy riêng, không ai giống ai, vì thế không nên áp đặt lối suy nghĩ của bản thân cá nhân lên các thành viên khác trong nhóm

- Mỗi thành viên cần nhận rõ trách nhiệm của cá nhân đối với hoạt động của nhóm

- Chấp nhận thách thức đối với công việc mà mình đảm nhận

Bước 1: Chuẩn bị cho tổ chức hoạt động nhóm

cho hoạt động hợp tác theo nhóm thường là các vấn đề, câu hỏi, bài tập đòi hỏi

tư duy và sự đóng góp của nhiều người để giải quyết

Bước 2: Tiến hành tổ chức dạy học theo nhóm

cho các nhóm trình bày kết quả và xử lý tình huống khi HS không có ý nhận xét; mỗi nhóm có các nhiệm vụ khác nhau)

Bước 3: Tổng kết hoạt động học nhóm

Trang 30

 Tổng hợp, phân tích ý kiến và kết luận

Cung cấp nhiệm vụ có thách thức và tạo điều kiện để nhóm hoàn thành nhiệm vụ

Cân nhắc việc chia nhóm, thay đổi nhóm, tạo nhóm mới để đảm bảo 2 yếu

tố an toàn và thách thức trong hoạt động nhóm

Quản lí hoạt động nhóm (quan sát quá trình hoạt động nhóm, hỗ trợ và hướng dẫn khi cần thiết, khen ngợi và động viên HS)

cách giải quyết hợp lý nhất

hiện các sai lầm mà các nhóm mắc phải khi tham gia nhóm, những sai lầm mang tính điển hình và chưa được sữa chữa để cuối phần thảo luận nhóm giáo viên có nhận xét, góp ý

khẳng định lại ý kiến của nhóm để nhóm cần bổ sung ý kiến hay không Nhấn mạng các khái niệm, các ý quan trọng của bài học

theo thứ tự để nêu bật được nội dung bài học

có gặp khó khăn trong quá trình thảo luận

 Lưu ý:

Không can thiệp sâu vào quá trình làm việc của nhóm (đóng góp ý kiến như một thành viên của nhóm hoặc hỏi nhiều câu hỏi làm ảnh hưởng đến sự tập trung của nhóm)

Để việc hoạt động nhóm thực sự có hiệu quả phải phân công nhiệm vụ, quy định thời gian rõ ràng và cụ thể cho các nhóm Nhóm trưởng đóng vai trò quan

Trang 31

trọng nhất Nhóm trưởng phải là người khởi động buổi thảo luận nhóm bằng cách tạo một bầu không khí vào đề một cách sinh động, chân tình và thật sự thỏa mái

nhóm viên tham gia tích cực vào buổi thảo luận, người nhóm trưởng phải biết lắng nghe, khuyến khích các người rụt rè, ngăn chặn những người nói nhiều, theo dõi và quan sát phản ứng của từng người để điều chỉnh buổi thảo luận Khai thác nội dung bằng cách đặt câu hỏi kích thích tư duy của từng người Phát hiện những mâu thuẫn trong cách trình bày của mỗi thành viên, tổng kết lại ý kiến của nhóm ở cuối buổi thảo luận

Vì vậy cần hướng dẫn cho học sinh ngay từ những lần đầu tiên làm việc theo nhóm theo các hình thức đến khi quen việc, các em phải cùng nhau hợp sức

để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Khi làm việc theo nhóm tự các nhóm có quyền lựa chọn cách thực hiện nào tuỳ thích, sao cho khi nhóm trình bày phải đạt được yêu cầu tôi giao

Các thành viên trong nhóm thay phiên làm nhóm trưởng, thư ký, báo cáo,…

ở mỗi lần làn việc nhóm Với phương pháp này để tránh học sinh có thể làm qua loa, hình thức, nếu không có sự kiểm tra theo dõi của giáo viên, một số em yếu, thụ động không chịu động não, suy nghĩ, hoặc thuộc lòng đọc vẹt, không bày tỏ

ý kiến của mình ngược lại những em nhanh nhẹn thì tự quyết định vấn đề mà không có sự thảo luận trong nhóm Vì thế để đảm bảo cho tất cả học sinh đều tham gia làm việc một cách chủ động một mặt tôi khuyến khích động viên các

em, nhất là các em còn nhút nhát, giao nhiệm vụ cho nhóm trưởng quản lí và theo dõi phân công các thành viên trong nhóm làm việc Khi giao việc cho các nhóm tôi thường theo dõi quan sát , nếu thấy các em làm việc chăm chú và sôi nổi thì tôi yên tâm, nếu các em làm việc trầm hoặc nhốn nháo, lúng túng thì tôi hướng dẫn, gợi ý cho các em, tránh can thiệp quá sâu

Mặt khác luôn cho các nhóm thi đua với nhau qua bảng điểm làm việc giữa các nhóm, trong quá trình diễn ra hoạt động nhóm, nhóm nào làm việc tốt không gây ồn ào không có thành viên làm việc riêng nhóm đó được cộng điểm và ngược lại, nhóm trưởng sẽ chịu trách nhiệm khi có bạn trong nhóm không hợp

Trang 32

tác, để tránh nhóm làm nhanh chờ đợi sẽ sinh ra nói chuyện, làm việc riêng cho các nhóm trưởng có thể chọn nhóm kiểm tra chéo, hay trao đổi thêm các thông tin có liên quan đến bài học từ các nhóm khác

Những học sinh học chưa tốt tuỳ theo bài có thể xếp thành một nhóm và tự

là thành viên trong nhóm của các em và có thể luân phiên cho học sinh giỏi làm nhóm trưởng tiếp vai trò của giáo viên còn giáo viên thì quan sát các nhóm làm việc

Sau khi hết thời gian làm việc giáo viên cho đại diện các nhóm lên báo cáo kết quả thảo luận Nếu khác nhiệm vụ thì đại diện từng nhóm lên báo cáo Thành viên báo cáo không nhất thiêt là báo cáo viên mà có thể là thành viên khác trong nhóm như thư kí, nhóm trường, quản lý thời gian hay giám sát, để em nào củng chủ động, tránh ỷ lại, các thành viên trong nhóm đều phải tham gia trả lời, các nhóm khác nghe, nhận xét Qua hoạt động này giáo viên có thể kiểm tra được sự hợp tác của các thành viên trong nhóm và đánh giá được khả năng kiểm tra chéo của các nhóm trưởng Cùng nhiệm vụ thì đại diện một đến hai nhóm lên báo cáo, các nhóm khác quan sát và so sánh với kết quả của nhóm mình sau đó nhận xét

người đều phải tuân theo quy tắc chung đó một cách bình đẳng

nhân của đối tượng học sinh

sinh và những quan hệ bình đẳng của các học sinh trong nhóm

1.3.9 Ưu, nhược điểm của dạy học nhóm

1.3.9.1 Đối với học sinh

Trang 33

 Tăng lòng tự trọng và tôn trọng những người khác

làm việc để phát triển các kỹ năng xã hội của họ

1.3.9.2 Đối với giáo viên

hành một loạt các hoạt động trí tuệ như: phân tích, tổng hợp, phê phán, giải quyết vấn đề, v.v

điều khiển, dẫn đường chứ không còn đơn thuần là một người truyền đạt kiến thức

trong việc phát triển các kỹ năng xã hội

 Giải pháp để khắc phục những nhược điểm trên đây:

phương pháp can thiệp dần dần

nhóm

khích, thúc đẩy một cách tích cực,

Trang 34

 Không nên can thiệp quá sau vào công việc của các nhóm Họ cần có thời gian để học cách tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề của chính họ

Trang 35

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU VỀ CHƯƠNG TRÌNH SGK TIN HỌC LỚP 10 VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC THEO NHÓM BỘ MÔN NÀY Ở NHÀ

TRƯỜNG THPT

2.1 Giới thiệu sách giáo khoa Tin học 10

2.1.1 Căn cứ khi xây dựng chương trình Tin học

Tin học là môn học bắt buộc đối với mọi đối tượng học sinh THPT, là môn không phân hóa theo chuyên ban được dạy cho cả 3 lớp 10, 11 và 12

Môn Tin học ở THCS là môn tự chọn nên Tin học ở THPT được xây dựng trên giả thiết là môn học mới, học sinh học từ đầu

Chương trình và chuẩn môn Tin học đã được xây dựng dựa trên kết quả thí điểm triển khai chương trình và SGK, ý kiến các hội đồng thẩm định, ý kiến đóng góp của các sở, trường, giáo viên (GV) bộ môn Tin học của một số địa phương có thí điểm

Hiện nay tại các địa phương, cơ sở vật chất còn thiếu, số lượng máy tính, kết nối Internet còn rất hạn chế Đặc biệt đội ngũ GV còn thiếu cả về số lượng và chất lượng Vì vậy khi xây dựng, Ban xây dựng chương trình và chuẩn đã xem xét các yếu tố thực tế nêu trên Tuy nhiên, vì chương trình và chuẩn sẽ được áp dụng trong nhiều năm nên yêu cầu mức độ về kiến thức và kĩ năng cần đảm bảo mức chuẩn cần có đối với HS THPT

2.1.2 Định hướng chính của sách giáo khoa

Dựa trên các yêu cầu, định hướng chung cho toàn cấp học, SGK Tin học THPT cầm biên soạn theo một số định hướng cụ thể sau:

Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt: cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực và có hệ thống, phù hợp với lứa tuổi, tâm lí HS

đổi mới SGK bám sát mục tiêu góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học tập tích cực, khả năng tự học, HS có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kiến thức, kĩ

Trang 36

năng của bản thân; Góp phần trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức nhân cách cho

HS, phát huy việc liên kết những kiến thức, kĩ năng đã học với các hoạt động của

HS trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội

giá HS, tổ chức lớp học

HS củng cố, mở rộng và nâng cao phần kiến thức bắt buộc

tên gọi chung là “Bài tập và thực hành”) Các bài tập và thực hành được xây dựng có hệ thống, định lượng rõ ràng các yêu cầu cần đạt và liệt kê các thao tác

cụ thể cần làm

tập trên lớp Bổ sung thêm một số ví dụ đơn giản, gẫn gũi với đời sống, có mối liên hệ với các môn học khác

2.1.3 Mục tiêu chung của Tin học 10

2.1.3.1 Mục tiêu chung của bậc THPT

Môn Tin học nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông về ngành khoa học Tin học, hình thành và phát triển khả năng tư duy thuật toán, năng lực sử dụng các thành tựu của ngành khoa học này trong học tập và trong các lĩnh vực hoạt động của mình sau này

2.1.3.2 Mục tiêu cụ thể của Tin học 10

khái niệm cơ bản ở mức phổ thông về tin học - các kiến thức về Tin học, Hệ

điều hành, Soạn thảo văn bản và Mạng máy tính

Kĩ năng: Học sinh bước đầu biết sử dụng máy tính, biết soạn thảo văn

bản, sử dụng Internet

Trang 37

Thái độ: Rèn luyện cho học sinh phong cách suy nghĩ và làm việc như sự

ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo, chuẩn mực, chính xác trong suy nghĩ và hành động, say mê môn học Nghiêm túc trong việc tìm hiểu và học tập của môn học; Ham thích môn học, có tính kỷ luật cao và tính thần làm việc theo nhóm

2.1.4 Nội dung chính

2.1.5 Cấu trúc chương mục

SGK Tin học 10 gồm 4 chương theo đúng chương trình quy định”

thể hiện trong 9 bài, 2 bài tập và thực hành và 3 bàii đọc thêm

bài, 3 bài tập và thực hành và 1 bài đọc thêm

bài tập và thực hành và 1 bài đọc thêm

bài, 2 bài tập và thực hành và 2 bài đọc thêm

 Các bài và các bài tập và thực hành, bài đọc thêm, các hình ảnh minh họa được đánh số thứ tự thống nhất trong toàn thể sách gồm 22 bài, 11 bài tập và thực hành, 7 bài đọc thêm

 Ngoài một số hình minh họa trực tiếp, các hình minh họa còn lại đều được đánh số, số hình minh họa khoảng 100 hình

2.2 Thực trạng dạy - học theo nhóm bộ môn Tin học hiện nay ở trường THPT

2.2.1 Thực trạng

Môn Tin học là môn học khá mới mẻ (bắt đầu chính thức đưa môn học này

từ năm học 2006 – 2007) nên chương trình và sách giáo khoa còn chưa được thống nhất Một số module không theo kịp với xu thế phát triển của Tin học Một đặc thù khá rõ nét đối với môn tin học là chương trình được chia thành các module tương đối độc lập với nhau Ví dụ các module: hệ điều hành, soạn

Trang 38

thảo văn bản, mạng máy tính và internet, … Mỗi module như vậy sẽ có một đặc thù riêng trong cách giảng dạy lý thuyết và thực hành Giáo viên cần hiêu biết và phân biệt rõ các đặc thù này Không thể áp dụng chung một cách dạy cho tất cả các module chương trình Tùy theo từng module kiến thức mà các phương pháp giảng dạy có thể khác nhau

2.2.2 Thuận lợi

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa tin học trở thành môn học chính trong các trường trung học phổ thông Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn trong xu thể hội nhập, phát triển đất nước và sự bùng nổ của CNTT hiện nay Các trường phổ thông điểu trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng… tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học môn Tin học

Chủ trương ứng dụng CNTT trong dạy học đang được ngành giáo dục đẩy mạnh Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định chủ đề năm học 2008 – 2009 là “năm ứng dụng CNTT”, năm học 2009 – 2010 là năm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin Đây là một hướng đi đúng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, thay đổi tư duy, phương pháp quản lý giáo dục, hòa nhập với xu thế của thế giới Chính vì vậy việc đầu tư các trang thiết bị như các phòng máy tính, các projector,… cũng được bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm và triển khai đến các trường THPT

Phong trào ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý giáo dục nhận được

sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của ngành giáo dục, sự ủng hộ của giáo viên, học sinh và nhân dân đã có sự phát triển mạnh mẽ, rộng lớn

Bên cạnh đó bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chú trọng triển khai việc đào tạo ngành sư phạm Tin học ở các trường Đại học và Cao đẳng sao cho đạt được hiệu quả cả về chất lượng và số lượng Không những vậy, các trường còn đào tạo một lực lượng khá lớn các tân cử nhân CNTT ngoài sư phạm, nếu chúng ta biết cách

sử dụng tốt nguồn lực này (bằng cách bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ Sư phạm) sẽ đáp ứng cao nhu cầu đòi hỏi của môn học

Đối với học sinh, ngay từ khi bước vào học môn Tin học ở lớp 10 đã có những thuận lợi Môn Tin học hiện đang có sức hấp dẫn nhất định, đặc biệt đối

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w